Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu những luận văn trước đây có liên quan đến vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng, hoạt động tín dụng T&DH, cùng với các phương pháp được s
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ KHẮC NGỌC
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013 3
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
VÕ KHẮC NGỌC
HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Tài chính Ngân hàng
Mã số : 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ CÔNG TOÀN
Đà Nẵng - Năm 2013 3
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Khắc Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM 7
1.1.1 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM 7
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của NHTM 11
1.2 HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM 17
1.2.1 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 17
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 28
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của NHTM 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 36
Trang 52.1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
SHB CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 36
2.1.1 Tổng quan về SHB Đà Nẵng 36
2.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của SHB Đà Nẵng từ 2010 - 2012 38
2.2 THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SHB CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG TRONG NHỮNG NĂM 2010 - 2012 45
2.2.1 Tình hình cho vay trung và dài hạn của SHB Đà Nẵng những năm 2010 – 2012 45
2.2.2 Các biện pháp chi nhánh đã thực hiện để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 48
2.2.3 Kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn 60
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SHB ĐÀ NẴNG 64
2.3.1 Những thành quả đạt được 64
2.3.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SHB CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 72 3.1 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SHB ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN TỚI 72
3.1.1 Định hướng chung của SHB Đà Nẵng 72
3.1.2 Định hướng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH của SHB Đà Nẵng thời gian tới 73
Trang 63.2 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN TẠI SHB CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN
2013 -2015 74
3.2.1 Về tổ chức quản lý rủi ro tín dụng 74
3.2.2 Hoàn thiện danh mục cho vay theo hướng hạn chế rủi ro tín dụng 76
3.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định và lựa chọn khoản vay 77
3.2.4 Nâng cao năng lực thẩm định tài sản đảm bảo 78
3.2.5 Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ 79
3.2.6 Chú trọng công tác bảo hiểm tín dụng 80
3.2.7 Tăng cường công tác kiểm tra sau khi cho vay 81
3.2.8 Xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu, nợ khó đòi 83
3.2.9 Nâng cao chất lượng thông tin tín dụng 84
3.2.10 Thực hiện nghiêm túc các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro 86
3.2.11 Chú trọng công tác tuyển dụng và đào tạo cán bộ tín dụng 87
3.3 KIẾN NGHỊ 88
3.3.1 Đối với chính phủ 88
3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 89
3.3.3 Đối với ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 91
KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DNNN Doanh nghiệp nhà nước
HĐKD Hoạt động kinh doanh
SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội
SHB Đà Nẵng Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng TGĐ Tổng giám đốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh từ 2010 – 2012 tại
2.2 Tình hình dư nợ cho vay T&DH từ năm 2010 – 2012
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống NHTM Việt Nam chiếm một vị trí chiến lược trong việc đáp ứng nhu cầu vốn đối với nền kinh tế Trong môi trường kinh doanh khốc liệt hiện nay, các ngân hàng trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài, chính vì vậy đòi hỏi các NHTM ở Việt Nam cần phải có những bước chuyển mình để có thể tồn tại và phát triển bền vững Việc chú trọng triển khai những lĩnh vực mang lại nguồn lợi nhuận nhiều nhất cho chính ngân hàng là một vấn đề được các nhà lãnh đạo quan tâm Hiện nay nguồn lợi mang lại nhiều nhất cho các ngân hàng chủ yếu là từ hoạt động tín dụng, việc phát triển và quản lý tốt hoạt hoạt động này không những chỉ mang lại lợi ích trực tiếp cho chính ngân hàng mà nó còn lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế
Trong hoạt động của các NHTM Việt Nam, thì hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó cho vay T&DH chiếm tỷ lệ rủi ro cao trong danh mục cho vay của các ngân hàng Hoạt động tín dụng T&DH chủ yếu thực hiện các dự án đầu tư mang tính dài hạn như xây dựng cơ sở hạ tầng, mua máy móc thiết bị, đầu tư mở rộng sản xuất… Bất kỳ một nhân tố hay một
sự tác động nào ảnh hưởng đến tính khả thi và tính sinh lời của dự án đều có thể gây thiệt hại cho KH và cả chính NH cho vay Nếu quản lý không tốt sẽ làm giảm tính cạnh tranh của các NH, gây tổn thất cho KH gửi tiền và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế Trên thực tế, hoạt động cho vay T&DH ở các NHTM nói chung và Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng nói riêng hiện còn đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt hiện nay dư nợ cho vay T&DH vẫn thường chiếm tỷ lệ chưa cao, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ nợ quá hạn lại
có xu hướng tăng lên Điều đó nói lên rằng vốn đầu tư chưa đáp ứng được đòi hỏi bức thiết ngày càng tăng của nền kinh tế, hậu quả của nợ quá hạn, nợ xấu
đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của các ngân hàng
Trang 11Trong những năm vừa qua, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành tựu nhất định, nhưng để đứng vững trong môi trường cạnh tranh và bắt kịp xu hướng đổi mới của nền kinh tế, thì chi nhánh cần nỗ lực hơn nữa trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt là rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH Xuất phát từ bối cảnh của nền kinh tế, cũng như thực trạng công tác hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng, tôi đã quyết định nghiên cứu và lựa chọn
đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân
hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng” để thực hiện luận văn
tốt nghiệp
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hoá các lý luận cơ bản về hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH của NHTM
- Phân tích thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại SHB chi nhánh Đà Nẵng trong giai đoạn năm 2010 - 2012, từ đó rút ra những thành tựu đã đạt được và những vấn đề tồn tại cần tiếp tục giải quyết
- Trên cơ sở lý luận, cũng như thực trạng hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH của SHB chi nhánh Đà Nẵng những năm qua, để đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại SHB chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn 2013 - 2015
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH của NHTM và công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng + Về không gian: thực hiện nghiên cứu tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn -
Trang 12Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng
+ Về thời gian: các dữ liệu khảo sát, đánh giá thực trạng chỉ giới hạn từ năm 2010 - 2012
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để làm rõ vấn đề, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp luận: chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Cơ sở lý luận: kinh tế học vĩ mô, kinh tế học vi mô, quản trị ngân hàng thương mại, lý thuyết tài chính tiền tệ…
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê, phân tích và tổng hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, …
- Ngoài ra, luận văn còn thu thập các số liệu và tài liệu liên quan đến hoạt động tín dụng và công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng trong giai đoạn năm 2010 - 2012
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
chính của luận văn được chia làm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay
trung và dài hạn của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và
dài hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội, chi nhánh Đà Nẵng những
năm 2010 - 2012
Chương 3: Giải pháp tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng trong cho
vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn 2013 - 2015
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Qua tìm hiểu danh mục tài liệu tham khảo tại trung tâm thông tin học
Trang 13liệu Đại học Đà Nẵng và các đề tài đã thực hiện tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng trong những năm vừa qua, chưa có đề tài nào nghiên cứu về “hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội chi nhánh Đà Nẵng”
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã nghiên cứu những luận văn trước đây có liên quan đến vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng, hoạt động tín dụng T&DH, cùng với các phương pháp được sử dụng để thực hiện như:
- Lê Trọng Quý (2011), Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh ngân hàng TMCP Kỹ Thương Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh, Đại học Đà Nẵng
Đề tài đã nêu lên những khái niệm cơ bản về rủi ro tín dụng, những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, các giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng Luận văn đã đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng dựa trên những giải pháp của NH Kỹ Thương chi nhánh Đà Nẵng và hoàn thiện các giải pháp này
Đề tài đưa ra được những ưu và nhược điểm trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và thông qua đó đưa ra các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Ngoài ra, đề tài cũng đã đưa ra thực trạng chung về quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng ở Việt Nam Đồng thời còn phản ánh công tác thu thập xử
lý thông tin tín dụng tại các ngân hàng hiện nay còn yếu kém, việc ứng dụng các giải pháp nhằm để hạn chế rủi ro tín dụng còn sơ sài, chưa ứng dụng được vào thực tiễn hoạt động
Đề tài còn một số hạn chế như: các phương pháp hạn chế rủi ro tín dụng được đưa ra, trong đó là xác xuất vỡ nợ, cách trích lập dự phòng theo phương pháp dự phòng thống kê, hiện nay hầu hết các NHTM ở nước ta vẫn chưa sử dụng, vì thế không thể chứng minh được tính hiệu quả của phương pháp này Đặc biệt đề tài phản ánh các số liệu về nợ xấu, nợ quá hạn rất khó
có thể tiếp cận con số thật của các ngân hàng hiện nay, do đó những nhìn nhận và đánh giá sẽ kém chính xác
Trang 14- Lê Hòa Tân (2012), Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
TMCP Đông Á Chi nhánh Nha Trang, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh,
Đại học Đà Nẵng
Đề tài đã đưa ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác hạn chế rủi
ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Đông Á chi nhánh Nha Trang như:
Ngân hàng vẫn chủ yếu tập trung cho vay vào đối với số khách hàng lớn, khách hàng quan hệ vay vốn thường là các khách hàng truyền thống, số lượng khách hàng mới chưa phát sinh quan hệ tín dụng nhiều Việc tiếp thị các khách hàng mới thực sự có nhu cầu và có năng lực tốt còn hạn chế
Công tác thẩm định phương án vay vốn, phương án kinh doanh còn sơ sài, thiếu thông tin, chưa có phân tích đánh giá độc lập của các bộ phận liên quan Công tác kiểm tra sau cho vay còn hạn chế, cán bộ tín dụng còn yếu trong công tác thẩm định, phân tích đánh giá khách hàng chủ yếu dựa vào những thông tin do khách hàng cung cấp, ít sử dụng những nguồn thông tin khác để đưa vào thẩm định Chi nhánh chưa xây dựng các tiêu chí, dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng
- Nguyễn Thị Lê Phương (2012), Phát triển cho vay T&DH tại Ngân
hàng Đầu từ và Phát triển chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh
doanh, Đại học Đà Nẵng
Đề tài đã phân tích tổng hợp những vấn đề lý luận về phát triển cho vay trung và dài hạn của NHTM, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động cho vay T&DH của Ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Đà Nẵng trong các nghiệp vụ, để đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong việc phát triển cho vay T&DH
Thông qua để tài nghiên cứu này, giúp luận văn đưa ra những biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH ngay từ khâu phát triền khách hàng Nhận thấy bên cạnh việc xây dựng phát triển hoạt động cho vay T&DH thì các ngân hàng cũng cần đưa ra các biện pháp để hạn chế và ngăn
Trang 15ngừa rủi ro tín dụng ngay từ hoạt động này
- Nguyễn Thị Mai (2011), Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động
tín dụng tại Ngân hàng TMCP VPBank chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ
quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng
Đề tài đã hệ thống hóa các khái niệm, kiến thức về rủi ro, các dạng rủi
ro trong hoạt động tín dụng, chú trọng các phương pháp đo lường kiểm soát
và giảm thiểu rủi ro Trên cơ sở thực trạng hoạt động tín dụng tại VPBank chi nhánh Đà Nẵng, tác giả đã đưa ra những định hướng, mục tiêu phát triển hoạt động tín dụng trong thời gian tới và từ đó đưa ra các giải pháp để hạn chế rủi
ro tín dụng Các giải pháp về nhận diện và đánh giá rủi ro, giải pháp về phân tích định lượng đo lường rủi ro, giải pháp giảm thiểu rủi ro
Trên cơ sở tham khảo các tài liệu đã được nghiên cứu và căn cứ vào tình hình cho vay T&DH tại SHB Đà Nẵng Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu sâu vào vấn đề rủi ro tín dụng, hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH đối với các NHTM Thông qua đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH tại SHB Đà Nẵng
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM
1.1.1 Hoạt động cho vay trung và dài hạn của NHTM
a Khái niệm cho vay trung và dài hạn
Có rất nhiều căn cứ để đưa ra khái niệm cho vay T&DH, như theo thời hạn cho vay, theo đối tượng cho vay, theo mục đích sử dụng vốn… Nếu sử dụng tiêu thức thời hạn cho vay, có thể đưa ra khái niệm về cho vay T&DH
của các NHTM như sau: “Cho vay T&DH là hình thức cấp tín dụng có thời
hạn từ một năm trở lên” [3, tr.371] Trong đó, các NHTM thường qui định:
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm Loại hình cho vay này được cấp chủ yếu là nhằm vào mục đích tài trợ cho đầu tư tài sản cố định, cải tiến đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh
- Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm, loại hình cho vay này được cấp chủ yếu nhằm vào mục đích tài trợ vốn cho các dự án xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng nhà máy, cho vay tiêu dùng mua nhà ở, đất ở, cho vay mua ô tô…
b Đặc điểm cho vay trung và dài hạn của NHTM
- Vốn đầu tư lớn: cho vay T&DH có thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so
với cho vay ngắn hạn Để giảm bớt rủi ro, ngoài việc quy định khoản vay phải
có đảm bảo, ngân hàng cho vay còn quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án
Trang 17- Thời hạn trả nợ dài: thời hạn trả nợ vốn vay T&DH phụ thuộc vào
đối tượng cho vay, tính chất, đặc điểm của dự án đầu tư Nhưng thời hạn trả
nợ cũng có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả mang lại của dự án cao Một số hình thức khách hàng trả nợ đối với việc vay vốn T&DH như: gốc trả đều mỗi kỳ hoặc gốc trả các kỳ không bằng nhau tùy thuộc vào nguồn thu của
dự án hoặc kế hoạch trả nợ của khách hàng Khách hàng có thể trả nợ trước hạn nếu được sự đồng ý của ngân hàng cho vay, việc trả nợ trước hạn sẽ giúp ngân hàng thu được nợ chắc chắn nhưng đôi khi ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng
Các khoản cho vay T&DH được dùng chủ yếu cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên, thời gian hoàn vốn chậm, cho nên nguồn trả nợ chính của khoản vay này là từ nguồn khấu hao và một phần lợi nhuận do dự án đầu tư mang lại Ngoài ra các khoản cho vay này cũng được các ngân hàng tài trợ cho các khách hàng cá nhân có mục đích vay tiêu dùng, nguồn thu nhập ổn định từ lương nên có thời hạn trả nợ vay kéo dài
- Giải ngân một lần hoặc nhiều lần theo tiến độ dự án: đối với khoản
cho vay T&DH có thể giải ngân một lần hoặc nhiều lần nhằm đảm bảo khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích Ngân hàng hạn chế cho rút vốn khi các nhu cầu thanh toán chưa phát sinh hoặc không có chứng từ phù hợp
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận rút hết tiền vay một lần trong trường hợp vay để mua sắm máy móc, thiết bị Đối với các tài sản hình thành trong một thời gian dài thì việc giải ngân được thực hiện theo tiến độ dự án hoàn thành
- Lãi suất cho vay cao: đối với lãi suất các khoản cho vay T&DH,
ngoài lãi suất cơ bản còn phụ thuộc vào cấu trúc rủi ro và cấu trúc kỳ hạn của nguồn vốn Mức độ rủi ro càng cao, thời hạn cho vay càng dài thì mức bù rủi
ro cho ngân hàng càng lớn, do đó lãi suất cho vay càng cao và ngược lại
Lãi suất đối với các khoản cho vay T&DH thường cao hơn lãi suất cho
Trang 18vay ngắn hạn, do nguồn vốn để cho vay T&DH chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn huy động hay nguồn vốn điều chuyển từ hội sở Đối với các nguồn vốn huy động để cho vay với thời gian dài thì chi phí huy động thường cao hơn so với các nguồn có kỳ hạn thấp hơn do tính ổn định và mức độ khan hiếm nguồn Ngoài ra, ngân hàng cũng phải tốn nhiều chi phí trong công tác thẩm định, thực hiện và giám sát sau cho vay
Những khoản vay có thời hạn dài, hay những dự án đầu tư cho vay T&DH thường khó xác định chính xác mức độ hiệu quả và tính khả thi Chính
vì vậy đòi hỏi ngân hàng phải tăng cường việc thẩm định, quản lý và giám sát khoản vay, việc này khiến các ngân hàng phải bỏ ra khá nhiều công sức và chi phí, nhưng bù lại các dự án T&DH mang lại giá trị rất lớn và ổn định Hơn nữa, những ngân hàng tài trợ vốn cho các dự án lớn, mang lại hiệu quả cao thường tạo được danh tiếng và ưu thế cạnh tranh trên thị trường
c Các loại hình cho vay trung và dài hạn [4]
- Cho vay theo dự án đầu tư: là việc ngân hàng cho khách hàng vay để
thực hiện các dự án đầu tư mới, các dự án nâng cấp, mở rộng sản xuất kinh doanh; giúp khách hàng thuận lợi trong việc triển khai hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ hoặc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của mình
- Cho vay tiêu dùng: nhằm giúp các KHCN có nguồn tài chính để mua
sắm trang thiết bị đồ dùng gia đình, chi tiêu cá nhân, nhu cầu nhà ở Căn cứ
vào cách thức hoàn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia thành 3 loại
+ Cho vay tiêu dùng trả một lần: theo cách cho vay này, khách hàng thanh toán cho ngân hàng một lần khi đến hạn, loại cho vay này thường áp dụng đối với khoản vay có giá trị nhỏ, thời hạn cho vay không dài
+ Cho vay tiêu dùng trả góp: loại này thường áp dụng đối với khoản vay tiêu dùng có giá trị lớn hay thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần gốc vay Loại hình cho vay này thường có thời gian trung và dài hạn
Trang 19+ Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: là khoản cho vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng Trong thời gian thỏa thuận, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ, khách hàng vay và trả nợ một cách tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng
- Cho vay luân chuyển: là hình thức cho phép khách hàng kinh doanh
có thể vay với một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần khoản vay, nếu có nhu cầu thì khách hàng có thể nhận nợ đến khi hợp đồng tín dụng hết hạn Đây là một trong những loại hình cho vay có tính linh hoạt, thời gian cho vay có thể kéo dài đến 5 năm Loại hình tín dụng này được áp dụng nhiều nhất khi Khách hàng không chắc chắn về thời gian của các luồng
tiền mặt, hoặc quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương lai
Cho vay luân chuyển có thể giúp khách hàng giảm mức độ biến động trong chu kỳ kinh doanh, cho phép khách hàng vay thêm khi doanh số bán hàng giảm và hoàn trả khi nguồn thu bằng tiền mặt của khách hàng tăng lên Trong thời hạn của hình thức cho vay luân chuyển, ngân hàng có thể tín phí cam kết vay vốn trên phần tín dụng không sử dụng hoặc trên toàn bộ giá trị hợp đồng cho vay luân chuyển
- Cho vay hợp vốn: là hình thức cho vay trong đó có từ hai hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tín dụng cam kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án Bên nhận tài trợ là pháp nhân hay thể nhân có nhu cầu được bên đồng tài trợ cấp
tín dụng để thực hiện dự án
Trong một số trường hợp cho vay hợp vốn thuộc hình thức cho vay T&DH, các ngân hàng cho vay với mục đích để đầu tư tài sản cố định như mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất Cho
vay hợp vốn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: nhu cầu xin cấp tín
dụng để thực hiện dự án vượt quá giới hạn cho vay của ngân hàng, khả năng
Trang 20tài chính và nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cấp tín dụng của một dự án đầu tư Hoặc đối với các dự án vay vốn có quy mô lớn, mức độ rủi ro cao thì các ngân hàng có nhu cầu cho vay hợp vốn để phân
tán rủi ro
1.1.2 Rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của NHTM
a Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro được nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, nhưng khái quát lại có thể hiểu rủi ro là mức thiệt hại có thể bị gánh chịu do
hậu quả của một sự kiện nhất định và khả năng xảy ta sự kiện đó
Rủi ro trong hoạt động tín dụng nói chung và trong hoạt động cho vay T&DH nói riêng được biết đến như một đặc thù, là yếu tố tất yếu khách quan của kinh doanh tiền tệ của ngân hàng Rủi ro thường gây ra tổn thất cho ngân hàng, tùy theo cấp độ rủi ro mà hoạt động kinh doanh phải chịu tổn thất lơn
hay nhỏ
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống
đốc NHNN Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [7]
b Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Trong hoạt động của ngân hàng, rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH luôn tiềm ẩn và có hậu quả khó lường, do vậy để hạn chế rủi ro thì việc nhận biết các đặc điểm của rủi ro tín dụng là rất cần thiết Đối với hoạt động của các ngân hàng hiện nay, rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH nói riêng có các đặc điểm cơ bản sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp những khó khăn gây tổn thất trong quá trình vay vốn, hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là
Trang 21nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp: biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của rủi ro tín dụng Do
đó khi phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần chú ý đến mọi dấu hiệu rủi
ro, xuất phát từ nguyên nhân và hậu quả để có biện pháp phòng ngừa và xử lý phù hợp
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM Tình trạng thông tin bất đối xứng đã làm cho các ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy
đủ Điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn và chứa đựng nhiều rủi ro Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhận tương ứng
c Phân loại rủi ro tín dụng [14]
Để có thể phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH, các ngân hàng thường tiến hành phân loại rủi ro tín dụng theo nhiều tiêu thức khác nhau như:
- Căn cứ vào nguyên nhân rủi ro
+ Rủi ro giao dịch: là rủi ro do những hạn chế trong quá trình giao dịch
và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch được chia thành:
Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích
tính dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để
ra quyết định cho vay
Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các
điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo, và mức cho vay trên giá trị TSĐB
+ Rủi ro danh mục: là rủi ro do những hạn chế trong quản lý danh mục
cho vay của ngân hàng, được chia thành:
Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm mang tính
Trang 22riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế
Rủi ro tập trung: là trường hợp khách hàng tập trung cho vay quá nhiều
đối với một số khách hàng, tập trung đối với các khách hàng hoạt động cùng ngành, cùng lĩnh vực, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
- Căn cứ vào tính chất rủi ro
+ Rủi ro đặc thù: là rủi ro của một người vay cụ thể phát sinh do những
điều kiện đặc thù của dự án mà khách hàng thực hiện Điều này có nghĩa, rủi
ro đặc thù chỉ ảnh hưởng đến một khách hàng nên có thể tối thiểu hóa nhờ đa dạng hóa
+ Rủi ro hệ thống: là rủi ro phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế
hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay Khác với rủi
ro đặc thù, rủi ro hệ thống không thể đa dạng hóa được
- Căn cứ vào tính chất khách quan, chủ quan của nguyên nhân
+ Rủi ro do nguyên nhân khách quan: là rủi do sự kiện ngẫu nhiên
thường là do các yếu tố bên ngoài tác động như thiên tai, hỏa hoạn, hoặc các biến cố ngoài dự kiến khác mà không lường trước được tổn thất
+ Rủi ro do nguyên nhân chủ quan: là rủi ro do nguyên nhân thuộc chủ
quan từ phía khách hàng vay và ngân hàng cho vay
Rủi ro từ Ngân hàng cho vay: là những rủi ro do chính sách của ngân
hàng, cụ thể như việc nghiên cứu và dự báo, theo dõi, xử lý rủi ro tín dụng, công tác kiểm tra, kiểm soát sau cho vay…
Rủi ro từ phía người vay: rủi ro đạo đức, rủi ro vì khả năng tài chính
yếu kém, biến động khả năng kinh doanh, mối quan hệ với đối tác, tỷ suất sinh lợi không như kế hoạch, hàng tồn kho nhiều không tiêu thụ được…
d Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM Trong đó cho vay T&DH đóng góp một phần không nhỏ trong lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mang lại Tuy nhiên, rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH cũng là một
Trang 23tất yếu và có tác hại rất nặng nề đối với các ngân hàng, khách hàng gửi tiền và toàn bộ nền kinh tế Song, các NHTM cần có thể nhận biết được các dấu hiệu dẫn đến rủi ro, đánh giá được mức độ rủi ro mà ngân hàng mình đang phải đối
mặt và có các biện pháp để hạn chế tối thiểu rủi ro phát sinh “Trong hoạt
động ngân hàng, rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ có thể mất khả năng trả nợ một khoản vay nào đó” [3]
Đối với cho vay T&DH, thời hạn của các khoản vay khá dài, nên cán
bộ tín dụng càng có điều kiện để nhận biết những dấu hiệu cảnh bảo rủi ro Các dấu hiệu này có thể được nhận biết từ các nguồn sau:
- Các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
+ Thông qua việc theo dõi hoạt động thanh toán của khách hàng trên tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, cần thận trọng khi bắt gặp thường xuyên các dấu hiệu sau: phát hành quá số dư, thời gian thanh toán lương cho nhân viên chậm
so với quy định, doanh thu của các đối tác không chuyển về tài khoản, số dư của các tài khoản tiền gửi giảm đột biến
+ Thông qua mối quan hệ tín dụng của khách hàng, ngân hàng phải lưu
ý đến các dấu hiệu như: dư nợ vay tăng đột biến, thường xuyên chậm thanh toán nợ gốc và lãi, dư nợ vay lớn hơn nhu cầu, yêu cầu ngân hàng gia hạn nợ nhiều lần
+ Thông qua việc theo dõi các phương thức tài chính của khách hàng, khoản vay có thể gặp rủi ro nếu có các dấu hiệu: khách hàng thường sử dụng các nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động dài hạn, chấp nhận các phương thức tài trợ vốn với chi phí cao, các khoản phải trả giảm và các khoản phải thu tăng, có biểu hiện giảm vốn điều lệ
- Các dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng: + Thường xuyên thay đổi cơ cấu hệ thống quản trị hoặc ban điều hành + Đội ngũ quản trị bất đồng về mục tiêu, có tranh chấp về quyền lực + Cách thức quản trị có biểu hiện: hội đồng quản trị hay giám đốc ít
Trang 24kinh nghiệm, can thiệp quá sâu vào những vấn đề thường nhật, ít quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ
+ Xảy ra tranh chấp trong nội bộ doanh nghiệp, có thông tin phản ánh không tốt của chính quyền địa phương,
- Các dấu hiệu thuộc về kỹ thuật, thương mại của khách hàng như khó khăn trong việc phát triển sản phẩm, sản phẩm mang tính thời vụ cao, hay có các thay đổi bất lợi trên thị trường hay trong các chính sách của Nhà nước
- Các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán như chậm trễ kê khai thuế, trì hoãn việc nộp báo cáo tài chính cho cơ quan nhà nước hoặc theo yêu cầu của ngân hàng Từ các báo cáo do khách hàng cung cấp, các ngân hàng có thể đánh giá khách hàng thông qua các chỉ tiêu tài chính: tỷ lệ nợ tăng, khả năng thanh toán giảm, hàng tồn kho tăng, lợi nhuận giảm
Ngoài các nhóm dấu hiệu trên, ngân hàng còn có thể nhận biết sớm rủi
ro tín dụng thông qua các dấu hiệu phi tài chính khác như: chủ doanh nghiệp
có dấu hiệu quản lý không tốt, thái độ làm việc của nhân viên, hiện trạng cơ
sở sản xuất kinh doanh
e Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
Rủi ro tín dụng nói chung cũng như rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH đều gây ra hậu quả nặng nề đối với các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ tín dụng, cụ thể là khách hàng và ngân hàng tài trợ vốn
Thứ nhất, hiện nay nguồn vốn chủ yếu để các NHTM cho vay T&DH
bắt nguồn từ nguồn vốn huy động T&DH, chính vì vậy rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập và uy tín của ngân hàng Nếu một khoản cho vay hay một dự án lớn do ngân hàng tài trợ gặp rủi ro, khách hàng không có khả năng chi trả hoặc mức độ nặng là thất thoát vốn, thì hậu quả trước tiên làm cho ngân hàng không cân đối được nguồn vốn để thanh toán cho người gửi tiền Từ đó gây ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động của ngân hàng
Trang 25Rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH có ảnh hưởng đến khách hàng vay vốn, trong trường hợp phát sinh nợ quá hạn, khách hàng phải chịu lãi suất phạt quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, làm cho tổng chi phí phải trả của khách hàng tăng lên, dẫn đến tình hình tài chính càng khó khăn Khách hàng phát sinh nợ quá hạn là dấu hiệu nói lên hoạt động kém hiệu quả, uy tín giao dịch bị giảm sút, bên cạnh đó thông tin lịch sử giao dịch của khách hàng sẽ được cập nhật trên trung tâm thông tin tín dụng của NHNN, khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn để được các ngân hàng đồng ý tài trợ vốn phục vụ nhu
cầu kinh doanh
Thứ hai, rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH có thể gây ra hậu quả đối
với hệ thống tài chính của cả quốc gia Ngân hàng là một trung gian tài chính, hoạt động của mỗi ngân hàng có sự tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống tài chính Nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng, dù chỉ một ngân hàng
và ở một mức nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ đến tính an toàn và tính ổn định của toàn hệ thống Từ đó sẽ dẫn đến các chính sách tài chính cũng không còn phù hợp và hệ thống tài chính tiền tệ không còn được vững mạnh Giảm
uy tín trên thị trường tài chính thế giới Chính vì vậy NHNN đưa ra nhiều quy định để quản lý hoạt động tín dụng như tỷ lệ cho vay tối đa đối với một khách hàng, tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro khi khách hàng phát sinh nợ quá hạn Các ngân hàng cần phải tuân thủ đúng quy trình, quy định trong cho vay
Thứ ba, rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH có ảnh hưởng lớn đến nền
kinh tế Hoạt động của các ngân hàng gắn liền với hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, trường hợp có rủi ro xảy ra, trước tiên gây ảnh hưởng đến ngân hàng và sau đó đến các chủ thể khác, biểu hiện là uy tín và lòng tin về ngân hàng sụt giảm Đối với khách hàng vay vốn, họ lo sợ việc thắt chặt tín dụng, gây rủi ro cho các dự án đang thực hiện mà ngân hàng đang tài trợ vốn Bên cạnh đó, việc huy động vốn của các ngân hàng cũng sẽ gặp nhiều khó khăn đối với khách hàng mới, các khách hàng cũ có thể ồ ạt rút tiền chuyển
Trang 26đầu tư qua một nơi khác an toàn hơn Từ những động thái trên, rủi ro tín dụng không chỉ có ảnh hưởng đến phạm vi của một NH nào đó mà nó ảnh hưởng đến toàn bộ cả hệ thống, đến thị trường tài chính, từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế
1.2 HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NHTM
1.2.1 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
a Quan niệm về hạn chế rủi ro tín dụng
Trên quan điểm quản lý, trong hoạt động cho vay T&DH của các NHTM thì rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi và có thể hạn chế chứ không thể loại trừ Do vậy, việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng luôn trở thành vấn đề mang tính sống còn đối với các ngân hàng Để tìm
ra các giải pháp hạn chế rủi ro một cách hiệu quả nhất, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là hạn chế rủi ro tín dụng?
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa “hạn chế là ngăn lại, giữ lại trong
một giới hạn nhất định, không để cho vượt qua” Có thể nói hạn chế rủi ro tín
dụng trong cho vay T&DH chính là mục tiêu của ngân hàng nhằm giảm thiểu tổn thất, thiệt hại ở mức thấp nhất do rủi ro tín dụng gây ra
Để hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH, các ngân hàng thường
áp dụng các biện pháp theo những hình thức sau:
- Phòng ngừa rủi ro:
Đối với các nguyên nhân chủ quan gây ra rủi ro tín dụng, các ngân hàng cần có biện pháp để phòng ngừa trước khi rủi ro xảy ra như: sàng lọc tìm kiếm khách hàng tốt, nâng cao chất lượng thẩm định các khoản cho vay T&DH, thực hiện giám sát chặt chẽ trước, trong và sau cho vay, hạn chế các rủi ro xảy ra xuất phát từ chính nguyên nhân chủ quan phía ngân hàng
Đối với những nguyên nhân khách quan không thể thay đổi được xuất phát từ bên ngoài như thiên tai, dịch hoạ, suy thoái kinh tế, chính sách thì phải
Trang 27áp dụng các biện pháp né tránh nhằm hạn chế rủi ro như: hạn chế cho vay đối với một số lĩnh vực ngành nghề có tính rủi ro cao, dễ bị ảnh hưởng và tác động từ môi trường bên ngoài Có chính sách thực hiện đa dạng hóa danh mục cho vay T&DH nhằm phân tán rủi ro phát sinh khi bị tác động
- Xử lý rủi ro nhằm tối thiểu hóa thiệt hại:
Sau khi rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH phát sinh, các ngân hàng thường sử dụng các biện pháp xử lý rủi ro nhằm tối thiểu hoá thiệt hại như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng, cùng khách hàng thực hiện các dự án theo hình thức mua nợ hoặc góp vốn, tạo điều kiện cho khách hàng hoạt động
để trả nợ, thu hồi triệt để các khoản nợ xấu bằng cách thương lượng với khách hàng bán tài sản hoặc khởi kiện ra toà án xử lý tài sản để thu hồi nợ Ngoài ra,
để chuyên môn hoá công tác xử lý các khoản nợ xấu, các ngân hàng còn có chính sách bán nợ đối với công ty quản lý nợ và khai thác tài sản AMC của
các NHTM
Trong hoạt động ngân hàng, có nhiều dự án tài trợ vốn mang lại hiệu quả, tuy nhiên có nhiều rủi ro không thể né tránh mà buộc các ngân hàng phải chấp nhận Để tối thiểu hoá thiệt hại, các NHTM san sẽ rủi ro một phần hay toàn bộ cho các tổ chức khác có khả năng gánh chịu rủi ro như: cho vay đồng tài trợ, bán khoản cho vay cho ngân hàng lớn hoặc trung gian tài chính khác, mua bảo hiểm tín dụng
Theo quy định 493/QĐ-NHNN, khi phát sinh các khoản nợ quá hạn và
nợ xấu, để đảm bảo cho hoạt động, thì các ngân hàng phải tự khắc phục tổn thất bằng cách trích lập dự phòng rủi ro Đây được coi là một trong những biện pháp quan trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro trong cho vay Tuy nhiên, nếu rủi ro xảy ra với tổn thất quá lớn, vượt quá khả năng chống đỡ sẽ khiến ngân hàng mất cân đối nguồn và dẫn đến nguy cơ phá sản
Trang 28b Các phương hướng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn [14]
Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH là vấn đề hết sức quan trọng được các nhà lãnh đạo ngân hàng đặt ra Mỗi ngân hàng có thể đưa ra các phương hướng để hạn chế rủi ro tuỳ thuộc vào mô hình hoạt động, định hướng và mức độ đánh giá rủi ro của mỗi ngân hàng Từ tình hình thực tế cho vay tại các đơn vị, thông thường các phương hướng được đưa ra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH như sau:
- Thực thi chính sách tín dụng theo hướng chặt chẽ:
Chính sách tín dụng là một hệ thống các quy định nhằm mở rộng hay thu hẹp hoạt động cho vay của một NHTM nhằm vào các mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận, an toàn và lành mạnh Chính sách tín dụng phải được thay đổi theo từng thời kỳ nhằm đảm bảo cho việc tăng trưởng tín dụng phù hợp với nhu cầu thị trường và xu hướng của nền kinh tế
Trong hoạt động cho vay T&DH, chính sách tín dụng thể hiện ở tầm nhìn, định hướng phát triển khách hàng, lĩnh vực mà ngân hàng hướng tới mang tính dài hạn Bên cạnh đó kết hợp với việc đưa ra các chính sách nhằm làm tăng mức độ chặt chẽ của quy định, cách phục vụ để tài trợ vốn cho khách hàng một cách nhanh chóng và an toàn Trên thực tế, đối với việc hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH, các ngân hàng cần thực thi một số chính sách tín dụng sau:
+ Lựa chọn đối tượng khách hàng cho vay T&DH: các NHTM tài trợ vốn đối với các mục đích vay hợp pháp, phù hợp với quy định của pháp luật, trên cơ sở khách hàng có phương án vay vốn khả thi, nguồn trả nợ đảm bảo cho khoản vay tại ngân hàng Đối với các khoản cho vay T&DH, ngân hàng cần có chính sách tín dụng theo từng đối tượng cho vay cụ thể tùy theo mức
độ rủi ro như: mức cho vay, thời hạn, lãi suất, tài sản đảm bảo…
+ Đa dạng hóa danh mục cho vay nhằm phân tán rủi ro: cho vay T&DH
Trang 29là hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận lớn cho chính ngân hàng, bên cạnh đó thì rủi ro luôn đi kèm với lợi nhuận dự kiến Đa dạng hoá danh mục cho vay
là một trong những biện pháp phổ biến nhằm hạn chế rủi ro tín dụng đối với cho vay T&DH Các khoản cho vay có mức độ rủi ro khác nhau tuỳ theo dự
án triển khai, ngành nghề hoạt động, quy mô khách hàng… Vì vậy, ngân hàng cần đa dạng các đối tượng cho vay với nhiều thành phần và nhiều lĩnh vực, không nên quá chú trọng cho vay đối với một vài doanh nghiệp lớn hoặc một vài nhóm kinh doanh nhỏ lẻ Trong trường hợp xảy ra rủi ro tại một lĩnh vực hay một khách hàng nào đó, ngân hàng vẫn có thể bù đắp vào những khách hàng hay lĩnh vực khác
Mỗi ngân hàng, khi đưa ra định hướng và chiến lược phát triển hoạt động cho vay T&DH, họ cần phải xem xét đến các yếu tố và mức độ rủi ro của thị trường mục tiêu và phân khúc khách hàng, mức độ kết hợp các loại sản phẩm khi cho vay đối với một nhóm khách hàng để triển khai Thông qua hoạt động này các ngân hàng có thể hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH
+ Xác định giới hạn cho vay: giới hạn cho vay được hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa được cấp cho một khách hàng, ở mức này rủi ro ngân hàng có thể chịu đối với khách hàng là thấp nhất Giới hạn cho vay được xác định dựa trên nhiều yếu tố như ngành nghề hoạt động, mục đích sử dụng vốn, nguồn thu nhập và trả nợ, giá trị tài sản đảm bảo,… trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời kỳ của một ngân hàng
Để đảm bảo cho hoạt động của các NHTM, NHNN ban hành thông tư
số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Cụ thể về giới hạn cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng Qua đây có thể thấy việc hạn chế rủi ro tín dụng ngày càng được chú trọng, và được đặt lên hàng đầu đối với hoạt động của các ngân hàng
Trang 30+ Bảo đảm tiền vay: để ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH xảy ra, bảo đảm tín dụng là một trong những yếu tố được các ngân hàng đặc biệt chú trọng khi cấp tín dụng Nó là căn cứ để đản bảo cho khoản vay và cũng có thể coi là một nguồn trả nợ thay thế ngoài dòng tiền trả nợ dự tính Đây cũng là một yếu tố để nâng cao trách nhiệm của khách hàng đối với khoản vay của mình
Quyết định cho vay thường trải qua nhiều khâu như thẩm định khách hàng, phân tích dự án, đánh giá TSBĐ, xếp hạng tín dụng… nhưng vẫn không thể loại bỏ hoàn toàn những quyết định sai lầm và tiềm ẩn rủi ro tín dụng Do
đó, biện pháp quản lý rủi ro tín dụng được xem xét đến là các hình thức bảo đảm tiền vay Các hình thức bảo đảm tiền vay gồm: thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay Ngân hàng
có thể dựa vào các biện pháp bảo đảm tiền vay để xử lý TSĐB trong trường hợp khách hàng bị phá sản hoặc mất khả năng trả nợ Ngân hàng được đảm bảo quyền ưu tiên xử lý TSĐB của khách hàng trước các chủ nợ khác
+ Mua bảo hiểm tín dụng: đây là một giải pháp nhằm đảm bảo đơn vị bảo hiểm sẽ bồi thường cho các ngân hàng, trong trường hợp khách hàng hoặc
dự án tài trợ gặp rủi ro, không có khả năng hoàn trả nợ vay hoặc bị phá sản Các ngân hàng tiến hành bảo hiểm tín dụng như:
Đối với các dự án cho vay T&DH quy mô lớn, có tính rủi ro cao TSĐB chính là phương tiện máy móc hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận cho cả dự án, đảm bảo cho khả năng trả nợ vay Vì vậy các ngân hàng khuyến khích khách hàng tham gia bảo hiểm cho tài sản, ngành nghề mà họ kinh doanh, hàng hóa vận chuyển, hàng hóa tồn kho đang thế chấp dễ có nguy cơ hao hụt và cháy nổ Khách hàng có thể tham gia bảo hiểm trong trường hợp bản thân họ mong muốn được thanh toán mọi khoản dư nợ vay khi gặp rủi ro liên quan đến sức khỏe và tính mạng Như vậy, khoản tín dụng trong trường hợp này đã được coi như là đã tham gia bảo hiểm
Trang 31Đối với những khoản cho vay tín chấp tiêu dùng, cho vay mua nhà ở đất ở có thời hạn dài, nguồn thu nhập trả nợ chỉ dựa vào lương để ngân hàng làm căn cứ xem xét cho vay Ngân hàng thường cho khách hàng vay với điều kiện là khách hàng mua bảo hiểm tín dụng, nhằm đảm bảo chắc chắn cho các khoản tín dụng được hoàn trả từ các công ty bảo hiểm trong trường hợp khách hàng bị đau ốm, mất khả năng lao động…
Tóm lại, việc thực thi một chính sách tín dụng hợp lý sẽ đảm bảo hoạt động cho vay T&DH đi đúng quỹ đạo, giúp ngân hàng có thể đạt được lợi nhuận và kiểm soát rủi ro theo kế hoạch đã định Đặc biệt đối với các khoản cho vay T&DH, vấn đề này cần được quan tâm hơn, bởi vì mỗi dự án hay các lĩnh vực mà ngân hàng lựa chọn đều mang tính dài hạn, có tầm ảnh hưởng lớn mạnh đến toàn bộ hoạt động của cả ngân hàng và toàn bộ các chủ thể trong
+ Công tác phân công, phân nhiệm trong quản lý tín dụng: đối với hoạt động cho vay T&DH của các ngân hàng hiện nay, việc xử lý hồ sơ thủ tục thường liên quan tới nhiều bộ phận Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động tín dụng được vận hành một cách an toàn đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa các bộ phận và phòng ban, dựa trên cơ sở quy trình quy chế được các
Trang 32ngân hàng đưa ra Công tác cho vay T&DH được tiến hành chặt chẽ, khoa học giúp cho hoạt động tín dụng diễn ra một cách nhanh chóng, an toàn, hiệu quả Ngược lại công tác cho vay T&DH được tiến hành một cách sơ sài, không đảm bảo trong một số khâu sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho ngân hàng
Các ngân hàng cần xây dựng một hệ thống độc lập để đánh giá chất lượng quy trình cho vay và các tiêu chí phân công nhiệm vụ đầy đủ Gắn kết trách nhiệm trên mỗi bộ phận tác nghiệp hồ sơ cho vay, như vậy có thể giảm thiểu được mức độ rủi ro, thông tin đưa ra quyết định cho vay được phản ánh khách quan và chính xác
+ Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: trong hoạt động cho vay T&DH của các NHTM, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ là một trong những khâu quan trọng nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trước trong và sau cho vay Kiểm tra, kiểm soát nội bộ thực hiện trên cơ sở kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của đơn vị, nhằm hạn chế các sai sót trong quá trình cho vay, khắc phục và nâng cao mức độ đảm bảo của các khoản vay khi được cấp tín dụng
Đối với các khoản vay T&DH khi đã được phê duyệt, nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng, các ngân hàng cần thường xuyên kiểm tra về việc thực hiện quy trình tín dụng, kiểm tra việc sử dụng vốn, phân tích đánh giá và xử lý các sai phạm một cách triệt để… Qua công tác này, ngân hàng có thể hệ thống hoá các vi phạm, kiến nghị các bộ phận phòng ban thực hiện để ngăn ngừa rủi ro
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình tín dụng [2]:
Quy trình cho vay có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng và đặc biệt đối với cho vay T&DH Các ngân hàng thường đưa ra một quy trình cho vay riêng biệt phù hợp với mô hình hoạt động của mình Thông qua quy trình cho vay, giúp cho quá trình vay vốn diễn ra thống nhất, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng Quy trình xác định rõ người thực hiện công việc, trách nhiệm của
Trang 33các cán bộ cũng như bộ phận liên quan trong quá trình cho vay
Một quy trình cho vay chặt chẽ sẽ là biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng, các cán bộ thuận tiện trong việc xử lý
hồ sơ cấp tín dụng, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, bên cạnh đó việc kiểm tra giám sát sau cho vay được thực hiện một cách dễ dàng Thường quy trình cho vay được bắt đầu khi CBTD tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi thanh lý hợp đồng vay, thông thường được khái quát qua các nội dung cơ bản sau:
+ Công tác thẩm định tín dụng: trong quy trình cho vay T&DH, thẩm định tín dụng là một trong những bước quan trọng giúp cho các ngân hàng đưa ra quyết định cho vay mang tính chính xác cao, góp phần hạn chế rủi ro ngay từ ban đầu Mục tiêu của thẩm định tín dụng là đánh giá mức độ tin cậy của phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay khi phân tích và đánh giá được phương án sản xuất kinh doanh và dự án đầu
tư của khách hàng là đáng tin cậy và khả thi
Thẩm định tín dụng trong cho vay T&DH tập trung vào những nội dung chính sau: thẩm định năng lực và uy tín của khách hàng; thẩm định dòng tiền của dự án đầu tư; thẩm định chi phí sử dụng vốn của khách hàng; thẩm định cách xác định và sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự
án như: NPV, IRR và thời gian hoàn vốn PP; thẩm định về giá trị tài sản đảm bảo
+ Công tác xếp hạng tín dụng nội bộ [4, tr.321] [3, tr.1090]: đặc điểm chung của các NHTM Việt Nam hiện nay là danh mục cho vay T&DH vẫn chiếm phần lớn trong tổng dư nợ cho vay Do vậy, xếp hạng tín dụng nội bộ đang ngày càng trở nên cần thiết và quan trọng đối với công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH của các ngân hàng
Xếp hạng tín dụng là kỹ thuật đánh giá rủi ro tín dụng do các tổ chức xếp hạng thực hiện dự trên các tiêu chí phản ánh uy tín, năng lực của người
Trang 34vay Đây là một công cụ quan trọng nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho công tác thẩm định và quyết định tín dụng Đối với các khoản cho vay T&DH thì xếp hạng tín dụng càng quan trọng hơn trong việc ngăn ngừa rủi ro, giúp ngân hàng đánh giá về khả năng hoàn trả của người vay, tính thanh khoản của TSĐB, những dấu hiệu giúp đánh giá khả năng thu hồi nợ gốc và lãi
Nguồn thông tin được sử dụng trong xếp hạng tín dụng đối với mỗi loại khách hàng là khác nhau, việc đánh giá được thực hiện theo phương pháp so sánh và dựa vào các chỉ tiêu được xác định riêng đối với từng loại khách hàng Điều này giúp ngân hàng thuận lợi trong việc nhận biết các dấu hiệu rủi
ro khi xác lập mối quan hệ tín dụng để có những chính sách phù hợp, nhằm đảm bảo an toàn hoạt động Bên cạnh đó, xếp hạng tín dụng giúp các ngân hàng quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng mà họ có thể phải gánh chịu trong hoạt động tín dụng, bằng cách phân loại và quản lý mức độ tín nhiệm của người đi vay cũng như chất lượng các khoản vay Đây là công cụ giúp ngân hàng phát triển chiến lược hướng tới các khách hàng tốt và có mức rủi ro ít hơn Ngoài ra, công cụ này còn hỗ trợ phân loại nợ và công tác trích lập dự phòng rủi ro của ngân hàng
Đối vơi các khoản cho vay T&DH, mức độ rủi ro cao nên công tác xếp hạng tín dụng cần được chú trọng Không chỉ các khách hàng mới, mà đối với các khách hàng cũ cũng cần định kỳ thực hiện xếp hạng rủi ro tín dụng để đánh giá lại món vay và tài sản thế chấp, từ đó có mức phân bổ dự phòng, điều chỉnh mức cấp tín dụng cho từng khách phù hợp hoặc thực hiện những biện pháp cần thiết để phòng ngừa và hạn chế rủi ro
+ Công tác giám sát sau cho vay: việc kiểm tra giám sát sau cho vay là điều cần thiết sau khi cấp tín dụng cho khách hàng, mỗi khoản vay T&DH phải được kiểm tra định kỳ để đảm bảo rằng khoản vay đó đang hoạt động theo đúng như kế hoạch và khách hàng tuân thủ đúng theo hợp đồng tín dụng, thực hiện các điều kiện và thoả thuận ban đầu
Trang 35Công tác giám sát sau cho vay đối với các khoản vay T&DH tập trung vào những nội dung: kiểm tra tình hình sử dụng vốn định kỳ, kiểm tra hoạt động của khách hàng, thu thập các chứng từ liên quan đến hoạt động của khách hàng, đánh giá tài sản đảm bảo Từ các kết quả kiểm tra giám sát khách hàng, ngân hàng có thể đưa ra các chính sách phù hợp đối với từng khách hàng cụ thể
+ Công tác xử lý nợ: trong hoạt động cho vay T&DH, có nhiều trường hợp khách hàng gặp khó khăn không trả được nợ vay cho ngân hàng, dẫn đến
nợ quá hạn và nợ xấu Khi ngân hàng nhận thấy khách hàng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ theo các điều kiện của hợp đồng tín dụng, ngân hàng cần đưa ra các phương án kịp thời để có thể thu hồi nợ Trường hợp khách hàng có thiện chí hợp tác trả nợ thì ngân hàng tạo điều kiện giúp khách hàng phục hồi bằng nhiều hình thức như gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, tài trợ thêm vốn, tư vấn khách hàng bán tài sản để trả nợ vay
Khi khách hàng mất khả năng thanh toán các khoản nợ, không có thiện chí hợp tác với ngân hàng để xử lý, ngân hàng cần chủ động thực hiện các thủ tục cần thiết để xử lý các tài sản thế chấp một cách nhanh chóng Việc này có thể làm giảm các chi phí lãi phạt, giảm các tổn thất do giá trị TSĐB giảm sút
để đảm bảo cho khả năng thu hồi nợ vay
Các bước trong quy trình cho vay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và đòi hỏi phải được thực hiện một cách đầy đủ trong từng giai đoạn Tuy nhiên, trong thực tế các khoản cho vay T&DH thường có thời hạn dài nên có không
ít CBTD không chú trọng trong việc thực hiện các giai đoạn, họ chỉ quan tâm
và tập trung tới một số giai đoạn đầu mà không xem xét kỹ các giai đoạn sau, điều đó rất dễ gây ra rủi ro và tổn thất cho các ngân hàng
Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng hiện nay, việc tìm kiếm và giữ chân các khách hàng tốt đầy khó khăn Vì vậy, từ khi thiết lập cho đến khi kết thúc mối quan hệ tín dụng, các ngân hàng phải áp
Trang 36dụng đồng bộ quy trình nhưng không quá cứng nhắc, kết hợp giữa quy trình
và thực tế đối với khách hàng một cách linh hoạt và mềm dẻo Có như vậy, việc tăng trưởng tín dụng mới được nâng cao, các rủi ro tín dụng cũng được hạn chế mức thấp nhất
- Tổ chức và khai thác tốt nguồn thông tin tín dụng:
Nguồn thông tin tín dụng là một trong những yếu tố cơ bản để các ngân hàng ra quyết định cho vay Thông thường các quyết định cho vay T&DH sai lầm thường bắt nguồn từ việc thiếu các nguồn thông tin để thẩm định khách hàng Nếu có nhiều kênh thông tin để tham khảo, nguồn thông tin có độ chính xác cao trước khi ra quyết định cho vay, thì các ngân hàng sẽ có cơ sở để đánh giá chính xác hơn và dự đoán tốt hơn về hoạt động của khách hàng
Ngân hàng cần tổ chức và khai thác tốt các nguồn thông tin tín dụng, sử dụng tất cả các nguồn thông tin có thể tới mức đầy đủ nhất, xử lý các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó có căn cứ để đưa ra cái nhìn tổng quan về khách hàng, phương án khách hàng dự định đầu tư Trên cơ
sở đó các ngân hàng có thể né tránh rủi ro ngay từ ban đầu
Hiện nay, trong hoạt động cho vay T&DH các ngân hàng có thể sử dụng các nguồn thông tin sau: từ cơ sở dữ liệu nội bộ, từ chính khách hàng cung cấp, từ trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng nhà nước, từ các đối tác và cũng có thể từ các đối thủ cạnh tranh của khách hàng…
- Phân loại nợ và trích lập dự phòng:
Rủi ro tín dụng là dạng rủi ro chủ yếu, xuất hiện thường xuyên trong hoạt động cho vay T&DH của các ngân hàng Do vậy, việc phân loại nợ và trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng giúp các ngân hàng tăng khả năng chống đỡ rủi ro và đây là điều cần thiết nhằm đảm bảo cho hoạt động của các ngân hàng một cách an toàn và phát triển bền vững
Việc trích lập dự phòng được thực hiện trên cơ sở phân loại nợ theo nhóm phụ thuộc mức rủi ro để trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng được trích
Trang 37ra theo định kỳ từ thu nhập của ngân hàng trước khi nộp thuế để hình thành nên quỹ dự phòng rủi ro tín dụng
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn
Rủi ro tín dụng hay rủi ro rín dụng trong cho vay T&DH là những biến
cố xảy ra ngoài mong đợi trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tuy không thể loại bỏ được hoàn toàn nhưng ta có thể nghiên cứu để nhận biết, từ
đó có thể đưa ra những giải pháp cụ thể Để hạn chế rủi ro một cách hiệu quả thì các ngân hàng phải đánh giá được rủi ro, đây là cơ sở để các ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý cho từng khoản mục và loại hình cho vay, chính sách lãi suất phù hợp trong từng thời kỳ Chỉ tiêu dùng để đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay T&DH được chia thành các nhóm sau:
a Sự thay đổi cơ cấu dư nợ theo khả năng thu
Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, các tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
b Mức giảm nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay
Ở Việt Nam theo quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4 và 5 quy định tại điều 6 Hay được coi là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày mà khách hàng không thu hồi được và không được tái cơ cấu [7]
Trang 38Nợ xấu là những khoản nợ mang các đặc trưng:
- Khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ gốc và lãi đã ký kết với với ngân hàng khi thời gian trả nợ đến hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn và lãi
- Tài sản đảm bảo được đánh giá không đủ giá trị khi xử lý tài sản để
trả nợ gốc và lãi
Tỷ lệ nợ xấu cũng là một chỉ tiêu để đánh giá hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng Nếu tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng của các ngân hàng cao, vì đây là tỷ lệ những khách hàng có dấu hiệu khó khăn về tài chính khó trả nợ cho ngân hàng
Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu =
Tổng dư nợ cho vay x 100%
So sánh tỷ lệ nợ xấu cuối kỳ và đầu kỳ để xác định mức giảm tỷ lệ nợ xấu Nếu tỷ lệ nợ xấu giảm cho thấy hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng tốt và ngược lại
Một ngân hàng nếu nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu cao, trong khi không giải quyết kịp thời thì đến một thời điểm nào đó, khả năng trích lập sự phòng rủi
ro sẽ không đủ để bù đắp phần tổn thất, dẫn đến khó khăn trong việc đảm bảo
tỷ lệ an toàn vốn theo quy định
c Mức giảm tỷ lệ phát sinh nợ xấu
Để đánh giá một cách chính xác tỷ lệ phát sinh nợ xấu, cần xem xét đến chỉ tiêu nợ xấu phát sinh trong kỳ để đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng Ta có:
Nợ xấu đầu kỳ + DS phát sinh nợ xấu = DS thu hồi nợ xấu + nợ xấu cuối kỳ
Trong đó: Doanh số phát sinh nợ xấu là cá khoản nợ xấu tăng thêm
trong kỳ, doanh số thu hồi nợ xấu là các khoản nợ xấu đã phát sinh được ngân
Trang 39đã được đưa ra ngoại bảng mà ngân hàng thu được nợ, thì khoản thu đó sẽ được khấu trừ vào tổng các khoản xóa nợ tạo thành khoản xóa nợ ròng Nếu
tỷ lệ này càng cao, điều này cho thấy hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng còn yếu kém, danh mục cho vay có chất lượng thấp, bị tổn thất lớn
về vốn dẫn đến hoạt động của ngân hàng có nguy cơ phá sản cao
e Mức giảm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam, việc trích lập dự phòng rủi
ro của được thực hiện theo quyết định số 493/QĐ-NHNN và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN của thống đốc NHNN Trong công tác trích lập dự phòng rủi ro, các tiêu chí sau cần được thường xuyên xác định:
Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập
Trang 40Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ: Nhóm 1 là 0%; nhóm 2 là 5%; Nhóm 3 là 20%; Nhóm 4 là 50%; Nhóm 5 là 100%
Số tiền dự phòng cụ thể phải trích được tính theo công thức sau:
Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A: giá trị của khoản nợ
C: giá trị của tài sản bảo đảm
r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Tỷ lệ trích lập dự phòng chung: tổ chức tín dụng trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0.75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4
Mức trích lập dự phòng này, phản ánh khả năng chống đỡ của ngân hàng đối với các khoản tổn thất tín dụng, giúp ngân hàng có thể tính được mức độ tổn thất dự kiến do có tính đến giá trị tài sản đảm bảo, điều mà chỉ tiêu nợ xấu không phản ánh hết được Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng càng cao, chứng tỏ danh mục cho vay của ngân hàng có những rủi ro tiềm ẩn lớn, vì dự phòng được trích lập nhiều sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng So sánh tỷ lệ trích lập dự phòng cuối kỳ và đầu kỳ để xác định mức giảm tỷ lệ trích lập dự phòng
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay trung và dài hạn của NHTM [3]
Trong hoạt động của ngân hàng, hiệu quả đạt được và rủi ro luôn luôn song hành với nhau, một vấn đề đặt ra là làm sao để đạt được mức lợi nhuận mong muốn trong khi rủi ro được hạn chế ở mức thấp nhất Đây là một điều không dễ dàng thực hiện được đặc biệt trong hoạt động tín dụng nói chung và cho vay T&DH nói riêng Cho vay T&DH có những dự án đầu tư vào các lĩnh vực: xây dựng cơ sở hạ tầng, mua máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất thì thời hạn để đầu tư thường kéo dài qua nhiều năm Trong khoảng thời gian đó
có thể xảy ra nhiều thay đổi với dự án đầu tư cũng như các yếu tố có thể gây