1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay

184 409 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển xã hội loài người. Chính vì vậy, ở mọi thời đại, gia đình luôn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển xã hội, làm rạng rỡ bản sắc dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Quan tâm đến gia đình là đúng và nhi ều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”. Cũng như những hiện tượng xã hội khác, HN&GĐ chịu sự tác động có tính quyết định của điều kiện kinh tế xã hội. Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái HN&GĐ. Đặc biệt từ khi xuất hiện nhà nước, sự liên kết của các cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật. Quan hệ HN&GĐ không chỉ thể hiện ý chí của cá nhân mà còn mang ý chí nhà nước. Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ nhằm xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng. Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố và xây dựng quan hệ HN&GĐ là vấn đề rất quan trọng, một mặt góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội, mặt khác tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập quan hệ HN&GĐ theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tây Nguyên là vùng đặc thù trong cả nước về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội và dân cư với 54 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 12 dân t ộc thiểu số tại chỗ. Mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa truyền thống, mang bản sắc riêng với hệ thống luật tục giữ vai trò quan trọng trong quá trình tự quản, điều hòa xã hội. Hiện nay, ở Tây Nguyên, trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ, luật tục trong lĩnh vực HN&GĐ vẫn giữ vai trò chủ đạo. Họ hoặc không biết đến những quy định của pháp luật hoặc vẫn chưa hiểu rõ các quy định của pháp luật về chế độ HN&GĐ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ HN&GĐ cũng như các nguyên t ắc cơ bản của chế độ HN&GĐ. Tồn tại vấn đề này, một phần là do trình độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên vẫn đang còn một khoảng cách đáng kể so với trình độ chung của cả nước. Do đó, việc áp dụng pháp luật vào đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số nơi đây đã và đang gặp không ít khó khăn. Quy định của pháp luật do nhiều lý do mà chưa thể đến được với toàn thể người dân. Nhưng trên thực tế, nguyên nhân chủ yếu là do chi phối bởi luật tục, thứ đã ăn sâu bám rễ trong tâm trí mỗi người dân làm cho họ tuân theo luật tục như một thói quen, một điều hiển nhiên mà không quan tâm đến pháp luật. Trong tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đắc Lắc tại hội thảo “Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành” do Viện Khoa học pháp lý tổ chức đã nhận định: “có những vụ vi ệc mặc dù Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử, nhưng người dân vẫn yêu cầu buôn làng xử lại và bản án xét xử theo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn bất kỳ một bản án nào khác”. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa, có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa luật pháp của Nhà nước và luật tục của buôn làng, nghiên cứu và áp dụng luật tục trong thực tế sẽ góp phần rất lớn trong việc ổn định trật tự xã hội ở địa phương. Đánh giá được thực trạng ảnh hưởng của luật tục đối với việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay, xác định được những tác động tích cực và tiêu cực của luật tục trong lĩnh vực này và tìm ra giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế, khắc phục và từng bước loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ trong khu vực này là điều cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đó cũng là lý do để nghiên cứu sinh chọn và nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay”.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI

CHỖ Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Những công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài 7 1.2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 27 Kết luận chương 1 31

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN 32

2.1 Luật tục về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên32 2.2 Thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình 46

2.3 Khả năng ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình

trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên 51

2.4 Các yếu tố tác động tới ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn

nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên 61 Kết luận chương 2 72

Chương 3 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐỐI VỚI THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN 74

3.1 Ảnh hưởng của luật tục các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên tới việc thực hiện

các quy định pháp luật về kết hôn 74

3.2 Ảnh hưởng của luật tục các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên tới việc thực

hiện pháp luật về quan hệ giữa các thành viên trong gia đình 89

3.3 Ảnh hưởng của luật tục các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên tới việc thực

hiện pháp luật về ly hôn, phân chia tài sản và nhận con nuôi 101

3.4 Nguyên nhân những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện

pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên 108 Kết luận chương 3 115

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC

Trang 3

THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY 117

4.1 Quan điểm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ

ở Tây Nguyên hiện nay 117

4.2 Các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu

số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay 122 Kết luận chương 4 157

KẾT LUẬN 158 CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển

xã hội loài người Chính vì vậy, ở mọi thời đại, gia đình luôn có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển xã hội, làm rạng rỡ bản sắc dân tộc Chủ tịch Hồ

Chí Minh từng khẳng định “Quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình” Cũng như những hiện tượng xã hội khác, HN&GĐ chịu

sự tác động có tính quyết định của điều kiện kinh tế xã hội Lịch sử phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình phát sinh, thay đổi những hình thái HN&GĐ Đặc biệt từ khi xuất hiện nhà nước, sự liên kết của các cá nhân nhằm xây dựng gia đình được coi là sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ pháp luật Quan hệ HN&GĐ không chỉ thể hiện ý chí của cá nhân mà còn mang ý chí nhà nước

Với tư cách là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật HN&GĐ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ nhằm xây dựng gia đình no ấm, hạnh phúc, tiến bộ, bình đẳng Trong giai đoạn hiện nay, việc củng cố và xây dựng quan hệ HN&GĐ là vấn đề rất quan trọng, một mặt góp phần vào việc ổn định trật tự xã hội, mặt khác tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập quan hệ HN&GĐ theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Tây Nguyên là vùng đặc thù trong cả nước về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội và dân cư với 54 dân tộc anh em sinh sống, trong đó có 12 dân tộc thiểu số tại chỗ Mỗi dân tộc đều có những giá trị văn hóa truyền thống, mang bản sắc riêng với hệ thống luật tục giữ vai trò quan trọng trong quá trình tự quản, điều hòa xã hội Hiện nay, ở Tây Nguyên, trong vùng đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ, luật tục trong lĩnh vực HN&GĐ vẫn giữ vai trò chủ đạo Họ hoặc không biết đến những quy định của pháp luật hoặc vẫn chưa hiểu rõ các quy định của pháp luật về chế độ HN&GĐ, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ HN&GĐ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ Tồn tại vấn đề này, một phần là do trình độ phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên vẫn đang còn một khoảng cách đáng kể

so với trình độ chung của cả nước Do đó, việc áp dụng pháp luật vào đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số nơi đây đã và đang gặp không ít khó khăn Quy định của pháp luật do nhiều lý do mà chưa thể đến được với toàn thể người dân Nhưng trên

Trang 5

thực tế, nguyên nhân chủ yếu là do chi phối bởi luật tục, thứ đã ăn sâu bám rễ trong

tâm trí mỗi người dân làm cho họ tuân theo luật tục như một thói quen, một điều hiển nhiên mà không quan tâm đến pháp luật Trong tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đắc

Lắc tại hội thảo “Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành” do Viện Khoa học pháp lý tổ chức đã nhận định: “có những vụ việc mặc dù Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử, nhưng người dân vẫn yêu cầu buôn làng xử lại và bản án xét xử theo luật tục được buôn làng chấp nhận hơn bất kỳ một bản án nào khác” Vì vậy, vấn

đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để có thể kết hợp hài hòa, có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa luật pháp của Nhà nước và luật tục của buôn làng, nghiên cứu và áp dụng luật tục trong thực tế sẽ góp phần rất lớn trong việc ổn định trật tự xã hội ở địa phương Đánh giá được thực trạng ảnh hưởng của luật tục đối với việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng người dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay, xác định được những tác động tích cực và tiêu cực của luật tục trong lĩnh vực này và tìm ra giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế, khắc phục và từng bước loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ trong khu vực này là điều cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn

thực tiễn Đó cũng là lý do để nghiên cứu sinh chọn và nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng

của luật tục đến việc thực hiện pháp luật hôn nhân và gia đình trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay”

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài này là tìm ra các giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế, tiến tới từng bước loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ của Tây Nguyên trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án đã thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu

cụ thể sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ mà chủ yếu là các nội dung: khái niệm và đặc điểm của luật tục; khái niệm, các hình thức thực hiện pháp luật HN&GĐ; khả năng ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ; các yếu tố tác động đến ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Trang 6

- Đánh giá được thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ năm 2006 tới nay, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó

- Đề xuất quan điểm và các giải pháp phù hợp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung vào nghiên cứu và đánh giá thực trạng ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

từ năm 2006 đến năm 2016, nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, các giải pháp cần thực hiện để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục nhằm làm cho việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các DTTSTC ở Tây Nguyên được nghiêm chỉnh và tự giác hơn

Ma Thuật tỉnh Đắc Lắc, huyện Tuy Đức, huyện Đắc Song và Thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông, huyện Đơn Dương, huyện Lạc Dương và huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng

4 Phương pháp nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là về thực hiện pháp luật HN&GĐ Các vấn đề thuộc nội dung của đề tài sẽ được nghiên cứu trên cơ sở của quan điểm duy vật và phương pháp biện chứng

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm phân tích, tổng hợp,

so sánh, lịch sử cụ thể, xã hội học, lý thuyết hệ thống, thống kê… Các phương pháp trên được sử dụng như sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử cụ thể, so sánh được sử dụng để nghiên cứu những vấn đề lý luận, xây dựng các khái niệm và rút ra các nhận xét, đánh giá

Trang 7

- Phương pháp liên ngành dân tộc học - văn hóa học - luật học là phương pháp quan trọng được sử dụng trong việc xác định quan niệm, biểu hiện của luật tục, ảnh hưởng của luật tục Những tư liệu điền dã tại địa bàn là minh chứng cho những nhận định, những lý giải về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ tại các DTTSTC ở Tây Nguyên trong thực tế và nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng đó

- Phương pháp thống kê, khảo sát, điều tra xã hội học với các công cụ như bảng hỏi cấu trúc, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được sử dụng để thu thập và xử lý thông tin về các vấn đề liên quan đến việc đánh giá thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ ở Tây Nguyên thời gian qua Các công cụ nghiên cứu định tính sẽ hỗ trợ làm sáng tỏ các thông tin thống kê thu thập được, thông qua các kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Việc sử dụng các phương pháp trên trong luận án nhằm đảm bảo tính chỉnh thể

và liên thông giữa nội dung các chương và đảm bảo sự cân đối về kết cấu cũng như tính đồng bộ, toàn diện trong các đánh giá và đề xuất các giải pháp

4.2 Về hướng tiếp cận của luận án

- Hướng tiếp cận mang tính lịch sử, hệ thống: Trên cơ sở tập hợp, hệ thống các

công trình nghiên cứu ngoài nước và trong nước có liên quan đến đề tài của luận án đã được thu thập, luận án sẽ kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích, đánh giá các kết quả nghiên cứu đó trong điều kiện lịch sử cụ thể, trong một hệ thống các mối liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau giữa các vấn đề nghiên cứu và định hướng tiếp tục nghiên cứu

Hướng tiếp cận hệ thống được sử dụng để xem xét các bộ luật tục của các đồng bào dân tộc thiểu số, mà những quy định về HN&GĐ là một phần trong các quy định của luật tục

- Hướng tiếp cận mang tính liên ngành: Luận án được nghiên cứu trên cơ sở sử

dụng phối hợp các tri thức khoa học và phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như khoa học lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, luật học để xây dựng cơ sở lý luận cho các vấn đề nghiên cứu

- Hướng tiếp cận mang tính thực tiễn: Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của

luật tục đến việc thực hiện pháp luật về HN&GĐ trong thực tế, luận án sẽ cho thấy bức tranh toàn cảnh về những ảnh hưởng cụ thể của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ ở Tây Nguyên Cách tiếp cận này sẽ là phương án tối ưu để đề xuất những giải pháp riêng và cụ thể cho việc phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh

Trang 8

hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ở Tây Nguyên

5 Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, chuyên sâu dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng 6 dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên từ năm 2006 đến năm 2016

Luận án đã tập hợp, hệ thống hóa và xác định được các kết quả nghiên cứu cụ thể của nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về luật tục, luật tục Tây Nguyên, vai trò của luật tục trong đời sống xã hội cũng như về thực hiện pháp luật HN&GĐ và ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ

Luận án đã phân tích làm rõ được những nội dung lý luận về khả năng ảnh hưởng và các yếu tố tác động đến ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Luận án đã trình bày được những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên trong thực tế và xác định được một số nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng đó

Luận án đề xuất được một số giải pháp để phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế và từng bước loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật nhằm giúp cho việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên thời gian tới được nghiêm chỉnh và tự giác hơn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1 Về mặt khoa học

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về luật tục nói chung, lí luận về luật tục về HN&GĐ nói riêng và lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ở Tây Nguyên

6.2 Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà hoạt động thực tiễn trong quá trình hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về HN&GĐ ở khu vực miền núi Đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước ở Tây Nguyên trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách và pháp luật về hôn nhân gia đình ở địa phương Kết quả nghiên cứu của luận án cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc giảng

Trang 9

dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý nói chung và khoa học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật nói riêng

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan liên quan tới đề tài luận án

Chương 2 Những vấn đề lý luận về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Chương 3 Thực trạng ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên thời gian qua

Chương 4 Quan điểm và giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên hiện nay

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CÓ LIÊN

QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Những công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về luật tục, luật tục Tây nguyên và vai trò của luật tục đối với đời sống xã hội

Ở phương Tây luật tục đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX bởi các nhà luật học và các nhà cai trị địa phương, khi mà chủ nghĩa thực dân được thiết lập ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước Châu Á, Châu Phi, Nam Mỹ Các nhà luật sử thời kỳ này đã hợp nhất một cách hài hòa giữa luật La Mã và tập quán pháp Học giả thuộc trường phái lịch sử ở Đức là Henry Sumner Maine (1822-1888) đã kết hợp nghiên cứu luật pháp như là một hiện tượng văn hóa trên cơ sở số liệu từ lịch sử cổ đại và dân tộc học, luật pháp đương đại

Dưới góc độ tập quán trở thành luật pháp thì A Wantson trong bài viết “An approach to costomary law” in trong cuốn “Folk law” (1994) cho rằng tập quán trở

thành luật khi và chỉ khi nó được đạo luật hay quyết định của tòa án công nhận, khi nó được biết như là luật, được chấp nhận như là luật và thi hành như là luật

Theo T.O Elias thì vào khoảng những thập kỷ nửa đầu thế kỷ XX đã xuất hiện bốn loại công trình thuộc dạng văn bản luật tục Đó là:

- Những cuốn cẩm nang (handbook) về luật tục, như cẩm nang luật Tswanan và tập quán in năm 1938, cuốn Sổ tay luật Neur của P.P.Howell in năm 1954

- Những cuốn luật tục đầu tiên, như “Luật tục của bộ lạc Haya thuộc lãnh thổ Tanganyika” in năm 1945 hay “Luật Sukuma và tập quán” in năm 1953 của Cory

Thuộc loại này có thể kể tới hàng loạt sách được xuất bản trước đó hay đồng thời, như

“Luật và tập quán bản địa” (1911) của Sey Mour, “Luật bản địa được áp dụng ở Natal” (1935) của Stafford”

- Cuốn “Luật tục shona” (1952) và cùng với nó là các cuốn: “Luật tục kamba” của D.Y.Penwill, “Luật tục Nam di” (1954) của G.S.Snell là thuộc loại chuyên khảo

mô tả luật tục trong môi trường xã hội, văn hóa và luật pháp của dân tộc

- Loại mô tả luật tục theo các vụ án mà các tòa án địa phương thực hiện và kèm

theo đó là những bình luận của tác giả, như cuốn “Quá trình tòa án của người Brottse

ở Bắc Phodesia” (1955) của Max Gluckam

Trang 11

Ở châu Á, phải kể tới công trình do Masaji Chiba (Nhật Bản) chủ biên, xuất bản năm 1986, bao gồm nhiều chương viết về luật bản địa của nhiều dân tộc và quốc gia khác nhau, như người Ai Cập Hồi giáo, Iran Hồi giáo, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản Trong tác phẩm này, Masaji Chiba (Nhật Bản) đưa ra sự phân loại luật ở các nước Châu Á thành ba hình thức: Luật (Received law), Luật bản địa (Indigenous law) và dạng hỗn hợp giữa hai hình thức kể trên

Gần đây xuất hiện rất nhiều những công trình có giá trị về luật tục của các dân

tộc châu Phi và châu Á (Woodman, Gordon R và A.O.Obilade: African Law and Legal Theory (Luật châu Phi và Lý thuyết luật pháp) NewYork, NewYork University Press, 1995) Châu Á và Châu Phi là đối tượng tập trung chú ý của các nhà nghiên cứu

lịch sử luật pháp, chủ yếu người phương Tây, để tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề nảy sinh giữa pháp luật và luật tục Khi thực dân Đức, Pháp và Anh sang cai trị và đặt ách

đô hộ ở một số nước ở hai châu lục này, một trong những vấn đề mâu thuẫn căng thẳng là mâu thuẫn giữa luật bản địa và luật pháp phương Tây

Nhìn chung, trong thế kỷ XX, thế giới đã có một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu về luật tục từ các góc độ khác nhau dưới góc độ lý luận, phương pháp

và nghiên cứu các trường hợp cụ thể Các công trình nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết căn bản về luật tục được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh và tạo ra những nền tảng cần thiết cho các nghiên cứu về luật tục

Từ đầu thế kỷ XX, các học giả người Pháp đã có một số công trình nghiên cứu

về luật tục Tây Nguyên, hơn một thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội khác nhau ở Việt Nam đã bắt đầu sưu tầm luật tục của dân tộc Ê đê, M’nông, Thái, Jrai Đây mới là sự khởi đầu của việc sưu tầm và nghiên cứu về luật tục của các dân tộc ở Việt Nam nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu

về thực tế các dân tộc áp dụng luật tục như thế nào, đặc biệt ở những tộc người đa sắc thái với nhiều cụm điểm dân cư từ nơi khác đến sinh sống mang theo phong tục tập quán riêng của họ

Để thúc đẩy việc sưu tầm, dịch và công bố luật tục Tây Nguyên phải kể đến Chỉ thị của Pierre Pasquier (có thời gian làm toàn quyền Đông Dương), năm 1923, Pasquier yêu cầu ghi chép và thu thập luật tục của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Tại Thông tri 578 - ca ngày 30 tháng 7 năm 1923, ông yêu cầu viên chức dưới quyền tiến hành ghi chép và thu thập luật tục của tất cả các nhóm dân tộc đông người như Jrai, Xơ đăng, Bana, M’nông; quy tắc hóa các luật tục như đã làm ở Đắc Lắc với người

Ê đê Thông tri 578 - ca chỉ rõ rằng người Pháp cần biết luật tục các dân tộc Tây

Trang 12

Nguyên để tiến hành việc cai trị Sưu tầm luật tục Tây Nguyên vì lợi ích của chính

quyền đô hộ Pháp cho nên có thể “cải biên” và “thu xếp” một cách có lợi; có thể ủng

hộ cả những việc thử tội có tính chất Trung cổ và biện hộ cho cuộc chiến tranh giữa các

bộ lạc Thông tri 578 - ca đã thúc đẩy việc ra đời của nhiều tài liệu khác về luật tục

Năm 1913, Leopold Sabatier đã sưu tầm, hệ thống và cho công bố bộ luật tục Ê

đê: Ruôn Hra Kley Duc key bhiam dum in trong Imprimerie d’Extrêmi - Orient, 1927 bằng tiếng Ê đê Năm 1940, L Sabatier cho xuất bản cuốn Sưu tầm luật tục người Ê đê

ở Đắc Lắc do D Antomarchi dịch và chú thích (Hà Nội, IDEO) Cuốn sách là công

trình sưu tầm, hệ thống và ứng dụng đầu tiên về luật tục Tuy nhiên, cuốn sách không chỉ sưu tầm và văn bản luật tục Ê đê, mà bên cạnh luật tục thực tế, ông còn thêm những quy định của mình vào nhằm mục đích thực thi việc cai trị

Tiếp theo, lần lượt 5 cuốn sách về luật tục được ra đời gồm:

1 Jacques Dournes: Nri, sưu tầm luật tục của người Sre ở Thượng Đồng Nai, Sài Gòn, France - Asie, 1951 Cuốn sách đã phản ánh được những nét cơ bản của

luật tục Sre, gồm hai phần, phần đầu là những điều chung về hình phạt, trách nhiệm, làm chứng, thử tội, các giao kèo… và phần chính là các điều luật cụ thể Cuốn sách trình bày 92 điều luật bằng song ngữ tiếng Sre và tiếng Pháp, đề cập đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như tội chống cấp trên, tù trưởng sai phạm, làm hại người khác, hôn nhân, tội ác, tài sản, gia súc, đất đai

2 Theophile Gerber: Luật tục Stiêng, Tạp chí Trường Viễn đông bác cổ,

1951 Cuốn sách là những ghi chép về luật tục Stiêng ở Bù lơ theo chế độ phụ hệ (khác với người Stiêng ở Bù đéc theo chế độ mẫu hệ) Cuốn sách gồm 5 chương: Chương I

là một số quan niệm về tập quán pháp, chương II là việc tổ chức xét xử, hình phạt, chứng cứ, trách nhiệm và liên đới trách nhiệm, chương III về người đứng đầu làng và các thành viên trong làng, chương IV về HN&GĐ, chương V, về sở hữu tài sản và thừa kế Tuy nhiên, cuốn sách chỉ ghi chép bằng tiếng Pháp mà không có phần ghi bằng chữ Stiêng Bên cạnh đó, một số “tiền lệ pháp” trong chương II quy định hành chính trong xét xử, bản thân luật tục Stiêng không có

3 Paul Guilleminet: Luật tục của bộ lạc Bana, Xedang và Jrai ở tỉnh Kon Tum, Paris, Trường Viễn Đông bác cổ, 1952 Cuốn sách gồm hai tập, mặc dù tên gọi là

Luật tục của bộ lạc Bana, Xedang và Jrai ở tỉnh Kon Tum, song lại tập trung đề cập đến luật tục Bana Cuốn sách không giới thiệu toàn văn hoặc từng phần của luật tục Bana mà chủ yếu là dẫn ra và bình luận về những luật lệ mà chính quyền thực dân

Trang 13

Pháp sử dụng Dournes đã nhận xét: “Ở đây không hề có luật tục truyền thống của nhân dân”[49, tr.9]

4 Jean Boulbet: Vài khía cạnh của luật tục (N’ri) người Cau Ma, Tạp chí

xã hội và nghiên cứu Đông Dương, Sài Gòn 1957 Cuốn sách gồm bốn chương: chương 1 về xứ sở Mạ, chương 2 sắc thái đùa cợt của người Mạ - một thú vui trong nói chuyện, chương 3, luật tục Mạ, chương 4, về thơ ca của người Mạ Đối với luật tục của người Mạ, tác giả dẫn ra 68 điều liên quan đến các lĩnh vực như xử kiện, chiến tranh, thủ lĩnh, nói dối, quan hệ trai gái, cưới xin và hôn nhân, gia đình, ngoại tình, không ly dị, loạn luân bao gồm tiếng Mạ và phần dịch sang tiếng Pháp Cuốn sách là thể hiện sự nghiêm túc, thận trọng và am hiểu của tác giả về cách nói, cách suy nghĩ của tộc người Mạ; trong tác phẩm này, luật tục được vận dụng với mong muốn hòa giải các tranh chấp

5 Pierre Bernard Lafont: Tơ lơi djuat, luật tục của bộ lạc Jrai, Paris, Trường Viễn đông bác cổ, 1963 J Dournes cho rằng đối với luật tục Jrai: “mục đích của tất cả quá trình luật tục Jrai là để đạt đến sự thỏa thuận chung, thông qua một sự dàn xếp chấp nhận được Và do vậy mà giải quyết sự căng thẳng trong một bộ phận

nhỏ của cộng đồng.” Và ông đánh giá rất thấp cuốn sách nói trên “cuốn sách này có lẽ

là đáng chê cười nhất trong số các tác phẩm về luật tục của người bản xứ Tác giả không hiểu sâu về cả ngôn ngữ và văn hóa Jrai Những đoạn văn bản luật tục trong sách được Lafont tập hợp từ những thanh niên ít hiểu biết về truyền thống Jrai Việc dịch của Lafont lại kì dị hơn: sự bình luận dựa vào luật La Mã và sự tưởng tượng của ông”[49, tr.10]

Bên cạnh đó, còn có thể kể tới các cuốn sách và bài viết của Canivery, quan cai

trị Pháp, Ghi chép về tập quán và các phong tục của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

ở Đà Lạt (1913); Cunhac, quan cai trị Pháp: Ghi chép ngắn trên cơ sở luật tục người dân tộc thiểu số Tây Ngyên ở Thượng Đồng Nai, cao nguyên người Mạ (1921); Adelé, quan cai trị Pháp: Tập hợp thông tin về luật tục người Mạ (1931); Jean Cassaigne, nhà truyền giáo đạo Gia Tô người Pháp: Luật tục Kơho (1937);

Như vậy là trong một khoảng thời gian không dài lắm nhiều sách về luật tục Tây Nguyên đã được xuất bản Không phải tất cả các nhà khoa học trên đều tuân thủ chặt chẽ chỉ thị của P Pasquier Tuy nhiên, không thể phủ nhận tính mục đích của toàn

bộ xu hướng sưu tầm, nghiên cứu và xuất bản sách luật tục thời bấy giờ theo tinh thần Chỉ thị ngày 30 tháng 7 năm 1923 này

Trang 14

- Một số Luật tục và Luật cổ ở Đông Nam Á, Vũ Quang Thiện, Tô Viễn (biên

dịch), Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1995 Cuốn sách giới thiệu về Luật tục Chin (My-an-ma), Luật tục Ka-Chin (My-an-ma), Luật Lào, Luật Luổng Pha-băng (Lào), Luật hôn nhân và thừa kế của người Gia-va Hồi giáo

- Customary law rural develement in Viet Nam today(Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay), Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2000 Với các bài viết có liên quan như:

+ Một số nhận xét về việc nghiên cứu luật tục, GS G.Condominas (Pháp),

trong bài viết tác giả đưa ra nhận xét về luật tục dưới góc độ liên quan đến tính chất của luật tục đó là tính truyền miệng, và dưới góc độ của đời sống xã hội là đức tin và thực hành tín ngưỡng Tác giả kết luận rằng, khi nghiên cứu luật tục, người ta phải nghiên cứu dưới nền tảng vững chắc đó là sự hiểu biết về dân tộc học, xã hội học về nhóm người và phải biết quan sát nguồn gốc xung đột, cách tổ chức sự kiện, việc xử kiện và phải có kiến thức về khoa học pháp lý

+ Luật tục của người Minangkabuau, H Idrus Hakimi Datuak Rajo Panghulu

(Indonexia), bài viết nhằm miêu tả sự đóng góp của adat istiadat (các tập tục) của Minangkanuau trong sự phát triển của miền Tây tỉnh Sumatra thuộc Indonexia, tuy nhiên bài viết lại viết dưới góc độ là viết riêng cho Việt Nam với mong muốn là nó có thể được sử dụng để nghiên cứu và so sánh

- Văn hóa chính trị và tộc người, Toh Goda (Chủ biên), Trung tâm nghiên cứu

Việt Nam, Đông Nam Á, Võ Văn Sen, Chu Thị Quỳnh Giao, Ngô Thị Phương Lan, Dương Thị Hải Yến dịch, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2001 Đây là cuốn sách do GS TS Toh Goda chủ biên và Nhà xuất bản New Day, Philippines ấn hành tháng 3 năm 1999, là tập hợp những bài viết mới của các nhà khoa học và nghiên cứu Nhật bản, Philippines được đúc kết qua thời gian theo dõi và tiếp cận trực tiếp đời sống sinh hoạt của một số tộc người nhỏ ở Philippines, Indonesia, Malaysia và Đài Loan Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu và mô tả nhiều khía cạnh của nội dung văn hóa chính trị của các tộc người này Mặc dù, cuốn sách chưa bao quát đời sống sinh hoạt của nhiều tộc người khác ở các nước Đông Nam Á, nhưng bước đầu đã giúp cho chúng ta một cái nhìn mới về phương pháp nghiên cứu, lựa chọn vấn

đề nghiên cứu và tư duy khoa học Cuốn sách vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa mang giá trị thực tiễn Đặc biệt là bài viết Luật tục trong thời ký quá độ: sự quan tâm phát triển luật tục ở Negeri Sembilan, Malaysia của Hisashi Endo, Khoa Nghiên cứu con người, Đại học Kyoto Bunkyo - Nhật Bản

Trang 15

Ngày nay, luật tục được coi là một trong những đối tượng của ngành lịch sử - so sánh pháp luật, một ngành nghiên cứu đạt được nhiều thành quả trong lịch sử pháp luật cũng như trong nhân loại học luật pháp Kinh nghiệm của các học giả nước ngoài trong nghiên cứu lịch sử pháp luật nói chung và luật tục nói riêng đã phần nào giúp chúng ta khám phá và đi sâu nghiên cứu luật tục của Việt Nam, đặc biệt trong tình hình Nhà nước và các ngành nghiên cứu đang xem xét lại các giá trị truyền thống của các dân tộc

Sau khi các tác phẩm luật tục của người Pháp được công bố, một thời gian dài, người Việt Nam bỏ trống lĩnh vực này Mãi đến năm 1986 - 1987 trong đợt sưu tầm văn hóa dân gian Đắc Lắc của Viện nghiên cứu văn hóa dân gian phối hợp với Sở văn

hóa thông tin Đắc Lắc, vấn đề luật tục mới được đề cập Và trong các cuốn sách Văn

hóa dân gian Ê đê (Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1992) và

Văn hóa dân gian M’nông (Ngô Đức Thịnh chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,

1993) có một chương viết về luật tục các dân tộc này

Ở góc độ các nhà Dân tộc học, văn hóa học, luật tục được xem xét dưới góc độ văn hóa của các tộc người Trong đời sống của cộng đồng ngày nay, khi chúng ta đang tập trung sức xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc tập trung trí tuệ hoàn thiện pháp luật của Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế xã hội hiện nay và những năm tiếp theo là một vấn đề đặc biệt quan trọng mang ý nghĩa sống còn của đất nước và của dân tộc Song cũng không thể phủ định những giá trị tích cực của luật tục đang tồn tại trong đời sống cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện xây dựng dân chủ ở cơ sở thì việc nghiên cứu luật tục dưới góc độ luật học là vấn đề cần thiết

- Hỏi đáp về luật tục các dân tộc Việt Nam, Tủ sách văn hóa, Nxb Quân đội

nhân dân, Hà Nội, 2009 Công trình này đề cập đến quá trình phát triển của luật tục các dân tộc Việt Nam, khái niệm luật tục, hình thức, trình độ, quá trình phát triển của luật tục các dân tộc Việt Nam (gồm Luật tục Tây Nguyên, Luật tục Thái và Hương ước của người Việt); luật tục và việc thi hành luật tục của các dân tộc Việt Nam

- Tác động của luật tục đối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, Hmông thuộc Tây Bắc Việt Nam, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp bộ, chủ nhiệm Bùi Xuân

Trường, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân viện Hà Nội, 1997 Đây là công trình tập hợp những bài viết liên quan đến luật tục, điển hình là:

+ Luật tục, sự hình thành và vai trò trong đời sống của một số cư dân, PGS

PTS Phan Sỹ Giáo, đề cập đến nguồn gốc của luật tục, vai trò của luật tục trong đời

Trang 16

sống xã hội truyền thống của một số tộc người ở nước ta dưới góc độ duy trì trật tự xã hội, đảm bảo các yêu cầu của hoạt động sản xuất, ngăn chặn các hành vi phạm tội, bảo

vệ tài sản của các gia đình và cá nhân, trên cơ sở đó, tác giả cũng trình bày một số nội dung cụ thể thông qua luật tục của người Hmông ở miền núi phía Bắc nước ta

+ Luật tục của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Cầm Trọng, trong bài viết tác

giả đề cập đến các luật lệ liên quan đến sản xuất, những hành vi làm mất an ninh trật

tự, đặc biệt là các luật lệ liên quan đến HN&GĐ, từ việc tìm hiểu nhau, các quy định

về cưới xin và ly hôn, chia thừa kế Từ những nghiên cứu đó tác giả cũng đưa ra nhiều điều suy nghĩ về dân tộc này

+ Một số luật tục cơ bản của dân tộc Hmôngz ở Việt Nam, Phan Thanh, bài viết

nêu lên các luật tục cơ bản trong dân tộc Hmôngz từ những luật tục cơ bản đó nêu lên những kiến nghị về các luật, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đáp ứng, sửa đổi thế nào cho phù hợp với lòng dân

- Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu dân

gian, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 Đây là công trình tập hợp những bài viết liên quan đến luật tục nói chung và luật tục Tây Nguyên nói riêng, điển hình là các bài viết:

+ Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật, TS Lê Hồng Sơn, đề cập đến khái niệm, đặc trưng của phong tục tập

quán (thể hiện tập trung ở hai hình thức chính là hương ước và luật tục), vị trí, vai trò của hương ước, luật tục trong quản lý xã hội, việc kế thừa phong tục tập quán trong hoạt động xây dựng pháp luật thông qua việc Nhà nước thừa nhận phong tục, tập quán hay “đề lên thành luật” những quy phạm phù hợp với mục đích quản lý của Nhà nước

+ Một số vấn đề về luật tục và pháp luật ở Đắc Lắc hiện nay, TS Hoàng Thị

Kim Quế Bài viết trình bày về những nội dung cơ bản của luật tục Ê đê và M’nông

dưới góc độ pháp lý, gồm những nét đặc thù về hình thức thể hiện của luật tục Ê đê và M’nông, bản chất và những thuộc tính cơ bản của luật tục Ê đê và M’nông, những đặc

điểm về các biện pháp xử phạt và đối tượng điều chỉnh trong luật tục Ê đê và M’nông

Tác giả cũng nêu khái quát về thực trạng luật tục và pháp luật ở Đắc Lắc hiện nay Theo tác giả, thực trạng của luật tục và pháp luật ở Tây Nguyên hiện nay là vấn

đề lớn, phức tạp, liên quan đến hàng loạt vấn đề như: xã hội dân sự, chính quyền, đoàn thể, kinh tế, văn hóa xã hội, …

+ Luật tục và việc trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc, Tạ Thị Minh Lý Bài

viết đã nêu được khái niệm luật tục, vai trò to lớn của luật tục trong đời sống thực tế ở các bản làng; những ưu điểm, nhược điểm của luật tục hiện nay nhưng chỉ là những

Trang 17

điều chung chung nhất Tuy nhiên, bài viết chủ yếu trình bày về chức năng, nhiệm vụ

và phạm vi hoạt động của tổ chức trợ giúp pháp lý; mục đích, ý nghĩa chung của hoạt động trợ giúp pháp lý, đặc biệt là đối với việc góp phần giữ gìn và phát triển luật tục; các giải pháp trợ giúp pháp lý trong việc loại bỏ những quy định lạc hậu của luật tục

+ Giá trị của luật tục từ góc nhìn pháp lý, ThS Nguyễn Việt Hương Bài viết

nêu lên khái niệm luật tục và giá trị của luật tục nhìn từ góc độ pháp lý Theo tác giả, trong mối quan hệ với pháp luật, giá trị của luật tục được thể hiện ở ba phương diện:

Thứ nhất, luật tục, trong những phạm vi nhất định và ở một số lĩnh vực nhất định có khả năng thay thế pháp luật; thứ hai, luật tục có vai trò bổ sung cho pháp luật trong những điều kiện nhất định; thứ ba, luật tục có tác dụng hỗ trợ cho pháp luật trong

nhiều lĩnh vực

+ Hướng đi đến bảo tồn và duy trì luật tục ở Việt Nam, Hà Quế Lâm và Cần nghiên cứu vận dụng phong tục tập quán của người thiểu số vào quá trình thực hiện

quy chế dân chủ ở cơ sở, Trần Xuân Hiệp Cả hai bài viết đều nêu lên vai trò của luật

tục trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng buôn làng, dân tộc và quan hệ gia đình Những yêu cầu bức bách về phát triển xã hội đã đòi hỏi phải nghiên cứu, đánh giá, chọn lọc về giá trị, vai trò, nội dung của luật tục, đặc biệt là giá trị bản sắc văn hóa và phải đặt ra các chính sách để bảo tồn, phát huy giá trị của luật tục

+ So sánh luật tục Ê đê và luật tục M’nông với một số vấn đề trong luật pháp

hiện hành, Trần Đình Long Bài viết đã phân tích, so sánh nội dung của luật tục Ê đê

và M’nông với quy định của pháp luật dân sự, luật HN&GĐ, luật hành chính và hình

sự Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng ở việc so sánh các quy định mà chưa đưa ra những nhận xét về ưu điểm, nhược điểm cũng như chưa đưa ra những giải pháp khắc phục những nhược điểm của luật tục

- Luật tục với đời sống, GS TSKH Phan Đăng Nhật, Nxb Tư Pháp, Hà Nội,

2007 Cuốn sách đề cập đến các nội dung như khái niệm, phân loại luật tục, quan hệ giữa luật tục và đời sống, toà án luật tục, sự vận dụng luật tục trong xã hội ngày nay của đồng bào Tây Nguyên, dân tộc Jrai và luật tục của họ Tuy nhiên, sách chủ yếu trình bày về hai dân tộc là Chăm và Raglai, những dân tộc hiện đang sinh sống chủ yếu ở Ninh Thuận và Khánh Hòa nên không đặc trưng và không phải là những DTTSTC Tây Nguyên

- Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam (Understanding customary law of ethnic group in Viet Nam), Ngô Đức Thịnh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003

Công trình này khảo sát về các khía cạnh khác nhau của luật tục, như góc độ tiếp cận

Trang 18

luật tục, nguồn gốc và bản chất của luật tục, các hình thức phát triển của luật tục, nội dung luật tục, việc thực thi luật tục, giá trị của luật tục, luật tục và luật pháp; đồng thời giới thiệu về luật tục Ê đê, luật tục M’nông, luật tục Thái và hương ước của người Việt

- Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt Nam, GS TS Ngô Đức Thịnh,

Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2010 Cuốn sách là cái nhìn chung nhất, hệ thống nhất về những vấn đề đã và đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu luật tục các dân tộc ở Việt Nam Công trình gồm hai phần chính, phần thứ nhất tập trung vào việc khảo sát các khía cạnh khác nhau của luật tục và phần giới thiệu luật tục của một số tộc người Tác giả giới thiệu chọn lọc luật tục của một số dân tộc ít người, là những đại diện cho các hình thức và trình độ phát triển khác nhau của luật tục các tộc người ở Việt Nam

- Vai trò của người phụ nữ trong văn hóa Tây Nguyên nhìn từ luật tục, Ngô Thị

Minh Hằng, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh, 2009 Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò, vị trí của người phụ nữ Tây Nguyên mà điển hình là người phụ nữ Ê đê trong văn hóa tổ chức cộng đồng mà nổi lên là vai trò của người phụ nữ trong việc gắn kết cộng đồng, gắn kết các thành viên gia đình và tạo sự đoàn kết, gắn bó của các thành viên trong xã hội trên tư liệu luật tục Bên cạnh đó, Luận văn cũng đề cập một cách khái quát về những ảnh hưởng của luật tục đến đời sống của người Ê đê, chỉ ra những yếu tố tích cực và hạn chế, tiêu cực của luật tục, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê trong lĩnh vực pháp luật và nhằm góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị của luật tục nói riêng và những giá trị văn hóa Tây Nguyên nói chung, loại bỏ những yếu tố lạc hậu trong việc xây dựng xã hội mới

- Tìm hiểu các tộc người ở Nam Tây Nguyên, GS TS Ngô Đức Thịnh, TS Ngô

Văn Lý tập hợp, sắp xếp, biên soạn và giới thiệu, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2004 Cuốn sách này giới thiệu về luật tục của tộc người Stiêng, Mạ và Kơ ho Văn bản luật tục của người Stiêng là phần dịch ra tiếng phổ thông từ bản sưu tầm bằng tiếng Pháp của Th Gerber, viên quan cai trị của Pháp ở địa phương năm 1943 vì vậy ngoài việc sưu tầm và hệ thống lại luật tục Stiêng, Gerber còn thêm nhiều điều vào luật tục nhằm mục đích cai trị người Stiêng theo chiều hướng có lợi cho thực dân Pháp Phần nội dung luật tục Mạ và Kơho của cuốn sách dựa vào các sưu tầm của J Dournes về luật tục Kơho và Jean Boulbet về luật tục của người Mạ Tuy các luật tục này mới chỉ được giới thiệu sơ lược, song cuốn sách là nguồn tư liệu quý, cung cấp những bộ luật tục của đồng bào dân tộc Stiêng, Kơho và Mạ

Trang 19

- Luật tục Chăm và luật tục Raglai, Phan Đăng Nhật chủ biên, Trung tâm khoa

học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu văn hóa dân gian, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2003 Đây là công trình giới thiệu về luật tục Chăm và luật tục Raglai, hệ thống và biên dịch các điều luật tục cổ truyền của hai dân tộc trên và đề cập đến việc nghiên cứu, kế thừa luật tục truyền thống trong xây dựng các buôn làng mới Các văn bản luật tục cũ và quy ước mới đều được thể hiện song ngữ Chăm - Việt và Raglai - Việt Những bản quy ước mới này đã được cấp chính quyền địa phương thông qua và cho phép thực hiện Đây là một trong những kinh nghiệm quý báu cho các địa phương khác trong việc nghiên cứu, sưu tầm và vận dụng luật tục của hai dân tộc trên

ở nơi họ sinh sống và cư trú để xây dựng buôn làng mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thể chế xã hội trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay, TS Dương Thị Thanh Mai, Đề tài cấp Nhà nước, Hà Nội, 2011 Đây là công

trình nghiên cứu có hệ thống các thể chế xã hội ở nước ta hiện nay, trong đó có cộng đồng dân cư và luật tục, hương ước với sinh hoạt làng, xã; và gia đình và sinh hoạt dòng tộc Đề tài đã phân tích nguồn gốc, bản chất, đặc điểm và vai trò của các thể chế

xã hội như luật tục, hương ước với tư cách là các thể chế xã hội tự quản của cộng đồng dân cư cũng như chức năng và mối quan hệ giữa gia đình, dòng họ và xã hội Đề tài cũng khảo sát thực tế vai trò của luật tục Gia rai ở tỉnh Gia Lai và đưa ra những giải pháp cho việc hoàn thiện và phát huy thể chế xã hội tự quản ở vùng Tây Nguyên như phát huy những giá trị tích cực của luật tục và vai trò của những người uy tín trong cộng đồng

- Luật tục người K’ho Lạch, Krajan Plin, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2010

Cuốn sách trình bày khái quát về người K’ho Lạch và luật tục của người K’ho Lạch Đây là tài liệu quý, sưu tầm, biên tập một cách chân thực bộ luật tục của người K’ho Lạch vì tác giả là người K’ho Lạch nên hiểu rất rõ về nguồn gốc, văn hóa của dân tộc mình Tuy nhiên, cuốn sách chỉ mới sưu tầm, văn bản hóa mà chưa đi vào phân tích nội dung và các điều luật

- Già làng Tây Nguyên, Linh Nga Niê Kdam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,

2007 Cuốn sách tập trung nghiên cứu về các chế tài quản lý xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa, về vai trò của già làng trong các cộng đồng nhằm khẳng định giá trị truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên thông qua vai trò của già làng dưới góc độ ảnh hưởng của già làng trong luật tục, vai trò của già làng trong cộng đồng trước năm 1975 và sau năm 1975 Từ đó, tác giả cũng đưa ra những tổng luận về

Trang 20

vai trò của già làng trong xã hội truyền thống cũng như trong xã hội hiện nay và những kiến nghị, giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, phát huy tốt hơn vai trò của già làng trên thực tế để từng bước phát huy những giá trị đó trong công cuộc quản lý, xây dựng đất nước

- Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở Tỉnh Ninh Thuận, Trương Tiến Hưng, Luận án Tiến sĩ Luật học,

Học viện chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008 Luận án tìm hiểu luật tục dân tộc Chăm nhằm tìm ra những giá trị tiến bộ cần phát huy, xác định vai trò của luật tục dân tộc Chăm trong quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ

sở, xác định sự cần thiết và những yêu cầu của việc vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở Luận án cũng đánh giá kết quả vận dụng luật tục dân tộc Chăm của chính quyền cơ sở tỉnh Ninh Thuận, nguyên nhân của những hạn chế trong việc vận dụng luật tục dân tộc Chăm vào quản

lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở thời gian qua; đề xuất những giải pháp để vận dụng luật tục dân tộc Chăm vào quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở nhằm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa của luật tục dân tộc Chăm ở tỉnh Ninh thuận trong điều kiện hiện nay

- Sự biến đổi của luật tục trong đời sống văn hóa của người Gia rai ở tỉnh Gia Lai, Nguyễn Lưu Thà, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học, Đại học Khoa

học xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh, 2013 Luận văn đã nêu lên khái quát luật tục Gia rai từ việc xây dựng, thi hành đến hiệu lực và đánh giá được thực trạng luật tục Gia rai trong đời sống văn hóa truyền thống, trong đó có đề cập tới lĩnh vực HN&GĐ; đồng thời tập trung trình bày những biến đổi của luật tục trong đời sống văn hóa hiện nay, nêu ra nguyên nhân và dự báo những xu hướng biến đổi của luật tục trong thời gian tới, đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của luật tục Gia rai Đây là một trong số hai công trình có liên quan nhiều tới đề tài luận án

Bên cạnh những tác phẩm là sách, các công trình nghiên cứu, đề tài, luận án, luận văn, còn khá nhiều các bài báo viết về vấn đề luật tục, có thể kể đến như:

- Luật tục và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Tây Nguyên, thực trạng và những vấn đề đặt ra, PGS TS Đào Văn Nam, bài viết nêu lên những tác động của luật

tục đến việc tổ chức và quản lý xã hội hiện nay ở Tây Nguyên, đặc biệt là trong quá trình tổ chức và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở Trên cơ sở những tác động đó, tác giả nêu ra những biện pháp nhằm phát huy những mặt tích cực của thiết chế xã hội cổ

Trang 21

truyền và hạn chế những biểu hiện tiêu cực của nó nhằm từng bước nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, thực hiện tốt hơn nữa quy chế dân chủ ở cơ sở trong việc xây dựng nông thôn mới ở Tây Nguyên hiện nay

- Một số vấn đề về việc giáo dục pháp luật ở các địa phương có luật tục hiện nay, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Tạp chí Khoa học chính trị, tr 46-53, bài viết lý giải

những điểm đặc thù trong giáo dục pháp luật ở các địa phương có luật tục, từ đó tác giả khuyến cáo, cần tăng cường việc giáo dục pháp luật ở các địa phương này Theo tác giả, những điểm cần chú ý khi giáo dục pháp luật ở các địa phương này là: cần lựa chọn nội dung giáo dục phải phù hợp; hình thức giáo dục pháp luật phải phong phú, phù hợp với cách nghĩ, cách làm của người dân; tăng cường đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; khai thác hiệu quả tủ sách giáo dục; tập hợp và giải thích sâu về giá trị xã hội của luật tục; tôn trọng văn hóa của nhân dân có luật tục và tiến hành đồng bộ với các giải pháp nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người dân

- Tòa án phong tục - Một kiểu vận dụng luật tục có hiệu quả, Phan Đăng Nhật,

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2007, tr 19-26, bài viết giới thiệu về tòa án phong tục tỉnh Kon Tum, đây là một tòa án phong tục tiêu biểu trong việc thu thập luật tục, vận dụng luật tục cho việc xét xử của ba dân tộc chính ở đây là Bana, Sơ đăng, Jrai Bài viết phân tích cụ thể về tên gọi, lý do ra đời, thành phần xét xử và luật được

sử dụng cũng như mối quan hệ giữa các điều luật của tòa án phong tục với luật tục mà chủ yếu là mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân, gia đình và tài sản

- Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường thông qua hương ước, luật tục ở Việt Nam hiện nay, Hoàng Thị Kim Quế, Tuyển tập các Báo cáo khoa học

Hội nghị môi trường toàn quốc 2005, tr.1815-1825 Công trình đã đánh giá vai trò của các công cụ quản lý xã hội (gồm hương ước, luật tục) tại các cộng đồng dân cư trong quá khứ và hiện tại trong đó tác giả đã nêu lên khái niệm, quá trình hình thành và phát triển, hình thức tồn tại, và nội dung của hương ước, luật tục trong việc bảo vệ môi trường Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng thông qua công cụ hương ước, luật tục về bảo vệ môi trường; những nội dung pháp luật cụ thể về bảo vệ môi trường cần đưa vào hương ước, quy ước Tác giả kết

luận "Hương ước, luật tục là một trong những công cụ có hiệu quả, tiết kiệm, sát thực

để thu hút sự tham gia của cộng đồng"

- Vai trò của Luật tục trong đời sống xã hội hiện đại ở các cư dân bản địa vùng biên giới Việt Nam-Campuchia, Nguyễn Duy Thiệu, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam

Á, số 8 năm 2010, tr 12-15 Bài viết đã nêu lên quá trình hình thành của luật tục, nội

Trang 22

dung của luật tục, phạm vi điều chỉnh của luật tục và việc sử dụng luật tục trong điều chỉnh các quan hệ trong đời sống dân sự ngày nay ở các cộng đồng dân cư, theo tác

giả, việc thực thi luật tục trở thành một hành vi văn hóa, tạo nên một thứ "văn hóa pháp luật" bởi thế mà hằn sâu vào tâm trí mọi người

- Trương Tiến Hưng với hàng loạt các bài báo viết về luật tục dân tộc Chăm ở

Ninh thuận như: Những đặc điểm luật tục người Chăm ở Ninh Thuận, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11/2004; Pháp luật hóa những giá trị luật tục dân tộc Chăm - Một giải pháp vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương tỉnh Ninh Thuận hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2008, tr 21-27; sự cần thiết vận dụng luật tục của người Chăm trong quản lý nhà nước ở chính quyền cấp cơ sở, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005

Các bài viết là những nghiên cứu sâu về luật tục của người Chăm ở Ninh Thuận, chỉ ra những đặc điểm, những ưu điểm, hạn chế của luật tục người Chăm; từ những ưu điểm đó, cho thấy sự cần thiết vận dụng luật tục của người Chăm trong quản

lý nhà nước của chính quyền cơ sở mà một trong những giải pháp để vận dụng có hiệu quả luật tục dân tộc Chăm trong quản lý nhà nước hiện nay là pháp luật hóa những giá trị luật tục

Ngoài các tác phẩm và tác giả kể trên, còn rất nhiều bài báo của các nhà dân tộc

học, văn hóa học và luật học đăng trên các tạp chí chuyên ngành như Ngô Đức Thịnh,

Luật tục và việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Tạp chí Văn hóa dân gian,

số 4, 1998; Phan Đăng Nhật, Từ thực tế luật tục Jrai, Tạp chí Dân tộc và miền núi, số tháng 7 năm 1996, tr 25 – 28; Phan Đăng Nhật, Luật tục Jrai trong đổi mới, báo cáo

khoa học tại Hội nghị về Văn hóa và ngôn ngữ tổ chức ở Nha Trang năm 1998; Phan

Đăng Nhật, Luật tục đối với nông thôn miền núi, Báo nhân dân cuối tuần số ra ngày 27 tháng 6 năm 1999; Phan Đăng Nhật, Từ ngôn ngữ thông thường đến ngôn ngữ thơ ca: Lời nói vần, Tạp chí Văn học, số 12 năm 1998, tr 48 - 53; Hà Công Tuấn, Sử dụng luật tục, hương ước, quy ước bảo vệ rừng một chiến lược quản lý rừng lâu dài, Tạp chí

Nông nghiệp và phát triển nông thôn kỳ 2 tháng 3/2006, tr.85-88; Nguyễn Văn Hòa,

Luật tục dân tộc với việc rèn luyện đạo đức, lối sống của Đảng viên ở Tây Nguyên, Tạp chí Xây dựng Đảng số 3/2012, tr 23-25; Nguyễn Quang Tuyến, Vấn đề thừa kế đất đai trong luật tục BaNa, Tạp chí Luật học, 02/2008; Nguyễn Quang Tuyến, Vai trò của luật tục Bana, Jrai trong quản lý sử dụng đất đai, môi trường và bảo vệ rừng, Tạp chí Luật học 12/2012, tr 59-68; Phạm Quang Tiến, Nguyễn Thị Hồi, Tập quán và luật tục bảo vệ môi trường của một số dân tộc ít người ở Việt Nam, Tạp chí Luật học số

Trang 23

6/2010, tr 53-62; Linh Nga Niê kdăm, Luật tục các dân tộc Tây Nguyên với vấn đề môi trường sinh thái, Tạp chí Văn hóa các dân tộc, số 7/2003, tr.3-4; Phạm Quang Tiến, Sử dụng tri thức bản địa, tập quán và luật tục để bảo vệ môi trường của một số dân tộc thiểu số vùng núi Bắc bộ Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển bền vững, số 3(36), tháng 9/2012, tr 45-52; Duy Tuấn, Luật tục bảo vệ tài nguyên rừng

của đồng bào Ê đê, M’nông, Tạp chí Văn hóa các dân tộc, Số 12/2000, tr.4-5; …

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình và ảnh hưởng của luật tục đến thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình

- Tìm hiểu tác phẩm của Ph Ăng-ghen Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước,TS Lê Trọng Ân, Nxb Đại học quốc gia TP HCM, TP HCM,

2004 Cuốn sách là những nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm kinh điển của Mác và Ăng ghen "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước", bản in lần thứ tư, xuất bản năm 1891, đã được Ăng ghen sửa chữa, bổ sung (C Mác và Ph Ăng ghen, Toàn tập, tập 21 tiếng Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 1995), là tài liệu hết sức phong phú về lịch sử loài người ở những giai đoạn sớm nhất, về các hình thức gia đình, về giai cấp, về nhà nước đặc biệt là sự giải thích những đặc điểm của sự phát triển các mối quan hệ và các hình thức gia đình qua các hình thái kinh tế xã hội khác nhau

- Hôn nhân và gia đình các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Nhiều tác giả, Nxb

Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2012 Đây là công trình đề cập đến HN&GĐ của dân tộc Khmer Nam bộ, người Chơ ro, người Nùng và người Khơ Mú Cuốn sách trình bày khái quát về các dân tộc, về hôn nhân, gia đình truyền thống của các dân tộc, về sự biến đổi trong HN&GĐ của các dân tộc

- Tác động của luật tục đối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, Hmông thuộc Tây Bắc Việt Nam, Kỷ yếu Đề tài khoa học cấp bộ, chủ nhiệm Bùi Xuân

Trường, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân viện Hà Nội, 1997 với bài viết

Luật HN&GĐ của nước CHXHCN Việt Nam và việc thực thi ở các dân tộc thiểu số Thái, Hmông, bài viết giới thiệu khái quát về luật HN&GĐ của nước ta và nêu những

ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện luật HN&GĐ ở các tỉnh miền núi phía bắc trong các lĩnh vực kết hôn, trách nhiệm và quyền lợi của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của người cha, mẹ và các con Tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại dưới góc độ nêu lên những quy định của luật tục về HN&GĐ của một số dân tộc chưa phù hợp với luật HN&GĐ hiện hành mà chưa đi sâu phân tích đánh giá những mặt tích cực mà luật tục mang lại cũng như những nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng đó

Trang 24

- Hôn nhân và gia đình của người Hoa ở Nam Bộ, Nguyễn Duy Bính, Nxb Đại

học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, 2005 Cuốn sách giới thiệu một cách khái quát về người Hoa ở Nam Bộ như quá trình hình thành, dân số và sự phân bố dân cư, các hoạt động kinh tế, tổ chức xã hội, những hoạt động văn hóa của người Hoa; đồng thời trình bày những quan niệm về hôn nhân như quan niệm hôn nhân truyền thống, những biến đổi trong các quan niện hôn nhân, các quy tắc hôn nhân, các nghi lễ trong hôn nhân và những tiêu chí để phân loại gia đình

- Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam, Bá Trung Phụ, Luận án

Phó Tiến sĩ lịch sử, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, 1996 Luận án nghiên cứu về gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam, từ đó làm rõ cấu trúc tổ chức xã hội Chăm, gia đình, dòng họ, phong tục, tập quán, lễ nghi trong HN&GĐ Đặc biệt, luận án đã nêu ra được những đặc trưng của HN&GĐ của người Chăm, so sánh sự khác nhau giữa gia đình và hôn nhân của người Chăm với các dân tộc anh em khác ở Việt Nam

- Hôn nhân và gia đình của người Chơ-ro truyền thống và biến đổi, Lâm Nhân,

Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2010 Công trình này tập trung vào việc giới thiệu khái quát về môi trường tự nhiên, dân cư, kinh tế, văn hóa - xã hội của người Chơ-ro ở Đồng Nai, những quan niệm truyền thống và nghi thức hôn nhân, những vấn đề liên quan đến gia đình truyền thống như hình thức và cấu trúc gia đình, chức năng cơ bản của gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và nghi lễ gia đình Đặc biệt tác giả tập trung nghiên cứu những biến đổi trong hôn nhân, gia đình và những yếu tố tác động đến sự biến đổi trong HN&GĐ của người Chơ-ro

- Luật tục người Chăm và pháp luật trong vấn đề HN&GĐ hiện nay, Văn Món,

in trong Kỷ yếu hội thảo Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam, Nxb Chính trị, Hà Nội, 2000 Bài viết tập trung nghiên cứu luật tục và luật hôn nhân gia đình người Chăm về các nội dung: điều kiện kết hôn, nghi thức kết hôn; ly hôn, ngoại tình, loạn luân; gia đình, nghĩa vụ của cha mẹ, các con và sở hữu tài sản; các hình thức xét xử và phạt vạ Tác giả cũng nhận xét về quy định của pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ, đưa ra những kiến nghị để pháp luật kết hợp với luật tục, thông qua luật tục, cùng với luật tục để đưa pháp luật thấm sâu vào đời sống nhân dân

- Hôn nhân và gia đình của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Đặng

Thị Kim Oanh, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường đại học Khoa học

xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2008 Luận án đi sâu tìm hiểu những quan niệm, quy tắc cùng những nghi lễ của người Khmer, mà chủ yếu

Trang 25

là người Khmer ở Trà Vinh Từ việc nghiên cứu hôn nhân truyền thống, luận án đã đánh giá những biến đổi trong hôn nhân của người Khmer hiện tại, đặc biệt chú ý tới những tác động biến đổi của kinh tế, xã hội cũng như sự cộng cư, giao lưu tiếp xúc văn hóa với các tộc người khác

- Thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng dân tộc Chăm ở tỉnh Ninh Thuận, Lưu Tích Thái Hòa, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viên Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008 và Thực hiện pháp luật HN&GĐ trong đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Yên Bái, Hà Thành Đê, Luận văn thạc sĩ luật học,

2004 Cả hai luận văn đều tập trung phân tích rõ cơ sở lý luận thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng dân tộc Chăm, trong đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Yên Bái, phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật HN&GĐ của dân tộc Chăm và đồng bào dân tộc ít người tỉnh Yên Bái, từ đó đề xuất những giải pháp để thực hiện tốt pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng dân tộc Chăm và trong đồng bào dân tộc ít người ở tỉnh Yên Bái

1.1.3 Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình ở Tây Nguyên

Tính đến nay, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu về ảnh hưởng của Luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ ở Tây Nguyên Chỉ có một vài công trình nghiên cứu dưới góc độ dân tộc học về hôn nhân của một dân tộc cụ thể nào đó

về truyền thống và biến đổi Có thể kể đến các công trình như:

- Ảnh hưởng của nhân tố mới trong HN&GĐ đối với sự phát triển con người các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Đinh Khắc Tuấn, Luận án Tiến sĩ Triết học, Học

viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000 Luận án bước đầu làm rõ quá trình hình thành và phát triển các nhân tố mới trong HN&GĐ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên trong giai đoạn cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, chỉ ra những ảnh hưởng của các nhân tố mới trong HN&GĐ các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, đồng thời

đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần loại trừ và cải tạo các yếu tố HN&GĐ lỗi thời để hình thành và phát triển các nhân tố mới trong HN&GĐ gắn với quá trình phát triển con người các dân tộc thiểu số Tây Nguyên Luận án cũng đã khái quát hóa,

hệ thống hóa, những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về HN&GĐ và vai trò của nó đối với sự phát triển của con người và xã hội Phân tích những đặc trưng cơ bản về chế độ HN&GĐ truyền thống, lấy đó là một trong những cơ sở để luận chứng quá trình hình thành và phát triển những nhân tố mới trong Hôn nhân và gia đình cư dân bản địa Tây Nguyên Qua đó phân tích những ảnh

Trang 26

hưởng, tác động của nhân tố mới trong HN&GĐ đối với sự phát triển con người các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

- Văn hóa mẫu hệ M’nông và sự tác động của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội tại tỉnh Đăk Nông hiện nay, PGS TS Phan Thị Hồng, Đề tài Nghiên cứu khoa học

cấp tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắc Nông, 2012 Đề tài nghiên cứu để tiếp tục nhận thức một cách toàn diện, sâu sắc những biểu hiện, đặc điểm và tính chất của hình thái văn hóa mẫu hệ, đồng thời chỉ ra sự tác động cả tích cực lẫn tiêu cực, hạn chế của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội của nội bộ cộng đồng và đối với địa bàn tỉnh nói chung

- Người phụ nữ Ê đê trong đời sống xã hội tộc người, Thu Nhung Mlô Duôn

Du, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001 Luận án là tác phẩm nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về người phụ nữ Eđê dưới góc độ dân tộc học trong bối cảnh xã hội mẫu hệ truyền thống cũng như hiện đại Là những thông tin xác thực về xã hội mẫu hệ thông qua vai trò của phụ

nữ Ềđê trong gia đình và xã hội.Từ đó đánh giá những biến đổi về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội Êđê, từ đó thấy được những biến đổi đang xảy ra trong lòng xã hội đó

- Gia đình và hôn nhân truyền thống ở các dân tộc Malayô - Pôlynêxia Trường Sơn - Tây Nguyên, Vũ Đình Lợi (1994), sách chuyên khảo Công trình này đã khắc họa

những nét cơ bản, quan trọng của diện mạo bức tranh gia đình, hôn nhân các tộc người vùng Trường Sơn - Tây Nguyên cụ thể nghiên cứu các dấu vết của tổ chức ngoại hôn lưỡng hợp thị tộc và các hình thức hôn nhân cổ xưa Điều đáng chú ý là tác giả đã tiếp tục khai thác , phân tích đặc điểm chế độ mẫu hệ trong hôn nhân và gia đình các tộc người Tây Nguyên ; nhất là những khía cạnh nhạy cảm chứa đựng, ẩn kín trong hình thái văn hóa xã hội đặc thù này và c hỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc duy trì các yếu tố hôn nhân, gia đình mẫu hệ ở đây

- Tảo hôn để có đất - khủng hoảng bản sắc tộc người Bahnar ơ ̉ Tây Nguyên hiê ̣n nay, Phạm Thanh Thôi , Thời báo Kinh tế Sài Gòn , số 35, ngày 25/8/2011 Bài

viết đánh giá tình trạng tảo hôn ở người Bahnar trước 1986 và từ 1990 đến nay để phản ánh vấn đề về quyền sử dụng đất đai Trước năm 1986, người Bahnar chủ yếu khai thác các giá tri ̣ kinh tế từ rừng , đất đai canh tác chưa trở thành vấn đề gây lo lắng cho mỗi cá nhân , đặc biệt viê ̣c kết hôn sớm hay muô ̣n không do yếu tố đất đai chi phối Nhưng từ đầ u thập niên 1990 đến nay, quyền sử du ̣ng đất canh tác (theo các chương trình 132, 134, QĐ167 ) được căn cứ trên tiêu chí “hô ̣ gia đình nên các thanh

Trang 27

thiếu niên sợ lập gia đình muộn sẽ không còn đất làm ăn , và họ kết hôn sớm để có cơ hội sử dụng đất , sớ m tích lũy tài sản nuôi con cái Kết hôn, nhận đất cho họ cảm giác được sở hữu, tự lâ ̣p cuộc sống

- Tìm hiểu vấn đề HN&GĐ trong luật tục Bah Nar¸ Nguyễn Quang Tuyến, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật số 1/2008, tr.31-36 Bài viết nêu khái quát nội dung của luật tục Bahnar trong lĩnh vực HN&GĐ gồm hai khía cạnh, một là về chế độ hôn nhân và hai là về chế độ gia đình Về chế độ hôn nhân tác giả viết dưới góc độ nguyên tắc kết hôn, nghi lễ kết hôn, điều kiện kết hôn, chế độ ngoại hôn, chế độ ly hôn, tục nối dây

Mô hình gia đình, vai trò của vợ chồng trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, vấn đề nuôi con Từ đó, tác giả rút ra nhận xét ban đầu về những mặt tích cực, tiến bộ và những mặt tiêu cực hạn chế của luật tục Bahnar trong lĩnh vực HN&GĐ của người Bahnar hiện nay

- Vấn đề gia đình trong luật tục cổ truyền Tây Nguyên, Linh Nga Niê kdăm,

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk, số 3/2006, tr 20-21 Trong bài viết tác giả tập trung đi sâu vào những quy định của luật tục các dân tộc Tây Nguyên quy định về thái độ ứng xử của các thành viên trong cộng đồng đối với gia đình Tập trung vào luật tục của dân tộc Ê đê, M'nông và Jrai ở Tây Nguyên

- Gia đình của người Ê đê ở huyện Cư M'gar tỉnh Đắk Lắk, Phạm Trọng

Lượng, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường đại học Khoa học xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2007 Luận văn tập trung miêu tả, phân tích hệ thống hóa các loại hình gia đình, tổ chức, chức năng, các mối quan hệ gia đình, một số lễ nghi gia đình truyền thống và sự biến đổi sang mô hình gia đình hiện đại dưới những tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội hiện nay của gia đình người Ê đê Từ việc nghiên cứu truyền thống và sự biến đổi đó luận văn cung cấp những luận chứng khoa học cho việc xây dựng gia đình văn hóa của người Ê đê trong

sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng nhóm địa phương, từng vùng dân tộc

- Sự biến đổi trong hôn nhân của người Chil (Cil) ở Lâm Đồng (2009), của

Phạm Thanh Thôi, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở nghiên cứu những đặc điểm trong HN&GĐ, những yếu tố tác động đến HN&GĐ của người Chil ở Lâm Đồng tác giả nhấn mạnh đến các biểu hiện của sự biến đổi trong HN&GĐ của người Chil ở Lâm Đồng, từ đó tác giả phân tích những nguyên nhân và đề ra những giải pháp nhằm gìn giữ, duy trì những điểm tích cực và hạn chế những yếu tố tác động tiêu cực trong HN&GĐ của người Chil ở Lâm Đồng hiện nay

Trang 28

- Vận dụng luật tục M'nông vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa,

Trương Bi, Điểu Kâu, Tô Đình Tuấn, Bùi Minh Vũ sưu tầm, biên soạn và dịch thuật, Nxb Sở Văn hóa Thông tin Đắc Lắc, Đắc Lắc 10/2002 Cuốn sách là kết quả của việc vận dụng luật tục M'nông vào việc quản lý, xây dựng đời sống văn hóa ở một số bon, thôn thuộc huyện Đắc Song và Đắc Rlấp, tỉnh Đắc Nông Cuốn sách không chỉ là sự vận dụng luật tục cổ truyền của dân tộc mình vào việc xây dựng gia đình, bon, thôn văn hóa mà có thể coi là bản quy ước xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa Tuy nhiên, cuốn sách chỉ mới tập hợp luật tục dưới dạng lời nói có vần, biên soạn lại cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế mà chưa phân tích việc vận dụng luật tục vào việc quản lý và xây dựng đời sống văn hóa như thế nào trên thực tế

- Vận dụng luật tục Ê đê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa,

Trương Bi, Bùi Minh Vũ, Kra Y Wơn, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2007 Với 5 chương, 36 điều về nội dung xây dựng gia đình văn hóa; cưới hỏi, lên lão tang lễ; an ninh, trật tự buôn thôn; bảo vệ tài sản cộng đồng; giáo dục con cháu, dân buôn về ý thức bảo vệ rừng, đất đai, nguồn nước, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng Công trình là kết quả vận dụng luật tục Ê đê vào việc quản lý, xây dựng đời sống văn hóa ở một số buôn, thôn thuộc huyện Krông Păc, Krông Buk, Cư M’gar, Krông Ana được sưu tầm và dịch thuật lại dưới dạng song ngữ Ê đê - Việt Tuy nhiên, Tuy nhiên, cuốn sách chỉ mới tập hợp luật tục dưới dạng lời nói có vần, biên soạn lại cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế mà chưa phân tích và tìm ra những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục để từ đó đưa ra cách thức vận dụng luật tục có hiệu quả vào việc quản lý và xây dựng đời sống văn hóa trên thực tế

- Vận dụng luật tục Kơho trong quản lý cộng đồng người Kơho ở Lâm Đồng hiện nay, Nguyễn Thị Oanh, luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật Hà Nội,

Hà Nội, 2011 Luận văn đề cập đến những vấn đề chung nhất về luật tục, và chủ yếu tập trung nghiên cứu luật tục dân tộc Kơho dưới góc độ vận dụng luật tục Kơho trong quản lý cộng đồng người Kơho của chính quyền tỉnh Lâm Đồng như cơ sở hình thành, đặc điểm và nội dung cơ bản của luật tục dân tộc Kơho; sự cần thiết và mục tiêu của việc vận dụng luật tục dân tộc Kơho trong quản lý cộng đồng người Kơho; nội dung, hình thức và phương pháp vận dụng luật tục dân tộc Kơho trong quản lý cộng đồng người Kơho tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay; đánh giá thực trạng việc vận dụng luật tục dân tộc Kơho trong việc quản lý cộng đồng người Kơho và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng luật tục dân tộc Kơho tại tỉnh Lâm Đồng hiện nay

Trang 29

- Tìm hiểu luật tục của người Kơho Lạch ở huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng và ảnh hưởng của nó trong đời sống hiện tại, Cao Thị Thanh Tâm, Đề tài Nghiên cứu

khoa học cấp trường, Đà Lạt, 2011 Đề tài đã nêu những nét chung, khái quát về người Kơho Lạch ở Lạc Dương như nguồn gốc, lịch sử cư trú, những nét đặc trưng văn hóa

đề tài cũng đã nêu lên hình thức và nội dung của luật tục dân tộc Kơho Lạch, đánh giá được những nét ảnh hưởng của luật tục dân tộc Kơho Lạch trong đời sống hiện nay như: những biến đổi của luật tục, vai trò của luật tục, hạn chế của luật tục dân tộc Kơho Lạch ở huyện Lạc Dương tỉnh Lâm Đồng Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ dân tộc học, vì vậy những ảnh hưởng của luật tục chỉ mang tính chất chung chung

- Hôn nhân và gia đình của người Chu ru ở Lâm Đồng, Võ Tấn Tú, Luận án

Tiến sĩ chuyên ngành Dân tộc học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, TP

Hồ Chí Minh, 2011 Luận án nghiên cứu về HN&GĐ của người Chu ru ở Lâm Đồng, giới thiệu một cách đầy đủ về gia đình và hôn nhân, làm rõ cấu trúc tổ chức xã hội Chu

ru, góp phần làm sáng tỏ những quan hệ xã hội tộc người cũng như dựng lại lịch sử tiến triển của các hình thức gia đình và hôn nhân Qua đó chỉ ra những mặt tích cực để phát huy, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực nhằm xây dựng nếp sống văn minh, vừa hiện đại vừa thể hiện bản sắc tộc người

- Hôn nhân và gia đình của người Chu ru, (sách chuyên khảo), (2016), Võ Tấn

Tú, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí minh, Tp Hồ Chí Minh Công trình gồm

3 chương, cung cấp cho người đọc khung lý thuyết về HN&GĐ cũng như khái quát chung nhất về bức tranh tộc người Chu ru như môi trường tự nhiên, dân số, đặc điểm kinh tế Đặc biệt là nội dung phân tích về HN&GĐ truyền thống cũng như sự biến đổi trong cộng đồng người Churu về quan niệm, các loại hình, nguyên tắc, nghi lễ trong hôn nhân, các mối quan hệ trong gia đình và những nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi trong HN&GĐ của người Chu ru

- Luật tục Tây nguyên với vấn đề HN&GĐ, Linh Nga Niê kdăm, Tạp chí Khoa

học và Công nghệ Đắk Lắk, số ra ngày 28/6/2013 Bài viết tập trung nghiên cứu những quy định của luật tục dân tộc Ê đê, M'nông và Jrai trong lĩnh vực HN&GĐ Đó là những quy định từ việc trai gái tìm hiểu nhau, đến trao vòng đính ước, thách cưới, rồi

lễ cưới, cả việc ngoại tình, ly hôn, cưỡng dâm như thế nào là vi phạm và cách thức

xử phạt đến những quy định để gìn giữ tính bền vững của hôn nhân, mối quan hệ cha

mẹ - các con, hiếu lễ với cha mẹ, và cả thái độ ứng xử đối với ông bà, với người già

trong buôn làng, quy định rõ nghĩa vụ của cha mẹ không chỉ là nuôi nấng mà còn phải

Trang 30

dạy dỗ các con nên người Tuy nhiên bài viết mới dừng ở mức độ nêu lên quy định của luật tục mà chưa đi sâu, phân tích vào các quy định ấy

- Bước đầu tìm hiểu thể chế HN&GĐ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên qua Luật tục, Đinh Khắc Tuấn, Tạp chí Dân tộc học số 3/2000, tr.70-76 Bài viết nêu lên

những nội dung cơ bản về HN&GĐ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được đề cập trong các luật tục như các quy định về nghi lễ trong hôn nhân, quy định về nối nòi, các quy định điều chỉnh mối quan hệ trong gia đình, các tội có liên quan đến HN&GĐ như loạn luân, ngoại tình, hoang thai Tác giả kết luận, giá trị tích cực của luật tục các dân tộc vùng này là giữ gìn và bảo tồn những phong tục, tập quán tốt đẹp của đồng bào, gắn kết các thành viên trong cộng đồng vào một mục tiêu chung: đoàn kết, tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong cuộc sống

- Tính chất hôn nhân gia đình của người Cơ ho ở xã Đạ K nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, Bùi Minh Đạo, Tạp chí Dân tộc học, số 5/2010 Bài viết đưa ra

những luận cứ để minh chứng cho dấu vết của chế độ song hệ còn tồn tại ở bộ phận

người Cơ ho vùng ngoại biên này và đưa ra giả thiết “Những giải mã về các yếu tố của chế độ hôn nhân gia đình song hệ của người Cơ ho Đạ Knàng gợi mở đoán định về lịch sử và tính chất của chế độ hôn nhân, gia đình ở người Cơ ho Phải chăng, chế độ hôn nhân gia đình ban đầu của người Cơ ho là gia đình song hệ, giống như chế độ gia đình của các dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ me bắc Tây Nguyên, về sau, do ảnh hưởng các dân tộc Chăm, Ê đê cận cư, mới chuyển sang chế độ gia đình mẫu hệ mà tư liệu về HN&GĐ ở người ơ ho Đạ Knàng nói trên chính là những dấu vết”

1.2 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

1.2.1 Những vấn đề đã nghiên cứu và mức độ nghiên cứu

Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài luận án về luật tục, HN&GĐ từ trước đến nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có thể thấy, các công trình nghiên cứu đó đã đạt được một số kết quả sau:

- Nội dung những vấn đề mà các công trình nêu trên đề cập có ý nghĩa tham khảo rất quan trọng cho việc nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ Và cũng là cơ sở để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp cho khu vực Tây Nguyên hiện nay

- Những công trình nghiên cứu về luật tục, luật tục Tây nguyên và vai trò của luật tục đối với đời sống xã hội đã mang đến cái nhìn khái quát về lịch sử tồn tại, quá trình phát triển của luật tục nói chung và luật tục các dân tộc Tây Nguyên nói

Trang 31

riêng từ các góc độ khác nhau nhưng đều tập trung làm rõ nội hàm khái niệm luật tục Đây là điểm xuất phát rất quan trọng, là cơ sở lý luận mang tính tiền đề để luận

án tiếp tục đi sâu phân tích và xây dựng khái niệm về luật tục Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về luật tục cũng đã nêu lên đặc trưng, các hình thức tồn tại, nội dung, việc thực thi luật tục và đặc biệt là những giá trị của luật tục

Những công trình mà người nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm về luật tục ở Tây Nguyên là do người Pháp từ thời còn cai trị thực hiện đã phần nào giúp chúng ta khám phá và đi sâu nghiên cứu luật tục ở đây, đó là cơ sở để so sánh, đánh giá và nhìn nhận sự vận động, biến đổi của luật tục các dân tộc Tây Nguyên trong thời gian qua, đặc biệt trong tình hình Nhà nước và các ngành nghiên cứu đang xem xét lại các giá trị truyền thống của các dân tộc Những công trình nghiên cứu và sưu tầm về luật tục của các nước có giá trị cung cấp cơ sở để so sánh việc vận dụng, áp dụng luật tục của các nước trong thực tế, tham khảo kinh nghiệm của các nước trong vấn

đề này sẽ giúp đưa ra những giải pháp phù hợp với Việt Nam

Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu sâu về luật tục của một số dân tộc thiểu số ở nước ta cũng chỉ ra những đặc điểm, nội dung, ưu điểm và hạn chế của luật tục, đặc biệt là các quy định liên quan đến lĩnh vực HN&GĐ, đồng thời chỉ ra

sự hiện diện và hiệu lực thực tế của luật tục còn cao Vì thế, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, việc vận dụng những quy định tiến

bộ, phù hợp với xu thế phát triển đất nước của luật tục vào quản lý nhà nước, quản

lý xã hội của chính quyền cấp cơ sở là điều cần thiết; và một trong những giải pháp

để vận dụng có hiệu quả luật tục trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội hiện nay là pháp luật hóa những giá trị và những quy định phù hợp của luật tục để giữ gìn những quy định tiến bộ và phát huy những ảnh hưởng tích cực của luật tục trong thực tế, góp phần đắc lực vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay

- Những công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình và ảnh hưởng của luật tục đến thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình đã trình bày khái quát

về hôn nhân, gia đình truyền thống của một số dân tộc thiểu số của nước ta Khái quát được một cách đầy đủ thực trạng, sự biến đổi về HN&GĐ của một số dân tộc ở Tây Nguyên Tuy nhiên, các công trình đó mới dừng lại dưới góc độ nêu lên những quy định của luật tục về HN&GĐ của một số dân tộc chưa phù hợp với luật HN&GĐ hiện hành mà chưa đi sâu phân tích đánh giá những mặt tích cực mà luật tục mang lại cũng như những nguyên nhân dẫn đến những ảnh hưởng đó

Trang 32

- Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của luật tục đối với thực hiện pháp luật hôn nhân gia đình ở Tây Nguyên bước đầu làm rõ quá trình hình thành và phát triển HN&GĐ các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; khai thác, phân tích đặc điểm chế

độ mẫu hệ trong hôn nhân và gia đình nhất là những khía cạnh nhạy cảm chứa đựng,

ẩn kín trong hình thái văn hóa xã hội đặc thù này và chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc duy trì các yếu tố hôn nhân, gia đình mẫu hệ ở đây; miêu tả, phân tích, hệ thống hóa các loại hình gia đình, tổ chức, chức năng, các mối quan hệ gia đình, một số lễ nghi gia đình truyền thống và sự biến đổi sang mô hình gia đình hiện đại dưới những tác động của các nhân tố kinh tế - xã hội hiện nay của gia đình một

số tộc người thiểu số ở Tây Nguyên Từ việc nghiên cứu truyền thống và sự biến đổi

đó trong HN&GĐ, các công trình đã bước đầu rút ra nhận xét về những mặt tích cực, tiến bộ và những mặt tiêu cực hạn chế của luật tục trong lĩnh vực HN&GĐ của các tộc người hiện nay Đồng thời góp phần xây dựng luận cứ khoa học để nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở khu vực Tây Nguyên, giúp cho các cấp chính quyền, các nhà hoạch định chính sách kịp thời hoàn thiện hoặc đề ra những chính sách phù hợp về dân số và kế hoạch hóa gia đình, xây dựng nền văn hóa mới, gia đình mới phù hợp với từng dân tộc

1.2.2 Những vấn đề Luận án tiếp tục nghiên cứu

Việc nghiên cứu, tìm hiểu về các tộc người nói chung nhất là vấn đề HN&GĐ

là việc làm cần thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn, giúp cho ngành Dân tộc học, Văn hóa học, Luật học và các ngành khoa học khác có cái nhìn đầy đủ hơn về các tộc người ở Tây Nguyên Tuy nhiên, có thể khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Do góc độ tiếp cận và quy mô, mục đích của các công trình khoa học khác nhau cho nên nhiều vấn đề thuộc cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về thực hiện pháp luật HN&GĐ, ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên còn chưa được trình bày cụ thể và đó cũng là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Giả thuyết nghiên cứu của luận án là:

- Luật tục không có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các DTTSTC Tây Nguyên

Trang 33

- Luật tục có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các DTTSTC Tây Nguyên và những ảnh hưởng tích cực chiếm ưu thế hơn những ảnh hưởng tiêu cực

- Luật tục có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong cộng đồng các DTTSTC Tây Nguyên nhưng ảnh hưởng tiêu cực chiếm ưu thế hơn những ảnh hưởng tích cực

Để chứng minh cho các giả thuyết trên, các câu hỏi nghiên cứu đặt ra cho luận

án là:

Thứ nhất: Luật tục có ảnh hưởng tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong

các DTTSTC Tây Nguyên không?

Thứ hai: Ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong

cộng đồng các DTTSTC Tây Nguyên cụ thể như thế nào?

Thứ ba: Những giải pháp gì có thể thực hiện để phát huy ảnh hưởng tích cực,

hạn chế và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ở Tây Nguyên hiện nay?

Để chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã nêu, luận án tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:

- Xây dựng khái niệm và phân tích các đặc trưng của luật tục các dân tộc thiểu

số tại chỗ Tây Nguyên về vấn đề HN&GĐ

- Xây dựng khái niệm thực hiện pháp luật HN&GĐ, phân tích các hình thức thực hiện pháp luật HN&GĐ

- Làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn về ảnh hưởng của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

- Phân tích các yếu tố chi phối đến ảnh hưởng của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ, chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của luật tục tới việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC ở Tây Nguyên

- Tìm ra những giải pháp có tính khả thi, phù hợp và riêng biệt cho việc phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các DTTSTC Tây Nguyên hiện nay

Trang 34

đó đã góp phần xây dựng luận cứ khoa học để nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc ở khu vực Tây Nguyên, giúp cho các cấp chính quyền, các nhà hoạch định chính sách kịp thời hoàn thiện hoặc đề ra những chính sách phù hợp về dân số và kế hoạch hóa gia đình, xây dựng nền văn hóa mới, gia đình mới phù hợp với từng dân tộc

Tuy nhiên, có thể khẳng định, cho đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về ảnh hưởng của luật tục nhằm tìm ra các giải pháp phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của luật tục đến việc thực hiện pháp luật HN&GĐ trong các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên Và đó chính là những nhiệm vụ nghiên cứu mà công trình này cần

giải quyết

Trang 35

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT TỤC ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRONG CÁC DÂN

TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ Ở TÂY NGUYÊN

2.1 Luật tục về hôn nhân và gia đình của các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

2.1.1 Khái niệm luật tục

Luật tục là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại ở thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay với những mức độ khác nhau ở các tộc người Được biết đến với nhiều thuật ngữ khác nhau như luật không thành văn (unwritten law), luật dân gian (folk law), luật bản địa (indigenous law), luật truyền thống (traditional law), luật tồn tại trong dân gian (living law) nhưng các học giả thường dùng thuật ngữ luật tục nhiều hơn cả Hiện nay, ở Việt Nam luật tục thể hiện dưới ba hình thức đó là những lời nói vần truyền miệng (như luật tục các dân tộc Tây Nguyên); luật tục thành văn hay đã được văn bản hóa (như luật tục Thái); luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành xã hội (tức là luật tục chưa cố định thành lời nói vần hay văn bản, mà chủ yếu là những quy định được người ta ghi nhớ và thực thi trong thực tế đời sống) Chính vì vậy, khái niệm luật tục vẫn chưa được thống nhất trong giới nghiên cứu, mà người ta coi luật tục là hình thức sơ khai của luật pháp trong xã hội chưa phân chia giai cấp Theo nghĩa của từ, luật tục là những qui tắc xử sự mang tính dân gian, nguyên thủy, bản địa, không thành văn, hoàn toàn mang tính chất khu biệt

với luật nhà nước [83, tr.1] Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng luật tục là “toàn bộ những nguyên tắc ứng xử không thành văn được hình thành trong xã hội, sau một thời gian dài áp dụng đã trở thành truyền thống và được mọi người tuân thủ” [114, tr.770] Cùng quan điểm ấy, TS Lê Hồng Sơn cho rằng: “Luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số là phương ngôn, ngạn ngữ diễn đạt bằng lời nói có vần điệu chứa đựng các quy tắc xử sự chung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng dân tộc thiểu số, được cộng đồng bảo đảm thực hiện” [137, tr.864-865] Như vậy, luật tục ở

đây được nhìn nhận là những quy phạm xã hội điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng, được mọi người tuân thủ và áp dụng trong quá trình tồn tại Nhưng khái niệm này lại chưa thể hiện được bản chất sự tồn tại của luật tục cũng như hình thức tồn tại của nó

Trang 36

Nhìn nhận luật tục dưới góc độ tổ chức cộng đồng, PGS TSKH Phan Đăng

Nhật quan niệm “Luật tục là những quy định của quần chúng trong cộng đồng đặt ra

để điều hòa mối quan hệ của tập thể cộng đồng một cách tự nguyện và dân chủ, không phải là luật lệ do một tầng lớp người đặt ra và thực thi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị” [84, tr.85] Khi nghiên cứu về luật tục ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu

thường hay viện dẫn quan niệm của GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng luật tục là một hình thức đặc thù của tri thức dân gian, bao gồm hệ thống các chuẩn mực, các quy ước

xã hội không thành văn (có trường hợp đã thành văn hay được văn bản hóa như luật tục Thái, hương ước Việt), hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài của mỗi cộng đồng, qua kinh nghiệm trong ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, được truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực hành xã hội, nhằm hướng dẫn, điều chỉnh, điều hòa các quan hệ xã hội (quan hệ cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, cộng đồng này với cộng đồng khác) Nó được cả cộng đồng thừa nhận, tạo nên sự thống nhất và cố kết của mỗi cộng đồng Như vậy, theo các nhà nghiên cứu văn hoá học, luật tục là một loại qui tắc xử sự thường chỉ có ở các tộc người thiểu số

Khi nghiên cứu về luật tục dưới góc độ luật học, nhiều nhà nghiên cứu luật học cho rằng, luật tục là khái niệm chỉ tất cả những qui tắc xử sự mang tính chất dân gian,

đó là luật của dân gian Theo cách hiểu này, “luật” là qui tắc, “tục” chỉ những gì mang tính dân gian, đối lập với những gì mang tính chất sách vở, hàn lâm Như vậy, luật tục

bao gồm cả phong tục tập quán, lệ làng, hương ước, qui ước… “Có thể coi luật tục là những phong tục có dáng dấp của pháp luật”, là bước quá độ, là sự chuyển tiếp giữa

phong tục và pháp luật, nói cách khác, luật tục là hình thức phát triển cao của phong tục tập quán và là hình thức sơ khai, tiền thân của pháp luật [34, tr.3] Bởi nếu xét về nội dung, luật tục có nội dung tương đối tổng hợp, bao quát tương đối toàn diện, điều chỉnh một cách rộng rãi các mặt của đời sống, cả về lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, đất đai, hôn nhân, gia đình lẫn thủ tục xét xử, giải quyết tranh chấp [106] Còn

về hình thức, luật tục được biểu hiện chủ yếu dưới dạng lời nói, văn vần, nhưng lại thể hiện đầy đủ các bộ phận cấu thành của một qui tắc xử sự như giả định, qui định, chế tài dù còn ở dạng đơn giản sơ khai Về biện pháp bảo đảm thực hiện, luật tục chế tài khá da dạng, bao gồm các chế tài để tạ lỗi với thần linh, tạ lỗi đối với buôn làng, đền

bù cho người bị hại…, thậm chí kể cả hình phạt tử hình [34, tr.3] Để thi hành luật tục

có thiết chế tòa án phong tục, bao gồm những người thông thuộc luật tục, có uy tín trong cộng đồng Mỗi khi xét xử xong, bao giờ cũng kèm một nghi lễ nhằm chấm dứt

Trang 37

những thù oán giữa các bên với sự chứng giám của thần linh và dân chúng, thông

thường đó là bữa cơm cộng cảm

Như vậy, khái niệm luật tục có thể được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau, từ góc độ lịch sử, văn hóa xã hội, về bản chất, nội dung hay về hình thức thể hiện Tùy vào cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về luật tục Tuy nhiên, trong tất cả các cách hiểu nói trên về luật tục

chúng ta có thể hiểu luật tục là những quy tắc xử sự chung trong một cộng đồng người, được hình thành và lưu truyền nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng bao gồm quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng và giữa cộng đồng này với cộng đồng khác, được mọi thành viên trong cộng đồng đó thừa nhận và thi hành

2.1.2 Khái quát về Tây Nguyên và các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng Với diện tích tự nhiên 54,474 km2, chiếm 16,8% diện tích cả nước, tính đến ngày 1/4/2013 dân số vùng Tây Nguyên là 5.455.477 người chiếm 6% dân số cả nước1 Toàn vùng có 61 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thành phố, gồm 5 thành phố (Kon Tum, Pleiku, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt, Bảo Lộc), 4 thị xã (An Khê, Ayun

Pa, Buôn Hồ, Gia Nghĩa) và 52 huyện2

Tây Nguyên là vùng có tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng, có tiềm năng lớn để phát triển mạnh các ngành lâm nghiệp, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, công nghiệp, du dịch Tây Nguyên là nơi có diện tích rừng tự nhiên và trữ lượng

gỗ lớn của cả nước, có hệ thực vật khá phong phú trong đó có nhiều loài thực vật quý hiếm cũng như những loài đặc hữu Tài nguyên đất của Tây Nguyên rộng lớn, có quỹ đất đỏ bazan chiếm gần 1/3 diện tích toàn vùng và chiếm tới 66% tổng qũy đất bazan

cả nước Đất đỏ bazan phân bố thành các vùng tập trung trên 5 cao nguyên rộng lớn là

Di Linh, Bảo Lộc, Buôn Ma Thuột, Đắk Nông, Plây Cu và Kon Hà Nừng Tây Nguyên

có tiềm năng khoáng sản bô xít rất lớn và phân bố tập trung, chiếm tới 91% tổng tiềm năng bô xít của Việt Nam Về kinh tế, Tây Nguyên có tiềm năng lớn về phát triển nông nghiệp và lâm nghiệp, được coi là vùng kinh tế năng động của Việt Nam

Địa hình Tây Nguyên là tập hợp những cao nguyên, sơn nguyên có độ cao trên 500m đến trên 1500m bên cạnh là các dãy núi cao như Ngọc Linh ở phía Bắc, ChưYangSin ở phía Nam Địa hình Tây Nguyên tạo thành một bức tường án ngữ và

Trang 38

tiếp nhận cả hai khối khí đông bắc và tây nam trong chế độ gió mùa ở nước ta Bởi vậy, trên lãnh thổ Tây Nguyên hình thành những cảnh quan, hệ sinh thái nhiệt đới, á nhiệt đới đa dạng (Tây Nguyên là một trong 238 vùng sinh thái quan trọng nhất cho bảo tồn

đa dạng sinh học trên thế giới thuộc “Vùng sinh thái toàn cầu 2000”) Khu vực ngã ba Đông Dương có thể nói là vùng duy nhất trên thế giới có khu bảo tồn thiên nhiên liên quốc gia với diện tích gần nửa triệu hecta (Vườn quốc gia Am Dong Phan của Lào, vườn quốc gia Virachey của Campuchia, vườn quốc gia Chư mom Ray của Việt Nam) Tây Nguyên có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cao nguyên với chế độ nhiệt tương đối điều hoà, bức xạ mặt trời khá dồi dào Tây Nguyên còn có các vành đai khí hậu á nhiệt đới núi ở độ cao trên 1000 - 1500m như Đà Lạt, Ngọc Linh, Măng Đen tại đây không chỉ phát triển được các loài hoa quả có nguồn gốc ôn đới mà còn tạo ra tiềm năng du lịch, nghỉ dưỡng đặc sắc Xét về mặt môi trường sinh thái, với hệ động thực vật vô cùng phong phú, lại có vị trí địa lý đặc biệt, Tây Nguyên đóng vai trò là lá phối của toàn khu vực miền Trung, miền Nam và ba nước Đông Dương

Những đặc điểm địa lý đó đã tạo cho Tây Nguyên những nét đặc thù vùng, và cũng chính những nét đặc thù đó đã làm cho Tây Nguyên là khu vực hội nhập vào Việt Nam muộn nhất, là điều kiện về mặt kinh tế - xã hội cho những quy định của luật tục các DTTSTC về HN&GĐ nơi đây tồn tại và có vai trò lớn trong điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực này Thêm vào đó, điều kiện tự nhiên này cũng tác động không nhỏ đến việc phát triển kinh tế, nâng cao nhận thức và hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng, trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và đưa pháp luật vào thực tế cuộc sống vùng DTTSTC nơi đây

Các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên và việc phân bố dân cư

Về lịch sử cư trú, cư dân Tây Nguyên hiện nay có thể chia thành 2 khối hay 2

lớp khác nhau: những người đến cư trú sau và những người được coi là “bản địa” Ở

Tây Nguyên sinh sống 12 dân tộc thiểu số tại chỗ, bao gồm 4 dân tộc nói nhóm ngôn ngữ Mã Lai - Đa Đảo là Gia rai, Ê đê, Chu ru, Raglai và 8 dân tộc có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me là Ba na, Xơ đăng, Giẻ triêng, B râu, Rơ măm, Mạ, M’ nông và Cơ ho

Khối cư dân bản địa hay gọi là dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên3 hiện nay được phân định thành các nhóm địa phương nhưng họ cư trú tương đối tập trung của từng

3

Hiện nay khái niệm dân tộc thiểu số tại chỗ và dân tộc thiểu số bản địa vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau Có

ý kiến cho rằng dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên là khái niệm hẹp, chỉ bao gồm những dân tộc có gốc tích,

Trang 39

dân tộc Các dân tộc Giẻ triêng, B râu, Rơ măm, Xơ đăng cư trú chủ yếu quanh núi Ngọc Linh, bắc tỉnh Kon Tum Hai dân tộc Gia rai và Ba na cư trú chủ yếu ở hai cao nguyên Plei ku và Kon Hà Nừng, Bắc tỉnh Gia Lai và Nam tỉnh Kon Tum Dân tộc Ê

đê phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Lắc, dân tộc M’nông phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông Bốn dân tộc Mạ, Cơ ho, Chu ru, Raglai cư trú ở tỉnh Lâm Đồng

Qua những biến động về dân số ở Tây Nguyên, ta thấy dân số và thành phần dân tộc Tây Nguyên đều tăng nhanh, trong đó, dân số tăng theo cả hai hướng tự nhiên

và cơ học, mà nét nổi bật là sự tăng cơ học, và ở Tây Nguyên hiện nay dân tộc tại chỗ trở thành số ít Tỷ lệ dân số đồng bào dân tộc tại chỗ Tây Nguyên trong dân số chung Tây Nguyên giảm dần khá nhanh từ khoảng mấy chục năm gần đây Nếu năm 1976, dân số Tây Nguyên là 1.225.000 người, gồm 18 dân tộc anh em, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là 853.820 người, chiếm 69,7% dân số Đến nay, toàn vùng Tây nguyên có 54/54 tộc người, theo số liệu điều tra năm 2009, dân số Tây Nguyên

có 5.107.437 người4, chiếm gần 6% dân số cả nước, bao gồm ba bộ phận: Dân tộc Kinh, dân số 3.302.588 người, chiếm 64,7% tổng dân số, 35 dân tộc thiểu số di cư từ nơi khác đến, dân số 445.713 người, chiếm 8,73% tổng dân số và 12 dân tộc thiểu số tại chỗ, dân số 1.359.134 người, chiếm 26,57% tổng dân số Đồng bào các dân tộc thường sống đan xen, không có buôn, bon, plei nào chỉ có một dân tộc, thậm chí có xã

có tới trên 10 dân tộc5 Điều này, một mặt tạo động lực phát triển kinh tế, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các dân tộc giao lưu, trao đổi với nhau trên mọi lĩnh vực, khẳng định tinh thần đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trong vùng; mặt khác, những khó khăn, những vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày dễ bị các thế lực thù địch

lợi dụng, khai thác để thực hiện “diễn biến hoà bình” Các số liệu trên cho thấy cả về

qui mô dân số cũng như cơ cấu dân tộc ở Tây Nguyên biến động liên tục và diễn ra hết sức nhanh chóng Trong những năm tới, tỷ lệ đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ còn

có xu hướng giảm thêm, nếu không ổn định được qui mô dân số và ngăn chặn việc di

cư tự do từ các nơi khác đến

Một điểm nữa cần quan tâm trong vấn đề dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên, đó là

sự tồn tại và ngày càng có vai trò rõ nét của các tôn giáo mới, bao gồm Tin lành và Công giáo Trong khi tín đồ dân tộc Kinh chiếm đa số trong Công giáo, Phật giáo và

khởi nguồn tại mảnh đất Tây Nguyên như: Sê đăng, Ba na, Gia rai, Ê đê, M’nông, Mạ, Ko ho Còn dân tộc tại chỗ Tây Nguyên là khái niệm rộng hơn, bao gồm các dân tộc kể trên, cộng với các dân tộc đã có quá trình di dịch cư đến Tây Nguyên sinh sống từ nhiều đời nay như: B’râu, Rơ măm, Giẻ triêng, H’rê, Churu, X’tiêng,

Raglai,…Các nhà dân tộc học hiện nay thống nhất sử dụng cụm từ “dân tộc tại chỗ”

Trang 40

Cao đài thì tín đồ các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc thiểu số tại chỗ lại chiếm đa

số trong Tin Lành Số lượng các tín đồ Tin lành chiếm 20% dân số các dân tộc thiểu số

và 25% dân số các dân tộc thiểu số tại chỗ Trong tổng số 324.135 tín đồ Tin lành là người DTTSTC Tây Nguyên, phân bố đông nhất là ở tỉnh Đắc Lắc 133.639 người, tiếp

đó là Gia Lai 76.330 người, Lâm Đồng 65.592 người, Đắc Nông 37.303 người và Kon Tum 11.217 người Trong tổng số 2.489 buôn làng DTTSTC Tây Nguyên, khoảng 1.500 buôn làng có người theo đạo Tin Lành, chiếm hơn 50% tổng số buôn làng, số buôn làng có đông người theo đạo Tin Lành vào khoảng 800 (chiếm 32% tổng số buôn làng) [31, tr.65]

Đặc điểm kinh tế - xã hội

Kinh tế của đồng bào dân tộc tại chỗ Tây Nguyên khá phong phú, đa dạng và phát triển với nghề chính là nông nghiệp và thủ công nghiệp, trong đó trồng trọt nương rẫy là hoạt động kinh tế đem lại nguồn thu nhập chính Ruộng nước đã xuất hiện nhưng diện tích và quy mô nhỏ Ngoài ra còn có các hoạt động chăn nuôi, trao đổi, buôn bán, tùy theo địa bàn cư trú mà người dân tộc tại chỗ Tây Nguyên có những hoạt động kinh tế thích hợp với điều kiện tự nhiên cũng như môi trường xã hội

Thích ứng với điều kiện đất rộng người thưa là kỹ thuật luân canh khoảnh đất rẫy theo chu kỳ khép kín Các kỹ thuật canh tác thích ứng với đất dốc trồng khô được

áp dụng tối đa như không dùng cày cuốc để hạn chế xói mòn, phát rừng đốt lấy tro thay phân, đa canh và xen canh để tận dụng, bảo vệ đất và tạo nguồn thu nhập Vì vậy nên tín ngưỡng nông nghiệp đa thần, coi trọng việc thờ thần lúa là nét đặc thù phổ biến Bên cạnh đó, hoạt động khai thác các nguồn lợi từ rừng có vai trò đặc biệt quan trọng trong kinh tế của các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên Nhìn chung, xuất phát điểm kinh tế truyền thống của các DTTSTC Tây Nguyên hạn chế hơn so với các dân tộc khác trong cả nước, với đặc thù nền kinh tế sinh tồn, thủ công, tự cấp tự túc, lệ thuộc

vào rừng và tự nhiên

Được sự quan tâm, đầu tư của Trung ương và nỗ lực của các địa phương trong vùng, kinh tế Tây Nguyên đã vươn lên, liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, kết cấu

hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước phát triển; hệ thống đường giao thông đã được đầu

tư xây dựng, nâng cấp, hình thành mạng lưới rộng khắp, vừa liên kết 5 tỉnh trong vùng, vừa nối Tây Nguyên với các vùng khác trên tuyến hành lang Đông - Tây Kết quả là

cơ cấu kinh tế - xã hội của vùng có những chuyển biến tích cực Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân các dân tộc được cải thiện rõ rệt, an ninh chính trị, trật tự xã hội

và chủ quyền quốc gia được đảm bảo và giữ vững Hệ thống trường lớp được mở rộng

Ngày đăng: 15/11/2017, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh, (2015), Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên, Chương trình Tây Nguyên 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và di dân trong phát triển bền vững Tây Nguyên
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2015
2. Đỗ Văn Anh dịch, (1999), Xứ người Mạ, lãnh thổ của thần Linh: Phong tục tập quán các dân tộc ít người ở Đồng Nai/ Boulbet, Nxb. Đồng Nai, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xứ người Mạ, lãnh thổ của thần Linh: Phong tục tập quán các dân tộc ít người ở Đồng Nai/ Boulbet
Tác giả: Đỗ Văn Anh dịch
Nhà XB: Nxb. Đồng Nai
Năm: 1999
4. Trương Bi - Bùi Minh Vũ - Kra Y Wơn (2007), Vận dụng luật tục Ê đê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa, Nxb. Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Bi - Bùi Minh Vũ - Kra Y Wơn (2007)," Vận dụng luật tục Ê đê vào việc xây dựng gia đình, buôn, thôn văn hóa
Tác giả: Trương Bi - Bùi Minh Vũ - Kra Y Wơn
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Dân tộc
Năm: 2007
7. Trần Văn Bính (2005), Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống văn hóa và xu hướng phát triển văn hóa một số dân tộc vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Trần Văn Bính
Năm: 2005
8. Bộ Tư Pháp (1997), thông tin khoa học pháp lý, Chuyên đề về luật tục (Kỷ yếu hội thảo: “Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành” tổ chức tại Đắc Lắc), Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề về luật tục (Kỷ yếu hội thảo: “Mối quan hệ giữa luật tục, hương ước và pháp luật hiện hành” tổ chức tại Đắc Lắc)
Tác giả: Bộ Tư Pháp
Năm: 1997
9. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2013), Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quốc gia năm 2013 về mục tiêu phát triển thiên nhiên kỷ
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2013
10. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb. Văn hóa Thông tin, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Thông tin
Năm: 1996
11. Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Văn Ký dịch sang tiếng Pháp, (2011), Người Ba Na ở Kon Tum = Les Bahnar de Kontum, Nxb. Tri thức, Hà Nội 12. Phan Ngọc Chiến (chủ biên) (2005), Người Cơ ho ở Lâm Đồng - Nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa, Nxb. Trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Ba Na ở Kon Tum = Les Bahnar de Kontum," Nxb. Tri thức, Hà Nội 12. Phan Ngọc Chiến (chủ biên) (2005)," Người Cơ ho ở Lâm Đồng - Nghiên cứu nhân học về dân tộc và văn hóa
Tác giả: Nguyễn Kinh Chi, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Văn Ký dịch sang tiếng Pháp, (2011), Người Ba Na ở Kon Tum = Les Bahnar de Kontum, Nxb. Tri thức, Hà Nội 12. Phan Ngọc Chiến (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Tri thức
Năm: 2005
13. Cao Chư, Nguyễn Quang Lê sưu tầm và giới thiệu, (2012), Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba na, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục, nghi lễ của người Cor và người Ba na
Tác giả: Cao Chư, Nguyễn Quang Lê sưu tầm và giới thiệu
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
14. G. Condominas (2003), Chúng tôi ăn rừng, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chúng tôi ăn rừng
Tác giả: G. Condominas
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
24. Nguyễn Đăng Duy (biên soạn) (2004), Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy (biên soạn)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa Dân tộc
Năm: 2004
25. Nguyễn Trắc Dĩ (1970), Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam, Bộ Văn hóa Thanh Niên, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trắc Dĩ
Năm: 1970
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.132 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
27. Nguyễn Văn Đạm, Từ điển Tiếng Việt 1999-2000, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội 28. Bùi Minh Đạo (Chủ biên) (2003), Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt 1999-2000", Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội28. Bùi Minh Đạo (Chủ biên) (2003), "Dân tộc Cơ ho ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Đạm, Từ điển Tiếng Việt 1999-2000, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội 28. Bùi Minh Đạo (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
29. Bùi Minh Đạo (chủ biên), Trần Hồng Thu, Bùi Bích Lan, (2006), Dân tộc Ba na ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Ba na ở Việt Nam
Tác giả: Bùi Minh Đạo (chủ biên), Trần Hồng Thu, Bùi Bích Lan
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2006
30. Bùi Minh Đạo, Tính chất hôn nhân, gia đình của người Cơ - ho ở xã Đạ K nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, Tạp chí Dân tộc học, Số 5(167), 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hôn nhân, gia đình của người Cơ - ho ở xã Đạ K nàng, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng
32. Nguyễn Minh Đoan (2006), Ý thức pháp luật với đời sống xã hội, Tạp chí Luật học, Số 1/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý thức pháp luật với đời sống xã hội
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2006
33. Nguyễn Tấn Đắc (2005), Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên, Nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa xã hội và con người Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Tấn Đắc
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2005
35. Mạc Đường (Chủ biên) (1983), Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Nxb Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng
Tác giả: Mạc Đường (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng
Năm: 1983
36. Cửu Long Giang - Toan Ánh (1974), Cao nguyên miền Thượng, Bộ Văn hóa Thanh Niên, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao nguyên miền Thượng
Tác giả: Cửu Long Giang - Toan Ánh
Năm: 1974

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w