NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BẮT MỒI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI LÊN MẬT ĐỘ MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN TRÊN RAU HỌ HOA THẬP
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BẮT MỒI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI LÊN MẬT ĐỘ MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN TRÊN RAU HỌ HOA
THẬP TỰ Ở HUYỆN PHÚ XUYÊN- HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BẮT MỒI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ SINH THÁI LÊN MẬT ĐỘ MỘT SỐ LOÀI PHỔ BIẾN TRÊN RAU HỌ HOA THẬP TỰ Ở
HUYỆN PHÚ XUYÊN- HÀ NỘI
Chuyên ngành: Động vật học
Mã số: 60 42 0103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG XUÂN LAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy giáo, PGS.TS Trương Xuân Lam – Trưởng phòng Côn trùng học thực nghiệm – Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật – người đã luôn tận tình hướng dẫn, định hướng và tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Lời cảm ơn xin được gửi tới tập thể cán bộ nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp trong phòng Côn trùng học thực nghiệm - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã có những góp ý bổ ích cho em khi thực hiện luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các cô chú nông dân ở xã Minh Tân, xã Quang Lãng ,Tân Dân… đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thu mẫu điều tra cung cấp các thông tin sản xuất rau cho tôi hoàn thành tốt đề tài
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn cổ vũ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành tốt luận văn này
Do điều kiện thời gian còn hạn chế, nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô giáo cũng như toàn thể các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hường - Học viên cao học K16 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp là kết quả do tôi thực hiện tại phòng Côn trùng học thực nghiệm - Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật – Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Kết quả không sao chép từ bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học đã công bố
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hường
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi 4
1.1.2 Những nghiên cứu về biến động số lượng của các loài côn trùng bắt mồi 8
1.1.3 Những nghiên cứu về sinh thái học của một số loài côn trùng bắt mồi bắt mồi trên rau 9
1.1.4 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên côn trùng bắt mồi 10
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 11
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi 11
1.2.2 Những nghiên cứu về biến động số lượng và mối quan hệ của các loài côn trùng bắt mồi ở trên rau 14
1.2.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên mật độ côn trùng bắt mồi 16
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu : 19
2.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu : 19
2.3 Nội dung nghiên cứu : 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự 20
2.4.2 Phương pháp điều tra mật độ côn trùng bắt mồi trên rau họ hoa thập tự 21
Trang 72.4.3 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mật độ một số
nhóm côn trùng bắt mồi 21
2.4.4 Xử lý và bảo quản mẫu 22
2.4.5 Phương pháp định loại mẫu vật 22
2.4.6 Xử lý số liệu và công thức tính toán 22
2.5 Điều kiện tự nhiên và tình hình canh tác tại huyện Phú Xuyên - Hà Nội 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự ở huyện Phú Xuyên 27
3.2 Nghiên cứu diễn biến mật độ của một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến tại điểm nghiên cứu 31
3.3 Nghiên cứu mối quan hệ của mật độ một số loài côn trùng bắt mồi với mật độ một số loài sâu hại (vật mồi) phổ biến tại điểm nghiên cứu 38
3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên một số loài côn trùng phổ biến 43
3.4.1 Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến sự phát sinh phát triển của các loài sâu hại trên rau phun ít thuốc 43
3.4.2 Ảnh hưởng của phân bón đến sự phát sinh và phát triển của một số loài côn trùng bắt mồi tại điểm nghiên cứu 47
3.4.3 Ảnh hưởng của việc quản lý sâu hại đến sự phát sinh và phát triển của một số loài côn trùng bắt mồi tại điểm nghiên cứu 50
3.5 Một số đề xuất sử dụng côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại 55
3.5.1 Khả năng ăn mồi của bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus 55 3.5.2 Khả năng ăn mồi của bọ đuôi kìm bắt mồi E annulipes 56
3.5.3 Khả năng ăn mồi của bọ xít nâu bắt mồi C fuscipennis 57
3.5.4 Đề xuất bổ xung một số loài côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại rau tại vùng trồng rau an toàn ở Phú Xuyên, Hà Nội 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 72
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
UBND : Ủy Ban nhân dân RAT : Rau an toàn CT1 : Công thức 1 CT2 : Công thức 2 GAP : Good Agriculture Practices
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số liệu điều tra cơ cấu cây trồng 23
của huyên Phú Xuyên năm 2010, 2011 23
Bảng 3.1 Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự huyện Phú Xuyên- Hà Nội 27
Bảng 3.2: Số lượng bộ, họ và các loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự ở huyện Phú Xuyên 31
Bảng 3.3: Mật độ trung bình một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến trên rau phun ít thuốc tại điểm nghiên cứu 32
Bảng 3.4: Mật độ số loài bắt mồi phổ biến trên rau phun ít thuốc và phun nhiều thuốc tại điểm nghiên cứu 33
Bảng 3.5: Mối quan hệ của các loài côn trùng bắt mồi đến các loài sâu hại phổ biến trên họ Hoa thập tự tại điểm nghiên cứu 39
Bảng 3.6: Thời vụ canh tác rau họ Hoa thập tự ở một số điểm 43
ở Phú Xuyên- Hà Nội 43
Bảng 3.7: Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến mật độ một số loài côn trùng bắt mồi trên rau trồng quanh năm và rau trồng theo vụ 44
Bảng 3.8: Tỷ lệ các hộ sử dụng các loại phân bón khác nhau trên ruộng rau phun ít thuốc 47
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của phân bón đến mật độ một số loài loài côn trùng bắt mồi tại điểm nghiên cứu 48
Bảng 3.10: Tỷ lệ các hộ sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trên nhóm rau phun ít thuốc và phun nhiều thuốc tại điểm nghiên cứu 50
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của số lần phun thuốc lân mật độ một số loài côn trùng bắt mồi trên rau tại điểm nghiên cứu 51
Bảng 3.12: Khả năng ăn rệp của bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus 55 Bảng 3.13 Khả năng ăn rệp xám, sâu tơ, sâu khoang của trưởng thành bọ đuôi kìm bắt mồi E annulipes 56
Bảng 3.14 Khả năng ăn mồi của các tuổi thiếu trùng loài C fuscipennis 58
(nhiệt độ: 26,1 – 30,8 0 C; ẩm độ 75,6 – 80,5%) 58
Bảng 3.15 Khả năng ăn mồi của trưởng thành cái loài C fuscipennis 58
(nhiệt độ: 26,1 – 30,8 0 C; ẩm độ 75,6 – 80,5%) 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Mật độ các loài bọ xít bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự tại điểm
nghiên cứu 34
Hình 3.2: Mật độ loài bọ xít nâu bắt mồi Coranus Fuscipennis Reuter, trên
rau họ Hoa thập tự tại điểm nghiên cứu 35 Hình 3.3: Mật độ các loài bọ rùa bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự tại điểm nghiên cứu 36 Hình 3.4: Mật độ loài bọ rùa đỏ bắt mồi trên rau Họ hoa thập tự tại điểm
nghiên cứu 36 Hình 3.5: Mật độ loài bọ đuôi kìm bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự tại điểm nghiên cứu 37 Hình 3.6: Mật độ loài bọ cánh cộc 3 khoang trên rau Họ hoa thập tự tại điểm nghiên cứu 37 Hình 3.7: Mối quan hệ giữa các loài bọ xít bắt mồi với 3 loài sâu hại phổ biến trên rau phun ít thuốc tại điểm nghiên cứu 40 Hình 3.8: Mối quan hệ giữa các loài bọ rùa bắt mồi với rệp trên rau phun ít thuốc tại điểm nghiên cứu 40 Hình 3.9: Mối quan hệ giữa loài bọ rùa đỏ bắt mồi với rệp trên rau phun ít thuốc tại điểm nghiên cứu 41
Hình 3.10: Mối quan hệ giữa bọ cánh côc 3 khoang Paederus fuscipes với
sâu tơ trên rau phun ít thuốc tại điểm nghiên cứu 42
Hình 3.11: Mối quan hệ giữa bọ đuôi kìm với sâu tơ trên rau phun ít thuốc tại
điểm nghiên cứu 42 Hình 3.12: Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến sự xuật hiện và phát triển của các loài bọ xít bắt mồi ở địa điểm nghiên cứu 45
Trang 11Hình 3.13: Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến sự xuật hiện và phát triển của các loài bọ rùa bắt mồi ở địa điểm nghiên cứu 45 Hình 3.14: Ảnh hưởng của thời vụ canh tác đến sự xuật hiện và phát triển của loài bọ cánh cộc 3 khoang ở địa điểm nghiên cứu 46 Hình 3.15: Ảnh hưởng của phân bón đến sự xuật hiện và phát triển của các loài bọ xít bắt mồi ở địa điểm nghiên cứu 48 Hình 3.16: Ảnh hưởng của phân bón đến sự xuật hiện và phát triển của các loài bọ rùa bắt mồi phổ biến ở địa điểm nghiên cứu 49 Hình 3.17: Ảnh hưởng của phân bón đến sự xuật hiện và phát triển của bọ đuôi kìm ở địa điểm nghiên cứu 49 Hình 3.18: Ảnh hưởng của sự phun thuốc hóa học đến sự phát sinh phát triển của các loài bọ xít bắt mồi tại điểm nghiên cứu 52 Hình 3.19: Ảnh hưởng của sự phun thuốc hóa học đến sự phát sinh phát triển của bọ cánh cộc 3 khoang tại điểm nghiên cứu 53 Hình 3.20: Ảnh hưởng cửa sự phun thuốc hóa học đến sự phát sinh phát triển của bọ rùa bắt mồi phổ biến tại điểm nghiên cứu 53 Hình 3.21: Mô hình thả côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại theo hướng trồng RAT 60
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Họ cải (Brassicaceae), còn gọi là họ Hoa thập tự (Cruciferae), là một
họ thực vật có hoa Họ này chứa một số loài có tầm quan trọng kinh tế lớn, cung cấp nhiều loại rau về mùa đông trên khắp thế giới Chúng bao gồm cải
bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn (tất cả đều là các giống cây trồng từ một loài là Brassica oleracea), cải làn, cải củ và su hào… Là cây
thực phẩm quan trọng đối với đời sống con người và vật nuôi, rau cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết như prôtêin, axit hữu cơ, vitamin và các chất khoáng Rau có thời gian sinh trưởng ngắn, bị nhiều loài côn trùng gây hại, người dân trồng rau ở Hà Nội đã sử dụng nhiều loại thuốc trừ sâu hoá học có tính độc cao trên một số loại rau, số lần phun thuốc từ 4 đến 20 lần/vụ, khoảng cách giữa các lần phun 5 đến 15 ngày Chính vì vậy ảnh hưởng của thuốc hoá học đã và đang để lại nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng
do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người tiêu dùng, người sản xuất và vật nuôi sử dụng Ngoài ra thuốc trừ sâu còn xâm nhập vào môi trường đất, nước, không khí gây ra những ảnh hưởng lâu dài, phá vỡ cân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích trên đồng ruộng rau (Trần Xuân Bí - 2003)[2]
Việt Nam nằm ở khu vực có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có nhiệt độ, độ
ẩm thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại, trong sản xuất nông nghiệp kỹ thuật chưa cao, chế độ canh tác còn lạc hậu, việc quản lý sâu hại, phòng trừ dịch hại còn lỏng lẻo… có nhiều yếu tố tác động mạnh mẽ đến sự phát sinh phát triển của sâu hại
Việc sử dụng thuốc hoá học trong diệt trừ sâu hại đã trở nên phổ biến
và trở thành thói quen của đại bộ phân người trồng rau mà không hề nghĩ đến hậu quả sinh thái Nhưng qua kinh nghiệm dùng thuốc hóa học nhiều chuyên gia đã đi đến kết luận bất kì một loại côn trùng nào cũng có tính chống thuốc,
Trang 13đặc biệt là nó được dùng như một chất độc tiếp xúc Do đó các nhà khoa học nghiên cứu thuốc hóa học trừ sâu luôn phải tìm ra thuốc hóa học mới để chống lại hiện tượng trên và phải tốn nhiều công của
Trong những năm gần đây người ta đã bắt đầu nghiên cứu phương pháp mới, ít nguy hiểm và có hiệu quả để bảo vệ cây trồng Đó là tạo nên những giống cây có tính miễn dịch kích thích, chuyển sự trồng trọt một loài thành trồng trọt nhiều loài, phát triển các loài kí sinh hay ăn sâu hại, tạo nên những vật chủ vi sinh gây bệnh cho các loài tiếp xúc có hại, quyến rũ hay làm
sợ hãi các loài phá hoại bằng chất đặc hiệu, siêu âm và những phương pháp tác động vật lý khác, phá hủy cấu trúc di truyền của những côn trùng có hại Một trong những hướng đang có nhiều triển vọng là biện pháp phòng trừ sâu hại bằng sinh vật Biện pháp này dựa trên cơ sở dùng các sinh vật có ích như
kí sinh ( côn trùng ăn thịt, kí sinh, nấm, vi khuẩn, siêu vi khuẩn), sinh vật ăn thịt sâu hại
Sử dụng các loài côn trùng bắt mồi là nhóm kẻ thù tự nhiên quan trọng trong việc kìm hãm số lượng sâu hại hiện nay đã và đang được nhiều nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu Đối với nhóm côn
trùng bắt mồi phải kể đến các loài cánh cứng thuộc họ Scarabidae, bọ rùa Coccinellidae, Staphylinidae, bọ xít ăn sâu Nabidae, Miridae, Pentatomidae
và Reduviidae, chuồn chuồn Coenagridae, ong bò vẽ Vespidae của sâu bọ để
tiêu diệt sâu hại như sử dụng côn trùng bắt mồi để hạn chế sự phát triển của sâu hại mà không ảnh hưởng đến sức khoẻ người và động vật, đó là cơ sở để phát triển một nền nông nghiệp an toàn và bền vững, chính vì vậy tôi đã chọn
đề tài có tên “Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi và ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên mật độ một số loài phổ biến trên rau họ Hoa thập tự ở huyện Phú Xuyên-Hà Nội”
Trang 142 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
* Mục đích
- Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái ( kỹ thuật canh tác, chế
độ chăm sóc, phân bón và thuốc trừ sâu) lên mật độ của một số loài phổ biến
* Ý nghĩa của đề tài
- Việc xác định được thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự tại Phú Xuyên-Hà Nội góp phần vào nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi ở Phú Xuyên nói riêng và Hà Nội nói chung
- Các dẫn liệu về biến động số lượng của các loài phổ biến là cơ sở của biện pháp sử dụng côn trùng bắt mồi trong phòng trừ sâu hại
- Các dẫn liệu hiện trạng loài côn trùng bắt mồi trên đồng ruộng và việc
sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu đã làm cho côn trùng bắt mồi không còn thức
ăn, nơi trú ẩn nhiều loài đã gần như biến mất làm mất cân bằng sinh thái
- Góp phần đánh giá về công tác quản lý sâu hại, quản lý môi trường ở địa phương, đồng thời ý thức tự giác của người dân trong việc thực hiện đúng quy định khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để có thể có được sản phẩm RAT
và bảo vệ môi trường
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi
a Những nghiên cứu về thành phần loài sâu hại
Trên thế giới thành phần côn trùng hại trên rau họ Hoa thập tự đã ghi nhận hơn 103 loài, tuy nhiên chỉ có hơn 30 loài là các loài hại thực sự nguy hiểm và hàng năm bình quân đã làm giảm từ 20 – 30% tổng sản lượng giá trị hàng trăm tỷ đô la (Risk et al., 1995; Diana et al., 2004)[41],[58] Trong nhiều năm qua việc sản xuất các loại rau, củ và quả, đặc biệt là ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam như: Canada, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, dó đó thành phần các loài côn trùng hại trên rau họ Hoa thập tự được nhiều sự quan tâm nghiên cứu Các loài sâu hại chính
gồm sâu vẽ bùa Liriomyza trifolii, rệp đậu Myzus persicae, rệp bông Aphisgossypii, ruồi trắng Trialeurodes vaporariorum, bọ phấn Bemisia argentifolii, bọ trĩ Frankliniella occidentalis Trong hơn 4000 loài rệp trên thế
giới thì các loài rệp hại cây trồng hại rau họ Hoa thập tự chủ yếu là rệp đậu
(Myzus persica), rệp bông (Aphis gossypii), rệp hoa cúc (Macrosiphoniella sanborni), rệp hoa hồng (Macrosiphum rosae), rệp khoai tây (Macrosiphum euphorbiae) và rệp cây mao (Aulacorthum solani), trong đó rệp đậu là loài hại
nguy hiểm nhất (Lane Greer, 2000)[53]
Kết quả nghiên cứu sâu hại trên rau họ Hoa thập tự ở Thái Lan,
Goodwin, 2002[48] đã ghi nhận 10 loài sâu hại nguy hiểm là rệp đậu Myzus persicar, rầy chồng cánh (bọ phấn - Whitefly) Trialeurodes vaporaiorum, sâu
vẽ bùa Crataegus spp, rệp gáp giả Lecanium sp, Saissetia olear, Saissetia hemisphaerica, Coccus hesperidum và Parasaisetia nigra, rệp sáp sơ
Trang 16Planococus citri và Pseudococus longispinus Jim Chaput (2000)[51] đã ghi
nhận, mô tả hình thái của 5 loài ruồi đục lá ở Bắc Mỹ và Canada loài
(Liriomyza trifolii (Burgess), Liriomyza brassicar Riley, Liriomyza sativae Blanchard, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiae Hardy)
Hình thái và các minh họa của 4 loài bọ trĩ hại chính trên rau họ Hoa thập tự
gồm Frankliniella occidentalis, Frankliniella tritici, Thrips tabaci và Echinothrips sp.) đã được nghiên cứu ở On-ta-rio (Canada) (Gillian Ferguson,
2005) [46]
Nhiều loài phổ biến và nguy hiểm như sâu tơ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua Sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Brevicoryne brassicae, rệp muội Brevicoryne brassicae, rệp đậu Myzus persicae, sâu đo xanh Plusia eriosoma, Rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhảy sọc trắng Phyllotre armoraciar, bọ nhảy sọc đen Phyllotre pusila, ruồi đục lá Liriomyza sativae, bọ trĩ Frankliniella occidentalis vv đã
được nghiên cứu hệ thống về hình thái, dẫn liệu các minh hoạ, sự gây hại và biện pháp phòng trừ (Alam, 2002; Blackman, 1984; Morallo and Sayaboc.,
2003 )[38],[39],[54]
Ở vùng Đông Phương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam đã ghi nhận hơn 100 loài sâu hại trong đó có hơn 30 loài thực sự nguy hiểm, nhiều loài trong số đó đã được mô tả hình thái, nghiên cứu sinh học, sinh thái
học và các biện pháp phòng chống như ruồi đục lá Liriomyza trifolii, Liriomyza brassicae Riley, Liriomyza sativae, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiae, rệp đào Myzus persicae, rệp bông Aphis gossypii, ruồi trắng Trialeurodes vaporarioum, bọ phấn Bemisia argentifolii, rệp hoa cúc Macrosiphoniella sanborni, rệp hoa hồng Macrosiphum rosae, rệp khoai tây Macrosiphum euphorbiae, bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella occidentalis, Frankliniella tritici, Thrips tabaci và Echinothrips sp sâu tơ
Trang 17Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Frankliniella occidentalis, sâu đo xanh Plusia eriosoma, rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhẩy sọc trắng Phyllotre armoraciar, bọ nhẩy sọc đen Phyllotre pusila (Fao,1993)[44]
b Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi
Thành phần loài côn trùng ký sinh và bắt mồi của các loài sâu hại trên rau họ Hoa thập tự cũng rất phong phú với hơn 60 loài ký sinh bắt mồi phổ biến ghi nhận được và nhiều loài đã được nhân nuôi và sử dụng các phòng trừ
sinh học sâu hại rau như bò rùa bắt mồi Propylea japonica,Harmonia axyridis, Scymnus hoffmanni, ruồi ăn rệp M.corollae và P Quadrifasciatus,
bọ xít bắt mồi Orirus sp., Coranus sp., Sycanus spp., bọ mắt vàng Chrysoperla carnea và Chrysopa oculata,cánh cứng bắt mồi Cheilomenes spp, bọ đuôi kìm bắt mồi Việc sử dụng các loại bẫy để tiêu diệt các loài sâu
hại rau cũng đã được các nhà côn trùng học dùng từ lâu (De Back, 1974)[43]
Nhiều côn trùng ăn sâu (cả sâu non của chúng) đã được dùng để tiêu diệt một số lượng lớn rệp cây và trứng nhện Mỹ và Canada đã đạt được nhiều kết quả trong việc dùng các loài ăn sâu để phòng trừ sâu hại Một ví dụ có tính chất lịch sử trong biện pháp phòng trừ sinh hoạt là dùng bọ rùa để tiêu
diệt rệp Năm 1988 loài bọ rùa Rodolia cardinalis (Muls) đã được nhập từ Úc vào California để tiêu diệt rệp hại cam Icerya purchasi Mask (loài rệp này đã
phá hoại hầu hết các vườn cam nước Mỹ) Chỉ sau một thời gian ngắn đã cứu
vãn được tai họa của vườn cam do rệp I purchasi Mask gây nên Sau đó loại
bọ rùa này được dử dụng để phòng trừ có kết quả loài I purchasi Mask ở
nhiều nơi trên thế giới như Florida, Angêri, Pháp, Tân tây lan, Nhật Bản và một số nước nhiệt đới khác Cho đến nay nó đã được nhập vào trên 50 nước khác nhau Tương tự như vậy, ở California người ta còn bảo vệ và phát triển
các loài ăn sâu bản xứ như Cryptolaemus montrouzieri Muls, Chrysopa, californica…để chống lại những loài rệp phấn hại cây ăn quả (Risk et
al.,1995)[58]
Trang 18Một thực tế khác, để phòng trừ rệp phấn, Liên Xô cũ đã nhập rồi nuôi và
thả ra đồng ruộng, vườn cây ăn quả loài bọ rùa Cryptolaemus, công việc này
mang lại nhiều kết quả đáng kể Ngoài ra, Liên Xô cũ còn sử dụng một số côn trùng ăn sâu khác (bản xứ hoặc nhập nội) do phòng trừ sâu hại Trong những loài ăn sâu nhập vào để chống loại sâu hại của Liên Xô cũ phải kể đến :
Rhodolia, Cryptolaemus, Lindorus gurneyi comp, Phytoseiulus persimillis A.N
(Risk et al,1995)[58]
Kiến cũng được nhiều nước sử dụng để phòng trừ một số loài côn trùng hại cây rừng Ở cộng hòa Szhekc, người ta đã chuyển đến khu rừng tùng bách
những tổ kiến và những rác vụn có chứa kiến Formica rufa L để tiêu diệt sâu
tùng bách Từ một tập đoàn kiến phân chia thành nhiều tập đoàn và tăng dần
số lượng quần thể Người ta đã dùng lưới thép để bảo vệ tổ kiến trên cành khỏi bị các động vật khác phá tổ kiến và tiêu diệt Ở nhiều nước khác của Châu Âu cũng tiến hành theo phương pháp này đối với các khu rừng và đã mang lại kết quả rõ rệt (dẫn theo Pham Van Lam et al., 2003)[57]
Ngoài ra, phải kể đến những hiệu quả tốt trong việc dùng các loài nhện
ăn thịt để chống lại một số loài sâu hại Kết quả thí nghiệm dùng nhện hổ
trùng (Phytoseinlus persimilles Athias - Henriot) trong 4 năm liền của G.A
Bengarôp ở Liên Xô cũ đã thể hiện điều đó Ông đã thí nghiệm dùng nhện hổ trùng chống lại nhện hại trên một diện tích 11000m2 và nhận thấy dùng biện pháp này so với biện pháp hoá học làm cho năng suất dưa chuột tăng 50%
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, người ta đang gặp một số khó khăn trong việc bảo vệ, phát triển và sản xuất thường xuyên một số lượng rất lớn các loài kí sinh và ăn sâu
Trang 19
1.1.2 Những nghiên cứu về biến động số lượng của các loài côn trùng bắt mồi
De Back (1974) [43] đã nghiên cứu biến động số lượng trưởng thành và
thiếu trùng của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc 3 họ bao gồm: Acanthaspis pedestris, Edocla slateri, Catamiarus brevipennis, Haematorrhophus nigroviolaceous, Neohaematorrhophus therasii, Rhinocoris fuscipes và loài
R marginatus trên cánh đồng ở Tamil Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9
năm 1984 đến tháng 7 năm 1986 tác giả nhận thấy rằng biến động số lượng của các loài bọ xít bắt mồi này có mối quan hệ với số lượng của vật mồi và
phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng mưa, gió Số lượng của loài bọ xít Acanthaspis pedestris thường đạt mật độ cao trong khoảng từ tháng 9/1984 đến tháng 3/1985 Số lượng của loài bọ xít Edocla slateri đạt mật độ cao từ tháng 11/1984 đến tháng 3/1985 Đối với loài Catamiarus brevipennis đạt mật độ cao vào tháng 4 hàng năm Loài Haematorrhophus nigroviolaceous đạt mật
độ cao từ tháng 10/1984 đến tháng 2/1985 Loài Neohaematorrhophus therasii đạt mật độ cao từ tháng 3/1985 đến tháng 8/1986 Loài Rhinocoris fuscipes đạt mật độ cao từ tháng 7/1984 đến tháng 3/1986 Số lượng loài R marginatus thường đạt mật độ cao trong khoảng từ tháng 9/1984 đến tháng
Trang 20rau Hai loài này đạt mật độ cao từ tháng 3/1985 đến tháng 8/1986 và từ tháng
7/1984 đến tháng 3/1986 Số lượng loài Psix striaticeps thường đạt mật độ cao
nhất trong khoảng từ tháng 7 và 8 (dẫn theo Phạm Văn Lầm et al.,2003) [57]
1.1.3 Những nghiên cứu về sinh thái học của một số loài côn trùng bắt mồi bắt mồi trên rau
Các kết quả nghiên cứu về sinh thái học của các loài côn trùng hại rau
họ Hoa thập tự trồng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như dẫn liệu về vòng đời, sự gây hại và các biện pháp phòng trừ của 5 loài ruồi
đục lá ở Bắc Mỹ và Cannada (loài Liriomyza trifolii (Burgess), Liriomyza brassicae Riley, Liriomyza sativae Blanchard, Liriomyza huidobrensis và Chromatomyia syngenesiar Hardy) trên rau họ Hoa thập tự đã được đề cập
Nhiều loài sâu hại rau phổ biến và nguy hiểm ở Đài Loan, Canada, Trung
Quốc Sâu tơ Plutella xylostella, sâu khoang Spodoptera litura, sâu keo da láng Spodoptera exigua, sâu xám Agrotis ypsilon, sâu xanh bướm trắng Pieris rapae, rệp cải Frankliniella occidentalis, rệp muội Brevicoryne brassicae, rệp đào Myzus persicae, rệp khoai tây Macrosiphum euphorbiae, rệp bông Aphis gossypii, sâu đo xanh Plusia eriosoma, rầy xanh Tettigoniella viridis, sâu đục bắp Marmestra sp., bọ nhẩy sọc trắng Phyllotreta armoraciar,
bọ nhẩy sọc đen Phyllotreta pusila, ruồi đục lá Liriomyza trifolii, bọ trĩ Frankliniella occidentalis vv
Nghiên cứu sinh thái học của một số loài phổ biến trong phòng trừ sinh học sâu hại cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Cụ thế là 61 loài ong ký sinh và côn trùng bắt mồi của sâu hại họ Hoa thập tự trong đó nhiều loài có
khả năng sử dụng cho hiệu quả cao, như ong mắt đỏ Trichogramma brassicae, bọ xít bắt mồi Orirus sp, bọ mắt vàng Chrysoparla sp (California
Environmental Protection Agency Departmen, 2010)[40]
Trang 21Việc sử dụng các loài côn trùng ký sinh, bắt mồi trong phòng trừ sinh học để giảm bớt hay loại trừ côn trùng hại cũng đã được áp dụng ở nhiều nước Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Indonesia… thậm chí ở nhiều nước như Trung Quốc, Đài Loan còn có nhiều công ty sản xuất hàng loạt các côn trùng bắt mồi (trong đó thức ăn để nuôi chúng được nhân nuôi và phối chế công nghiệp) nhằm cung cấp cho nông dân thả trên đồng ruộng và trong nhà kính để phòng trừ sâu hại nguy hiểm trên cánh đồng Một số biện pháp như bẫy màu, canh tác hoặc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc sinh học trong phòng
trừ sâu hại được áp dụng như sử dụng thả ong mắt đỏ Trichogramma brassicae, bọ xít bắt mồi Orirus sp., bọ mắt vàng Chrysoperla sp (California
Environmental Protection Agency Departmen, 2010)[40]
1.1.4 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên côn trùng bắt mồi
Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phun thuốc 1 lần và công
thức phun thuốc 3 lần lên mật độ của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis và vật mồi của nó là các loài sâu hại trên rau cho thấy công thức
phun thuốc 3 lần làm giảm số lượng cuả loài côn trùng bắt mồi này và phá vỡ mối tuơng quan số lượng với vật mồi (Fao, 1993) [44]
Goodwin (2002) [48] đã nghiên cứu ảnh hưởng của 5 loại thuốc hoá học (Monocrotophos, Dimethoate, Methylparathion [Methyl- Parathion],
Quinalphos và Endosulfan) lên loài côn trùng bắt mồi Rhynocoris kumarii (họ
Reduviidae) là loài băt mồi có mặt trên rau Kết quả cho biết loại thuốc hoá học Methylparathion ảnh hưởng đến thiếu trùng tuổi 3 và trưởng thành của
loài bọ xít Rhynocoris kumarii So với các loại thuốc kể trên thì thuốc
Endosulfan làm ảnh hưởng ít nhất tới số lượng thiếu trùng cũng như con trưởng thành của loài côn trùng bắt mồi này
Trang 22Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên loài bọ rùa đỏ
Micraspis discolor (F.) và sử dụng loài bọ rùa đỏ này ở pha ấu trùng (tuổi 1-
4) và trưởng thành đã đem lại hiệu quả cao trong phòng trừ rệp đậu trong nhà kính (Jamie, 2008)[51]
Nuôi trưởng thành và ấu trùng của một số loài bọ rùa (Propylaea japonica, Harmonia axyridis, Scymnus hoffmanni) và loài bọ mắt vàng (Chrysopa pallens, Chrysopa formosa) nhằm sử dụng để phòng trừ một số
loài bọ phấn trắng (Homoptera: Aleyrodidae) ở Trung Quốc đã thu được một
số kết quả khả quan Với 50% là nguồn thức ăn từ rệp muội và 50% là bọ phấn trắng thu ở ngoài đồng, các loài bắt mồi trên có khả năng sinh trưởng và phát triển cao (Zhang et al., 2000) [59]
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài côn trùng bắt mồi
Cho đến nay, việc nghiên cứu và xác định thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau, cũng như các nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển của một số loài chủ yếu đã được quan tâm và tiến hành, nhất là việc nghiên cứu một số biện pháp sinh học phòng chống sâu hại rau trồng phục vụ sản xuất rau an toàn theo GAP, các kết quả nghiên cứu cho đến nay chủ yếu tập trung nghiên cứu trên rau ở ngoài cánh đồng, đặc biệt là tại các vùng trong rau ở Hà Nội và phụ cận
Trên cánh đồng trồng rau họ Hoa thập tự thành phần sâu hại rất phong phú, theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng ở các tình phía Bắc 1967 – 1968 [35] đã ghi nhận 23 loài trong đó 14 loài thường xuyên gây hại Đến năm
1995 – 1997, Lê Văn Trịnh, 2002 [27] ghi nhận ở đồng bằng Sông Hồng có
31 loài sâu hại trên rau thuộc 16 họ Hà Quang Hùng (2005)[12] ghi nhận
những loài gây hại quan trọng và thường xuyên là sâu xám (Agrotis ypsilon), sâu tơ (Plutella xylostella), bọ nhảy (Phyloteta sp.), sâu xanh bướm trắng
Trang 23(Pieris rapae), rệp cải (Frankliniella occidentalis) Lê Thị Kim Oanh
(2002)[19] điều tra tại Hà Nội và Vĩnh Phúc thu thập được 29 loài sâu hại
thuộc 7 bộ 17 họ trong đó bộ cánh vảy Lepidoptera có số lượng loài lớn nhất
(34,5%), trong đó ghi nhận 17 loài sâu hại rau họ thập tự ở Hà Nội và phụ cận, trong đó sâu tơ, sâu khoang, rệp xám và bọ nhẩy sọ cong là 4 loài nguy hiểm Trần Đình Chiến và ctv (2008)[3] trong các đợt nghiên cứu sâu hại rau
ở Hà Nội đã ghi nhận 4 loài côn trùng hại rau phổ biến sống trong đất gồm bọ
nhảy sọc cong (Phyllotreta striolata), sâu xám (Agrotis ypsilon), dế trũi (Gryllotalpa orientalis), dòi đục gốc, trong đó bọ nhảy sọc cong và sâu sám là
loài nguy hiểm
Các nghiên cứu về thành phần loài côn trùng ký sinh và bắt mồi sâu hại trên rau họ hoa thập tự ở Hà Nội cũng đã được nhiều tác giả đề cập Lê Thị Kim Oanh (2002)[19] điều tra tại Hà Nội và Vĩnh Phúc thu thập được 45 loài
kẻ thù tư nhiện trên rau họ Hoa thập tự gồm 21 họ thuộc 5 bộ và 1 nhóm bệnh
hại côn trùng Trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera) chiếm số lượng loài lớn
nhất (37,8%), trong đó bọ rùa đỏ, bọ rùa 6 vằn, bọ đuôi kìm, bọ cánh cụt và ong ký sinh sâu tơ là 5 loài thiên địch có thể nhân nuôi và sử dụng trong phòng trừ sâu hại rau trên cánh đồng Pham Van Lam et al., (2003) [57] đã ghi nhận 25 loài côn trùng thiên địch trên rau trong đó có 13 loài thuộc bộ Coleoptera, 5 loài ruồi ăn rệp và 1 loài là ký sinh ấu trùng sâu hại thuộc bộ Diptera và 6 loài là ong ký sinh thuộc bộ Hymenoptera trong đó có 4 loài phổ
biến bao gồm bọ rùa Menochilus sexmaculatus, Micrapis discolor, ruồi bắt mồi Epiyrphus balteatus và Ischiodon scutellaris Trong 7 loài ruồi họ Syrphidae được xác định ở Gia Lâm, Hà Nội thì loài Clythia sp và Ichiodon scutellaris có khả năng ăn rệp muội cao và có thể nhân nuôi sử dụng trong
đấu tranh sinh học
Trang 24Một số đề tài đã được các cán bộ ở viện sinh thái và tài nguyên sinh vật nghiên cứu như tính đa dạng côn trùng trong sinh quần rau, quả ở Hà Nội đã ghi nhận 19 loài côn trùng bắt mồi, trong đó có những loài đã quan sát được hành vi ăn sâu hại rõ rệt như chuồn chuồn kim, chân chạy năm chấm trắng,
bọ rùa đỏ, bọ đuôi kìm đen, ruồi ăn rệp vân bụng đen và 18 loài ong kí sinh sâu hại rau quả (Mai Phú Quý, Vũ Thị Chỉ, 2005)[22]
Trong báo cáo khoa học của hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 5 nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi trên rau họ cải ở tỉnh Nghệ An có tới
47 loài Trong đó bộ Cánh cứng (Coleoptera) có 26 loài chúng thuộc 4 họ Họ
Bộ chân chạy (Carabidae) có 12 loài, họ bọ rùa (Coccinellidae) có 7 loài, họ
Hổ trùng (Cicidelidae) có 3 loài, họ Cánh cộc ( Staphilinidae) có 2 loài Bộ chuồn chuồn (Odonata) có 8 loài Bộ cánh khác chiếm 4 loài, họ bọ xít năm cạnh thu được 2 loài, Bộ cánh da có 4 loài Bộ cánh màng (Hymenoptera) thu được 3 loài Bộ bọ ngựa (Mantoptrera) chỉ có 1 loài (Nguyễn Thị Thanh, 2012)[24]
Theo tính toán của các nhà khoa học, chi phí cho việc sử dụng các loài côn trùng bắt mồi không rẻ hơn so với dùng thuốc bảo vệ thực vật và tốn kém thời gian hơn nhưng đảm bảo sản xuất ra những nông sản an toàn, có lợi cho sức khoẻ của con người, tăng chất lượng của môi trường sống Hơn nữa, việc nuôi thả thiên địch sẽ tạo ra nguồn thiên địch lâu dài trong tự nhiên, bổ xung sự thiếu hụt của chúng trên cánh đồng góp phần tạo lập sự cân bằng sinh thái, gìn giữ được các nguồn gen có ích, làm giảm dần chi phí khác trên cánh đồng giúp cho người nông dân tăng hiệu quả kinh tế trong trồng trọt Thí dụ sử dụng ấu
trùng tuổi 4 chuồn chuồn cỏ (Bọ mắt vàng) Chrysopa sp.1 và ấu trùng trưởng thành bọ rùa hai chấm vàng S bipunctatus trong phòng trừ rệp sáp
Việc sử dụng bọ rùa, bọ đuôi kìm, bọ xít nâu đã được nhân nuôi trong phòng thí nghiệm và ra thả tại các ruộng rau thí điểm trong nhà lưới, với diện tích gần 10 ha được triển khai để phòng trừ sâu tơ, sâu khoang, rệp
Trang 25Theo Hà Quang Hùng (2006)[14] để phòng trừ rệp thì cần thả bọ rùa,
bọ đuôi kìm với tỉ lệ 1-1,5 con/m2 Kết quả thử nghiệm cho thấy, diện tích được thả thiên địch so với diện tích đối chứng (rau trồng phát triển tự nhiên không can thiệp bất kì biện pháp phòng trừ sâu hại nào) mang lại hiệu quả cao hơn hẳn Rau tươi lượng sâu giảm từ 70-80 %, cho thu hoạch nhiều lần Quan trọng hơn người dân giảm được đáng kể công lao động, không phải sử dụng thuốc trừ sâu hoặc hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu đem lại sản phẩm rau sạch,
an toàn cho người sử dụng Việc sử dụng thiện địch đã đem lại hiệu quả tốt đẹp, không tốn tiền phun thuốc trừ sâu, trước đây 1 vụ phải 10 lần phun thuốc, bây giờ chỉ cần phun 1-2 lần/vụ
Nhìn chung ở vùng trồng rau ở Hà Nội, cho đến nay, việc nghiên cứu
và xác định thành phần loài côn trùng bắt mồi chỉ chủ yếu là nghiên cứu trên rau ở ngoài cánh đồng và đã ghi nhận hơn hại phổ biến gần 50 loài bắt mồi và vật mồi của chúng
1.2.2 Những nghiên cứu về biến động số lượng và mối quan hệ của các loài côn trùng bắt mồi ở trên rau
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài côn trùng bắt mồi, mối quan hệ giữa vật bắt mồi – vật mồi và biến động số lượng của một số loài bắt mồi cũng đã được nghiên cứu Các nghiên cứu về sinh học của các loài thuộc nhóm côn trùng bắt mồi đã tập trung ở một số loài như: bọ rùa sáu vằn
Menochilus sexmaculatus, bọ rùa đỏ Micraspis discolor (họ Coccinelllidae),
bọ xít Cantheconidae furcellata (họ Pentatomidae), bọ xít Orius sauteri và Xylocoris flavipes (họ Anthocoridae), bọ xít Cyrtorhinus livipennis (họ Miridae) và ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris (họ Syrphidae) (Hà Quang
Hùng, 2006; Phạm Văn Lầm, 2010) [14],[17]
Các kết quả nghiên cứu về sinh học một số loài côn trùng bắt mồi về các đặc điểm sinh thái học của một số loài bọ xít bắt mồi (bọ xít cổ ngỗng đỏ
Trang 26Sycanus falleni, bọ xít cổ ngỗng đen Sycanus croceovittatus, bọ xít nâu Coranus spiniscutis Reuter thuộc họ Reduviidae, bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens thuộc họ Pentatomidae) ở các điều kiện khác nhau trong
phòng thí nghiệm (Vũ Quang Côn và Phạm Văn Lầm, 2009)[4]
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa vật bắt mồi – vật mồi của một số loài bắt mồi với con mồi thì mới được nghiên cứu với loài bọ xít cổ ngỗng
đen bắt mồi Sycanus croceovittatus và Sycanus croceovittatus (vật bắt mồi)
với loài sâu hại (vật mồi) và tương quan của chúng, mối quan hệ với sâu hại
của loài bọ xít bắt mồi Coranus spiniscutis Reuter (Heteroptera: Reduviidae)
ở vùng Hà Nội Đây là các công bố khá đầy đủ đầu tiên thể hiện mối quan hệ trên điển hình là một số loài bọ xít bắt mồi với con mồi là các loài sâu hại được thể hiện bằng mối tương quan (hệ số tương quan) giữa số lượng vật bắt mồi và vật mồi ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây trồng và mối tương quan này không thể hiện giống nhau trong xuốt thời gian mà các loài
bọ xít bắt mồi xuất hiện Quan hệ vật bắt mồi – vật mồi’’ được thể hiện qua mối tương quan không chặt (đang hình thành), tiếp theo là mối tương quan chặt (hình thành) và cuối cùng là tương quan yếu (bị phá vỡ) và trong nhiều giai đoạn nghiên cứu thì thời gian hình thành mối tương quan chặt cũng rất ngắn (Vũ Quang Côn và Phạm Văn Lầm, 2009)[4]
Nguyễn Thị Thanh (2012) [24] cho biết sự xuất hiện và phát triển theo mùa của các loài bọ xít ăn sâu phổ biến trên một số cây trồng tại vùng Tây
Bắc Việt Nam đã xác định được: 3 loài bọ xít ăn sâu cổ ngỗng đen Sycanus croceovittatus, bọ xít ăn sâu cổ ngỗng đỏ S falleni và loài bọ xít đỏ Antilochus conquebertii bắt đầu xuất hiện từ cuối tháng IV cho đến tháng X
trên cây đậu tương, bông và ngô tại một số điểm miền núi thuộc tỉnh Nghệ An với mật độ trung bình tương ứng là 0,04 – 0,22 con/m2, 0,09 – 0,13 con/m2
và 0,07 – 0,15 con/m2
Trang 271.2.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái lên mật
độ côn trùng bắt mồi
Hiện nay tỉ lệ thiệt hại hàng năm của mùa màng bởi sâu hại cỏ thể lên tới 15-20% Để phòng trừ sâu hại một cách nhanh chóng thì biện pháp dùng thuốc hóa học hiện nay là rất phổ biến đây là vấn đề có thể để lại một số hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe của người và động vật Có một thực tế làm đau đầu các nhà quản lý và gây tổn hại cho người tiêu dùng là rau, quả được thu hái ở những cánh đồng phun quá nhiều thuốc hóa học trừ sâu bệnh hại Có thể 80% diện tích rau quả ở Hà Nội bị nhiễm độc do sử dụng thuốc hóa học bừa bãi, bởi có tới 44,6% hộ sử dụng thuốc cấm và 33,08% hộ sử dụng thuốc ngoài danh mục trong đợt thanh tra 266 hộ sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật (Mai Phú Quý, Vũ Thị Chỉ, 2005)[22]
Mối quan hệ giữa rau- quả- côn trùng có hại và côn trùng ký sinh – ăn thịt luôn luôn thể hiện rõ trên từng loại rau quả Nói cách khác chúng ta bắt gặp sâu hại và các côn trùng kí sinh ăn thịt trên cánh đồng rau quả Mối quan
hệ này chỉ bị mất đi khi con người sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật
Để bảo vệ độ đa dạng của côn trùng trước hết phải bảo vệ côn trùng ký sinh
và ăn thịt Muốn bảo vệ chúng có hiệu quả cần áp dụng rộng rãi chương trình IPM- quản lý dịch hại tổng hợp trên rau-quả (Mai Phú Quý, Vũ Thị Chỉ,
2005 )[22]
Kết quả trong phòng trừ sâu hại bông của Trại thí nghiệm Định Tường (Thanh Hóa) trong những năm qua đã cho thấy vấn đề tồn tại chính của việc
sử dụng thuốc hóa học trừ sâu bệnh hại Trải qua một thời gian dài dùng thuốc
hóa học và một số biện pháp phòng trừ khác để chống sâu hại loang (Earias)
và các sâu hại trên bông, người ta thấy sâu loang giảm đi rõ rệt đồng thời sâu
xanh (Heliothis armigera Hb) trước đây ở hàng thứ yếu sau sâu loang bây giờ
đã “ nhảy” lên hàng chủ yếu, gây hại rất nghiêm trọng và chiếm ưu thế trong suốt vụ bông Số lần xử lý thuốc để phòng trừ trong chúng trong một vụ đã tăng lên 2 lần sau 5 năm (theo thứ tự xử lý thuốc từ năm 1965- 1069 là: 9 lần,
Trang 2811 lần, 13 lần, 15 lần, 18 lần), chi phí cho thuốc trừ sâu tăng 3,6 lần sau 5 năm (1965- 1970), nồng độ thuốc đang có chiều hướng tăng lên Ở một số hợp tác
xã, số lần phun thuốc cũng như nồng độ cũng tăng hơn so với mà số sâu sống được qua mỗi lần phun thuốc không phải là ít Người ta cũng nhận thấy rằng những côn trùng bắt mồi trong sinh quần của cánh đồng trồng bông ngày càng
ít thấy (Vũ Quang Côn, 2009)[4]
Một tình trạng phổ biến ở Việt Nam là người nông dân sử dụng thuốc trừ sâu như một biện pháp chủ yếu để phòng trừ sâu hại vì nó đã phát huy vai trò tích cực qua nhiều thập niên qua Thực sự biện pháp này có hiệu quả cao, nhanh chóng đơn giản và dễ sử dụng Thuốc trừ sâu đã được người nông dân
sử dụng với nhiều lý do: trình độ dân trí thấp, do thói quen Nông dân một số vùng chuyên rau cải ngoại thành Hà Nội đã phun 28-30 lần/vụ Có thể nói với các vùng chuyên canh này, sự lạm dụng thuốc là vấn đề phổ biến và là vấn đề nan giải Việc dùng thuốc một cách thường xuyên sẽ làm cho sâu hình thành tính kháng thuốc Sử dụng thuốc trừ sâu hại cũng tiêu diệt luôn một lượng lớn
kẻ thù tự nhiên của sâu hại làm mất cân bằng sinh thái, rất khó khăn cho việc phòng trừ chúng (dẫn theo Trần Xuân Bí, 2003)[2]
Các chủng loại thuốc người dân sử dụng là rất đa dạng trong đó có cả những thuốc cấm sử dụng và không có trong danh mục các loại thuốc cho phép sử dụng ở Việt Nam Tuy nhiên mỗi năm người nông dân có xu hướng
sử dụng chuyên một loại thuốc có hiệu quả cao Nhưng khi hiệu lực thuốc giảm ngay lập tức người dân chuyển sang loại thuốc khác có hiệu quả cao hơn Đây là một vấn đề khó khăn trong việc quản lý dịch hại do thói quen thuốc, do dùng phát dịch hại, do tiêu diệt các loài kẻ thù tự nhiên làm mất cân bằng sinh học chúng (dẫn theo Trần Xuân Bí, 2003)[2]
Theo Lê Thị Kim Oanh (2002) [19] thì ở khu vực Hà Nội và các vùng phụ cận có 37 loài kẻ thù tự nhiên Tuy nhiên, do mỗi địa phương có thói quen khác nhau trong phương pháp phòng trừ do đó sự xuất hiện thành phần sâu hại và thiên địch của chúng cũng khác nhau Nếu sử dụng thuốc liên tục
Trang 29trong nhiều vụ thì hiệu quả phòng trừ sâu tơ hại bắp cải là không cao (cho dù
số lần phun thuốc 15 lần/ vụ) Tuy nhiên sử dụng một số loại thuốc chọn lọc
và bằng cách áp dụng ngưỡng phun thích hợp , có thể giảm số lần phun thuốc trừ sâu, tăng năng suất và tỉ lệ thương phẩm (Lê Thị Kim Oanh, 2002)[19]
Nhận xét chung
Nhìn chung ở vùng trồng rau ở Hà Nội, cho đến nay, việc nghiên cứu
và xác định thành phần loài côn trùng bắt mồi và vật mồi của chúng chỉ chủ yếu là nghiên cứu trên rau ở ngoài cánh đồng và đã ghi nhận hơn 30 loài bắt mồi với vật mồi của chúng cũng được ghi nhận Một số loài bắt mồi đã được
nghiên cứu sinh thái học như: bọ rùa đỏ nhật bản Propylea japonica, bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis,
bọ rùa đỏ Micraspis discolor, bọ xít bắt mồi Sycanus falleni, Sycanus croceovittatus, Andrallus spinidens, Cantheconidae furcellata, Orius sauteri,
bọ đuôi kìm bắt mồi Chelisoches variegatus, Chelisoches morio và Euborellia annulipes và Ruồi ăn rệp Ischiodon scutellaris Một số loài đã được nghiên
cứu sâu nhằm làm cơ sở cho sử việc nhân nuôi và sử dụng chúng trong phòng
trừ sinh học sâu hại trên cánh đồng như bọ rùa sáu vằn Menochilus sexmaculatus, bọ rùa chữ nhân Coccinella transversalis, bọ xít bắt mồi Sycanus falleni, Sycanus croceovittatus, Andrallus spinidens, bọ đuôi kìm bắt mồi Chelisoches variegatus, Euborellia annulipes Tuy nhiên, những nghiên
cứu về thành phần sâu hại, thiên địch của chúng trên rau trong nhà lưới ít được quan tâm và tiến hành, nhất là việc nghiên cứu sự phát sinh, phát triển của một số loài chủ yếu và biện pháp phòng chống sinh học sâu hại rau trong nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn theo hướng GAP thay thế cho việc sử dụng phương pháp canh tác ngoài đồng để trồng rau trong nhà lưới
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu :
- Tại các Xã Minh Tân, Quang Lãng, Tân Dân, Nam Phong, Hồng Thái huyện Phú Xuyên – Hà Nội
- Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
- Thời gian nghiên cứu :
+ Được tiến hành ngoài thực địa trong 6 tháng từ tháng 9/2013 đến tháng 3/2014
+ Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2014
2.2 Đối tượng, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu :
* Đối tượng nghiên cứu
Côn trùng bắt mồi và một số vật mồi (các loài sâu hại chính) trên rau
2.3 Nội dung nghiên cứu :
- Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
tại Phú Xuyên- Hà Nội
- Nghiên cứu diễn biến mật độ của một số loài phổ biến trên rau họ Hoa thập tự tại địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (thời vụ canh tác, phân bón, quản lý sâu hại) lên mật độ một số loài côn trùng bắt mồi phổ biến
Trang 31- Đề xuất biện pháp bảo vệ các loài côn trùng bắt mồi trên đồng ruộng
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp được sử dụng là những phương pháp thương dùng trong nghiên cứu côn trùng như phương pháp điều tra phát hiện, dự tính dự báo và các phương pháp khác (Cục Bảo vệ thực vật,1986, Trung tâm bảo vệ thực vật phía Bắc,1992)[32], [33]
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
Sử dụng vợt côn trùng có đường kính 40cm, chiều dài 1-1,2m hoặc bắt bằng tay, thu bắt toàn bộ các loài côn trùng bắt mồi xuất hiện trên sinh quần ruộng rau họ Hoa thập tự và khu vực lân cận (bờ mương, bờ cỏ xung quanh ruộng rau, khu vực trồng rau) Trong số cá thể bắt mồi cùng loài thu được, cố định một số cá thể trong cồn 90% để định loại, số còn lại được nuôi trong phòng thí nghiệm để xác định sức ăn mồi và vật mồi đặc biệt là các loài bắt mồi phổ biến Với các đối tượng mới phát hiện, chỉ ghi nhận chúng là thiên địch nếu thấy rõ chúng tấn công ăn thịt vật mồi là sâu hại rau
Mức độ phổ biến của các loài được xác định theo số lần xuất hiện của chúng khi điều tra trên đồng ruộng với:
+++ : rất phổ biến (mức độ bắt gặp > 50%)
++ : phổ biến (mức độ bắt gặp 15 - 50%)
+ : ít phổ biến (mức độ bắt gặp 0 - 15%)
Điều tra chi tiết:
- Chọn ruộng điều tra
- Thu mẫu bằng tay hoặc bằng dụng cụ như panh, kẹp, bằng vợt: Quan sát trên thân, là, gốc của cây rau và dưới đất Ghi chép các thông tin: Ngày tháng điều tra, vụ rau, cây điều tra, giai đoạn phát triển cây, thời gian phun thuốc, loại thuốc được phun, phun lần thứ mấy Số lượng côn trùng bắt mồi, loại côn trùng bắt mồi
Trang 32- Sử dụng vợt côn trùng (Φ =40cm, d=2m) thu mẫu: Điều tra 25 m2cho 1 công thức điều tra, điều tra tất cả các loài côn trùng bắt mồi có mặt ở trên cây Điều tra tại 25 điểm Mỗi điểm (20 vợt thu 1 lần) đếm số lượng côn trùng bắt mồi, loại côn trùng bắt mồi
- Ghi chép tất cả các thông tin trên đồng như thời vụ, tuổi cây, mật độ cây, thời điểm phun thuốc…vv Thời gian điều tra 7-10 ngày/1 lần điều tra
2.4.2 Phương pháp điều tra mật độ côn trùng bắt mồi và vật mồi trên rau họ Hoa thập tự
Điều tra biến động số lượng côn trùng hại phổ biến, côn trùng bắt mồi của chúng trên rau ít phun thuốc (phun < 3 lần/vụ) và rau phun nhiều thuốc (phun>3 lần/vụ), với các chỉ tiêu theo dõi và tính toán bao gồm: mật độ (con/m2), mật độ trung bình (con/m2), hệ số tương quan R (con mồi và côn trùng bắt mồi), chỉ số thống kê và so sánh (Viện Bảo vệ thực vật, 1997; Trung tâm Bảo vệ thực vật phía bắc, 1992) [34], [36]
Để xác định biến động số lượng của một số loài côn trùng hại phổ biến trên rau họ Hoa thập tự, tiến hành điều tra định kỳ 7-10 ngày/1 lần tại các điểm
đã chọn theo tính ngẫu nhiên trong từng vụ rau Đơn vị điều tra là 1m2, các điểm điều tra tuân thủ theo nguyên tắc đường chéo góc, điểm điều tra lần sau không trùng với các điểm đã được chọn trước đó, tại mỗi điểm tiến hành điều tra 25m2 cho mỗi lần điều tra Đơn vị tính mật độ của các loài là con/m2 Các số liệu thu thập được ghi vào phiếu để tính toán và xử lý
Thu mẫu bằng tay hoặc bằng dụng cụ như panh, kẹp: Quan sát trên thân, lá, gốc của cây rau và dưới đất Ghi chép các thông tin: Ngày tháng điều tra, vụ rau, cây điều tra, giai đoạn phát triển cây, thời gian phun thuốc, loại thuốc được phun, phun lần thứ mấy Số lượng sâu hại, loại sâu Số lượng côn trùng bắt mồi, loại côn trùng bắt mồi
2.4.3 Điều tra ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mật độ một số nhóm côn trùng bắt mồi
Trang 33Các một số yếu tố sinh thái được quan tâm là: canh tác, phân bón và thuốc hóa học
Tại mỗi công thức thí nghiệm bao gồm: Công thức canh tác quanh năm, công thức canh tác theo thời vụ, công thức bón phân khác nhau, công thức phun ít thuốc và công thức phun nhiều thuốc được tiến hành điều tra với biến động số lượng côn trùng bắt mồi Sử dụng phương pháp điều tra như điều tra mật độ
2.4.4 Xử lý và bảo quản mẫu
Mẫu vật thu được, một phần được xử lý qua và bảo quản trong cồn, một phần được giữ sống trong các lọ nuôi kín ánh sáng (đường kính 15 cm và cao 20 cm) Mẫu vật được vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm Các mẫu ngâm cồn thu thập ngoài thực địa một phần sẽ được bảo quản trong các đệm bông, một phần tách ra đựng trong lọ nhỏ có chứa cồn
2.4.5 Phương pháp định loại mẫu vật
Tài liệu định loại cánh cứng bắt mồi (Coleoptera) theo các tài liệu của Andrewes (1929, 1935); Barrion và Litsinger (1994); Hoàng Đức Nhuận (2007);
Li Yongxi et al (1988) Bọ xít bắt mồi (Heteroptera) định loại theo các tài liệu của Distant (1902, 1908); Barrion và Litsinger (1994) Các nhóm côn trùng bắt mồi khác định loại theo các tài liệu của Phạm Văn Lầm (1994); Hà Quang Hùng, Bùi Minh Hồng (2008); Shepard etal (1989); Shun Ich et al (1994) và Mayr (1974)
2.4.6 Xử lý số liệu và công thức tính toán
Các số liệu thử nghiệm với các chỉ tiêu theo dõi được xử lý, phân tích
và tính toán với mức xác suất (P<0,05) theo Poelou (1977) và Nguyễn Ngọc Thừa và ctv (1979) Các chỉ tiêu so sánh thực nghiệm được hỗ trợ bởi phần mềm SPSS sản xuất năm 2008
Các công thức tính toán bao gồm
* Mật độ trung bình của côn trùng bắt mồi (con/m 2 )
Trang 34Xetb(ngày) = Xe ±
Trong đó: Xe =
Xe : Mật độ của côn trùng bắt mồi
Xetb: Mật độ trung bình của côn trùng bắt mồi
Xi: Mật độ côn trùng bắt mồi lần thu mẫu thứ i
n
X X
i
1
2 1 2
) (
Qy
n
i i
2 1
) (
Xi: Mật độ côn trùng bắt mồi lần thu mẫu thứ i
Yi: Mật độ sâu hại lần thu mẫu thứ i
2.5 Tình hình sản xuất nông nghiệp ở huyện Phú Xuyên
Theo số liệu điều tra năm 2011 huyện Phú Xuyên có 9305,4 ha trồng cây nông nghiệp trong đó diện tích trồng cây rau các loại là 124,3 ha tổng sản lượng hàng năm là 112,3 tấn, đủ cung cấp nguồn rau xanh cho địa phương và các khu vực lân cận Trong đó xã Minh Tân là trung tâm điều tra chính của Chi cục Bảo vệ thực vật của huyện Phú Xuyên, phần lớn diện tích trồng các loại rau xanh nằm trong địa phận xã Minh Tân, Quang Lãng nằm trong dự án trồng rau an toàn của huyện (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Số liệu điều tra cơ cấu cây trồng của huyên Phú Xuyên năm
2010, 2011(Đề án xây dựng Nông thôn mới huyện Phú Xuyên-thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020 và đinh hướng đến năm 2030)
Đơn vị tính: Diện tích: Ha, năng suất tạ / ha, sản lượng: Tấn
Trang 36trong khung thời vụ tốt nhất, thích hợp cho từng loại giống Các sản phẩm giống được sử dụng đảm bảo rõ nguồn gốc và được kiểm dịch đầy đủ
- Thời vụ canh tác huyện Phú Xuyên có 3 vụ chính
Vụ xuân: từ tháng 2 đến tháng 5: trồng lúa, đậu tương, dưa cải , các loại rau cải, bí xanh, cà chua, ngô
Vụ hè thu : từ 5 tháng đến tháng 10: trồng lúa, bí, rau cải, dưa chuột, ngô
Vụ đông: từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau : đây là vụ trồng rau chủ yếu trong năm gồm các loại rau cải, bắp cải, xúp lơ, su hào, dưa cải
- Kỹ thuật canh tác, chăm sóc cây rau: Sử dụng biện pháp canh tác truyền thống, luân canh cây trồng, xen canh gối vụ Các biện pháp kỹ thuật thủ công như cầy, cuốc, xới đất, lên luống, làm cỏ, tưới nước, bón phân thủ công Sau đó gieo hạt hoặc trồng cây giống, sau khi cây non lên được khoảng
7 ngày thì tiến hành phun thuốc trừ sâu và bón phân vi lượng
* Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:
Nhìn chung các hộ gia đình trồng rau vẫn thường xuyên sử dụng phương pháp hóa học để phòng trừ sâu hại là chính họ chưa quan tâm đến các phương pháp phòng trừ khác hoặc có biện pháp khác để hạn chế sâu hại Theo điều tra của chúng tôi cho thấy:
100% số hộ gia đình trồng rau quanh năm sử dụng thuốc trừ sâu để phòng trừ sâu hại, còn khu vực trồng rau theo vụ cũng sử dụng các loại thuốc trừ sâu tương tự nhưng chỉ khác số lần phun thuốc Cụ thể số lần phun trên/lứa ở một số loại rau như sau:
Rau cải: 25-30 ngày/ lứa, 1 vụ 2-3 lứa, phun thuốc 2-3 lần/ lứa
Bắp cải: 65-77 ngày/ lứa, 1 vụ 2 lứa, phun 7-10 lần/ lứa, khoảng cách giữa 2 lần phun thuốc là 7 ngày
Xu hào: 50-60 ngày/ lứa, 1 vụ 2- 3 lứa, phun 2-3 lần/ lứa
Súp lơ: 60-90 ngày/lứa, 1 vụ 2 lứa, phun 2-3 lần/ lứa
Một số thuốc hóa học trừ sâu bệnh phổ biến:
Trang 37- DuPont Prevathon 5SC trừ sâu xanh, sâu tơ trên bắp cải, súp lơ, rau cải, phun thuốc trừ sâu thông thường 2-3 lần/lứa
- Radiant 60SC trị sâu tơ trên bắp cải 4-5 lần/ lứa
- Warmtoc 100EG đặc trị bọ nhảy trên các loại rau cải phun 4-5 lần/ lứa
- Rholan Super 50SG trừ sâu trên các loại rau cải phun 1-2 lần/ lứa
- Newscard 75WP đặc trị sâu vẽ bùa trên cải cuốn 1-2 lần /lứa
- Thuốc trừ sâu sinh học cao cấp: TASIEU 5.WG phun 1-2 lần/lứa
Một số hộ gia đình còn sử dụng các loại thuốc hóa học khác như Rigan, Bassa, Kinuc, Tha Rhan… không có hộ gia đình nào thuốc cấm sử dụng trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam, thuốc không có trong danh mục thuốc được phép sử dụng tại Việt Nam
Một số hộ gia đình có sử dụng thuốc diệt cỏ Bpdy Gan 3.6 EC đối với những ruộng trồng ngô, bắp cải vụ đông
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập
tự ở huyện Phú Xuyên
Côn trùng bắt mồi có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà số lượng của các loài sâu hại trên đồng ruộng Thế nhưng hiện nay trên đồng ruộng người nông dân hầu như không quan tâm đến nhóm côn trùng có ích này, có thể là do các loài côn trùng bắt mồi có kích thước nhỏ và người dân
cũng chưa hiểu rõ tập tính hoạt động của chúng
Theo kết quả điều tra, thu thập thành phần côn trùng bắt mồi trên rau
họ Hoa thập tự ở huyện Phú Xuyên-Hà Nội Qua các đợt điều tra từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 3 năm 2014 tại các xã Minh Tân, Quang Lãng, Tân Dân, Hồng Thái, Nam Phong, tôi nhận thấy thành phần côn trùng bắt mồi trên rau
họ Hoa thập tự xuất hiện trên đồng ruộng tuỳ thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây rau cũng như điều kiện canh tác trên cây rau
Bảng 3.1 Thành phần loài côn trùng bắt mồi trên rau họ Hoa thập tự
huyện Phú Xuyên- Hà Nội
STT Tên Việt Nam Tên khoa học Vật mồi Mức độ
phổ biến I.Bộ cánh cứng Coleoptera
1.Họ bọ rùa Coccinellidae
(Fabricius, 1798)
Rệp, trứng, sâu non
Trang 39STT Tên Việt Nam Tên khoa học Vật mồi phổ biến Mức độ
+++
3.Họ chân chạy Carabidae
II.Bộ hai cánh Diptera
4.Họ ruồi bắt mồi Syrphidae
đen
Ischidon scutellaris Fabr., 1840
Trang 40STT Tên Việt Nam Tên khoa học Vật mồi phổ biến Mức độ
Sâu non, trứng
++
(Fabricius, 1793)
Sâu non, trứng
++
8.Họ bọ đuôi kìm nâu Labiduridae
(pallas, 1773)
Sâu non, trứng
+