viết đã đề cập chuyên sâu về công tác thực hiện kiểm soát và các lỗi gặp phải của các đơn vị sử dụng NSNN trong quá trình kiểm soát chi và đưa ra giải pháp mang tính nghiệp vụ để khắc ph
Trang 1NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ
NƯỚC HUYỆN IAGRAI, TỈNH GIA LAI
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trương Bá Thanh
Đà Nẵng – Năm 2014
Trang 2Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Đà Nẵng, tháng 06 năm 2014
Tác giả
NGUYỄN THỊ BẢO NGỌC
Trang 3TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 4Số hiệu Tên bảng Trang
2.1 Trình độ cán bộ Kho Bạc Nhà nước Ia Grai năm 2013
Error: Referen ce source not found
2.2 Tình hình chi thường xuyên NSNN (theo nhóm mục
chi) qua KBNN Ia Grai giai đoạn 2009 – 2013
Error: Referen ce source not found
2.3 Kết quả công tác chi thường xuyên NSNN qua KBNN
Ia Grai giai đoạn 2009-2013
Error: Referen ce source not found
Trang 5Số hiệu Tên bảng Trang
2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của Kho Bạc Nhà Nước
Ia Grai
Error: Referenc
e source not found
2.2 Sơ đồ quy trình kiểm soát trong khi chi thường xuyên
Ngân sách nhà nước tại Kho bạc Nhà Nước Ia Grai
Error: Referenc
e source not found
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế của đất nước, công tác quản lý quỹ Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã có những đổi mới căn bản Đặc biệt, từ khi có luật NSNN ban hành năm 1997 đến nay, việc quản lý chi tiêu NSNN đã đạt một số kết quả nhất định, ý thức chấp hành kỷ luật tài chính ở các ngành, các cấp được nâng cao Tuy nhiên, tình hình sử dụng công quỹ có thể nói còn rất nhiều lãng phí và phô trương hình thức Tình trạng tùy tiện sử dụng NSNN chưa được ngăn chặn triệt để, công tác quản lý Ngân sách còn bộc lộ nhiều hạn chế cần được điều chỉnh Khi nguồn thu ngân sách còn nhiều hạn chế, tình hình bội chi ngân sách liên tục diễn ra thì việc kiểm soát chặt chẽ các khoản chi nhằm đảm bảo các khoản chi ngân sách được sử dụng đúng mục đích, chế độ, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong từng khâu hoặc từng bộ phận của quy trình quản lý chi NSNN nói chung và kiểm soát chi qua KBNN nói riêng còn bộc lộ những khiếm khuyết, kém hiệu quả Trong lĩnh vực chi thường xuyên, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện thấy nhiều hình thức làm thất thoát, gây sai phạm khiến cho con số thất thoát NSNN cao Hầu hết các tỉnh được kiểm toán đều chi ngân sách thường xuyên vượt dự toán Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Như tháng 12/2005, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được ban hành Tất cả các bộ, ngành, địa phương và tổ chức
đã tích cực triển khai thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Kho bạc Nhà nước (KBNN) được giao nhiệm vụ kiểm soát các khoản chi NSNN nhằm đảm bảo khi xuất quỹ các khoản chi phải đủ các điều kiện chi, tiết kiệm và có hiệu quả
Trang 8giữ cho các chế độ về chi tiêu ngân sách không bị phá vỡ, góp phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Qua hơn 17 năm thực hiện công tác kiểm soát chi NSNN của hệ thống KBNN, KBNN tỉnh Gia Lai nói chung và KBNN huyện Ia Grai nói riêng đã
có nhiều chuyển biến tích cực Trong cơ chế kiểm soát chi thường xuyên KBNN Ia Grai đã từng bước được hoàn thiện hơn theo hướng hiệu quả, ngày một chặt chẽ và đúng mục đích hơn cả về quy mô và chất lượng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn tình trạng sử dụng NSNN kém hiệu quả gây lãng phí; các khoản chi thường xuyên còn vượt dự toán đầu năm nên việc bổ sung, điều chỉnh dự toán xảy ra thường xuyên dễ phát sinh những tiêu cực; cơ chế quản lý trên địa bàn đôi lúc còn bị động, thiếu kiểm soát; công tác điều hành NSNN trên địa bàn còn nhiều bất cập; năng lực kiểm soát chi NSNN qua KBNN trên địa bàn còn bộc lộ hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ Vì vậy, tăng cường công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cần được thực hiện một cách kịp thời, khoa học và có hệ thống
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai” với mong muốn đưa ra các giải pháp thiết
thực nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN trên địa bàn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và nêu lên thực trạng của công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Ia Grai, trên cơ sở đó đánh giá những mặt đã làm được, những mặt còn tồn tại và tìm ra nguyên nhân của những điều tồn tại Từ đó tìm ra những giải pháp, kiến nghị có tính thực tiễn và khoa học nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
Trang 9NSNN qua KBNN Ia Grai.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN của KBNN Ia Grai
Phạm vi nghiên cứu: là chi thường xuyên của NSNN tại KBNN Ia Grai.Phần thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Ia Grai lấy số liệu và thực tế công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN trên địa bàn huyện Ia Grai giới hạn trong khoảng từ năm 2009-2013 (Từ khi thay đổi hệ thống lục lục NSNN), trên cơ sở đó sẽ đề xuất các kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Ia Grai
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp suy luận logic phổ biến; các phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp, các phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê so sánh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN; lấy số liệu thực tế tổng quát tình hình công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Ia Grai từ năm 2009-2013 để khái quát hóa tình hình thực tế công tác kiểm soát chi thường xuyên tại đơn vị
có hệ thống hơn; Phân tích, đánh giá cụ thể thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Ia Grai Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát các khoản chi thường xuyên của các đơn vị sử dụng NSNN trên địa bàn, góp phần thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong chi tiêu NSNN
Trang 107 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chi ngân sách là một vấn đề hệ trọng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực nên công tác kiểm soát chi rất được chú trọng, đặc biệt là công tác kiểm soát chi thường xuyên Do đó đã có không ít các hội thảo, đề tài nghiên cứu khoa học trong và ngoài ngành; Các luận văn, bài báo viết về công tác kiểm soát chi với nhiều góc độ khác nhau Có thể nêu một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như:
- Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN, của tác giả Nguyễn Đình Linh số 135 (09/2013) tạp chí
Quản lý Ngân quỹ quốc gia trang 18-19 Tác giả đã nêu lên thực trạng của công tác kiểm soát chi thường xuyên trên nguyên tắc quản lý theo rủi ro, là những sai sót thường gặp phải trong quá trình kiểm soát các đơn vị sử dụng NSNN Nêu lên những hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó, từ đó đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN với hình thức gắn kết giữa tiểu mục chi với chế độ tiêu chuẩn, định mức chi của cấp có thẩm quyền ban hành; phương pháp ghi chép nội dung chi trên chứng từ; thống nhất xác định nội dung chi phù hợp với những tiểu mục chi chung chung hoặc chi khác; hồ sơ chứng từ kèm theo Bài
Trang 11viết đã đề cập chuyên sâu về công tác thực hiện kiểm soát và các lỗi gặp phải của các đơn vị sử dụng NSNN trong quá trình kiểm soát chi và đưa ra giải pháp mang tính nghiệp vụ để khắc phục những sai sót đó, chứ chưa đi phân tích nhiều mặt của công tác kiểm soát chi thường xuyên về cơ chế chính sách, điều hành…
- Kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị Sự nghiệp Công lập tự chủ tài chính, của tác giả Th.s Nguyễn Xuân Tú và Th.s Nguyễn Hải Yến số
134 (08/2013) tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia trang 22-25 Tác giả đã dẫn chứng số liệu kiểm soát chi thường xuyên đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế tự chủ tài chính giai đoạn 2009-2011 của KBNN Vĩnh Phúc Từ đó nêu lên những kết quả đạt được, một số hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế đó, đưa ra các giải pháp mang tính khái quát nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi qua KBNN Vĩnh Phúc Bài viết chủ yếu đi sâu vào các hạn chế và đưa ra nhiều biện pháp mang tính tổng quát nhằm khắc phục những hạn chế đó
- Kiểm soát chi ngân sách: Những kiến nghị, của tác giả Lâm Hồng
Cường số 129 (03/2013) tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia trang 34-36 Tác giả đã nhìn công tác kiểm soát chi ở nhiều giác độ khác nhau, phân biệt rõ ràng nhiệm vụ của các đơn vị đều tham gia trong công tác kiểm soát chi Nêu lên thực tế công tác kiểm soát chi hiện nay và đưa ra đề xuất trong tổ chức kiểm soát chi
- Quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN: Những đề xuất và giải
pháp, của Thạc sĩ Hoàng Thị Xuân số 110 (08/2011) tạp chí Quản lý Ngân quỹ quốc gia trang 14-17 Bài viết bước đầu đưa ra một số đề xuất về quy trình kiểm soát chi NSNN qua KBNN của nước ta trong giai đoạn hiện nay, các quy trình về kiểm soát chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển hiện nay thực hiện như thế nào và những vướng mắc mắc gặp phải, từ đó đề xuất cụ
Trang 12thể quy trình kiểm soát chi NSNN trong thời gian tới.
Các luận văn đề cập đến đến công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN như:
- Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Gia Lai, luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Thân Tùng Lâm trường Đại học
kinh tế Đà Nẵng (2012) Đề tài đã nêu lên lý thuyết khái quát về công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN, từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán
và quyết toán chi thường xuyên NSNN, nêu ra các tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên Phần thực trạng đi vào phân tích khái quát công tác kiểm soát chi của đơn vị KBNN Gia Lai phân theo nội dung kinh tế các nhóm mục chính Nêu lên măt được, mặt chưa được của công tác kiểm soát chi của KBNN Gia Lai Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục khá sát với những hạn chế gặp phải trong quá trình thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên
- Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Khánh Hòa, luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Đỗ Thị Thùy Trang (2012) trường
Đại học kinh tế Đà Nẵng Đề tài nêu lên các lý luận theo hệ thống đi từ NSNN, chi NSNN mới đến kiểm soát chi thường xuyên NSNN khá xuyên suốt liền mạch, nêu lên nội dung, cơ chế kiểm soát chi hiện hành và các kinh nghiệm kiểm soát chi của các nước trên thế giới rút ra bài học cho Việt Nam
Từ đó phần thực trạng nêu lên chi tiết công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN của KBNN Khánh Hòa từ quy trình thực hiện kiểm soát chi đến số liệu về công tác đó Nhằm thấy kết quả khả quan cũng như những mặt chưa tốt của công tác kiểm soát chi thường xuyên KBNN Khánh Hòa, nêu lên nguyên nhân, đề xuất giải pháp và các kiến nghị để thực hiện được các giải pháp đã đưa ra
- Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
Trang 13Cẩm Lệ, luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Bá Tưởng trường Đại học kinh tế
Đà Nẵng (2011) Đề tài đã nêu lên thực tiễn kiểm soát trong quản lý, những vấn đề lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN, nêu lên quy trình kiểm soát chi thường xuyên của từng nội dung công việc cụ thể kết hợp với số liệu thể hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Cẩm Lệ Bám sát thực tế công tác kiểm soát chi nêu măt hạn chế, tìm ra nguyên nhân
và đề xuất giải pháp mang tính tổng quát và các kiến nghị để thực hiện được các giải pháp đã đưa ra
Về lý luận và thực tiễn, các tác giả đã đưa ra nhiều những vấn đề quan trọng liên quan đến công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN Các đề tài, bài viết đã đi sâu vào từng vấn đề cụ thể của công tác kiểm soát chi nói chung cũng như công tác kiểm soát chi thường xuyên nói riêng Mỗi bài viết là một cách tiếp cận và triển khai vấn đề khác nhau, nói chung đã nêu lên thực trạng, các vướng mắc cần tháo gỡ và đề xuất các biện pháp để khắc phục Các luận văn trên đã đi sâu vào phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên trên từng địa bàn mà KBNN quản lý để tìm ra những hạn chế cần được khắc phục nhằm đưa ra các biện pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên trên địa bàn đó
Tác giả nhận thấy rằng tất cả các công trình nghiên cứu, các bài viết trên tạp chí đã công bố nói trên là những công trình khoa học có giá trị cao về lý luận và thực tiễn Tuy nhiên những nghiên cứu trên lại ở những thời điểm khác nhau và ở những địa bàn khác nhau Do vậy mà đề tài tác giả chọn hiện nay không trùng với bất cứ công trình khoa học hay luận văn nào đã công bố Các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, tài liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài được tác giả tiếp thu có chọn lọc trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng của mình
Trang 14CHƯƠNG 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO
BẠC NHÀ NƯỚC1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Tổng quan về Ngân sách Nhà Nước
Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của từng cộng đồng
NSNN được dùng để chỉ các khoản thu nhập và các khoản chi tiêu của Nhà nước được thể chế hóa bằng pháp luật Cho đến nay, các Nhà nước khác nhau đều tạo lập và sử dụng NSNN
Qua chắt lọc, đúc kết từ những kinh nghiệm và thực tế hình thành NSNN của các nước trên thế giới; ứng với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Việt Nam và điều kiện kinh tế của Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cùng toàn Đảng, toàn dân xây dựng Luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002, trong đó NSNN được định nghĩa như sau:
"Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước" [22]
NSNN có tính niên hạn với niên độ hay năm tài khoá thường là một năm Ở nước ta hiện nay, năm ngân sách bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm dương lịch NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm Trong đó, Quốc hội là cơ quan cao
Trang 15nhất có quyền quyết định dự toán và phê chuẩn quyết toán NSNN.
NSNN có hai chức năng cơ bản là chức năng phân phối và chức năng giám đốc Chức năng phân phối của NSNN bao gồm phân phối thu nhập và các yếu tố đầu vào của sản xuất, đặc biệt là các nguồn lực tài chính Chức năng giám đốc thể hiện ở việc giám sát, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra bằng đồng tiền gắn với quá trình thu, chi NSNN
NSNN có hai nội dung cơ bản là thu NSNN và chi NSNN
1.1.2 Tổng quan về Chi Ngân sách Nhà Nước
a Khái niệm chi Ngân sách Nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm trang trải cho các chi phí của bộ máy nhà nước và thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính
trị, xã hội, an ninh, quốc phòng Theo các nhà chuyên môn tài chính: “Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định” [15]
Theo luật NSNN 2002 thì định nghĩa: “Chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật” [22] Khái niệm trên đã chỉ ra một cách khá đầy đủ những nội dung cơ bản, mang tính then chốt cho việc bảo đảm các hoạt động của bộ máy Nhà nước, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau
b Phân loại chi Ngân sách Nhà nước
Chi NSNN bao gồm nhiều khoản chi khác nhau tùy theo cách phân loại
Để điều hành các khoản chi tiêu một cách có hiệu quả mỗi quốc gia đều có sự phân chia khác nhau về các nhóm chi Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN theo những tiêu thức, tiêu chí nhất định vào các
Trang 16nhóm, các loại chi Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN, song ta có thể sắp xếp theo những tiêu thức phân loại chủ yếu sau:
Theo mục đích chi của NSNN, chi NSNN bao gồm:
Chi để đảm bảo cho bộ máy Nhà nước tồn tại và hoạt động bình thường, bao gồm: Các khoản chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm các trang thiết bị cho trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước; Các khoản chi trực tiếp cho con người như tiền lương, tiền công, tiền thưởng, các khoản tiền phúc lợi của đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước; Các khoản chi thường xuyên để duy trì hoạt động của các cơ quan, đơn vị thuộc bộ máy Nhà nước
Chi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, bao gồm: Chi cho quốc phòng, an ninh như: Chi xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, vũ khí; chi trực tiếp cho đội ngũ sĩ quan, chiến sĩ; chi thường xuyên cho các lực lượng quốc phòng, an ninh thực hiện nhiệm vụ; Chi cho phát triển văn hóa, giáo dục, y tế xã hội; Chi cho phát triển kinh tế chi đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như: giao thông, thủy lợi, điện, hệ thống thông tin liên lạc ; chi đầu tư trực tiếp cho một số ngành kinh tế then chốt, mũi nhọn của nền kinh tế; các khoản chi khác như: chi cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ ; Chi cho nhiệm vụ đối ngoại như việc đóng góp vào các quỹ tài chính Quốc gia; chi phí cho đoàn ra, đoàn vào; chi cho việc tổ chức hội nghị, giao lưu quốc tế
Theo mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN bao gồm:
Chi tiêu dùng là những khoản chi nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu trước mắt và thường được sử dụng hết sau khi đã chi cho bộ máy Nhà nước,
an ninh, quốc phòng, văn hóa – xã hội cụ thể là: các khoản chi lương, các khoản chi có tính chất lương và chi hoạt động Nhìn chung, chi tiêu dùng là những khoản chi có tính chất thường xuyên
Trang 17Chi tích lũy là những khoản chi mà hiệu quả của nó có tác dụng lâu dài, các khoản chi này chủ yếu được sử dụng để phát huy hiệu quả trong tương lai như: chi xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế - kỹ thuật, chi nghiên cứu khoa học – công nghệ, công trình công cộng, bảo vệ môi trường…
Theo tính chất sử dụng của các khoản chi, chi NSNN bao gồm:
Chi đầu tư phát triển: là khoản chi phản ánh việc Nhà nước sử dụng một
bộ phận NSNN để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển sản xuất nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế Đây là khoản chi mang tính tích lũy Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 60/2003/NĐ-CP [9] thì các khoản chi được xếp vào loại chi đầu tư phát triển gồm: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; chi đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính Nhà nước; chi bổ sung dự trữ Nhà nước; chi đầu tư phát triển thuộc các mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước… Chi đầu tư phát triển phải đảm bảo cấp đủ và đúng tiến dộ thực hiện trong phạm vi dự toán được giao
Chi thường xuyên: là khoản chi nhằm thực hiện nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý các mặt của đời sống xã hội Đây là những khoản chi mang tính ổn định, định kỳ, lặp đi lặp lại và khoản chi mang tính tiêu dùng, vì vậy nó không có tính tích lũy Những khoản chi này gồm: Chi cho các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa, thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ; chi cho hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế; chi cho quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội… chi thường xuyên theo định kỳ được bố trí kinh phí đều trong năm để chi.Ngoài ra còn có các loại chi ngân sách khác như: chi trả nợ gốc và lãi vay các khoản tiền do Chính phủ vay, chi viện trợ của Ngân sách trung ương
Trang 18cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước, chi cho vay của ngân sách trung ương, chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, chi chuyển nguồn ngân sách.
Trong đó chi thường xuyên là nhóm chi đặc biệt quan trọng, gồm rất nhiều khoản chi và bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
c Điều kiện chi Ngân sách Nhà nước
Các điều kiện chi NSNN được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 5 Luật NSNN năm 2002 [22], Điều 51 Nghị định 60/2003/NĐ-CP [9] và Thông tư 161/2012/TT-BTC [6] Các điều kiện cụ thể đó gồm:
- Các khoản chi dự định thực hiện phải có trong dự toán NSNN được giao, trừ các trường hợp sau:
+ Dự toán ngân sách và phân bổ dự toán ngân sách chưa được cơ quan
- Có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo quy định;
- Ngoài các điều kiện trên; trường hợp sử dụng vốn, kinh phí NSNN để đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì còn phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật;
- Các khoản chi có tính chất thường xuyên được chia đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc chỉ phát sinh vào một số thời
Trang 19điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa lớn và các khoản chi có tính chất không thường xuyên khác phải thực hiện theo dự toán quý được đơn
vị dự toán cấp I giao cùng với giao dự toán năm
1.1.3 Kiểm soát chi Ngân sách Nhà Nước
a Khái niệm kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước
Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên
cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ
Kiểm soát chi NSNN qua KBNN là việc KBNN thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát, thanh toán và chi trả các khoản chi của NSNN
b Phân loại kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước
Phân loại kiểm soát chi NSNN theo thời gian thì có các hình thức kiểm soát chi NSNN sau:
- Kiểm soát trước khi chi: chính là kiểm soát phòng ngừa, đây là loại hình kiểm soát bao gồm những biện pháp được áp dụng trước khi một nghiệp
vụ phát sinh, nhằm đề phòng rủi ro, loại trừ các sai phạm ngay từ ban đầu
- Kiểm soát trong khi chi: là bao gồm các hoạt động kiểm soát được tiến hành ngay trong quá trình thực hiện nghiệp vụ nhằm phát hiện, ngăn ngừa các sai lầm có thể sảy ra
- Kiểm soát sau khi chi: là công tác đôn đốc, nhắc nhở các ĐVSDNS quyết toán các khoản chi đúng chế độ, đúng thời gian quy định Thực hiện
Trang 20xác nhận, làm căn cứ để cơ quan tài chính xét duyệt một cách nhanh chóng
Tất cả các cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí NSNN phải mở tài khoản tại KBNN; chịu sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan tài chính, KBNN trong quá trình lập, phân bổ và thực hiện dự toán được giao
Mọi khoản chi NSNN được hạch toán bằng đồng Việt Nam theo niên độ ngân sách, cấp ngân sách và mục lục NSNN Các khoản chi NSNN bằng ngoại tệ, hiện vật, ngày công lao động được quy đổi và hạch toán bằng đồng Việt Nam theo tỷ giá ngoại tệ, giá hiện vật, ngày công lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Việc thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN thực hiện theo nguyên tắc trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ; trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, KBNN thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng NSNN
Trong quá trình kiểm soát, thanh toán, quyết toán chi NSNN các khoản chi sai phải thu hồi giảm chi hoặc nộp ngân sách Căn cứ vào quyết định của cơ quan tài chính hoặc quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, KBNN thực hiện việc thu hồi cho NSNN theo đúng trình
tự quy định
Trang 211.2 CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước
Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội
Chi thường xuyên có một số đặc điểm cơ bản như sau:
Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên từ NSNN đều mang
tính chất ổn định và có tính chu kỳ trong một khoảng thời gian hàng tháng, hàng quý, hàng năm
Thứ hai, các khoản chi thường xuyên phần lớn nhằm mục đích tiêu dùng
Hầu hết các khoản chi thường xuyên nhằm trang trải những nhu cầu của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công Thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, chi cho quốc phòng, an ninh, hoạt động của Đảng, của các cơ quan nhà nước và nhiều hoạt động sự nghiệp khác nữa Các hoạt động này hầu như không trực tiếp tạo ra của cải vật chất Tuy nhiên, những khoản chi thường xuyên có tác dụng quan trọng đối với phát triển kinh
tế vì nó tạo ra môi trường kinh tế ổn định, nâng cao chất lượng lao động thông qua các khoản chi cho giáo dục – đào tạo
Thứ ba, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN gắn liền với cơ cấu
tổ chức bộ máy nhà nước và việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị,
xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ Bởi lẽ, phần lớn các khoản chi thường xuyên nhằm duy trì đảm bảo hoạt động bình thường, hiệu quả của bộ máy quản lý Nhà nước Hơn nữa, những quan điểm, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc
Trang 22định hướng, phạm vi và mức độ chi thường xuyên NSNN.
1.2.2 Phân loại chi thường xuyên Ngân sách Nhà Nước
a Căn cứ theo nhiệm vụ chi
Chi thường xuyên NSNN bao gồm 12 nội dung chi, bao gồm:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế;
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước;
- Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam;
- Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;
- Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
- Phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự
án Nhà nước;
- Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội;
- Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp;
- Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật
b Căn cứ theo nội dung kinh tế
Chi thường xuyên gồm nhóm mục chi cụ thể như sau:
- Nhóm các khoản chi cho cá nhân gồm: Tiền lương; tiền công trả cho
Trang 23lao động thường xuyên theo hợp đồng; phụ cấp lương; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; Các khoản đóng góp; Chi cho cán bộ
xã, thôn, bản đương chức; Các khoản thanh toán khác cho cá nhân
- Nhóm chi về hàng hóa dịch vụ gồm: Thanh toán dịch vụ công cộng; vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mướn; chi đoàn ra, đoàn vào; sửa chữa tài sản phục vụ công tác chuyên môn và duy tu, bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng từ kinh phí thường xuyên; Chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành
- Nhóm chi hỗ trợ và bổ sung gồm: Chi hỗ trợ kinh tế tập thể và dân cư; chi về công tác người có công với cách mạng và xã hội; trợ giá theo chính sách của Nhà nước; chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội; chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới; Chi xúc tiến thương mại và các khoản phụ thu; chi viện trợ
- Nhóm các khoản chi khác gồm: Nhóm mục lục NSNN không nằm trong ba nhóm mục trên, như là: Chi bổ sung Qũy dự trữ tài chính; chi hoàn thuế giá trị gia tăng; chi xử lí tài sản được xác lập sở hữu Nhà nước; chi các khoản thu năm trước và chi trả lãi do trả chậm; chi hoàn trả giữa các cấp ngân sách
1.3 KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC
1.3.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kho bạc Nhà Nước
Hệ thống KBNN Việt Nam được thành lập theo quyết định số 07/HĐBT ngày 04/01/1990 của Hội đồng Bộ trưởng Từ ngày thành lập đến nay, qua từng thời kỳ xây dựng và phát triển, chức năng nhiệm vụ của KBNN được thay đổi để đáp ứng với sự phát triển của đất nước Theo quyết định số 108/2009/QĐ-TTg ngày 26/08/2009 của Thủ Tướng Chính Phủ quy định
Trang 24chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN trực thuộc Bộ Tài chính[25] KBNN có các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu sau:
a Chức năng của KBNN
KBNN là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật
b Nhiệm vụ và quyền hạn của Kho Bạc Nhà Nước
- Quản lý quỹ NSNN, qũy tài chính nhà nước và các quỹ khác được giao theo quy định của pháp luật:
+ Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu NSNN; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ NSNN các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại hệ thống KBNN; thực hiện hạch toán số thu NSNN cho các cấp ngân sách theo quy định của Luật NSNN và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi của NSNN và các nguồn vốn khác được giao theo quy định của pháp luật;
+ Quản lý, kiểm soát và thực hiện nhập, xuất các quỹ tài chính nhà nước
và các quỹ khác do KBNN quản lý; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
+ Quản lý tài sản quốc gia quý hiếm được giao theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, tài sản, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN
Trang 25- Được trích tài khoản của tổ chức, cá nhân mở tại KBNN để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy định của pháp luật; từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức hạch toán kế toán NSNN, các quỹ và tài sản của Nhà nước được giao quản lý, các khoản vay nợ, viện trợ, trả nợ của Chính phủ và chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật;
- Tổ chức thực hiện công tác thống kê KBNN và chế độ báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật
- Tổ chức quản lý, điều hành ngân quỹ KBNN tập trung, thống nhất trong toàn hệ thống:
+ Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản tiền gửi và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt, chuyển khoản đối với tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN;
+Mở tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng nhà nước
và các NHTM để thực hiện các nghiệp vụ thu, chi, thanh toán của KBNN theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
+Được sử dụng ngân quỹ KBNN để tạm ứng cho NSNN theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
+ Xây dựng và phát triển hệ thống các công cụ, nghiệp vụ quản lý hiện đại theo nguyên tắc đảm bảo an toàn và hiệu quả ngân quỹ KBNN
- Tổ chức huy động vốn cho NSNN và đầu tư phát triển thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ
- Tổ chức quản trị và vận hành hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
Trang 261.3.2 Khái niệm công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho Bạc Nhà Nước
Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là quá trình KBNN thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN của các đối tượng sử dụng NSNN, phù hợp với các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do nhà nước quy định, theo những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN
Nhiệm vụ của KBNN trong công tác kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN sau:
- Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán NSNN, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán NSNN được cấp có thẩm quyền giao, số dư tài khoản dự toán của đơn vị còn đủ để chi
- Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi
- Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi, bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN, KBNN căn cứ vào dự toán NSNN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
1.3.3 Trách nhiệm và quyền hạn của Kho Bạc Nhà Nước trong việc quản
lý, kiểm soát thanh toán các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà Nước
- Kiểm soát các hồ sơ, chứng từ chi và thực hiện thanh toán kịp thời các khoản chi ngân sách đủ điều kiện thanh toán theo quy định
- Tham gia với cơ quan tài chính, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc kiểm tra tình hình sử dụng ngân sách; xác nhận số thực
Trang 27chi, số tạm ứng, số dư kinh phí cuối năm ngân sách của các ĐVSDNS tại KBNN.
- KBNN có quyền tạm đình chỉ, từ chối thanh toán và thông báo bằng văn bản cho ĐVSDNS biết; đồng thời, chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong các trường hợp sau:
+Chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định
+Không đủ các điều kiện chi theo quy định
+KBNN không chịu trách nhiệm về những hồ sơ, chứng từ theo quy định không phải gửi đến KBNN để kiểm soát
- KBNN có trách nhiệm tạm dừng thanh toán theo yêu cầu của cơ quan tài chính (bằng văn bản) đối với các trường hợp quy định trên
- Cán bộ công chức KBNN không tuân thủ thời gian quy định về kiểm soát chi hoặc cố tình gây phiền hà đối với đơn vị sử dụng NSNN thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
1.3.4 Nội dung công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà Nước qua Kho Bạc Nhà Nước
Chi NSNN chỉ được thực hiện sau khi kiểm tra có đủ những điều kiện cơ bản đã được quy định Ta có thể nhận thấy rằng kiểm soát chi thường xuyên NSNN là hoạt động quan trọng trong quản lý chi NSNN được tiến hành trong tất cả các khâu của quy trình chi: Lập dự toán; giao dự toán; chuẩn chi; kiểm tra, xác nhận chi và cấp phát Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là nhiệm vụ chung của các ngành, các cấp, các đơn vị trong đó KBNN đóng vai trò là cơ quan quản lý chức năng Đặc biệt, công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN được tiến hành trước, trong và sau khi chi
Trang 28Kiểm soát chi NSNN qua KBNN được tiến hành theo ba nội dung cơ bản như sau:
- Kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ chi: Chứng từ phải được lập đúng mẫu quy định đối với từng khoản chi Trên chứng từ phải ghi đầy đủ các yếu tố theo đúng nguyên tắc lập chứng từ kế toán, các yếu tố ghi trên chứng từ phải đảm bảo tính đúng đắn; phải có đầy đủ con dấu, chữ ký của chủ tài khoản, kế toán trưởng (hoặc người được ủy quyền) đúng với mẫu dấu, chữ ký đã đăng ký tại KBNN mở tài khoản
- Kiểm tra các điều kiện chi theo chế độ quy định, bao gồm các khoản chi phải còn đủ số dư dự toán để thực hiện chi trả; bảo đảm dúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cấp có thẩm quyền quy định; có đầy đủ các hồ sơ, hoá đơn, chứng từ liên quan tùy theo tính chất của từng khoản chi
- Kiểm tra tồn quỹ NSNN của cấp ngân sách tương ứng với khoản chi Tồn quỹ ngân sách phải đủ để cấp phát theo yêu cầu của đơn vị sử dụng NSNN (KBNN tỉnh, KBNN huyện không phải kiểm tra tồn quỹ NSNN cấp trung ương khi chi ngân sách trung ương)
Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN thể hiện qua ba giai đoạn kiểm soát: kiểm soát trước khi chi, kiểm soát trong khi chi và kiểm soát sau khi chi:
a Kiểm soát trước khi chi
Kiểm soát trước khi chi là kiểm soát trước hồ sơ gửi tới cơ quan tài chính, KBNN khi các ĐVSDNS xin được cấp phát Mục đích của hoạt động này là để kiểm soát việc chấp hành điều kiện thanh toán, đảm bảo ĐVSDNS phải lập dự toán kinh phí hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt trên
cơ sở đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu NSNN do Chính phủ hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Đồng thời, kiểm soát lệnh chuẩn
Trang 29chi của thủ trưởng đơn vị thụ hưởng NSNN.
Việc kiểm soát này được tiến hành suốt quá trình từ khi ĐVSDNS gửi
dự toán chi tới cơ quan tài chính cho đến khi khoản chi đó được cơ quan tài chính xem xét, thông báo chi, được thủ trưởng ĐVSDNS chuẩn chi và được đưa tới KBNN để thanh toán, cấp phát KBNN có thể ra quyết định xuất quỹ hoặc từ chối việc xuất quỹ NSNN theo kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát
b Kiểm soát trong khi chi
Kiểm soát trong khi chi nhằm bảo đảm các khoản chi đúng chế độ tiêu chuẩn định mức và đảm bảo kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ thanh toán
và thỏa mãn các điều kiện quy định đối với việc thực hiện chi NSNN
Kiểm soát chi trong khi chi cũng là bước xác định phương thức cấp phát thanh toán là cấp tạm ứng hay thanh toán trực tiếp Đơn vị thụ hưởng được sử dụng phương thức chi nào là tùy thuộc và tính chất từng khoản chi
Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN được thực hiệc chủ yếu ở khâu kiểm soát trong khi chi bao gồm các bước cụ thể:
- Căn cứ vào dự toán được phân bổ, nhu cầu ký quỹ đã gửi KBNN và theo yêu cầu nhiệm vụ chi, đơn vị sử dụng NSNN lập giấy rút dự toán ngân sách, kèm theo hồ sơ thanh toán gửi KBNN nơi giao dịch Trường hợp được cơ quan
có thẩm quyền thông báo điều chỉnh nhu cầu chi quý thì đơn vị chỉ được chi trong giới hạn điều chỉnh
- KBNN nơi giao dịch kiểm tra hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi theo nội dung quy định và giấy rút dự toán ngân sách của thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN hoặc của người được ủy quyền Nếu đủ điều kiện theo quy định thì thực hiện chi trả, thanh toán cho đơn vị thụ hưởng NSNN; Nếu chưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua KBNN ở tất cả các khoản chi thì được phép cấp tạm ứng đối với một số khoản chi theo quy định của Bộ trưởng Bộ tài chính,
Trang 30sau khi hoàn thành công việc và có đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi; Nếu các khoản chi chưa đủ điều kiện chi theo quy định (không có trong dự toán được duyệt, không đúng đối tượng, tiêu chuẩn, định mức, không đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ…), KBNN từ chối thanh toán
và thông báo cho đơn vị, cơ quan tài chính cùng cấp biết để xử lý Thủ trưởng KBNN là người có quyền đưa ra quyết định từ chối và hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định từ chối của mình
c Kiểm soát sau khi chi
Kiểm soát sau khi chi thực chất là giai đoạn kiểm tra việc chấp hành pháp luật NSNN trong hoạt động quản lý tài chính của đơn vị sử dụng NSNN
Ở đây, KBNN có trách nhiệm kiểm soát tồn quỹ tiền mặt, kiểm soát tiền gửi KBNN, kiểm soát các nguồn thu khác của đơn vị và cách đơn vị sử dụng các nguồn thu đó Loại kiểm soát này thể hiện rõ nhất trong quá trình sử dụng phương thức cấp tạm ứng cho các khoản chi hành chính, chi mua sắm tài sản, sửa chữa xây dựng nhỏ chưa đủ điều kiện cấp phát, thanh toán trực tiếp hoặc tạm ứng theo hợp đồng
Sau khi đã thực hiện chi, đơn vị có trách nhiệm gửi đến kho bạc giấy đề nghị thanh toán, bảng kê thanh toán kèm theo các hồ sơ, chứng từ có liên quan để thanh toán số tạm ứng và làm thủ tục chuyển từ cấp tạm ứng sang cấp thanh toán Ở đây, KBNN kiểm tra, kiểm soát báo cáo thực chi của đơn vị, nếu đủ điều kiện thì thực hiện thủ tục cấp phát thanh toán và thu hồi tạm ứng
1.3.5 Tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà Nước qua Kho Bạc Nhà Nước
a Tiêu chí đánh giá về khối lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên trong một thời kỳ
Đây là chỉ tiêu cơ bản để phản ánh quy mô hoạt động của công tác kiểm
Trang 31soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN Chỉ tiêu này phản ánh về mặt lượng của hoạt động kiểm soát chi thường xuyên NSNN Các chỉ tiêu về:
- Kinh phí chi thường xuyên NSNN qua KBNN
- Số lượng đơn vị giao dịch tại KBNN
- Số lượng tài khoản được mở tại KBNN
b Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
Chất lượng kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN phải được xem xét trên tiêu chí hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của KBNN chứ không đơn thuần đánh giá chất lượng phục vụ theo cách tiếp cận của các doanh nghiệp Do đó, để đánh giá chất lượng công tác kiểm soát chi NSNN ta có thể dựa vào các tiêu chí chủ yếu sau:
- KBNN thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi; tuân thủ đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức của Nhà nước quy định; đảm bảo thực hiện kiểm soát chi đúng mục đích tiết kiệm và hiệu quả: KBNN cần thực hiện thống nhất từ khâu nhận hồ sơ, đến thực hiện kiểm tra kiểm soát, thực hiện chi theo yêu cầu của người chuẩn chi nhằm đảm bảo công khai, minh bạch, phòng chống, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong quá trình quản lý và
sử dụng NSNN; KBNN thực hiện kiểm soát chi phải tuân thủ đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước: KBNN căn cứ các văn bản hướng dẫn về chế dộ, tiêu chuẩn và định mức của Nhà nước để thực hiện kiểm soát chi NSNN Những khoản chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức KBNN kiên quyết từ chối thanh toán
- Phát hiện và xử lý kịp thời những khoản chi chưa đúng hồ sơ thủ tục; sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước: KBNN căn cứ các văn bản hướng dẫn về chế dộ, tiêu chuẩn, định mức; quy định và điều kiện chi NSNN,
Trang 32KBNN trong quá trình thực hiện kiểm soát chi sẽ đánh giá được chất lượng sử dụng NSNN của các ĐVSDNS thể hiện qua số đơn vị chưa chấp hành đúng, cùng với số lượng món từ chối thanh toán, ứng với số tiền từ chối thanh toán Chỉ ra các sai phạm của các đơn vị như các lý do về: Chi vượt dự toán, sai mục lục ngân sách, sai các yếu tố trên chứng từ, sai chế độ tiêu chuẩn định mức, thiếu hồ sơ thủ tục… và đề nghị các đơn vị bổ sung, khắc phục kịp thời trước khi cấp phát thanh toán hoặc KBNN sẽ từ chối thanh toán.
1.3.6 Sự cần thiết phải hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho Bạc Nhà Nước
- Hoàn thiện KSC thường xuyên NSNN nhằm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là luật NSNN sửa đổi
- Hoàn thiện KSC thường xuyên sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và có hiệu quả Tập trung mọi nguồn lực tài chính để phát triển kinh tế - xã hội
- Việc hoàn thiện KSC thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm phát hiện
và ngăn chặn kịp thời những tiêu cực của các đơn vị sử dụng NSNN; đồng thời, phát hiện những kẻ hở trong quản lý, để kiến nghị, sửa đổi, bổ sung kịp thời, làm cho cơ chế quản lý, kiểm soát chi NSNN này càng được hoàn thiện
và chặt chẽ hơn
- Còn phổ biến tình trạng lãng phí và vi phạm chế độ chi tiêu NSNN của các đơn vị hưởng kinh phí NSNN Phần lớn các đơn vị này luôn có xu hướng xây dựng dự toán cao hơn nhu cầu thực tế và trong quá trình chấp hành dự toán thì luôn tìm cách sử dụng hết phần kinh phí được cấp, dẫn đến các khoản chi sai chế độ, không đúng đối tượng, vượt tiêu chuẩn, định mức Do đó, cần tăng cường kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời tình trạng trên, đồng thời cũng góp phần nâng
Trang 33cao ý thức trách nhiệm của các ngành, các cập, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến quản lý và sử dụng NSNN.
1.3.7 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà Nước qua Kho Bạc Nhà Nước
a Dự toán Ngân sách Nhà Nước và các chính sách chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi Ngân sách Nhà Nước
Dự toán NSNN: là một trong những căn cứ quan trọng nhất để KBNN thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN Vì vậy, dự toán NSNN phải đảm bảo kịp thời, chính xác về nội dung chi, mức chi phải phù hợp thực tế, đầy đủ, bao quát hết các nhu cầu chi tiêu của đơn vị trong năm ngân sách và phải chi tiết, dự toán NSNN càng chi tiết thì việc kiểm soát chi của KBNN càng thuận lợi và chặt chẽ Dự toán NSNN làm căn cứ cho KBNN kiểm tra, kiểm soát quá trình chi tiêu của đơn vị
Các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi:
- Các chính sách, chế độ tài chính, kế toán liên quan đến kiểm soát chi NSNN như: Kế toán nhà nước, mục lục NSNN, định mức phân bổ NSNN, định mức chi NSNN, hợp đồng mua sắm tài sản công, công cụ thanh toán, kế toán NSNN
- Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng, phân bổ và kiểm soát chi NSNN Vì vậy, nó phải đảm bảo tính chính xác, phù hợp với tình hình thực tế; Tính thống nhất giữa các ngành, các cấp, đơn vị thụ hưởng NSNN và tính đầy đủ, bao quát tất cả các nội dung chi phát sinh trong thực tế
b Ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng Ngân sách Nhà Nước
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là kiểm soát các khoản chi tiêu ngân sách của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý Nhà nước, các đơn vị sự
Trang 34nghiệp, các tổ chức chính trị xã hội… Do đó, cơ chế tài chính đối với đơn vị
sử dụng NSNN có tác động không nhỏ đến hoạt động kiểm soát chi thường xuyên NSNN Để đảm bảo sử dụng kinh phí ngân sách được giao đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, các đơn vị sử dụng NSNN phải chấp hành đúng theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan Nhà nước quy định
Các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN xác định rõ trách nhiệm của mình trong việc thực hiện kinh phí NSNN các cấp để từ đó nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành Luật NSNN, thấy rõ trách nhiệm kiểm soát chi là của các ngành, các cấp, các đơn vị liên quan đến quỹ NSNN chứ không phải đó chỉ là công việc của Tài chính, KBNN Các cấp, các ngành phải nhận thấy vai trò của mình trong việc quản lý chi kinh phí NSNN từ khâu lập dự toán, phân bổ
dự toán, thông báo hạn mức kinh phí cấp phát thanh toán, kế toán và quyết toán các khoản chi NSNN
c Công tác tổ chức thực hiện kiểm soát chi Ngân sách Nhà Nước của Kho Bạc Nhà Nước
Chất lượng công tác kiểm soát chi phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức bộ máy, do đó đòi hỏi KBNN xây dựng và tổ chức bộ máy tinh gọn, hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, chuyên nghiệp; phát triển nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý ngang tầm với nhiệm vụ, được tổ chức khoa học, thống nhất, đồng bộ
Phân công rạch ròi, cụ thể bộ phận chịu trách nhiệm trong việc kiểm soát chi, con người kiểm soát chi nhằm tránh chồng chéo, trùng lắp trong quá trình thực thi nhiệm vụ
Phân công cán bộ phụ trách thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy trình kiểm soát chi, đảm bảo công tác kiểm soát chi được diễn ra đúng quy trình nghiệp vụ, giúp cho công tác kiểm soát chi đảm bảo chất lượng, hiệu quả
Trang 35Bố trí cán bộ làm công tác kiểm soát chi có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức tác phong, có trách nhiệm trong công việc được giao.
d Trình độ nghiệp vụ của cán bộ làm công tác kiểm soát chi Kho Bạc Nhà Nước
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác kiểm soát chi NSNN phải có trình độ chuyên môn sâu về quản lý tài chính, am hiểu về các lĩnh vực chuyên ngành nhất là lĩnh vực kiểm soát chi NSNN, có phẩm chất đạo đức tốt Ngoài,
ra phải có đội ngũ cán bộ công chức phải tận tụy, sáng tạo, có trình độ quản lý nghiệp vụ tinh thông, hiệu quả trong thực thi công vụ Kiên quyết loại bỏ những cán bộ yếu về năng lực, không trung thực, có biểu hiện gây phiền hà, sách nhiễu trong kiểm soát chi
đ Cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ phục vụ kiểm soát chi Ngân sách Nhà Nước
Một nhân tố tác động đến công tác kiểm soát chi là phải xây dựng, mua sắm được hệ thống cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho công tác chuyên môn như: Chỉnh trang nơi làm việc, nơi giao dịch sang trọng, lịch sự; trang bị hệ thống thanh toán tự động, hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, phục vụ cho giao dịch và thanh toán
Ngoài ra, còn có một số nhân tố với tư cách là những công cụ hỗ trợ, muốn thực hiện tốt công tác kiểm soát chi đòi hỏi chúng ta cần phải quan tâm đến như hệ thống kế toán Nhà nước (kế toán NSNN, kế toán đơn vị sử dụng NSNN) mục lục NSNN, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm soát của KBNN, công nghệ thanh toán trong nền kinh tế nói chung
Trang 36CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA KHO BẠC NHÀ
NƯỚC HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI2.1 KHÁI QUÁT VỀ KHO BẠC NHÀ NƯỚC IA GRAI
2.1.1 Đặc điểm tình hình địa phương
Huyện Ia Grai được thành lập theo Nghị định số 70/CP ngày 11-11-1996 của Chính phủ, trên cơ sở chia tách từ phần đất tây nam của huyện Chư Păh: diện tích: 1122,29 km2; dân số: 82.835 người (số liệu thống kê năm 2008), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là Jrai chiếm hơn 50%
Ia Grai là một huyện nằm về phía Tây của tỉnh Gia Lai Huyện lỵ là thị trấn Ia Kha Bắc giáp: huyện Chư Păh; Nam giáp: huyện Đức Cơ; Đông giáp: thành phố Pleiku, huyện Chư Prông; Tây giáp: huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum; tỉnh Natarakiri Cam Pu Chia (12 km)
Đơn vị hành chính cấp xã, trị trấn: 13 (1 thị trấn, 12 xã) Tong đó: Thị trấn là Ia Kha; Các xã: Ia Chía, Ia Dêr, Ia Hrung, Ia Bă, Ia Krai, Ia O, Ia Pếch,
Ia Sao, Ia Tô, Ia Yok, Ia Grăng, Ia Khai
Tổng quan kinh tế - văn hoá - xã hội:
Trong 5 năm qua, giai đoạn 2005-2010, huyện Ia Grai đã đạt được những thành tựu quan trọng Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 còn 8,65% Cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư chuyển dịch đúng hướng Lĩnh vực văn hóa - xã hội chuyển biến tích cực Quốc phòng - an ninh được củng cố
Trên lĩnh vực kinh tế, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 13 triệu đồng/năm, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 19,98%/năm Trong đó, nông - lâm nghiệp tăng 13,2%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp- xây dựng tăng 52,95%, thương mại - dịch vụ tăng 15,05% Thu nhập bình quân đầu người
Trang 37năm 2013 đạt 13,24 triệu đồng.
Trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của huyện, thu hút nguồn vốn đầu tư trên địa bàn, nhất là trong lĩnh vực sản xuất điện năng, sản phẩm nông sản, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp từ 72,6% năm 2013 giảm còn 44,1%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng từ 12,6% tăng lên 38,1%, thương mại - dịch vụ từ 14,8% tăng lên 17,8% Cơ cấu cây trồng chuyển đổi nhanh theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung chuyên canh Tổng sản lượng lương thực 22.500 tấn, tăng 2.700 tấn so với năm 2010; sản lượng cà phê nhân bình quân 35.000 tấn/năm,
mủ cao su 13.000 tấn/năm Tỷ trọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp tăng khá, tổng đàn gia súc đều tăng so với năm 2010; một số loại hình chăn nuôi khác như nuôi ong và nuôi cá nước ngọt đã hình thành và phát triển
Đến nay, toàn huyện có 84 doanh nghiệp và 85 trang trại cùng với hàng trăm hộ kinh doanh cá thể hoạt động hiệu quả, khai thác, sử dụng tốt tài nguyên đất đai, khoáng sản trên địa bàn, hàng năm đóng góp vào NSNN hàng trăm triệu đồng, giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, trong đó tuyển dụng mới 4.000 lao động, tham gia tích cực vào các hoạt động an sinh xã hội.Lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng đạt nhiều kết quả quan trọng Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở cho 12/13 xã - thị trấn, 1 trường mầm non
và 4 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Quan tâm chăm sóc, khám - chữa bệnh cho nhân dân Các Chương trình 132, 134, 135 của Chính phủ và các chương trình mục tiêu quốc gia đạt kết quả thiết thực Kết cấu hạ tầng ở các
xã vùng đặc biệt khó khăn từng bước được nâng lên; cơ bản hoàn thành việc giải quyết đất sản xuất, đất ở, nước sinh hoạt, và nhà ở cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 30,76% năm 2005 đến nay còn 8,65%; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” đối với người có công với nước được đẩy mạnh, đến nay các gia đình chính sách đều có mức sống tương đối ổn
Trang 38định và cao hơn mức sống trung bình trong vùng; công tác quốc phòng - an ninh có những chuyển biến quan trọng theo hướng tích cực, cơ bản được giữ vững ổn định; quan hệ đối ngoại biên giới với huyện Đôn Mia - Campuchia được tăng cường.
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển Kho Bạc Nhà Nước Ia Grai
Ngày 01/04/1990, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành quyết định số 07/HĐBT về việc thành lập hệ thống KBNN trực thuộc Bộ Tài chính, bước đầu làm nhiệm vụ quản lý thu chi quỹ NSNN và các quỹ tài chính khác của Nhà nước, trực tiếp cấp phát chi trả các khoản chi thuộc ngân sách, đồng thời mở rộng các hoạt động tín dụng nhà nước
Cùng với hệ thống kho bạc cả nước, KBNN Ia Grai được thành lập và đi vào hoạt động kể từ đó Với nguồn cán bộ từ Ngân hàng chuyển sang, cơ sở vật chất ban đầu hầu như không có gì, phương tiện làm việc thiếu thốn, đội ngũ cán bộ không đồng đều về trình độ và tuổi nghề
Qua từng năm hoạt động với phương châm chỉ đạo là tiếp tục củng cố,
ổn định và phát triển, KBNN Ia Grai (sau khi tách huyện năm 1991) ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng Hoạt động KBNN ngày càng mở rộng và phát triển phục vụ đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ chính trị trọng tâm của địa bàn theo các mục tiêu kinh tế, xã hội và phương hướng phát triển kinh tế miền núi mà Nghị Quyết đại hội Đảng bộ các cấp đã đề ra
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Kho Bạc Nhà Nước Ia Grai
a Vị trí, chức năng của Kho Bạc Nhà Nước Ia Grai
KBNN huyện Ia Grai trực thuộc tỉnh là tổ chức trực thuộc KBNN tỉnh Gia Lai có chức năng thực hiện nhiệm vụ KBNN trên địa bàn theo quy định của pháp luật
KBNN huyện Ia Grai có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và
Trang 39được mở tài khoản tại Ngân hàng thương mại trên địa bàn để thực hiện giao dịch, thanh toán theo quy định của pháp luật.
b Nhiệm vụ và quyền hạn của Kho Bạc Nhà Nước Ia Grai
- Tập trung các khoản thu NSNN trên địa bàn, hoạch toán các khoản thu cho các cấp ngân sách
KBNN huyện Ia Grai có quyền trích tiền gửi của tổ chức, cá nhân để nộp NSNN hoặc áp dụng các biện pháp hành chính khác để thu cho NSNN theo quy định của pháp luật
- Tổ chức thực hiện kiểm soát thanh toán, chi trả các khoản chi NSNN trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Có quyền từ chối thanh toán, chi trả các khoản chi không đúng, không
đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm về quyết định của mình
- Quản lý quỹ ngân sách huyện và các quỹ tài chính khác được giao; quản lý các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; quản lý tiền, ấn chỉ đặc biệt, tài sản, các loại chứng chỉ có giá trị của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN huyện
- Thực hiện công tác phát hành, thanh toán trái phiếu CP theo quy định
- Quản lý ngân quỹ KBNN huyện theo chế độ quy định
- Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn kho, quỹ tại KBNN huyện
- Mở tài khoản, kiểm soát tài khoản và thực hiện thanh toán bằng tiền mặt, bằng chuyển khoản đối với các cơ quan, đơn vị, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN huyện
- Mở, quản lý tài khoản tiền gửi của KBNN huyện tại NHTM trên địa bàn để thực hiện thanh toán giao dịch theo chế độ quy định
Trang 40- Tổ chức thanh toán, đối chiếu, quyết toán thanh toán liên kho bạc tại KBNN huyện.
- Tổ chức thực hiện công tác kế toán nhà nước: hạch toán kế toán về thu, chi NSNN, các quỹ tài chính do KBNN huyện quản lý, các khoản tạm thu, tạm giữ, ký cược, ký quỹ, tiền, ấn chỉ đặc biệt, các loại chứng chỉ có giá trị của Nhà nước và các đơn vị, cá nhân gửi tại KBNN huyện, các khoản vay
nợ, trả nợ của Chính phủ theo quy định của pháp luật; xác nhận số liệu thu, chi NSNN qua KBNN huyện
- Thực hiện công tác điện báo, báo cáo số liệu về thu, chi NSNN phục
vụ công tác chỉ đạo, điều hành NSNN của cấp có thẩm quyền; thống kê, báo cáo, quyết toán các nghiệp vụ phát sinh tại KBNN huyện
- Tổ chức quản lý và thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin tại KBNN huyện
- Thực hiện công tác tiếp công dân tại KBNN huyện theo quy định
- Quản lý đội ngũ cán bộ, công chức và thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, hành chính, quản trị, tài vụ tại KBNN huyện theo quy định
- Tổ chức thực hiện chương trình hiện đại hóa hoạt động KBNN; thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hóa thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi phục vụ ĐVSDNS
- Quản lý các điểm giao dịch thuộc KBNN huyện theo quy định
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc KBNN tỉnh Gia Lai giao
c Cơ cấu tổ chức bộ máy của Kho Bạc Nhà Nước Ia Grai
Cơ cấu tổ chức bộ máy của KBNN Ia Grai tuân thủ theo Quyết định số 163/QĐ-KBNN ngày 17/03/2010 của Tổng Giám đốc KBNN quy định nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của KBNN huyện, quận, thị xã, thành phố