Nghiên c ứu của Trần Thị Thanh Tiếng 2012 với đề tài “Nghiên cứu ph ương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản từ kết quả đánh giá rủi ro ki ểm soát trong kiểm toán báo cáo tài c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ ĐÔNG
LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN
VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH
Đà Nẵng - Năm 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Đông
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC 7
1.1 KHÁI QUÁT VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 7
1.1.1 Khái niệm về lập kế hoạch kiểm toán 7
1.1.2 Khái quát về quy trình kiểm toán và vị trí của khâu lập kế hoạch trong quy trình kiểm toán 8
1.2 NỘI DUNG LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 11
1.2.1 Chuẩn bị kiểm toán 11
1.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể 18
1.2.3 Thiết kế chương trình kiểm toán 31
CHƯƠNG 2 LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY THHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 37
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Đặc điểm hoạt động của Công ty 39
Trang 52.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 40
2.1.4 Khái quát về quy trình kiểm toán BCTC của ATAX 42
2.2 LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 46
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị trước kiểm toán 47
2.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể 49
2.2.3 Thiết kế chương trình kiểm toán 57
2.3 NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY THHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 60
2.3.1 Những kết quả đạt được trong lập kế hoạch kiểm toán BCTC 60
2.3.2 Những hạn chế tồn tại trong lập kế hoạch kiểm toán BCTC 61
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 62
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 65
3.1 SỰ CẦN THIẾT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 65
3.1.1 Sự cần thiết hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC 65 3.1.2 Phương hướng hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC 68 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ TƯ VẤN THUẾ ATAX 69
3.2.1 Các giải pháp hoàn thiện trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán 69
Trang 63.2.2 Các giải pháp hoàn thiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tổng thể 80 3.2.3 Các giải pháp hoàn thiện trong giai đoạn thiết kế chương trình kiểm toán 102 3.2.4 Đề xuất qui trình kiểm soát chất lượng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC 110
KẾT LUẬN 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7KSNB : Kiểm soát nội bộ
KTV : Kiểm toán viên
GLV : Giấy làm việc
VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
VSA : Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trang 8
kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát
99
3.10 Xác định tỉ lệ r theo các mức độ rủi ro phát hiện 99 3.11 Phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục 101
Trang 9
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
1.1 Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính 9
2.2 Sơ đồ quy trình kiểm toán BCTC của ATAX 43 3.1 Qui trình kiểm soát chất lượng của một cuộc kiểm toán 111
Trang 10MỞ ĐẦU
Với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, ngành kiểm toán cũng đã có những bước tiến mạnh mẽ, dần chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu kiểm toán lại trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nguồn đầu tư từ các nước trên thế giới vào Việt Nam tăng mạnh mẽ, sự
mở rộng thông thương hợp tác Quốc tế đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải minh bạch hóa tình hình tài chính, và kiểm toán dường như là một yêu cầu không thể thiếu Chính trong bối cảnh thuận lợi ấy, hàng loạt các công ty kiểm toán đã ra đời khiến sự cạnh tranh trong ngành kiểm toán ngày một gay gắt Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX là một công ty còn khá trẻ, vừa phải chịu sự che lấp bởi những tên tuổi đã nổi tiếng thế giới như KPMG, E&Y, PWC… lại vừa phải ra sức cạnh tranh cùng rất nhiều các công
ty kiểm toán mới thành lập Trong điều kiện đó, để có thể tồn tại và giành được chỗ đứng vững chắc, một con đường duy nhất là ATAX phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện dịch vụ trên một quỹ thời gian và chi phí hợp lý đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường kiểm toán Một yếu tố có vai trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán đó là lập kế hoạch kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng
Qua thời gian công tác thực tế tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX, tác giả nhận thấy quá trình lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại
Trang 11Công ty có nhiều mặt ưu điểm cũng như hạn chế Công ty luôn nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của lập kế hoạch kiểm toán và thực hiện đối với mọi đối tượng khách hàng của mình Tuy nhiên, quá trình lập kế hoạch kiểm toán tại Công ty còn nhiều nhược điểm khiến quá trình này vẫn chưa phát huy được tối đa vai trò của mình đối với chất lượng và hiệu quả mỗi cuộc kiểm toán Chính từ sự chi phối mạnh mẽ của kế hoạch kiểm toán tới chất lượng và hiệu quả cuộc kiểm toán, và thực tế công tác lập kế hoạch kiểm toán tại ATAX, kết hợp với quá trình học tập nghiên cứu, tác giả chọn đề tài cho Luận
văn Thạc sĩ kinh tế của mình là “ Lập Kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX” làm đề tài tốt nghiệp
của mình
Xuất phát từ thực tiễn công tác Lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công
ty KiểmTNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX và yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm toán BCTC, đề tài xác định mục tiêu nghiên cứu là tìm hiểu công tác Lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX được áp dụng trong thực tế tại khách hàng, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện dựa trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa lý luận và thực tiễn Lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại ATAX
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận về lập kế hoạch kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính và thực tiễn Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại Công ty TNHH Kiểm toán và
Tư vấn thuế ATAX
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên những luận điểm khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn một cách logic, khoa học Đồng thời đề tài vận dụng các phương pháp cụ thể khác trong quá trình nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn,
so sánh, phân tích, tổng hợp… để phân tích, đánh giá thực tiễn công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX,
từ đó đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về lập kế hoạch kiểm toán BCTC
Chương 2: Lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm
toán và Tư vấn thuế ATAX
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch
kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
“Ch ương trình kiểm toán mẫu” thuộc dự án Tăng cường năng lực Hội
ki ểm toán viên hành nghề Việt Nam do Hội kiểm toán viên hành nghề Việt
Nam (VACPA) th ực hiện với sự tài trợ của Ngân hàng thế giới (WB): Xuất phát từ thực trạng thực hành kiểm toán độc lập tại các công ty kiểm toán Việt Nam theo hướng mỗi công ty tự xây dựng cho mình một chương trình kiểm toán trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành Với chất lượng và qui mô chương trình kiểm toán của các công ty rất khác nhau, các công ty quốc tế, công ty lớn và công ty thành viên Hãng quốc
tế thực hiện hay áp dụng chương trình kiểm toán của Hãng quốc tế; công ty vừa và nhỏ thường áp dụng chương trình kiểm toán của công ty quốc tế hay
Trang 13tự xây dựng nhưng đều chưa có một chương trình phù hợp và khó áp dụng Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam đã ban hành chương trình nhằm góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán, tăng cường sự tuân thủ các yêu cầu của Chuẩn mực kiểm toán, đồng thời làm cơ sở cho việc đào tạo, cập nhật và kiểm tra chất lượng dịch vụ hàng năm của hội VACPA Chương trình kiểm toán mẫu này được xây dựng và phát triển dựa trên kinh nghiệm của các chuyên gia trong nước và nước ngoài trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam Chương trình kiểm toán mẫu cũng có tham khảo thực hành kiểm toán của các công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán lớn ở Việt Nam cũng như cập nhật các thay đổi mới nhất của Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam phù hợp với Chuẩn mực kiểm toán quốc tế có hiệu lực từ 15/12/2009 Chương trình kiểm toán mẫu cũng được xây dựng và hướng dẫn trên cơ sở các kinh nghiệm thực hành kiểm toán của các công ty kiểm toán cũng như các hướng dẫn chi tiết hơn của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA)
Phương pháp luận kiểm toán của Chương trình kiểm toán mẫu này là phương pháp kiểm toán dựa trên rủi ro Theo đó việc xác định, đánh giá và thiết kế các thủ tục để xử lý rủi ro được thực hiện trong suốt quá trình kiểm toán Đây là phương pháp kiểm toán được thiết kế phù hợp với phương pháp tiếp cận và nguyên tắc xây dựng hệ thống Chuẩn mực kiểm toán quốc tế có hiệu lực từ 15/12/2009
“Audit approach Manual 2004” là tài liệu được Deloitte Touch Tomasu
xuất bản năm 2004 có ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch kiểm toán Nội dung
của tài liệu là hướng dẫn phương pháp kiểm toán BCTC dựa trên rủi ro, với
sự tập trung chính vào sự hiểu biết về kinh doanh của từng khách hàng và xác định các rủi ro liên quan với khách hàng, hợp đồng kiểm toán và tổng thể báo cáo tài chính Phương pháp này đòi hỏi Công ty kiểm toán phải xây dựng kế
Trang 14hoạch kiểm toán nhằm ứng phó với các rủi ro đã xác định và các hoàn cảnh
cụ thể của khách hàng Các chính sách và hướng dẫn trong hướng dẫn phương pháp kiểm toán dựa trên cơ sở các chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế (ISAs) của Liên đoàn Kế toán Quốc Tế năm 2002
Nghiên c ứu khác của Ngô Thị Kim Anh (2011) với đề tài “Đánh giá hệ
th ống KSNB DN trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty
Ki ểm toán và Kế toán AAC” đã tìm hiểu công tác đánh giá hệ thống KSNB
DN trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty Kiểm toán và
Kế toán AAC được áp dụng trong thực tế tại khách hàng, từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện dựa trên cơ sở tổng hợp, hệ thống hóa lý luận và thực tiễn đánh giá hệ thống KSNB DN trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
BCTC tại AAC Tác giả đã đề cập đến việc đánh giá sơ bộ rủi ro kiểm soát
dựa trên các câu hỏi và xem xét đến tầm quan trọng của mỗi câu hỏi, từ đó lượng hóa kết quả đánh giá để làm cơ sở đưa ra kết luận sơ bộ về rủi ro kiểm
soát, bổ sung thêm quy định về tìm hiểu chu trình tài chính, xây dựng danh
mục các rủi ro kiểm soát dự kiến thường gặp ở DN
Nghiên c ứu của Trần Thị Thanh Tiếng (2012) với đề tài “Nghiên cứu
ph ương pháp xác định phạm vi của thử nghiệm cơ bản từ kết quả đánh giá rủi
ro ki ểm soát trong kiểm toán báo cáo tài chính doanh nghiệp tại Công ty
TNHH Ki ểm toán và Tư vấn Thuế -ATAX” thông qua việc tìm hiểu, thu thập,
tổng hợp, phân tích thông tin từ thực tiễn tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX, phát hiện những hạn chế trong công tác xác định phạm vi thử nghiệm cơ bản từ kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát Trên cơ sở tổng hợp,
hệ thống hóa lý luận, đề tài đã đưa ra phương thức đánh giá rủi ro kiểm soát nhằm khắc phục hạn chế trong việc thực hiện các thử nghiệm kiểm soát tại ATAX Đề tài cũng đã đề xuất phương pháp xác định ảnh hưởng của kết quả đánh giá rủi ro kiểm soát đối với phạm vi thử nghiệm cơ bản nhằm giúp cho
Trang 15cuộc kiểm toán mang lại hiệu quả hơn Tuy nhiên, đề tài chỉ nghiên cứu hoàn thiện một phần nội dung trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC, đó là công việc đánh giá rủi ro kiểm soát cho mục đích xác định phạm vi thử nghiệm cơ bản tại công ty ATAX
M ột nghiên cứu khác của Phạm Thị Kiều Chinh (2011) với đề tài “Hoàn
thi ện công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại Công ty TNHH Deloitte Việt
Nam” đã hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng lập kế hoạch kiểm toán
do công ty Delloitte Việt Nam-chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện,
từ đó đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại công ty Deloitte Việt Nam Tác giả đã hoàn thiện một số nội dung trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC như: hoàn thiện thủ tục phân tích sơ bộ BCTC, đề xuất sử dụng lưu đồ trong việc mô tả
hệ thống kiểm soát nội bộ, đề xuất chuyển đổi phương pháp kiểm toán theo hướng đảm bảo sang mô hình kiểm toán tiếp cận rủi ro tại công ty Deloitte Việt Nam-chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
Qua việc tham khảo các tài liệu, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số ít nội dung công việc trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán BCTC mà chưa đi sâu nghiên cứu và hoàn thiện các nội dung khác rất quan trọng trong giai đoạn lập kế hoạch mà tác giả cho rằng có ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán BCTC Đồng thời, tại Công ty TNHH Kiểm toán và tư vấn thuế ATAX hiện chưa có
đề tài nào nghiên cứu về nội dung “Lập kế hoạch kiểm toán BCTC” Qua đó
có thể thấy rằng, việc đi sâu vào nghiên cứu công tác lập kế hoạch kiểm toán BCTC tại ATAX là rất cần thiết
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BCTC
CHÍNH
Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế ISA 300, “lập kế hoạch có nghĩa là việc phát triển một chiến lược tổng thể và một phương pháp tiếp cận với chi tiết tính chất thời gian dự tính và nội dung của một cuộc kiểm toán Mục tiêu của việc lập kế hoạch là để có thể thực hiện cuộc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến”
Bên cạnh đó, theo giáo trình Lý thuyết kiểm toán của trường Đại học Kinh tế quốc dân, “lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực giữa nhu cầu và nguồn lực đã có Việc xác định nhu cầu được thực hiện chủ yếu qua việc cụ thể hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán đã dự kiến Việc cụ thể hóa này trước hết ở việc xác định những công việc cụ thể phải làm và trên cơ
sở đó lượng hóa quy mô từng việc và xác định thời gian kiểm toán tương ứng
Để thực hiện cả hai quy trình đó, cần thiết không chỉ cụ thể hóa và chính xác hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà còn cần thiết xác định các nguồn thông tin có thể có” [14]
Mặc dù bề ngoài các quan điểm trên có vẻ khác nhau, nhưng về bản chất các quan điểm đều cho rằng lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán
Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm toán; phát hiện gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được hoàn thành đúng thời hạn Phạm vi kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi tùy theo quy mô
Trang 17khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm và những hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị và hoạt động của đơn vị được kiểm toán Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải hiểu biết về hoạt động của đơn vị được kiểm toán để nhận biết được các sự kiện, nghiệp vụ có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính Để lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên có quyền thảo luận với kiểm toán viên nội bộ, Giám đốc và các nhân viên của đơn vị được kiểm toán về những vấn đề liên quan đến kế hoạch kiểm toán và thủ tục kiểm toán nhằm nâng cao hiệu quả công việc kiểm toán và phối hợp công việc với các nhân viên của đơn vị được kiểm toán
hoạch trong quy trình kiểm toán
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của
số liệu trên báo cáo tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn như sau: Lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công
bố báo cáo kiểm toán, được thể hiện trong sơ đồ 1.1
Trong đó, lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán là bước công việc đầu tiên của tổ chức công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất cả tiền đề và điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán Sau khi đã hình thành được phương pháp kiểm toán cụ thể, kiểm toán viên sẽ tiến hành thực hiện kế hoạch kiểm toán Đây là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế hoạch, chương trình kiểm toán Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã được xây dựng để tiến tới hoàn thành kiểm toán, đưa ra kết luận kiểm toán và báo cáo
Trang 18hoặc biên bản kiểm toán Đó là sự khái quát về kết quả thực hiện các chức năng kiểm toán trong từng cuộc kiểm toán cụ thể
Sơ đồ 1.1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
(Ngu ồn: Nguyễn Quang Quynh, (2006), Giáo trình kiểm toán tài
chính,NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr 102.)
Qua đây ta có thể thấy, ba giai đoạn trong một quy trình kiểm toán có quan hệ chặt chẽ với nhau Chất lượng thực hiện giai đoạn trước có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng thực hiện công việc giai đoạn sau Trong đó, lập kế hoạch là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán, do đó nó có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hiệu quả công việc hai giai đoạn tiếp theo cũng như quyết định chất lượng của toàn bộ cuộc kiểm toán Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
- Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về các báo cáo tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng
- Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với
Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố Báo cáo kiểm toán
Trang 19nhau cũng như phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho công ty kiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài
- Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy
ra những bất đồng đối với khách hàng Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập, kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên… Điều này tránh xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc giữa hai bên
- Kế hoạch kiểm toán đưa ra các kế hoạch, chương trình kiểm toán cụ thể, các bước thực hiện, và nội dung thực hiện được các bước đó Nên từ bản
kế hoạch kiểm toán công ty kiểm toán sẽ tính toán được chi phí hợp lý của cuộc kiểm toán từ đó có thể đưa ra mức phí kiểm toán mà khách hàng phải trả đảm bảo có lợi nhuận cho mình nhưng phù hợp với các chi phí đã bỏ ra Đây
là một điểm rất quan trọng trong việc ký kết các hợp đồng kiểm toán
- Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên
có thể kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa công ty kiểm toán với khách hàng
Chính từ vai trò quan trọng ấy, kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện
cơ bản trong công tác kiểm toán, cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc
cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng
Trang 201.2 NỘI DUNG LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm hai bước: thứ nhất, phải có sự liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu cầu được kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu đó hay không Còn đối với khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, nhận diện lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán và đạt được một hợp đồng kiểm toán
a Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
Hệ thống kiểm soát chất lượng yêu cầu kiểm toán viên và công ty kiểm toán xây dựng hệ thống chính sách và thủ tục để quyết định chấp nhận khách hàng mới hoặc tiếp tục khách hàng cũ Các chính sách, thủ tục đó phải đảm bảo rằng khả năng chấp nhận khách hàng có ban quản lý thiếu liêm chính ở mức thấp nhất [6] Nếu kiểm toán viên đồng ý chấp nhận khách hàng thiếu liêm chính thì các thông tin trên báo cáo tài chính có thể bị trình bày gian dối một cách tinh vi theo hệ thống, kiểm toán viên khó phát hiện các gian lận đang tồn tại, và cũng có thể dẫn tới vụ kiện bởi những người sử dụng thông tin trong Báo cáo tài chính đã được kiểm toán
Để đưa ra quyết định chấp nhận hay duy trì một khách hàng thì KTV phải xem xét tính độc lập, khả năng phục vụ tốt khách hàng và tính liêm chính của ban quản trị doanh nghiệp Trong giai đoạn này, tính liêm chính của ban
Trang 21giám đốc khách hàng là nhân tố quan trọng hơn cả bởi vì kiểm toán viên luôn mong muốn sự trao đổi trung thực với ban giám đốc về kế hoạch hoạt động,
về các ước tính kế toán, về những nội dung liên quan đến pháp luật và những vấn đề khác liên quan đến việc kiểm toán Một ban giám đốc thiếu tính liêm chính thì kiểm toán viên sẽ phải đối diện với rủi ro cao hơn và tốn kém nhiều chi phí hơn cho việc thu thập bằng chứng kiểm toán để đưa ra kết luận kiểm toán Điều này làm tăng rủi ro cho công ty, làm giảm uy tín, giảm sức cạnh tranh trong lĩnh vực kiểm toán, vì vậy thực hiện yêu cầu này đảm bảo nguyên tắc thận trọng nghề nghiệp
Bên cạnh đó, để có thể đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần phải tìm hiểu những thông tin sơ bộ về khách hàng cần thiết để đưa ra quyết định Cách thức để thu thập thông tin trong giai đoạn này có sự khác nhau giữa khách hàng thường xuyên và khách hàng mới:
Trong tr ường hợp khách hàng thường xuyên: kiểm toán viên và công ty
kiểm toán phải xem lại hồ sơ kiểm toán năm trước để hiểu rõ uy tín và tính liêm chính của Ban giám đốc, hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ, tình hình hoạt động kinh doanh, loại hình kinh doanh… và cập nhật những thông tin mới về khách hàng như những thay đổi trong Ban giám đốc, những thay đổi trong chính sách của công ty, tình hình tài chính của công ty, rủi ro chủ yếu ảnh hưởng đến khách hàng và tương lai của khách hàng, những vụ kiện pháp lý trong thời gian gần đây có thể làm tăng rủi ro chấp nhận kiểm toán Phân tích những thông tin thu được giúp kiểm toán viên đưa quyết định chấp nhận khách hàng
Tr ường hợp khách hàng mới: Nếu khách hàng trước đây được kiểm toán
bởi một công ty kiểm toán khác thì kiểm toán viên kế tục phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm về các vấn đề như: tính liêm chính của Ban
Trang 22giám đốc, những bất đồng giữa ban quan trị và kiểm toán viên tiền nhiệm về các nguyên tắc kế toán, các thủ tục kiểm toán… và lý do thay đổi kiểm toán viên để dựa trên cơ sở đó đưa ra quyết định
Đặc biệt, kiểm toán viên phải chú ý đến lý do thay đổi công ty kiểm toán, đôi khi sự thay đổi công ty kiểm toán chỉ vì đơn vị khách hàng mong muốn một chất lượng dịch vụ tốt hơn hay họ muốn một mức chi phí thấp hơn thì điều này ít ảnh hưởng tới việc quyết định kiểm toán Nhưng trong trường hợp, kiểm toán viên tiền nhiệm không phát hiện ra gian lận, hoặc không thống nhất với khách hàng về những vấn đề quan trọng liên quan đến quá trình kiểm toán hoặc kiểm toán viên tiền nhiệm đã phát hiện ra điều gì đó gây tổn hại tới khách hàng dẫn tới việc không tiếp tục kiểm toán thì kiểm toán viên và công
ty kiểm toán nên thận trọng khi quyết định chấp nhận kiểm toán Trong trường hợp này, kiểm toán viên phải tăng cường các câu hỏi liên quan đến các vấn đề như: Tính liêm chính của ban quản trị; sự thiếu nhất quán với ban quản trị về nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toán; những lý do từ sự hiểu biết của kiểm toán viên tiền nhiệm về sự thay đổi kiểm toán viên; bất cứ sự trao đổi nào của kiểm toán viên tiền nhiệm với ban quản trị công ty khách hàng liên quan tới gian lận; các hành vi bất hợp pháp của công ty khách hàng và những vấn đề liên quan tới kiểm soát nội bộ
Trong trường hợp khách hàng từ chối cho phép liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm, kiểm toán viên phải tăng lượng câu hỏi liên quan đến động lực và tính liêm chính của Ban giám đốc Đồng thời, kiểm toán viên có thể thu thập thông tin về khách hàng từ các luồng thông tin khác như nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra thông tin từ bên thứ ba như ngân hàng, cố vấn pháp lý, các bên có mối quan hệ tài chính buôn bán với khách hàng Trong một số trường hợp khác có thể phải thuê các nhà điều tra chuyên
Trang 23nghiệp đề điều tra về vấn đề cần thiết Đây cũng là cách thu thập thông tin đối với khách hàng trước đây chưa được kiểm toán bởi công ty kiểm toán nào Ngoài những nội dung trên, với những công ty hoạt động trong lĩnh vực
có sự rủi ro cao như bảo hiểm, kinh doanh môi giới chứng khoán …thì việc chấp nhận kiểm toán sẽ càng làm tăng rủi ro hơn cho công ty kiểm toán Vì vậy họ phải tăng cường thêm sự hiểu biết về: vốn chủ sở hữu, chiến lược kinh doanh dài hạn, chính sách hạ giá thành, những vấn đề trong thực hành kế toán, những yêu cầu của Uỷ ban chứng khoán hay ủy ban luật pháp khác
Từ những thông tin thu được trên kiểm toán viên cân nhắc khả năng chấp
nhận kiểm toán cho khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho khách hàng cũ
b Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác định người sử dụng báo cáo tài chính và mục đích sử dụng báo cáo của họ Để biết được điều đó, kiểm toán viên có thể phỏng vấn trực tiếp Ban giám đốc khách hàng (đối với khách hàng mới) hoặc dựa vào kinh nghiệm của cuộc kiểm toán đã được thực hiện trước đó (đối với khách hàng cũ) Và trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán sau này, kiểm toán viên sẽ thu thập thêm thông tin để hiểu biết thêm về lý do kiểm toán của công ty khách hàng
Việc xác định người sử dụng báo cáo tài chính và mục đích sử dụng báo cáo của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến số lượng bằng chứng phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà kiểm toán viên đưa ra trong báo cáo kiểm toán Cụ thể, nếu các báo cáo tài chính cần được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng của cuộc kiểm toán sẽ càng tăng lên Điều này lại càng đòi hỏi phải có một số lượng
và cơ cấu kiểm toán viên thích hợp để thực hiện cuộc kiểm toán
Trang 24c Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
Kiểm toán viên là những người trực tiếp thực hiện các công việc của mỗi cuộc kiểm toán, do vậy chất lượng đội ngũ nhân viên sẽ quyết định chất lượng mỗi cuộc kiểm toán Đồng thời, VSA 220 cũng yêu cầu “Công việc kiểm toán phải được giao cho những cán bộ chuyên nghiệp được đào tạo và có đầy đủ
kỹ năng và năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu thực tế” [6] Việc lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán cần được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ khả năng và yêu cầu chuyên môn kĩ thuật và thường do Ban giám đốc công ty kiểm toán trực tiếp chỉ đạo (thông thường nhóm kiểm toán
có một hoặc hai trợ lý kiểm toán, một kiểm toán viên cao cấp và một chủ nhiệm kiểm toán) Với các hợp đồng lớn, đội ngũ kiểm toán viên thường ở các mức kinh nghiệm khác nhau và có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê, vi tính… còn đối với những hợp đồng nhỏ thì chỉ cần một hoặc hai thành viên trong nhóm kiểm toán Trong quá trình lựa chọn đội ngũ
nhân viên, công ty kiểm toán cần quan tâm tới 3 vấn đề:
* Nhóm kiểm toán có những người có khả năng giám sát thích đáng các nhân viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong nghề Do các trợ lý kiểm toán mới thường không tự tin khi thực hiện công tác kiểm toán do thiếu kinh nghiệm hoặc không hiểu rõ các thủ tục kiểm toán đang thực hiện, tại sao họ phải thực hiện các thủ tục ấy và cách đánh giá các kết quả thu được và đôi khi các trợ lý này thực hiện một cách máy móc các thủ tục kiểm toán dựa theo chương trình kiểm toán trong hồ sơ kiểm toán năm trước
* Công ty kiểm toán cần tránh thay đổi kiểm toán viên trong các cuộc kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm Việc tham gia kiểm toán cho một khách hàng trong nhiều năm có thể giúp kiểm toán viên tích lũy được nhiều kinh nghiệm cũng như có được hiểu biết sâu sắc về ngành nghề kinh doanh của khách hàng đang được kiểm toán
Trang 25* Khi phân công kiểm toán viên thực hiện cuộc kiểm toán cần chú ý lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của khách hàng
Việc quan tâm đầy đủ các vấn đề trên khi lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán sẽ góp phần giúp công ty kiểm toán thực hiện cuộc kiểm toán có chất lượng và hiệu quả
d Hợp đồng kiểm toán
Khi đã quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn đề trên, bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán mà công ty kiểm toán phải đạt được là một hợp đồng kiểm toán Đây là sự thỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán
* Mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cái đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính do kiểm toán độc lập tiến hành, mục tiêu của cuộc kiểm toán thường là xác định tính trung thực và hợp lý của các thông tin trên báo cáo tài chính Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian, thời gian của đối tượng kiểm toán thường được xác định cùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiểm toán Trong cuộc kiểm toán báo cáo tài
Trang 26chính, phạm vi kiểm toán thường là toàn bộ báo cáo tài chính của năm kết thúc
* Trách nhiệm của Ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên: Ban giám đốc có trách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực các thông tin trên báo cáo tài chính, kiểm toán viên có trách nhiệm đưa ra ý kiến độc lập về báo cáo tài chính dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán, và công ty khách hàng có trách nhiệm trong việc cung cấp các tài liệu và thông tin liên quan đến công việc kiểm toán
* Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Kết quả kiểm toán thường được biểu hiện cụ thể dưới hình thức một báo cáo kiểm toán và có kèm theo một thư quản lý trong đó nêu rõ những khiếm khuyết của hệ thống kiểm soát nội bộ hoặc những gợi ý sửa chữa những khiếm khuyết này
* Thời gian tiến hành cuộc kiểm toán gồm thời gian thực hiện kiểm toán sơ bộ, kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo kiểm toán
* Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán phí kiểm toán thường được công ty kiểm toán xác định căn cứ vào thời gian làm việc của các cấp bậc kiểm toán viên khác nhau trong cuộc kiểm toán
* Xác định rằng kiểm toán viên không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất và hạn chế vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và kiểm toán
Hợp đồng kiểm toán là cơ sở để kiểm toán viên thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với khách hàng, nó đảm bảo cho một cuộc kiểm toán thực thi Sau khi hợp đồng kiểm toán được ký kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công ty khách hàng
Trang 271.2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng thể
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, kế hoạch kiểm toán tổng thể là việc cụ thể hóa phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủ tục kiểm toán Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán, trong đó mô tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập chương trình kiểm toán Hình thức và nội dung của
kế hoạch kiểm toán tổng thể thay đổi tùy theo quy mô của khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, phương pháp và kỹ thuật kiểm toán đặc thù do kiểm toán viên sử dụng [1] Những vấn đề chủ yếu kiểm toán viên phải xem xét và trình bày trong kế hoạch kiểm toán tổng thể gồm:
a Thu thập thông tin cơ sở
Trong giai đoạn này, kiểm toán viên phải thu thập hiểu biết về ngành nghề, công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán:
* Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 đòi hỏi kiểm toán viên phải tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng Điều này rất cần thiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận trọng nghề nghiệp đúng mức Mỗi ngành nghề có những đặc điểm riêng và áp dụng những nguyên tắc kế toán đặc thù Thêm vào đó, tầm quan trọng của mỗi nguyên tắc
kế toán cũng thay đổi theo ngành kinh doanh của khách hàng
Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanh bao gồm những hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết cụ thể hơn
về tổ chức và hoạt động của đơn vị kiểm toán, kiểm toán viên còn phải hiểu
cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể như cơ cấu tổ chức, dây
Trang 28chuyền và các dịch vụ sản xuất, cơ cấu vốn, chức năng và vị trí của kiểm toán nội bộ… để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến báo cáo tài chính và để thực hiện quá trình so sánh khách hàng này với các đơn vị trong ngành đó
Kiểm toán viên có thể có được hiểu biết này bằng nhiều cách nhưng phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là trao đổi với các kiểm toán viên, những người đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng những năm trước hoặc đã kiểm toán cho khách hàng khác trong cùng ngành nghề kinh doanh hoặc trao đổi trực tiếp với nhân viên, Ban giám đốc của khách hàng
Ngoài ra, kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các sách báo, tạp chí chuyên ngành
* Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung
Các hồ sơ kiểm toán năm trước thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng, về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểu hoạt động khác Ngoài ra đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với mỗi khách hàng Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: Sơ đồ tổ chức, điều lệ công ty, các bảng kê, chính sách tín dụng, chính sách kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên có thể xác định được các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên báo cáo tài chính được kiểm toán
* Tham quan nhà xưởng
Một vòng tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất
Trang 29kinh doanh của khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng và nó cũng cho phép kiểm toán viên gặp các nhân vật chủ chốt và cung cấp cho kiểm toán viên một cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách hàng (đặc biệt
là công tác bảo vệ tài sản) Điều này tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máy móc lạc hậu hay không được phát huy hết công suất…, do
đó kiểm toán viên dự đoán được những tài khoản trọng yếu trên báo cáo tài chính Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có được những nhận định ban đầu về phong cách quản lý của Ban giám đốc, tính hệ thống trong việc sắp đặt công việc…
* Nhận diện các bên liên quan
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên nên xác định tất
cả các bên có liên quan với khách hàng Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
số 550, các bên liên quan được hiểu là: Các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất kỳ công ty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty khách hàng có quan hệ và các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách kinh doanh doặc chính sách quản trị của công ty khách hàng Kiểm toán viên phải xác định các bên liên quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạn lập kế hoạch thông qua phỏng vấn Ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi khách hàng… từ đó bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên liên quan để có thể hoạch định một
kế hoạch kiểm toán phù hợp
* Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
Thuật ngữ chuyên gia chỉ một người hoặc một văn phòng có năng lực, hiểu biết và kinh nghiệm cụ thể trong một lĩnh vực riêng ngoài lĩnh vực kế
Trang 30toán và kiểm toán Kiểm toán viên có thể thấy rằng không ai trong nhóm kiểm toán có chuyên môn hoặc khả năng về lĩnh vực nào đó để thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết nhất định, ví dụ như khi đánh giá về các tác phẩm nghệ thuật, vàng bạc đá quý, hoặc khi cần tư vấn pháp lý về các hợp đồng… khi đó kiểm toán viên có thể quyết định sử dụng chuyên gia bên ngoài để có được các ý kiến tư vấn từ họ Khi sử dụng chuyên gia, kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên môn, hiểu mục đích và phạm vi công việc của họ cũng như sự phù hợp của việc sử dụng tư liệu đó cho các mục tiêu dự định Kiểm toán viên cũng nên xem xét mối quan hệ giữa chuyên gia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó
b Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Việc thu thập các thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc công ty khách hàng bao gồm bốn loại sau:
* Giấy phép thành lập và điều lệ công ty
Việc nghiên cứu những tài liệu này giúp kiểm toán viên hiểu được về quá trình hình thành, mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị cũng như nắm bắt được những vấn đề mang tính chất nội bộ của đơn vị như cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu…
* Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện hành hay trong vài năm trước
Các báo cáo tài chính cung cấp dữ liệu về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị, giúp kiểm toán viên nhận thức được tổng quát về vấn đề đó và dựa trên cơ sở đó, áp dụng các kỹ thuật phân tích các
Trang 31báo cáo này để nhận thức được xu hướng phát triển của khách hàng Đây là tài liệu quan trọng nhất trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Ngoài ra việc xem xét các báo cáo kiểm toán, các biên bản kiểm tra, thanh tra (nếu có)
sẽ giúp kiểm toán viên nhận thức rõ hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị khách hàng và dự kiến phương hướng kiểm tra
* Biên bản các cuộc họp cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Đây là những tài liệu chính thức và tóm lược về những vấn đề quan trọng nhất đã được thảo luận và quyết định chính thức trong các cuộc họp đó Các biên bản này thường chứa đựng những thông tin quan trọng như: Công bố về
cổ tức, phê chuẩn việc hợp nhất hoặc giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt mua bán, chuyển nhượng các tài liệu quan trọng…
Qua việc nghiên cứu các biên bản này, kiểm toán viên sẽ xác định được những dữ kiện có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành và trình bày trung thực các thông tin trên báo cáo tài chính
c Thực hiện thủ tục phân tích
Thủ tục phân tích, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 520 là “quá trình đánh giá các thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các dữ liệu tài chính và dữ liệu phi tài chính Nó bao hàm cả việc so sánh số liệu trên sổ với các số liệu ước tính của
Trang 32kiểm toán viên” [3] Sau khi đã thu thập được các thông tin cơ sở và thông tin
về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục phân tích đối với các thông tin đã thu thập để hỗ trợ cho việc lập kế hoạch về bản chất, thời gian và nội dung các thủ tục kiểm toán sẽ được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán Các thủ tục phân tích được kiểm toán viên sử dụng gồm hai loại cơ bản:
* Phân tích ngang: Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của
cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài chính Các chỉ tiêu phân tích được sử dụng
để phân tích ngang bao gồm:
+ So sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau Nhờ đó kiểm toán viên thấy được những biến động bất thường và xác định được các lĩnh vực cần quan tâm
+ So sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của kiểm toán viên
+ So sánh dữ kiện của công ty khách hàng với dữ kiện của ngành
* Phân tích dọc: Là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương
quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc có thể là các tỷ suất về khả năng thanh toán, các tỷ suất về khả năng sinh lời…
d Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tính khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một chiến lược, kế hoạch kiểm toán phù hợp
* Đánh giá tính trọng yếu
Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ (hay độ lớn) và bản chất của các sai phạm (kể cả bỏ sót) của các thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ hoặc là từng
Trang 33nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì không thể chính xác hoặc là sẽ rút ra những kết luận sai lầm [14]
Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên phải đánh giá mức độ trọng yếu để ước tính mức độ sai sót của báo cáo tài chính có thể chấp nhận được, xác định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót lên báo cáo tài chính để từ đó xác định bản chất, thời gian và phạm vi các khảo sát (thử nghiệm) kiểm toán Ở đây, kiểm toán viên cần đánh giá mức trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ mức đánh giá đó cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính:
Ước tính ban đầu về tính trọng yếu
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở mức đó các báo cáo tài chính có thể bị sai nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng hay nói cách khác đó chính là những sai sót có thể chấp nhận được đối với toàn bộ báo cáo tài chính Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp kiểm toán viên lập kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Cụ thể là nếu các kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên báo cáo tài chính càng cao, thì số lượng bằng chứng phải thu thập càng nhiều và ngược lại Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc làm mang tính chất xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Do đó ước lượng ban đầu
về tính trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt cuộc kiểm toán nếu kiểm toán viên thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc một trong các nhân tố dùng để xác định mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu bị thay đổi
Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục
Sau khi kiểm toán viên đã có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần phân bổ mức ước lượng này
Trang 34cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính Đó chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục Mục đích của việc phân bổ này là để giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt qua mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu Cơ sở để tiến hành phân bổ là bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm kiểm toán của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục Trong thực tế, rất khó dự đoán về khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm toán cho từng khoản mục nên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên Do vậy công ty kiểm toán thường phân công các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn cao nhiều kinh nghiệm để thực hiện công việc này
* Đánh giá rủi ro
Trên cơ sở mức trọng yếu được xác định cho toàn bộ báo cáo tài chính và phân bổ cho từng khoản mục, kiểm toán viên cần đánh giá khả năng xảy ro sai sót trọng yếu ở mức độ toàn bộ báo cáo tài chính cũng như đối với từng khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từng khoản mục Công việc này gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, rủi ro kiểm toán là rủi ro
do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những sai sót trọng yếu [4] Kiểm toán viên cần đánh giá ba loại rủi ro kiểm toán sau:
Rủi ro cố hữu (Inherent risk): Là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng
từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm
Trang 35soát nội bộ Để đánh giá rủi ro cố hữu, kiểm toán viên dựa vào các yếu tố ảnh hưởng sau:
+ Bản chất kinh doanh của khách hàng: Rủi ro cố hữu thường bị tăng lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh mà nó có thể tạo nên khó khăn cho kiểm toán hoặc những khoản không chắc chắn do đó có thể làm tăng những gian lận hoặc những sai sót trên báo cáo tài chính
+ Tính trung thực của Ban giám đốc: Ban giám đốc không thể xem là hoàn toàn trung thực trong mọi trường hợp Khi Ban giám đốc bị kiểm soát bởi một hoặc một số ít các cá nhân thiếu tính trung thực thì khả năng các báo cáo tài chính bị báo cáo sai nghiêm trọng sẽ tăng lên rất cao, do vậy việc rủi
ro cố hữu được đánh giá ở mức cao
+ Kết quả các lần kiểm toán trước: Đối với các tài khoản được phát hiện có sai phạm trong các lần kiểm toán của năm trước, rủi ro cố hữu được xác định ở mức cao
+ Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Trong các hợp đồng kiểm toán lần đầu, kiểm toán viên thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh giá rủi
ro cố hữu cao hơn so với hợp đồng kiểm toán gia hạn
+ Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: Các nghiệp vụ kinh tế này có khả năng bị vào số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày
do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó, do đó rủi
ro cố hữu đối với các tài khoản chứa các nghiệp vụ này thường được đánh giá cao
+ Các ước tính kế toán: Rủi ro cố hữu của các tài khoản phản ánh các ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, đánh giá sản phẩm dở dang,…) thường được đánh giá là cao vì việc vào sổ đúng đắn các khoản mục này không những đòi hỏi sự hiểu biết về
Trang 36bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan mà còn cả kinh nghiệm và sự phát xét chủ quan của người có trách nhiệm
+ Số lượng tiền của các số dư tài khoản: Các tài khoản có số dư bằng tiền lớn thường được đánh giá là rủi ro cố hữu cao hơn so với tài khoản có số
dư bằng tiền nhỏ
Kiểm toán viên cần đánh giá lần lượt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro cố hữu thích hợp đối với từng khoản mục trên báo cáo tài chính
Rủi ro kiểm soát (control risk): Đây là loại rủi ro liên quan đến sự yếu
kém của hệ thống kiểm soát nội bộ Rủi ro kiểm soát là khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu quả do đó đã không phát hiện và ngăn chặn các sai phạm này Rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá đối với từng khoản mục trên báo cáo tài chính thường qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng đối với khoản mục này Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránh khỏi do những hạn chế cố hữu của bất kỳ
hệ thống kiểm soát nội bộ nào Việc đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ được thực hiện theo một trình tự nhất định và có thể khái quát thành bốn bước cơ bản sau:
+ Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ và mô tả chi tiết
hệ thống kiểm soát nội bộ trên giấy tờ làm việc: Trong giai đoạn này, kiểm toán viên tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị khách hàng trên hai mặt chủ yếu: Thiết kế kiểm soát nội bộ bao gồm thiết kế về quy chế kiểm soát và thiết kế về bộ máy kiểm soát; hoạt động liên tục và có hiệu lực của kiểm soát nội bộ
+ Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho các khoản mục trên báo cáo tài chính: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số
400, “sau khi hiểu được hệ thống kế toán và kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên
Trang 37phải thực hiện đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát theo các cơ sở dẫn liệu cho số dư của mỗi tài khoản trọng yếu” Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ Nếu hệ thống kiểm soát nội
bộ được thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp
và ngược lại
+ Thực hiện thử nghiệm kiểm soát: Mục đích của thử nghiệm này là thu thập bằng chứng về sự hữu hiệu của các quy chế và thủ tục kiểm soát để giảm bớt các thử nghiệm cơ bản trên số dư và nghiệp vụ Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện với những phương pháp khác nhau tùy thuộc từng trường hợp cụ thể Phương pháp kiểm tra tài liệu hoặc thực hiện lại các thủ tục kiểm soát được áp dụng nếu các thủ tục để lại các dấu vết trực tiếp trên tài liệu như các chữ ký phê duyệt, hóa đơn lưu… Nếu các thủ tục kiểm soát không để lại dấu vết trong tài liệu kiểm toán viên tiến hành quan sát các hoạt động liên quan đến kiểm soát nội bộ hoặc phỏng vấn nhân viên đơn vị về các thủ tục kiểm soát
Lập bảng đánh giá kiểm soát nội bộ theo những thông tin và các tiêu chuẩn đánh giá về một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt được tổng hợp qua các bước trên Bảng đánh giá kiểm soát nội bộ thường phản ánh các thông tin sau: Các mục tiêu của kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục hay chu trình nghiệp vụ, các thông tin mô tả thực trạng kiểm soát nội bộ do kiểm toán viên thu thập, nguyên tắc thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát, đánh giá về kiểm soát nội bộ đối với từng khoản mục hay chu trình nghiệp vụ
Rủi ro phát hiện (Detective risk): Là khả năng xảy ra các sai sót hoặc
gian lận mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội
bộ và cũng không được kiểm toán viên phát hiện thông qua các phương pháp kiểm toán Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro là rủi ro kiểm toán mong muốn , rủi ro cố hữu và rủi ro kiểm soát Vì ba loại rủi ro này thay đổi
Trang 38đối với từng khoản mục trên báo cáo tài chính nên rủi ro phát hiện và số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cũng thay đổi theo Rủi ro phát hiện trong mối quan hệ với ba loại rủi ro trên được thể hiện qua mô hình sau:
DAR = IR x CR x DR
Hay DR = DAR / (IR x CR)
Trong đó: DAR : Rủi ro kiểm toán
IR : Rủi ro cố hữu
CR : Rủi ro kiểm soát
DR : Rủi ro phát hiện [18] Các loại rủi ro kiểm toán có thể được đánh giá cụ thể bằng các con số theo tỷ lệ phần trăm hoặc được đánh giá một cách khái quát theo yếu tố định tính như thấp, trung bình hay cao
e Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá rủi ro kiểm soát
* Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lên kế hoạch kiểm toán và xây dựng cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả” [4]
Các y ếu tố cần xem xét về hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm:
- Môi trường kiểm soát: kiểm toán viên phải hiểu về môi trường kiểm soát để đánh giá quan điểm quản lý, nhận thức, sự quan tâm tới hệ thống kiểm toán nội bộ Phần này bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài có tính chất môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt động và xử lý dữ liệi: như triết lý quản trị và phong cách điều hành hoạt động của ban quản trị, cơ cấu tổ chức quyền hạn trách nhiệm của các bộ phận, chính sách nhân sự, những ảnh
hưởng từ bên ngoài đến hoạt động của doanh nghiệp
Trang 39- Hệ thống kế toán: kiểm toán viên phải hiểu về hệ thống kế toán để xác định các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu; nguồn gốc của các nghiệp vụ này; tổ chức của đơn vị bao gồm hệ thống chứng từ, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài khoản, hệ thống bảng tổng hợp cân đối kế toán Trong đó, quá trình lập và
luân chuyển chứng từ là quan trọng nhất đối với hoạt động kiểm soát nội bộ
- Các thủ tục kiểm soát: đây là phần quan trọng nhất trong hệ thống kiểm soát nội bộ cho thấy các thủ tục được thiết lập để kiểm tiến hành các hoạt động trong đơn vị Kiểm toán viên phải hiểu về các thủ tục được đơn vị thiết lập và các thủ tục còn thiếu phải bổ sung Khi xem xét phải xem xét các thủ tục được thiết lập dựa trên 3 nguyên tắc: bất kiêm nhiệm, phân công phân
nhiệm, nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn
- Kiểm toán nội bộ: là bộ phận được thiết kế trong tổ chức nhằm kiểm tra đánh giá các hoạt động của tổ chức
Các ph ương pháp tiếp cận để hiểu biết hệ thống kiểm soát nội bộ: Vì các
nghiệp vụ các tài khoản trên báo cáo tài chính vừa có tính độc lập vừa có mối liên hệ với nhau nên kiểm toán viên có thể tiếp cận theo khoản mục nhằm đánh giá ảnh hưởng của KSNB tới các số dư trên báo cáo tài chính hoặc tiếp cận theo chu trình để thấy sự ảnh hưởng của KSNB tới chu trình nghiệp vụ Các kỹ thuật áp dụng để tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ:
- Thực hiện kỹ thuật kiểm tra từ đầu đến cuối đối với hệ thống kế toán và các thủ tục xử lý hệ thống này
- Dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng
- Thẩm vấn nhân viên của khách hàng
- Xem xét sổ tay về thủ tục và chế độ của công ty khách hàng
- Kiểm tra chứng từ và sổ sách đã hoàn tất
- Quan sát quá trình hoạt động của công ty khách hàng
Trang 40Sau khi tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên thể hiện những hiểu biết đó thông qua: Bảng câu hỏi về hệ thống kiểm soát nội bộ, Bảng tường thuật về kiểm soát nội bộ, Lưu đồ
* Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400 – Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ Dựa trên hiểu biết hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội
bộ, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát đối với cơ sở dẫn liệu cho từng số dư tài khoản hoặc các nghiệp vụ kinh
tế chủ yếu”
Rủi ro kiểm soát được đánh giá thông qua những hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành hữu hiệu thì rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức thấp và ngược lại Kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro theo các yếu tố định tính thấp, trung bình, cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm Đánh giá của kiểm toán viên về hệ thống này ảnh hưởng trực tiếp đến việc thiết kế các thử nghiệm cơ bản
Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa tức là hệ thống kiểm soát nội bộ không hoạt động hoặc hoạt động không hiệu lực, không phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời sai phạm trọng yếu thì kiểm toán viên không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ Khi đó, kiểm toán viên bỏ qua thử nghiệm kiểm soát để thực hiện ngay các thử nghiệm cơ bản để phát hiện những hành
vi gian lận hoặc sai phạm trọng yếu Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá thấp hơn mức tối đa, kiểm toán viên sẽ dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ để giảm thiểu các thử nghiệm cơ bản Khi đó kiểm toán viên thực hiện cả thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản
a Chương trình kiểm toán
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, chương trình kiểm toán là toàn bộ những chỉ dẫn cho kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán tham gia vào