Trong các trường hợp này, để đánh giá toàn diện và đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi đã thực hiện và nhân thân người phạm tội, TA phải quyết định hình phạt
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THI SỸ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THI SỸ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN NAM
HÀ NỘI - 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN 7 1.1 Khái niệm, nguyên tắc và phân loại quyết định hình phạt 7 1.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo quy định của Luật hình sự Việt Nam 22 Chương 2: THỰC TRẠNG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN, THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29 2.1 Tình hình xét xử các vụ án hình sự và xét xử các vụ án hình sự có quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án 29 2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh 42 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM BẢO ĐẢM QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN 57 3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt
và quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án 57 3.2 Một số giải pháp nhằm bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp có nhiều bản án 65 KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76 PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
NCTN : Người chưa thành niên
NCTNPT : Người chưa thành niên phạm tội KSV : Kiểm sát viên
TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Toà án nhân dân tối cao
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm là một trong các nhiệm vụ quan trọng của mọi quốc gia Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, Luật hình sự đã quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội nào được coi là tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự, có thể bị áp dụng những chế tài nghiêm khắc là các hình phạt tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Trong thực tiễn, một người có thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng không bị phát hiện và nhập vào xét xử trong cùng một vụ án hoặc một người đang chấp hành một bản án hình sự mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án đó hoặc đã bị kết án mà còn phạm tội mới Trong các trường hợp này, để đánh giá toàn diện và đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi đã thực hiện và nhân thân người phạm tội,
TA phải quyết định hình phạt không phải đối với một tội mà phải quyết định hình phạt chung về nhiều tội, không phải quyết định hình phạt đối với một bản án mà phải quyết định hình phạt đối với nhiều bản án và buộc người bị kết án phải chấp hành Vì vậy, quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án là quy định quan trọng của BLHS, bảo đảm để Tòa án quyết định hình phạt chung tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, văn hóa – xã hội của cả nước, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam bộ và Tây Nam bộ, gồm
có 24 quận, huyện với tổng diện tích khoảng 2095km2, và với dân số đến nay khoảng 10 triệu người Trong những năm vừa qua, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, kinh tế, văn hóa – xã hội, du lịch, thương mại, dịch vụ ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của
Trang 62
nhân dân không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, dưới góc độ tội phạm học, nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế cũng tác động tiêu cực đến mọi mặt đời sống xã hội, đặc biệt là tình hình tội phạm Theo số liệu thống kê của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm toàn thành phố đưa ra xét xử khoảng trên 9.000 vụ án hình sự với gần 12.000 bị cáo; trong đó, có một số vụ
án khi xét xử TA phải quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án Việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án trong thực tiễn rất phong phú, đa dạng và cũng hết sức phức tạp Nghiên cứu tình hình xét xử các vụ án có quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án trong những năm vừa qua của TAND hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, nhìn chung các TA quyết định hình phạt đúng các quy định của pháp luật được các cấp, các ngành và nhân dân tin tưởng, ủng hộ Tuy nhiên, cũng còn một số vụ án do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án còn vi phạm pháp luật, gây thiệt hại cho bị cáo, ảnh hưởng đến uy tín của ngành Tòa án Chính vì vậy việc lựa chọn vấn đề “Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn là cần thiết, khách quan hiện nay, nhằm chỉ ra những kết quả đạt được và thiếu sót, hạn chế về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án để từ đó đề ra các giải pháp khắc phục
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án được quy định tại Điều 51 của BLHS 1999, đây là cơ sở pháp lý bắt buộc Hội đồng xét xử phải áp dụng khi quyết định hình phạt đối với một người phạm cùng một tội hoặc nhiều tội bị xét xử trong nhiều vụ án mà có các bản án khác nhau Đây là một chế định quan trọng, không chỉ là mối quan tâm của những người làm công tác xét xử mà của cả những người làm nghiên cứu pháp luật, chính vì
Trang 73
vậy đã có nhiều công trình khoa học cũng như những bài viết của một số nhà khoa học nghiên cứu vấn đề này Có thể viện dẫn một số công trình, bài viết điển hình sau đây như:
- GS TS Võ Khánh Vinh (1990), Nguyên tác cá thể hóa việc quyết định hình phạt, Tòa án nhân dân;
- GS TS Võ Khánh Vinh (1995), Quyết định hình phạt trong Luật hình
sự Việt Nam trong sách, Tội phạm học luật hình sự và tố tụng hình sự, NXB Chính trị quốc gia;
- GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (1995) Quyết định hình phạt theo Luật hình
sự Việt Nam, trong sách, Hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia;
- Trần Văn Sơn (1996), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam;
- Dương Tuyết Miên (2003), Luận án Tiến sĩ Luật học, Quyết định hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam;
- TS Dương Tuyết Miên (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt, NXB Công an nhân dân, Hà Nội;
- PGS TS Cao Thị Oanh (2012), Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Nxb Giáo dục Hà Nội;
- GS.TS Võ Khánh Vinh (2014), Luật hình sự Việt Nam phần chung, NXB Khoa học xã hội;
- Thân Mạnh Nhất (2015), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Tổng hợp hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn xét xử ở các Tòa án Quân
sự Quân khu 1;
- Huỳnh Thị Thu Hương (2015), Luận văn Thạc sĩ Luật học, Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Trang 84
Điều này cho thấy việc nghiên cứu, hoàn thiện vấn đề quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án cả về lý luận và thực tiễn vẫn luôn là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề “Quyết định hình phạt trong trường hợp
có nhiều bản án theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” Vì vậy, đây là đề tài hoàn toàn mới, cần thiết phải nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tài liệu quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án;
- Phân tích các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án;
- Thu thập số liệu thống kê các bản án mà TA hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã giải quyết từ năm 2012 đến năm 2016 có quyết định hình phạt trong trường hợp tổng hợp nhiều bản án
- Phân tích, đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án ở Thành phố Hồ Chí Minh
- Đưa ra một số kiến nghị và các giải pháp bảo đảm quyết định hình phạt đúng trong trường hợp có nhiều bản án
Trang 95
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quan điểm lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án dưới góc độ Luật hình sự và thực tiễn quyết định hình phạt của các TAND hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 2012 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về chính sách hình sự, tội phạm, hình phạt và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm;
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo sát thực tiễn dựa trên những bản án, báo cáo tổng kết của TA hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp nghiên cứu trực tiếp một số Kiểm sát viên, Thẩm phán có nhiều kinh nghiệm trong công tác xét xử các vụ án hình sự
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ chỉ rõ những bất cập, những sai sót, không thống nhất trong quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án Điều này có ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn, góp phần hoàn thiện các quy phạm về quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Trang 106
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho các cán bộ làm công tác xét
xử khi áp dụng pháp luật hình sự về tổng hợp hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án Là tài liệu tham khảo cho những người làm công tác giảng dạy, học viên cao học, sinh viên trong chuyên ngành tư pháp hình sự
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyết định hình phạt
trong trường hợp có nhiều bản án
Chương 2: Thực trạng quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều
bản án và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo đảm quyết định
hình phạt đúng trong trường hợp có nhiều bản án
Trang 117
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN
1.1 Khái niệm, nguyên tắc và phân loại quyết định hình phạt
1.1.1 Khái niệm hình phạt và quyết định hình phạt
1.1.1.1 Khái niệm hình phạt
Mặc dù hình phạt luôn được con người biết đến như là một trong những công cụ chủ yếu nhất để đấu tranh phòng chống tội phạm, tuy nhiên việc nhận thức về những vấn đề liên quan đến hình phạt trong khoa học hình sự cho đến bây giờ vẫn chưa được xem là đầy đủ và hoàn thiện Vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm hình phạt, cơ sở lý luận của hình phạt, mục đích hình phạt… Vì vậy, rất khó xác định khi nào hình phạt được nhận thức đúng với bản chất của nó, khi nào hình phạt được xem là đúng nghĩa của hình phạt Trong lịch sử lý luận Luật hình sự, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hình phạt Tuy nhiên, các quan điểm đó chủ yếu tập trung theo hai hướng:
(1) hoặc coi hình phạt như là công cụ trả thù của Nhà nước;
(2) hoặc coi hình phạt như là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội phạm
Quan điểm coi hình phạt là sự trả thù của Nhà nước dựa trên cơ sở của Học thuyết Trừng trị (Retributive doctrine) do Kant chủ trương với ý tưởng công lý tuyệt đối Theo quan điểm này, hình phạt được định nghĩa là sự đau đớn (về thể chất hoặc tinh thần) hoặc sự bất lợi nhất định nào đó dành cho người có hành vi phạm tội theo một bản án hoặc quyết định của TA
Quan điểm coi hình phạt như là công cụ để đấu tranh phòng ngừa tội phạm xuất phát từ nội dung của Học thuyết Phòng ngừa (Utilitarian doctrine)
do Cesar Beccaria khởi xướng Theo đó, hình phạt được xem là một sự đau đớn (về thể xác hoặc tinh thần) hoặc một sự mất mát nhất định mà TA bắt
Trang 12Đặc trưng thứ hai của hình phạt thể hiện ở góc độ hiệu lực thi hành của hình phạt Hiệu lực thi hành của hình phạt trước hết ở hiệu lực pháp luật của hình phạt Cho đến trước khi BLHS năm 1999 ra đời, chưa có một khái niệm mang tính pháp lý về hình phạt Khái niệm này lần đầu tiên được ghi nhận trong BLHS năm 1999, và trở thành một chế định của luật hình sự
Tại Điều 26 BLHS năm 1999 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự và do Toà án quyết định”
1.1.1.2 Khái niệm quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt được hiểu là việc TA lựa chọn một loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội Quyết định hình phạt là một trong những giai đoạn cơ bản, một nội dung quan trọng của quá trình áp dụng Luật hình sự Điều này thể hiện ở chỗ chỉ có TA mới có quyền quyết định hình phạt mà Hiến pháp và các luật có liên quan đã ghi nhận Theo đó, TA nhân danh Nhà nước, căn cứ vào quy định của Luật hình sự, tuyên bố áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Điều này thể hiện sự lên án của Nhà nước đối với người phạm tội về việc thực hiện tội phạm Quyết định hình phạt là một hoạt động pháp lý tố tụng hình sự được tiến hành bởi Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Đây là một hoạt động pháp
lý tố tụng hình sự vì khi quyết định hình phạt, TA phải dựa vào kết quả của
Trang 139
các giai đoạn tố tụng khác nhau, kể cả hoạt động tố tụng của mình tại phiên toà, bao gồm: kết quả điều tra của cơ quan Điều tra, kết quả buộc tội của Viện kiểm sát, kết quả thẩm vấn, tranh luận tại toà của TA Qua đó, TA đối chiếu với các tình tiết của vụ án để xác định một loại và mức hình phạt cụ thể, phù hợp nhất đối với người phạm tội nhằm đạt mục đích tối ưu của hình phạt được
áp dụng Loại và mức hình phạt được quyết định áp dụng đối với người phạm tội về hành vi phạm tội của họ được thể hiện trong bản án buộc tội của TA theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Bản án này được tuyên bố một
cách công khai khi tuyên án
1.1.2 Nguyên tắc quyết định hình phạt và nghiên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong suốt quá trình tố tụng hình sự Bởi vì, suy cho cùng chúng ta quy định tội phạm là để xác định rằng hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội cao và xác định biện pháp xử lý đối với hành vi đó bằng một hình phạt cụ thể Tất cả các hoạt động trong quá trình tố tụng hình sự cuối cùng cũng chỉ nhằm mục đích áp dụng hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Quyết định một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý là tiền
đề và là điều kiện để đạt mục đích hình phạt (cải tạo, giáo dục, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng) Ngược lại, quyết định một hình phạt không đúng đắn thì không thể đảm bảo mục đích hình phạt Nếu hình phạt quá nhẹ sẽ làm giảm ý nghĩa phòng ngừa của hình phạt, bởi lẽ nó sẽ làm phát sinh ý định phạm tội, thái độ vô trách nhiệm và coi thường pháp luật Nhưng hình phạt quá nặng sẽ tạo tâm lý không công bằng, không hợp lý ở người bị kết án dẫn đến thái độ oán hận, không tin tưởng pháp luật
Hình phạt có đạt mục đích hay không và đến mức độ nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (yếu tố lập pháp, áp dụng pháp luật ), trong đó, yếu tố áp dụng pháp luật có vai trò rất quan trọng, bởi vì chỉ trên cơ sở nhận thức đúng đắn
Trang 1410
các cơ sở quyết định hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể thì TA mới có thể cho ra đời một hình phạt đúng đắn và có hiệu quả, khi đó, các yếu
tố về mặt lập pháp mới có ý nghĩa thực tiễn được
Để có được một hình phạt đúng pháp luật, công bằng và hợp lý, khi quyết định hình phạt TA phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định - nguyên tắc quyết định hình phạt Thực ra, nguyên tắc quyết định hình phạt cũng là các nguyên tắc của Luật hình sự Tuy nhiên, quyết định hình phạt là một hoạt động đặc thù và có vai trò cực kỳ quan trọng Cho nên, vẫn tồn tại các nguyên tắc quyết định hình phạt được triển khai một cách triệt để và cụ thể hoá thể hiện tính đặc thù của hoạt động quyết định hình phạt Các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng, những nguyên lý chỉ đạo, xác định và định hướng cho hoạt động của TA khi lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội Nội dung của các nguyên tắc quyết định hình phạt được quyết định bởi bản chất và mục đích của hình phạt
Mặc dù các nguyên tắc quyết định hình phạt có tính độc lập tương đối với các mục đích của hình phạt nhưng ở chừng mực nào đó, chúng cũng có mối liên hệ với các mục đích của hình phạt và định hướng để đạt mục đích đó Việc cân nhắc các mục đích của hình phạt cho phép xác định được loại và mức hình phạt nào trong trường hợp cụ thể là tối ưu cho việc thoả mãn mục đích của hình phạt Trong khi đó, việc tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt sẽ đảm bảo cho hoạt động của TA được đúng đắn, tạo điều kiện để đạt các mục đích của hình phạt Điều đó thể hiện mối liên hệ biện chứng, tác động lẫn nhau giữa bản chất, mục đích của hình phạt với các nguyên tắc quyết định hình phạt
Các nguyên tắc quyết định hình phạt có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc chung của Luật hình sự, nhưng với tư cách là các nguyên tắc đặc thù trong hoạt động quyết định hình phạt, chúng vẫn có tính độc lập tương đối Điều này giúp ta xác định trong số các nguyên tắc chung của Luật hình
Trang 151.1.2.1 Nguyên tắc quyết định hình phạt
Thứ nhất, nguyên tắc pháp chế:
Nguyên tắc pháp chế XHCN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quyết định hình phạt và là nguyên tắc có ý nghĩa hàng đầu của Luật hình sự nói riêng và pháp luật nói chung Tư tưởng chủ đạo của nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định hình phạt đối với người bị kết án, TA phải tuân thủ triệt để các quy định của Luật hình sự Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với hành vi phạm tội đã được quy định trong Luật hình sự
Điều 2 BLHS quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Việc Luật hình sự nước
ta bỏ “nguyên tắc tương tự” là một việc làm có ý nghĩa chính trị vô cùng to lớn Nó củng cố và tăng cường pháp chế XHCN, là cơ sở pháp lý vững chắc của việc quyết định hình phạt Nội dung cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ:
- Chỉ có thể áp dụng hình phạt đối với người có hành vi phạm tội được quy định trong BLHS Để tạo tiền đề cho việc đảm bảo nội dung này, đòi hỏi phải định tội danh đối với hành vi phạm tội của bị cáo
- Sau đó, trên cơ sở đánh giá nhiều tình tiết khách quan và chủ quan, căn cứ vào những quy định có tính nguyên tắc của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, TA quyết định một hình phạt có tính xác định, có căn
Trang 1612
cứ và hợp lý Tính xác định của hình phạt thể hiện ở chỗ, hình phạt phải cụ thể về loại hình và thời hạn Tính có căn cứ đòi hỏi TA phải nghiên cứu kỹ, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án để làm cơ sở cho việc quyết định hình phạt Tính hợp lý của hình phạt thể hiện trong số các hướng giải quyết khác nhau, TA lựa chọn được một hình phạt đúng pháp luật và công bằng, đảm bảo tinh thần của các nguyên tắc khác, nhất là nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự
- Xét về mặt tố tụng, nguyên tắc pháp chế XHCN yêu cầu TA là cơ quan duy nhất nhân danh Nhà nước có quyền quyết định hình phạt đối với bị cáo Nên khi đó, TA phải tuân thủ những quy định về thủ tục hết sức chặt chẽ
và chỉ có thể tuyên những hình phạt được luật quy định
Thứ hai, nguyên tắc nhân đạo:
Nhân đạo là sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người Nguyên tắc này đòi hỏi TA khi quyết định hình phạt phải luôn luôn có ý thức áp dụng một hình phạt theo hướng có lợi cho bị cáo mà không trái với luật TA cần có thái
độ đúng đắn khi cân nhắc lợi ích của xã hội, Nhà nước và của người phạm tội trong một tổng thể thống nhất biện chứng, hài hoà và hợp lý Không thể nói đến nhân đạo nếu khi quyết định hình phạt mà quá đề cao lợi ích của Nhà nước, xã hội, hạ thấp, xem thường lợi ích của cá nhân hoặc ngược lại
Nguyên tắc nhân đạo thể hiện thái độ của Nhà nước tập trung ở mục đích của hình phạt là nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chứ không nhằm mục đích trừng trị Mục đích này đòi hỏi TA hết sức quan tâm, xem xét đến nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt
Cần có thái độ nghiêm khắc với những tội phạm có tính nguy hiểm cho
xã hội cao không mâu thuẫn với nguyên tắc nhân đạo Tuy nhiên, trong trường hợp này, nguyên tắc nhân đạo yêu cầu phải chọn một biện pháp nghiêm khắc thích hợp, tuân theo một nguyên lý cơ bản là người phạm tội cũng là con người và bất cứ người nào lầm đường, lạc lối đều có thể được cải
Trang 1713
tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội C.Mác viết “Cả lịch sử lẫn lý trí đều xác nhận như nhau cái sự thật là: sự tàn nhẫn không đếm xỉa đến bất
kỳ sự khác biệt nào, làm cho sự trừng phạt trở nên hoàn toàn vô hiệu, bởi vì
sự tàn nhẫn thủ tiêu sự trừng phạt với tư cách là kết quả của pháp luật” Việc
duy trì hình phạt tử hình ở một số nước không phải xuất phát từ lý luận cho rằng, người bị kết án đã không còn khả năng cải tạo được nữa mà xuất phát từ mục đích phòng ngừa chung của hình phạt
Thứ ba, nguyên tắc cá thể hoá hình phạt:
Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ, TA dựa vào ý thức pháp luật của mình, dựa trên cơ sở những quy định của luật hình sự, những tình tiết khác nhau của vụ án để quyết định một hình phạt đảm bảo sự tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Hầu hết các quy định về hình phạt của phần chung BLHS thể hiện rất rõ
tư tưởng của nguyên tắc này Chẳng hạn, quy định điều kiện áp dụng các loại hình phạt, quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, phạm nhiều tội
và có nhiều bản án Việc quy định chế tài trong phần các tội phạm BLHS cũng thể hiện tư tưởng này khi quy định chế tài tuỳ nghi lựa chọn, khung hình phạt rộng với nhiều loại hình phạt khác nhau cho phép TA trong từng trường hợp cụ thể có thể lựa chọn một hình phạt đúng đắn nhất đối với bị cáo
Bên cạnh đó, một số quan điểm còn cho rằng, ngoài ba nguyên tắc chúng ta đã nghiên cứu còn có một nguyên tắc mà TA phải tuân thủ khi quyết định hình phạt là nguyên tắc công bằng.Thật ra, nếu TA thấm nhuần ý thức pháp luật, tư tưởng nhân đạo và cá thể hoá hình phạt thì tất sẽ quyết định một hình phạt công bằng Bởi vì, suy cho cùng tư tưởng công bằng cũng không nằm ngoài sự đòi hỏi có được một hình phạt phải đúng pháp luật, tương xứng với tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh đúng dư luận
xã hội và có sức thuyết phục cao
Trang 18tử hình, thì khi tổng hợp hình phạt đối với người đó là tử hình Ở đây hình phạt chung cho người này được thu hút vào hình phạt tử hình, hình phạt tử hình là cao nhất trong hệ thống hình phạt, khi cộng các hình phạt kia so với hình phạt tử hình là không đáng kể
Thứ hai, nguyên tắc cộng toàn bộ
Theo nguyên tắc cộng toàn bộ, hình phạt chung bằng tổng các hình phạt đã tuyên Điều kiện cho phép áp dụng nguyên tắc này là các hình phạt đã tuyên phải cùng loại (hoặc có thể quy về cùng loại), đơn vị tính của hình phạt cho phép cộng được và kết quả cộng không được vượt mức tối đa cho phép
Trang 1915
Nguyên tắc này được áp dụng khi thấy cần thiết và do vậy không thể áp dụng nguyên tắc khác Ví dụ như với trường hợp người phạm tội phạm tội hiếp dâm và trộm cắp tài sản được xét xử ở hai bản án khác nhau, hình phạt tương ứng với mỗi loại tội là 7 năm và 3 năm tù Khi áp dụng nguyên tắc cộng toàn bộ thì người này phải chịu hình phạt chung là 10 năm cho hai bản
án ứng với tội danh của mình
Thứ ba, nguyên tắc cộng một phần
Theo nguyên tắc cộng một phần, hình phạt chung bằng hình phạt cao nhất cộng với một phần của hình phạt còn lại Nguyên tắc này được áp dụng trường hợp không thể cộng được toàn bộ vì mới cộng một phần đã đạt mức tối đa cho phép Ví dụ như đối với người phạm tội bị tuyên 20 năm tù vì tội giết người ở bản án thứ nhất và 15 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em ở bản án thứ hai thì khi tổng hợp hình phạt cho người phạm tội, người phạm tội chỉ phải chịu hình phạt chung là 30 năm tù thay vì 35 năm như cộng toàn bộ
Nguyên tắc cộng các hình phạt được thực hiện khi các hình phạt đó cùng loại (hoặc có thể quy về cùng loại) và đơn vị tính có thể cộng được Trong hệ thống hình phạt Việt Nam, các hình phạt đó là hình phạt tù có thời hạn, hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tiền
Nguyên tắc thu hút được áp dụng trong trường hợp hình phạt cao nhất
là chung thân hoặc tử hình Những hình phạt này không thể cộng được với bất cứ hình phạt nào khác và được coi là hình phạt chung
Bên cạnh đó khi không thể áp dụng được ba nguyên tắc trên thì có nghĩa là không tổng hợp để có hình phạt chung mà các hình phạt cùng được chấp hành…đây có thể coi là nguyên tắc thứ tự
Thứ tư, nguyên tắc cùng tồn tại
Nguyên tắc cùng tồn tại, có nghĩa là các hình phạt khác loại nhau như hình phạt tù và phạt tiền, trục xuất… đều cùng được áp dụng
Trang 2016
Các nguyên tắc trên thể hiện rõ nét hình phạt tổng hợp phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đã thực hiện, đồng thời thể hiện rõ nét tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam Như trong nguyên tắc cộng toàn bộ thì hình phạt thể hiện được hình phạt được tổng hợp tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thực hiện, tất cả các hình phạt áp dụng với từng tội đều được tổng hợp lại và buộc người phạm tội phải chấp hành Còn trong nguyên tắc cộng một phần và nguyên tắc thu hút thì thể hiện rõ nét tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam
Trong nguyên tắc cộng một phần, khi thấy không cần thiết phải cộng toàn bộ hình phạt mặc dù có thể cộng toàn bộ hoặc khi mới cộng một phần đã đạt mức tối đa cho phép đã tạo cơ hội cho người phạm tội có được hình phạt nhẹ nhất có thể áp dụng Trong nguyên tắc thu hút, chỉ áp dụng hình phạt cao nhất trong các hình phạt đã tuyên cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam
1.1.3 Căn cứ quyết định hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi, yêu cầu có tính bắt buộc
TA phải tuân theo khi quyết định hình phạt Trong BLHS năm 1999 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành luật đều chưa có định nghĩa về căn cứ quyết định hình phạt mà chỉ quy định về nội dung của căn cứ quyết định hình phạt Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý đã có một số tác giả đưa ra định nghĩa về căn cứ quyết định hình phạt trong các công trình nghiên cứu riêng của mình
Theo tác giả Võ Khánh Vinh thì “Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hòi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có, buộc TA phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm”
Tác giả Lê Cảm cho rằng: “Những căn cứ quyết định hình phạt là toàn
bộ những yêu cầu có tính chất bắt buộc do luật định mà TA phải nghiêm chỉnh tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội”
Trang 2117
Tác giả Đinh Văn Quế trong các tác phẩm của mình cũng định nghĩa:
“Căn cứ quyết định hình phạt là những yêu cầu cơ bản (là chỗ dựa) buộc TA phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với tội phạm”
Các định nghĩa này, nhìn chung đều đã chỉ ra được bản chất của căn cứ quyết định hình phạt
Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt, Điều 45 BLHS năm 1999 quy định các căn cứ quyết định hình phạt mà TA bắt buộc phải dựa vào khi quyết định hình phạt là:
1.1.3.1 Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để TA định tội danh và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng loại và mức hình phạt cụ thể Việc quy định căn cứ quy định của bộ luật hình
sự nhằm đảm bảo tính thống nhất, đúng pháp luật khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào quyết định hình phạt Nếu không dựa vào quy định của BLHS sẽ dẫn đến việc tùy tiện hoặc lạm dụng các quy phạm pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt, đồng thời hình phạt được quyết định cũng khó có thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Chính vì vậy, Điều 45 BLHS năm 1999 đã buộc Hội đồng xét xử phải căn
cứ vào quy định của BLHS, còn đối với ba căn cứ sau, Điều luật chỉ yêu cầu cân nhắc Theo đó, những quy định của BLHS về quyết định hình phạt bao gồm:
+ Các quy định có tính định hướng chung cho việc quyết định hình phạt: Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Miễn trách nhiệm hình sự (Điều 19 và Điều 25); Mục đích của hình phạt (Điều 27); Các hình phạt (Điều 28); những quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng của từng hình phạt (từ Điều 29 đến Điều 40); Căn cứ quyết định hình phạt (Điều 45); Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên (Điều 69); Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên (Điều 71)
Trang 2218
+ Các quy định cụ thể về quyết định hình phạt: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS (Điều 46); Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật (Điều 47); Các tình tiết tăng nặng TNHS (Điều 48); Tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 49); Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50); Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 51); Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm (Điều 53); Miễn hình phạt (Điều 54)
+ Căn cứ vào quy định phần Các tội phạm của BLHS năm 1999 là căn
cứ vào điều luật về tội phạm cụ thể để xác định khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng cho từng hành vi phạm tội mà điều luật về tội phạm quy định Dựa vào căn cứ này sẽ xác định được khung hình phạt là khung cơ bản, khung tăng nặng, khung giảm nhẹ hay chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn nếu bị cáo không được miễn TNHS hay miễn hình phạt
1.1.3.2 Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã cho thấy các trường hợp phạm tội diễn ra hết sức đa dạng, phức tạp và không bao giờ giống nhau một cách tuyệt đối, kể cả các trường hợp cùng phạm một tội cụ thể cũng luôn khác nhau về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Do đó, để quyết định hình phạt đối với mỗi hành vi phạm tội cụ thể, luật bắt buộc Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Đây là yêu cầu có tính chất quyết định đến khả năng đạt được các mục đích của hình phạt Việc quy định căn cứ này sẽ giúp cho Hội đồng xét xử có cơ sở vững chắc và điều kiện để lựa chọn và quyết định hình phạt với mức độ cụ thể tương xứng với hành vi phạm tội, đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong quyết định hình phạt Có như vậy mới đảm bảo được
sự bình đẳng, thống nhất, chính xác khi quyết định hình phạt đối với các trường hợp phạm tội khác nhau về cùng một tội hay trong cùng một khung
Trang 2319
hình phạt Quyết định hình phạt là lựa chọn loại hình phạt cụ thể với mức độ nhất định trong phạm vi khung hình phạt của điều luật về tội phạm đã quy định Việc nhà làm luật xây dựng các khung hình phạt khác nhau trong một điều luật về tội phạm chính là sự phản ánh tương quan với tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Còn các mức độ khác nhau của hình phạt trong giới hạn từ tối thiểu đến tối đa của mỗi khung hình phạt lại phản ánh sự tương quan với các mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của hành
vi phạm tội
Như vậy, tính chất nguy hiểm cho xã hội là cơ sở để xác định khung hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội Chúng tôi cho rằng khi quyết định hình phạt nếu lại căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là chưa khoa học và thiếu công bằng vì một tình tiết đã được sử dụng làm yếu tố định khung hình phạt thì không thể được sử dụng một lần nữa khi quyết định hình phạt Điều đó không những vi phạm các nguyên tắc của Luật hình sự mà quan trọng hơn còn làm xấu đi tình trạng pháp lý của bị cáo
1.1.3.3 Cân nhắc nhân thân người phạm tội
Nhân thân người phạm tội là một phạm trù lịch sử, bao gồm tổng hợp các đặc điểm về xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh học, nói lên tính chất của con người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị quy định trong BLHS là tội phạm
Hay nói cách khác Nhân thân người phạm tội là tổng hợp các đặc tính, cácdấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người mà trong những điều kiện , hoàn cảnh nhất định và dưới tác động của chính các điều kiện, hoàn cảnh đó động cơ phạm tội nảy sinh Các đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội một cách công minh, có căn
cứ, đúng pháp luật Vì vậy, nghiên cứu về nhân thân người phạm tội sẽ cho chúng ta biết được những đặc điểm tốt, những đặc điểm xấu, những thuận lợi,
Trang 2420
khó khăn trong quá trình hình thành nhân cách của người phạm tội để qua đó góp phần đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như khả năng giáo dục, cải tạo họ Đây là ưu điểm của căn cứ thứ ba này so với căn cứ nhứ nhất và căn cứ thứ hai vì trên cơ sở hai căn cứ đầu tiên, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội sẽ giúp cho Hội đồng xét xử không chỉ quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà hình phạt đó còn phù hợp với khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội Chỉ có như vậy mới giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội, đảm bảo cho việc cá thể hoá hình phạt một cách chính xác nhằm đạt được tốt nhất các mục đích của hình phạt Tuy nhiên, việc cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt phải quán triệt các yêu cầu mang tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội theo quy định của BLHS là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt hoặc đã được xác định là tình tiết giảm nhẹ hay tình tiết tang nặng TNHS thì không được sử dụng một lẫn nữa để cân nhắc nhân thân người phạm tội khi quyết định hình phạt
Thứ hai, chỉ những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội có liên quan trực tiếp đến tội phạm được thực hiện mà việc cân nhắc chúng nhằm giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của người phạm tội và tạo khả năng cao nhất để
có thể đạt được mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội mới được được xem xét khi quyết định hình phạt
Thứ ba, trong mối quan hệ với căn cứ thứ hai, nhân thân người phạm tội chỉ là căn cứ giữ vị trí hỗ trợ, bổ sung để hình phạt được tuyên không những đúng pháp luật mà còn phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đạt được các mục đích của hình phạt
Thứ tư, cần phân định rõ các đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội với các dấu hiệu chủ thể của tội phạm
Trang 2521
1.1.3.4 Cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS
Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ quyết định hình phạt là những tình tiết được quy định trong Phần chung của BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội được chính xác
Vì vậy, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có ý nghĩa pháp lý hết sức quan trọng trong quyết định hình phạt nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên một cách công bằng, thể hiện sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội với mức độ TNHS được áp dụng Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là những biểu hiện có tính đặc thù của từng trường hợp phạm tội cụ thể nên mức độ ảnh hưởng của các tình tiết này đến việc quyết định hình phạt phải tuỳ thuộc vào từng vụ án hình sự cụ thể Mức độ giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của mỗi tình tiết không được nhà làm luật quy định trước trong luật mà thuộc quyền tuỳ nghi cân nhắc của Hội đồng xét xử Vì vậy, khi cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS, cần phải quán triệt các yêu cầu có tính nguyên tắc sau:
Thứ nhất, trong mỗi vụ án hình sự, trước tiên cần xác định tình tiết là yếu tố định tội, tình tiết là yếu tố định khung hình phạt trước rồi mới xác định tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS Những tình tiết đã là yếu tố định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS hoặc tình tiết tăng nặng TNHS
Thứ hai, trong mỗi vụ án hình sự thường có cả tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng TNHS với những giá trị pháp lý không giống nhau Điều
đó đòi hỏi Hội đồng xét xử phải trên cơ sở đánh giá toàn diện các tình tiết trong mối liên hệ thống nhất của toàn bộ vụ án để xác định giá trị pháp lý, ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ và tang nặng TNHS làm căn cứ quyết định mức hình phạt tương xứng trong phạm vi khung hình phạt
Trang 2622
Thứ ba, ngoài những tình tiết giảm nhẹ TNHS chung được quy định tại khoản 1 Điều 46, Hội đồng xét xử có quyền coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án Ngược lại, ngoài những tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 48, Hội đồng xét xử không được coi bất kỳ tình tiết nào khác là tình tiết tăng nặng TNHS cho bị cáo
Thứ tư, khi bị cáo có từ hai tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản
1 Điều 46, TA có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn Ngược lại, dù bị cáo có nhiều tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 48 thì TA cũng không được quyết định hình phạt vượt quá giới hạn mức tối đa của khung hình phạt
1.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo quy định của Luật hình sự Việt Nam
Pháp luật hình sự Việt Nam nói chung và quy định về quyết định hình phạt nói riêng được hình thành rất sớm ngay sau Cách Mạng Tháng Tám năm
1945 thành công và ngày càng hoàn thiện cùng với sự phát triển của đất nước
Sự ra đời của mỗi BLHS là một sự kiện đánh dấu bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp nước ta Vì vậy, có thể lấy mốc ban hành BLHS các năm
1985, 1999 làm căn cứ phân quá trình phát triển chế định tổng hợp hình phạt thành các giai đoạn: 1945-1985; 1985-1999; 1999 đến nay
1.2.1 Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bảnán giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi banh hànhBộ luật hình sự 1985
Trong giai đoạn này nhìn chung quy định quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án chưa được quy định trong các văn bản pháp luật
mà mới chỉ được đề cập đến trong các bản báo cáo Tổng kết công tác của hệ thống TA và các Công văn của TANDTC hướng dẫn các TA địa phương việc xét xử Trước khi ban hành BLHS năm 1985, pháp luật hình sự Việt Nam chưa có quy định cụ thể về quyết định hình phạt đối với trường hợp có nhiều
Trang 2723
bản án, nên vào những thời điểm khác nhau, việc quyết định hình phạt được các TA thực hiện với nhiều cách thức không thống nhất Theo báo cáo công tác ngành Tòa án năm 1964, việc quyết định hình phạt đối với trường hợp có nhiều bản án, có TA đã phân tích, nhận định trong bản án nhưng lại không tuyên hình phạt chung cho các bản án; Cũng có TA quyết định hình phạt chung cho các bản án có áp dụng hình phạt khác nhau để buộc thi hành dẫn đến thi hành án không được, không hiệu quả; cũng có TA khi quyết định hình phạt chung lại vượt quá mức hình phạt mà Luật hình sự quy định Việc quyết định hình phạt chung cho các bản án cũng được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau như thu hút hình phạt nhẹ vào hình phạt nặng hoặc cộng tất cả các hình phạt đã tuyên cho từng tội lại, hoặc cộng thêm vào hình phạt nặng nhất một phần của các hình phạt đã tuyên
Tại Công văn số 526-HS ngày 01/7/1967, TAND Tối cao đã giải thích như sau: “Về nguyên tắc không nên “tổng hợp” những hành động là căn cứ của quyết định tập trung cải tạo với bất cứ tội phạm hình sự nào cũng như không nên “tổng hợp” hình phạt giam với thời gian tập trung cải tạo, là hai biện pháp hoàn toàn khác nhau”
Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành năm 1964 TAND Tối cao
đã hướng dẫn cụ thể về hai cách thức “Tổng hợp của nhiều bản án như sau: Trường hợp bị cáo đang chấp hành hình phạt tù (chưa hết thời hạn) lại bị xét
xử về một tội phạm khác đã phạm trước khi hoặc trong khi bị phạt tù, trừ khi
bị can bị xử phạt tử hình hoặc tù chung thân, có hai cách giải quyết:
a) Nếu tội phạm xảy ra từ trước nay mới phát hiện và mới đưa ra xét
xử, thì sau khi tuyên hình phạt cho tội mới , trên cơ sở hình phạt đã tuyên trong bản án trước và hình phạt mới tuyên, TA quyết định hình phạt chung Cần chú ý rằng, đối với những trường hợp tuy bị cáo có nhiều hành vi mà mỗi hành vi đều cấu thành một tội phạm hình sự, nhưng xét thấy việc xét xử về
Trang 28Các hướng dẫn của TANDTC trong các văn bản tổng kết thực tiễn xét
xử nêu trên đã cho thấy quy định về quyết định hình phạt có nhiều bản án và các chế định khác của pháp luật hình sự nước ta giai đoạn 1945-1985 chính là những tiền đề lý luận và cơ sở thực tiễn để hoàn thiện các chế định luật hình
sự nước ta (và chế định tổng hợp hình phạt nói riêng) trong BLHS năm 1985
1.2.2 Quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999
Thứ nhất, quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo quy định của BLHS năm 1985:
BLHS năm 1985 đã được Quốc hội khoá VII, kỳ hợp thứ 9 thông qua ngày 27/6/1985 là BLHS đầu tiên của nước ta, với tư cách là nguồn duy nhất của Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt Đây là sự kiện đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam Lần đầu tiên các
Trang 2925
chế định các quy định của Luật hình sự Việt Nam được pháp điển hóa một cách có hệ thống, tương đối đầy đủ và đồng bộ, trong đó có quy định về quyết định hình phạt của nhiều bản án
Theo quy định của BLHS năm 1985, trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này thì TA quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt đã tuyên Thời gian chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung (khoản 1 Điều 41) Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, TA quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó cộng với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung, hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà Luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên (khoản 2 Điều 41) Tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986, Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao đã hướng dẫn về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án như sau… TA quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó “cộng” với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung Hình phạt chung không được vượt quá mức cao nhất mà luật quy định cho “loại hình phạt” đã tuyên chứ không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội nặng nhất Ví dụ: Y đã bị phạt 10 năm tù về tội cướp tài sản (khoản 1 Điều 129) nhưng mới chấp hành được 03 năm lại phạm tội mới Vì vậy, hình phạt
Y chưa chấp hành còn 07 năm tù Sau đó Y lại phạm 2 tội mới và bị phạt 07 năm tù về tội trộm tài sản (khoản 2 Điều 155), 06 năm tù về tội hiếp dâm (khoản 2 Điều 112) Trong trường hợp này, hình phạt chung cao nhất đối với
bị cáo không bị hạn chế ở mức cao nhất của khung hình phạt luật định đối với tội nặng nhất (tội cướp, mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù) mà là 07 + 07 +
06 = 20 năm tù (mức cao nhất của hình phạt tù có thời hạn)
Trang 30có án đã thực sự chấp hành, chỉ tính thời gian còn lại Đối với hình phạt bổ sung: TA quyết định một hình phạt chung trong giới hạn luật quy định về mỗi loại hình phạt ấy
Ví dụ: đối với cả 02 tội đều có hình phạt là quản chế thì Tòa án không phải quyết định hình phạt quản chế riêng cho mỗi tội mà tuyên một thời hạn quản chế chung cho cả 02 tội, tức là 1 đến 5 năm quản chế Phạt tiền thì cộng các khoản phạt tiền của các tội hoặc của các bản án lại với nhau
Thứ hai, quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án theo quy định của BLHS năm 1999:
Mặc dù BLHS năm 1985 đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung (các năm
1989, 1991, 1992 và 1997) nhưng sau gần 15 năm áp dụng cho thấy các quy định của BLHS nói chung và chế định quyết định hình phạt nói riêng đã bộc
lộ nhiều bất cập, hạn chế Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X đã thông qua BLHS sửa đổi (BLHS năm 1999) Bộ luật này vẫn giữ nguyên bốn trường
Trang 31- Trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét
xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì TA quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều
50 Bộ luật này Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung
- Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, TA quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 Bộ luật này
- Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh
án Toà án ra quyết định tổng hợp các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này
Như vậy, có thể thấy so với Điều 42 BLHS năm 1985, Điều 51 BLHS năm 1999 được sửa đổi cả về kỹ thuật lập pháp cũng như về nội dung nhằm bao quát đầy đủ hơn các trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, bảo đảm để các TA có nhận thức và áp dụng thống nhất trong thực tiễn, cụ thể như sau:
Một là, các đoạn “hình phạt chung không được vượt mức cao nhất của khung hình phạt đã tuyên” (ở khoản 1) và “hình phạt chung không được vượt mức cao nhất mà Luật quy định cho loại hình phạt đã tuyên” (ở khoản 2) được thay bằng “theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này”
Trang 3228
Hai là, từ “cộng” ở khoản 2 được thay bằng từ “tổng hợp”
Ba là, bổ sung khoản 3 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp các hình phạt của nhiều bản án chưa được tổng hợp
Kết luận chương 1
Chương 1 của luật văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận và pháp luật
về quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án, tác giả tập trung phân tích các khái niệm theo quy định của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở phân tích các quan điểm khác nhau về quyết định hình phạt Mặt khác, luận văn cũng phân tích làm rõ các nguyên tắc chung của quyết định hình phạt và nguyên tắc đặc thù của quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản
án, căn cứ quyết định hình phạt và đối với trường hợp phạm nhiều tội theo quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ Qua đó, thấy được tính chất đặc biệt của các quy định của pháp luật về quyết định hình phạt đối với trường hợp có nhiều bản án, làm tiền đề cho việc nghiên cứu về thực trạng áp dụng chế định này từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân hai cấp Thành phố
Hồ Chí Minh ở chương 2
Trang 3329
Chương 2 THỰC TRẠNG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU BẢN ÁN, THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ trật tự, trị an, an toàn xã hội và an ninh chính trị Ngoài việc tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan Tư pháp, trong đó có TAND các cấp là hết sức quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Thực hiện chính sách, đường lối của Đảng và Nhà nước về đấu tranh, phòng chống tội phạm, hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật trên cơ sở pháp luật đã được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt của các cơ quan tiến hành tố tụng trong những năm gần đây đạt hiệu quả cao Thông thường, việc định tội danh và quyết định hình phạt của các cơ quan Công an, VKS, TA đối với mỗi vụ án diễn ra khá đơn giản, thuận lợi Trình độ, kỹ năng giải quyết tốt các vụ án của Điều tra viên, KSV, TP cũng được nâng cao, hoạt động nghiệp vụ của cơ quan pháp luật được phối hợp thực hiện tốt trên cơ sở các quy định của pháp luật
về nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan nhằm hoàn thành nhiệm vụ của đơn
vị mình Hàng năm các vụ án đều được định tội danh đúng quy định TP, Hội thẩm nhân dân đã nghiên cứu cụ thể những tình tiết khách quan, tính chất
Trang 34tố tụng mà ở đây là những người tiến hành tố tụng trong vụ án phải vận dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự để giải quyết
Trong quá trình định tội danh, các cơ quan tiến hành tố tụng khi định tội danh luôn chú trọng phân biệt trường hợp phạm nhiều tội kéo dài, phạm tội liên tục và phạm tội nhiều lần Nhận thức về phạm tội kéo dài là trường hợp về bản chất hành vi phạm tội kéo dài từ lúc bắt đầu thực hiện và chỉ kết thúc khi tội phạm bị phát hiện bắt giữ hoặc người phạm tội chủ động kết thúc việc phạm tội đó Ví dụ: Tội trốn khỏi nơi giam giữ bắt đầu từ khi người phạm tội cố ý trốn khỏi nơi giam giữ và kéo dài cho đến khi bị bắt giữ (Điều
311 BLHS); phạm tội liên tục là trường hợp người phạm tội thực hiện liên tục nhiều hành động phạm tội cùng tính chất đối với cùng một đối tượng, ví dụ: thủ quỹ của một cơ quan lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhiều lần lấy tiền của
cơ quan để tiêu xài cá nhân là phạm tội tham ô tài sản (Điều 278 BLHS); phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội thực hiện nhiều hành vi phạm tội cùng tính chất và cùng xâm phạm một khách thể (không nhất thiết cùng đối tượng) và các hành vi phạm tội có sự cách xa nhau một khoảng thời gian nhất định, ví dụ: một người hôm nay cướp giật sợi dây chuyền ở trên đường, hôm sau lại cướp tiệm vàng là phạm tội cướp tài sản nhiều lần
Thực tế trường hợp có nhiều bản án có thể thuộc về một tội hay nhiều tội có nhiều loại hành vi khác nhau, khi định tội danh các cơ quan tiến hành tố tụng chú ý hai hành vi đặc trưng như:
- Các loại hành vi phạm tội khác nhau (ví dụ: bị cáo thực hiện hành vi giết người trước sau đó bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản sau)
Trang 3511597 vụ/27021 bị cáo; năm 2015 là 11863 vụ/28714 bị cáo; năm 2016 là
12007 vụ án/29058 bị cáo, các nhóm phạm tội có chiều hướng gia tăng là: nhóm tội xâm phạm sở hữu, danh dự nhân phẩm, trật tư an toàn công cộng; các tội có chiều hướng giảm là: hiếp dâm, mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em, phá huỷ công trình quan trọng về an ninh quốc gia Tình hình phạm tội diễn biến phức tạp, số vụ án về ma tuý, về mại dâm, đánh bạc, tham nhũng cũng
là nguyên nhân của các tội phạm khác, đối tượng phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng gia tăng Phạm nhiều tội, phạm nhiều lần trở nên khá phổ biến, hành vi sau man rợ, mang tính nguy hiểm hơn nhiều so với hành vi trước
Ví dụ: Do có ý định bỏ đi khỏi nhà nên Phạm Thế Hùng đã tìm hiểu và
vạch kế hoạch vào nhà ông Thuận giết bà Lã Thị Thuý (vợ ông Thuận) để cướp tài sản Khoảng 14h ngày 12/01/2011, Hùng đến nhà ông Thuận gặp bà Thuý nói là nhờ ông Thuận xin việc Sau khi được bà Thuý cho vào nhà, lợi dụng lúc bà Thuý quay lưng lại, Hùng dùng dao đâm thẳng vào ngực làm bà chết ngay tại chỗ, sau đó lục tìm tài sản Theo Hùng khai: lấy được 500.000đ trong con lợn nhựa, sau đó tìm cách mở hai két sắt nhưng không được Hành nêu trên của Phạm Thế Hùng đã phạm tội “giết người” và tội “cướp tài sản” phạm vào điểm g, n khoản 1 Điều 93 và khoản 1 Điều 133 BLHS, Toà án nhân dân thành phố đã xử phạt bị cáo tử hình về tội “giết người”, 03 năm tù
về tội “cướp tài sản”, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là tử hình
Trang 3632
Nhiều vụ án trên địa bàn cả nước cho thấy tệ nạn ma tuý, cờ bạc cũng
là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác như: Trộm cắp tài sản, Cướp tài sản, cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản; Ví dụ: Vụ Nguyễn Văn
H phạm hai tội “cướp tài sản” tại Bình Tân đã bị tuyên phạt tù chung thân, vụ
án có kháng cáo và Toà phúc thẩm - TANDTC tuyên phạt tử hình đối với bị cáo Những vụ án cướp giật tài sản, vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đánh bạc tăng lên đáng kể qua các năm Bị cáo phạm tội với các nhóm xâm phạm sở hữu là từ 16 đến 29 tuổi; tội ma tuý từ
20 đến 35 tuổi, những bị cáo này sau khi chấp hành án xong có tỷ lệ tái phạm rất cao
Có thể nói rằng trong những năm gần đây hiện tượng tội phạm có nhiều bản án (phạm nhiều tội hoặc một tội) biến động mạnh mẽ và theo xu hướng tăng lên rõ rệt Nếu như trước đây, người phạm tội ở mức độ ít nghiêm trọng, thì hiện nay mức độ nguy hiểm cao hơn, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, hành động liều lĩnh hơn, tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng xuất hiện ngày càng nhiều, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn và nguy hiểm cho xã hội lớn hơn
Xem bảng 2.2 Phần phụ lục
Qua nghiên cứu Biểu 2.2: Biểu thống kê số liệu về số bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có nhiều bản án (hai bản án trở lên) tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 05 năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 cho thấy, tình hình tội phạm trong các năm và số bị cáo phạm tội thuộc trường hợp có nhiều bản án cũng tăng dần qua các năm Tổng số án qua 05 năm: 57454 vụ án thì có 946
bị cáo có nhiều bản án, tỷ lệ chung là 1,64% Số bị cáo này tập trung chủ yếu nhất vào tội “trộm cáp tài sản”, “cướp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma tuý” Nhìn chung các loại án có số vụ và số bị cáo cao thì tỷ lệ trường hợp bị cáo có nhiều bản án cũng cao, tập trung ở nhóm tội xâm phạm sở hữu , tội phạm về ma tuý, đánh bạc như: Tội trộm cáp tài sản, Tội đánh bạc, Tổ chức
Trang 3733
đánh bạc, gá bạc, Tội tàng trữ, mua bán, vân chuyển trái phép chất ma tuý, tuy nhiên có loại án tỷ lệ tội phạm là thấp nhưng số vụ án lại cao, bị cáo có nhiều bản án cao
Qua thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ điều tra viên, KSV, TP, Hội thẩm và Thư ký Toà án có kỹ năng nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Quán triệt Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Trên cơ sở phối hợp chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành để thực hiện tốt nhiệm vụ của mỗi đơn vị Hàng năm các đơn vị đã tổ chức họp và ban hành các văn bản liên ngành để
áp dụng thống nhất pháp luật của Nhà nước, đồng thời để giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật, đã áp dụng các căn cứ, các nguyên tắc khi quyết định hình phạt nói chung và đối với trường hợp có nhiều bản án nói riêng đầy đủ và chính xác
Quá trình giải quyết, xét xử án hình sự nói chung và trường hợp tội phạm có nhiều bản án nói riêng, Toà án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn luật đưa các vụ
án rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng ra xét xử như: vụ án Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Thụy Anh, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Dương phạm tội giết người, cướp tài sản; Nguyễn Văn Chương cùng đồng phạm phạm tội “cố ý gây thương tích”; Trần Thị Mười và Phùng Văn Mười phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý” các địa phương đã thực hiện rất tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức phiên toà theo đúng tinh thần cải cách tư pháp, góp phần giữ vững tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội
Trang 3834
2.1.2 Tình hình xét xử các vụ án hình sự có quyết định hình phạt trong trường hợp có nhiều bản án
Trong thực tiễn các trường hợp phạm nhiều tội xảy ra có thể thuộc một trong các khả năng sau:
- Một người phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này;
- Một người đang chấp hành một bản án lại phạm tội mới và bị đưa ra xét xử;
- Một người phải chấp hành nhiều bản án mà các hình phạt của các bản
án này chưa được tổng hợp
Trong các trường hợp trên Tòa án phải quyết định hình phạt của các bản án Như vậy, có thể thấy quyết định hình phạt của nhiều bản án là việc Toà án quyết định một hình phạt chung đối với một người đang phải chấp hành hình phạt của một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này hoặc lại phạm tội mới và bị xét xử về tội mới sau khi có bản án này Hay nói cách khác, quyết định hình phạt của các bản án là việc Toà án quyết định một hình phạt chung đối với người phạm tội trong trường hợp người đó bị tuyên nhiều hình phạt trong các bản án khác nhau
- Quyết định hình phạt đối với một người đang phải chấp hành một bản
án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, trong trường hợp này Toà án QĐHP đối với tội đang bị xét xử sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 BLHS Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung Khái niệm “một người đang phải chấp hành một bản án” quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS cần được hiểu là tất cả các trường hợp người bị kết án có nghĩa vụ phải chấp hành một bản án đã có HLPL bao gồm: những người đang chấp hành hình phạt của bản án đó nhưng chưa chấp hành xong và những người trên thực tế chưa chấp
Trang 3935
hành hình phạt của bản án đó Trong trường hợp này, việc quyết định hình phạt được thực hiện như sau: Trước hết hội đồng xát xử phải quyết định hình phạt cho tội đang bị xét xử, rồi tổng hợp với hình phạt của bản án trước Sau
đó lấy hình phạt chung trừ đi thời gian mà người bị kết án đã chấp hành, phần còn lại của hình phạt chung buộc người đó phải chấp hành
Ví dụ: Ngày 15/3/2013 Nguyễn Văn A bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội bức tử A đang chấp hành hình phạt thì bị phát hiện trước đó ngày 25/4/2011 A đã trộm cắp tài sản và ngày 25/4/2013 A bị TAND huyện X xử phạt 02 năm tù về tội này, THHP của hai bản án buộc A phải chấp hành hình phạt chung là 05 năm tù (được trừ 13 tháng 10 ngày đã chấp hành), còn phải chấp hành tiếp 46 tháng
20 ngày tù
Hoặc trường hợp Trần Văn An bị TAND Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử và tuyên phạt 4 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” vào ngày 14/6/2014 Sau khi có quyết định thi hành án đối với An thì phát hiện trước
đó An có bản án do Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau xét xử 02 năm tù
về tội “Chống người thi hành công vụ” Quyết định hình phạt chung của hai bản án, buộc An chấp hành hình phạt chung là 06 năm tù (có trừ thời gian đã thi hành 6 tháng, An phải thi hành phần hình phạt còn lại là 5 năm 6 tháng tù
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 thì “thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung” Nếu trước đó người bị kết án bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn tạm giữ, tạm giam cũng được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung: “Nếu người bị kết án
đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ ” (khoản 1 Điều 31); “Thời gian tạm giữ, tạm giạm được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 02 ngày tù” (đoạn 2 Điều 33) Nếu hình phạt của bản
Trang 4036
án trước là cải tạo không giam giữ và hình phạt của bản án sau là tù có thời hạn, thì trước hết TA quyết định hình phạt tù đối với tội đang xét xử, rồi tổn hợp với toàn bộ hình phạt cải tạo không giam giữ được quy đổi (03 ngày cải tạo không giam giữ bằng 01 ngày tù) thành hình phạt tù chung, sau đó trừ đi thời gian đã chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ (được quy đổi thành hình phạt tù) của bản án trước
Ví dụ: ngày 10/12/2013, Nguyễn Văn H bị Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức xử phạt 24 tháng cải tạo không giam giữ về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 BLHS Sau đó, ngày 11/12/2014 Nguyễn Văn H lại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 năm tù về tội hiếp dâm trẻ em (thực hiện từ tháng 9/2012) theo khoản 1 Điều 112 BLHS Tính đến thời điểm này Nguyễn Văn H đã chấp hành được 12 tháng cải tạo không giam giữ, nên
H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 năm 08 tháng tù (12 năm tù của bản án sau cộng với 08 tháng tù (quy đổi từ 24 tháng cải tạo không giam giữ của bản án trước) được trừ 04 tháng tù (quy đổi từ 12 tháng cải tạo không giam giữ đã chấp hành), Nguyễn Văn H còn phải chấp hành là
12 năm 04 tháng
- Quyết định hình phạt đối với một người đang phải chấp hành một bản
án lại phạm tội mới và bị đưa ra xét xử:
Đây là trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án, tức là
đã bị Nhà nước lên án về hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó nhưng họ không chịu giáo dục, cải tạo mà lại tiếp tục phạm tội mới Điều đó thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn, vì vậy, việc quyết định hình phạt trong trường hợp này cũng thể hiện tính nghiêm khắc hơn so với trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về một tội đã phạm trước khi có bản án này Trong trường hợp này việc THHP được thực hiện như sau: TA quyết định hình phạt đối với một hay nhiều tội đang xét xử (trường hợp phạm nhiều tội mới), sau đó cộng hình phạt hay các hình phạt đã