1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

LUẬN VĂN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG NGỘ ĐỘC CÁ NÓC CHO NGƯ DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN

80 184 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,03 MB
File đính kèm đề tài cá nóc.rar (908 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm vì nó tác động trực tiếp tới sức khoẻ người tiêu dùng. Ngoài ra, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm còn có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, chính trị và xã hội.Ở Việt Nam, Ngành Y tế đã có nhiều cố gắng trong công tác truyền thông, phổ biến kiến thức nhằm nâng cao hiểu biết về an toàn vệ sinh thực phẩm. Hệ thống kiểm tra giám sát chất lượng ở tuyến Trung ương và tuyến tỉnh đã được triển khai và hoạt động một các hiệu quả nhưng cho đến nay tình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn đang ở mức báo động 34. Bên cạnh những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm thường gặp như nhiễm khuẩn, hoá chất bảo vệ thực vật, những năm gần đây xuất hiện tình trạng ngộ độc thực phẩm do cá nóc. Ngộ độc do cá nóc phổ biến không chỉ ở những vùng ven biển mà ngay cả những khu vực nằm sâu trong nội địa như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Lâm Đồng, Đăk Lăc 17.Theo thống kê của Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm, trong 5 năm (19992003), cả nước xảy ra 176 vụ ngộ độc thực phẩm do cá nóc với 737 người mắc và 127 người chết. Ngộ độc thực phẩm do cá nóc chiếm 15,1% tổng số vụ; 3,1% tổng số mắc và 42,9% tổng số chết do ngộ độc thực phẩm nói chung. Nghiêm trọng hơn, ngộ độc cá nóc có chiều hướng gia tăng và có tỷ lệ tử vong rất cao: năm 2000 xảy ra 27 vụ với 129 người mắc và 29 người chết; năm 2001 có 48 vụ với 211 người mắc và 29 người chết; năm 2002 có 49 vụ với 210 mắc và 29 người chết. Đặc biệt có những vụ rất thương tâm như ở Nghệ An (31011999) có 11 người bị ngộ độc thì chết 6; ở Quảng Nam (10012000): 7 người bị ngộ độc thì 3 người chết; ở Quảng Ngãi (2832001): 4 người bị ngộ độc thì 3 người chết 17.Mặc dù vậy, chúng ta vẫn chưa có thuốc phòng và thuốc điều trị đặc hiệu cũng như biện pháp quản lý có hiệu quả. Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc và tử vong do cá nóc là do sự thiếu hiểu biết của người dân về nhận dạng cá nóc và độc tính của cá nóc khi sử dụng thực phẩm từ cá và cá nóc. Xuất phát từ thực tiễn trên, Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm đã tiến hành điều tra thực trạng kiến thức thực hành của ngư dân về cá nóc và phòng chống ngộ độc cá nóc, từ đó xây dựng “Mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc” cho ngư dân. Sau một năm triển khai thực hiện mô hình này tại huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, chúng tôi tiến hành “Đánh giá hiệu quả mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc cho ngư dân huyện HàmTân tỉnh Bình Thuận” nhằm mục tiêu:1. Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành của ngư dân về cá nóc sau một năm thực hiện mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận.2. Đánh giá hiệu quả của mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận.Trên cơ sở những kết quả thu được, đề xuất những khuyến nghị về công tác truyền thông giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm cho người dân khi sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ cá và cá nóc để giảm thiểu tỉ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÕNG

Trang 2

3.1 Kết quả thay đổi kiến thức, thực hành của ngư dân về cá nóc

3.1.1 Một số đặc điểm của chủ hộ ngư dân 3 xã nghiên cứu của

huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

33

3.1.2 Thay đổi về kiến thức của chủ hộ ngư dân 3 xã/thị trấn

Lagi, Tân Bình và Tân Hải trước và sau can thiệp mô hình

truyền thông

36

3.1.3 Thay đổi về tình hình sử dụng cá nóc của các hộ ngư dân 3

3.2 Hiệu quả của mô hình truyền thông về cá nóc ở 3 xã/thị trấn

huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận sau 1 năm can thiệp 47

Trang 3

1

4.1 Về kết quả thay đổi kiến thức, thực hành của ngư dân về cá

4.1.1 Về một số đặc điểm của chủ hộ ngư dân 3 xã nghiên cứu của

4.1.2 Về kiến thức về cá nóc của chủ hộ ngư dân 3 xã/thị trấn

Lagi, Tân Bình và Tân Hải trước và sau can thiệp mô hình

Trang 4

2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề được nhiều nước trên thế giới đặc biệt quan tâm vì nó tác động trực tiếp tới sức khoẻ người tiêu dùng Ngoài ra, đảm bảo

an toàn vệ sinh thực phẩm còn có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, chính trị và xã hội

Ở Việt Nam, Ngành Y tế đã có nhiều cố gắng trong công tác truyền thông, phổ biến kiến thức nhằm nâng cao hiểu biết về an toàn vệ sinh thực phẩm Hệ thống kiểm tra giám sát chất lượng ở tuyến Trung ương và tuyến tỉnh đã được triển khai và hoạt động một các hiệu quả nhưng cho đến nay tình trạng an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn đang ở mức báo động [34] Bên cạnh những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm thường gặp như nhiễm khuẩn, hoá chất bảo vệ thực vật, những năm gần đây xuất hiện tình trạng ngộ độc thực phẩm do cá nóc Ngộ độc do cá nóc phổ biến không chỉ ở những vùng ven biển mà ngay cả những khu vực nằm sâu trong nội địa như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Ninh, Lâm Đồng, Đăk Lăc [17]

Theo thống kê của Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm, trong 5 năm (1999-2003),

cả nước xảy ra 176 vụ ngộ độc thực phẩm do cá nóc với 737 người mắc và 127 người chết Ngộ độc thực phẩm do cá nóc chiếm 15,1% tổng số vụ; 3,1% tổng số mắc và 42,9% tổng số chết do ngộ độc thực phẩm nói chung Nghiêm trọng hơn, ngộ độc cá nóc có chiều hướng gia tăng và có tỷ lệ tử vong rất cao: năm 2000 xảy ra 27 vụ với

129 người mắc và 29 người chết; năm 2001 có 48 vụ với 211 người mắc và 29 người chết; năm 2002 có 49 vụ với 210 mắc và 29 người chết Đặc biệt có những vụ rất thương tâm như ở Nghệ An (31/01/1999) có 11 người bị ngộ độc thì chết 6; ở Quảng Nam (10/01/2000): 7 người bị ngộ độc thì 3 người chết; ở Quảng Ngãi (28/3/2001): 4 người bị ngộ độc thì 3 người chết [17]

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn chưa có thuốc phòng và thuốc điều trị đặc hiệu cũng như biện pháp quản lý có hiệu quả Nguyên nhân dẫn đến ngộ độc và tử vong do cá nóc là do sự thiếu hiểu biết của người dân về nhận dạng cá nóc và độc tính của cá nóc khi sử dụng thực phẩm từ cá và cá nóc Xuất phát từ thực tiễn trên, Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm đã tiến hành điều tra thực trạng kiến thức thực hành của ngư dân về cá nóc và phòng chống ngộ độc cá nóc, từ đó xây dựng “Mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc” cho ngư dân Sau một năm triển khai thực hiện mô hình này tại

Trang 5

3

huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, chúng tôi tiến hành “Đánh giá hiệu quả mô hình

truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc cho ngư dân huyện HàmTân tỉnh Bình Thuận” nhằm mục tiêu:

1 Đánh giá thay đổi kiến thức và thực hành của ngư dân về cá nóc sau một năm thực hiện mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận

2 Đánh giá hiệu quả của mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận

Trên cơ sở những kết quả thu được, đề xuất những khuyến nghị về công tác truyền thông - giáo dục an toàn vệ sinh thực phẩm cho người dân khi sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ cá và cá nóc để giảm thiểu tỉ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc

Trang 6

1.1.1 Tầm quan trọng của an toàn vệ sinh thực phẩm

1.1.1.1 Thực phẩm với sức khỏe con người

Thực phẩm là tất cả mọi đồ ăn, thức uống mà con người sử dụng hàng ngày [23]

Thực phẩm cung cấp năng lượng cho cơ thể dưới dạng gluxit, lipit và protein Thực phẩm còn cung cấp các axit amin, axit béo, vitamin và các chất cần thiết cho cơ thể phát triển và duy trì các hoạt động của tế bào và tổ chức Vì vậy, ăn uống là nhu cầu cấp thiết hàng ngày của mỗi con người Hải Thượng Lãn Ông - một danh y Việt Nam thế kỷ XVIII- cũng rất chú ý đến việc ăn uống của người bệnh Ông viết: “Có thuốc mà không có ăn uống thì cũng đi đến chỗ chết” [32]

Tuy nhiên trong thực phẩm không chỉ có chứa các chất dinh dưỡng mà còn có chất tạo màu, hương vị, chất bảo quản và có thể có các chất độc hại cho cơ thể như hoá chất bảo vệ thực vật (BVTV), hoá chất kích thích tăng trưởng hoặc các vi sinh vật gây bệnh như E coli, Salmonella, Shigella, Staphylococcus, giun, sán…Nhiều thực phẩm

có chứa các độc tố tự nhiên như nấm độc Gyromitra, chất solanin trong khoai tây mọc mầm, cyanogen glucosid có trong sắn, mytilotoxin ở một số loại nhuyễn thể, TTX trong trứng cá nóc hoặc các yếu tố phản dinh dưỡng khác [32], [39]

Thực phẩm không an toàn sẽ gây ngộ độc thực phẩm làm nguy hại đến sức khoẻ và tính mạng người sử dụng Thực tế cho thấy, hàng triệu người đã bị mắc và nhiều người chết do ăn phải các thực phẩm không an toàn [14] Nguy hiểm hơn, các chất độc hại có thể được tích luỹ lại trong cơ thể sau một thời gian dài mới phát bệnh

và gây ảnh hưởng đến chất lượng giống nòi như đẻ non, dị tật

Chính vì vậy, để đảm bảo cho con người sống khoẻ mạnh và để bảo vệ giống nòi thì không chỉ chú ý đến nhu cầu về dinh dưỡng mà còn phải đảm bảo chất lượng ATVSTP Đẩy mạnh công tác ATVSTP đã trở thành khuyến cáo chính của Hội nghị cấp cao về Dinh dưỡng ở Rome năm 1992 [41]

Trang 7

5

1.1.1.2 An toàn vệ sinh thực phẩm với đời sống và kinh tế xã hội

An toàn vệ sinh thực phẩm [ATVSTP] là việc đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, đảm bảo thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân lý học, hoá học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khoẻ người

sử dụng [7]

Đảm bảo chất lượng ATVSTP không những làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tăng cường khả năng lao động mà còn góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và thể hiện nếp sống văn minh của một dân tộc [7]

Thật vậy, đảm bảo chất lượng ATVSTP trước hết là để bảo vệ sức khoẻ con người, giảm tỷ lệ mắc bệnh do đó làm giảm chi phí xã hội và chi phí y tế Theo thống

kê ở Mỹ hàng năm đã xảy ra hàng triệu trường hợp NĐTP, tiêu tốn hàng tỷ đô la Ở Anh, chi phí cho vụ ngộ độc Salmonella năm 1992 ước tính từ 560-800 triệu đô la, trong đó hơn 70% kinh phí đã phải chi cho việc cứu chữa và phục hồi sức khoẻ Ở Việt Nam, chi phí mỗi năm cho NĐTP lên tới 500 tỷ đồng [7], [9] Hơn nữa, đảm bảo nguồn nhân lực lao động khoẻ mạnh là nhu cầu cầu thiết yếu của một nền kinh tế phát triển, trong đó đảm bảo chất lượng ATVSTP đóng một vai trò quan trọng

Chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm còn là chìa khoá tiếp thị sản phẩm Nâng cao chất lượng ATVSTP đã mang lại lợi nhuận và uy tín cho nhiều ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến cũng như dịch vụ du lịch và thương mại Thực phẩm không đảm bảo chất lượng, không an toàn sẽ gây thiệt hại lớn về kinh tế Vụ dịch xảy ra ở Peru năm 1991 đã làm thất thoát 700 triệu USD trong việc xuất khẩu cá

và các sản phẩm từ cá của nước này Vấn đề thịt bò điên ở Anh nhập vào các nước khối Bắc Âu, thực phẩm bị nhiễm dioxin ở Bỉ đã làm cho ngành công nghiệp xuất khẩu thực phẩm lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Riêng vấn đề kiểm tra độc chất dioxin trong thực phẩm để khẳng định độ an toàn của thực phẩm đó cũng đã gây nên những chi phí tốn kém đáng kể, ước tính trên 20 triệu đồng Việt Nam/mẫu xét nghiệm Một chuyên gia hãng bánh kẹo Corona-Lotus ở Bỉ cho biết lợi nhuận của họ

bị giảm 47% sau vụ dioxin này [7]

Trang 8

6

Nhận thức được tầm quan trọng của ATVSTP, nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đã và đang có những nỗ lực trong công tác đảm bảo chất lượng ATVSTP nhưng ngộ độc thực phẩm vẫn liên tiếp xảy ra

Ngộ độc thực phẩm do ăn phải thức ăn nhiễm vi sinh vật: vi khuẩn và độc tố

vi khuẩn (Salmonella, Shigella, E coli, Staphylococcus aureus…), vi rút (Hepatis virút

A, Polio Virút, Rota virút), ký sinh trùng (sán lá gan, sán bò, ấu trùng sán lợn, ấu trùng giun và các loại giun)

Ngộ độc thực phẩm do ăn phải thức ăn bị biến chất, thức ăn ôi thiu (hỏng):

một số loại thực phẩm khi để lâu hoặc bị ôi thiu thường sinh ra một số chất độc như hợp chất ammoniac, hợp chất amin trong thức ăn nhiều đạm hay peroxit trong dầu mỡ

để lâu hoặc rán lại nhiều lần Các chất độc này thường không bị phá huỷ hay giảm khả năng gây độc khi đun sôi

Ngộ độc thực phẩm do ăn phải thực phẩm có chứa chất độc tự nhiên:

- Do thực phẩm thực vật có chứa chất độc: Solanin của khoai tây mọc mầm, glucosid sinh acid cyanhydric ở trong sắn, măng, một số loại đậu đỗ, ngộ độc do ăn nhầm phải nấm độc, lá ngón

- Do thực phẩm độc vật có chứa chất độc như nhuyễn thể trai, ốc thối có mytilotoxin Cá nóc có TTX ở trong buồng trứng và mộ số phủ tạng khác Cóc có chất độc bufogin, bufidin, bufonin có nhiều ở trong gan, trứng, phủ tạng, trong nhựa cóc, các tuyến sau 2 mắt, lưng, bụng

Ngộ độc thực phẩm do ăn phải thực phẩm ô nhiễm các hóa chất:

Trang 9

7

- Do ô nhiễm kim loại nặng: thường gặp do ăn các thức ăn đóng hộp hay ăn thực phẩm được nuôi trồng từ đất nước ô nhiễm kim loại nặng Các kim loại thường gây ô nhiễm như: chì, đồng, asen, thuỷ ngân

- Do ô nhiễm hoá chất BVTV: các thuốc diệt côn trùng, diệt cỏ, thuốc trừ động vật ăn hại, thuốc diệt mối Nguyên nhân thường do ăn phải rau quả có tồn dư thuốc BVTV quá cao

- Do các loại thuốc thú y: thuốc kích thích tăng trưởng, tăng trọng

- Do các loại phụ gia thực phẩm: thuốc bảo quản thực phẩm, các loại phẩm màu độc dùng trong chế biến thực phẩm

ăn uống gây ra Ở Canada có trên 2 triệu người NĐTP trong năm, tức là trong 11 người dân có 1 người mắc [7], [14], [38]

Vấn đề ngộ độc thực phẩm còn trầm trọng hơn ở các nước đang phát triển: hàng năm có khoảng 2,2 triệu người chết do tiêu chảy Theo thống kê ở Manila- thủ đô Philippin thì tiêu chảy là một trong mười nguyên nhân gây bệnh tật chính, với tổng số 19.498 ca năm 1977 và 19.598 ca năm 1988 Ngộ độc thực phẩm gây ra do phẩy khuẩn tả (Vibrio cholerae) được biết từ thiên niên kỷ trước, thường xảy ra ở các cộng đồng nghèo như Ấn Độ, Đông Nam châu Á và châu Phi Đầu năm 1991, bệnh xuất hiện ở Peru, đã lan tới Mỹ La Tinh và Trung Mỹ, tổng số lên tới 506.798 người mắc

do sự lan truyền qua nước và thực phẩm [7], [14]

Trang 10

8

phố Nha Trang và thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra 2 vụ dịch lớn Vụ dịch xảy ra tại Nha Trang có 153 người mắc, trong đó có 35,8% số ca bệnh do dùng nước giải khát và 41,9% dùng các thức ăn tươi sống; vụ dịch thương hàn xảy ra tại thành phố Hồ Chí Minh có 370 người mắc, nguồn lây nhiễm chủ yếu là do người bán bánh mì, hủ tiếu có mang mầm bệnh salmonella typhi Tại tỉnh Thái Bình trong 2 năm 1996-1997 đã có 1.314 bệnh nhân ngộ độc thuốc BVTV phải vào cấp cứu tại 15 bệnh viện, trong số đó

có 31,98% là do nguyên nhân ăn uống Riêng huyện V.T (tỉnh Thái Bình) đã liên tiếp xảy ra 2 vụ NĐTP vào tháng 4 và tháng 5 năm 1998 do ăn nem thính bì lợn nhiễm Salmonella Enteritidis làm gần 300 người bị tiêu chảy, đa số phải đi cấp cứu tại bệnh viện Hai vụ NĐTP liên tiếp xảy ra trong tháng 9 năm 1999 tại hai nhà ăn của hai xí nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai với số người mắc lên tới 423 và 198 người/vụ [7], [46]

Theo thống kê của Cục ATVSTP, từ năm 1999 đến tháng 9 năm 2001, cả nước xảy ra 707 vụ NĐTP với 14.291 người mắc và 177 người tử vong Song đây mới là con số thống kê chưa đầy đủ vì theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO: World Health Organization) (1977), các nước có quy định bắt buộc về báo cáo NĐTP cũng chỉ đạt 1% số mắc thực tế Nếu ước tính theo WHO, tỷ lệ NĐTP ở nước ta sẽ là 1.429.100 người Ở Mỹ, ước tính số người bị NĐTP chiếm 5% dân số/năm Nếu ước tính theo cách này, ở Việt Nam mỗi năm sẽ có 3.850.000 người bị NĐTP, gấp 770 lần so với con số thống kê của Cục ATVSTP [8]

Điều đáng chú ý là tình hình NĐTP do cá nóc xảy ra với chiều hướng gia tăng

và tỷ lệ tử vong cao Năm 1999 cả nước có 12 vụ với 86 người mắc và 15 người chết Năm 2000 có 27 vụ với 129 người mắc và 29 người chết Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2001 đã có 17 người chết Để tăng cường công tác bảo đảm chất lượng ATVSTP phòng chống ngộ độc cá nóc và hạn chế đến mức thấp nhất tử vong do ăn cá nóc gây

ra, Bộ Y tế, Bộ Thuỷ sản đã ban hành Thông tư liên tịch số 15/2001/TTLT/YT-TS ngày 18/7/2001 về việc phối hợp trong phòng chống ngộ độc cá nóc Nội dung phối hợp gồm tuyên truyền, giáo dục về những nguy hiểm do ăn cá nóc gây ra, khuyến cáo người dân không ăn cá nóc, không chế biến để lưu thông các sản phẩm cá nóc trên thị trường, không buôn bán vận chuyển các sản phẩm chế biến từ cá nóc trên thị trường Kiểm tra ngộ độc cá nóc, nghiên cứu về ngộ độc cá nóc [4], [7], [17]

1.1.3 Kiến thức, thực hành về cá nóc và ngộ độc thực phẩm do cá nóc

Trang 11

Ở biển Việt Nam, cá nóc được thấy suốt dọc từ Quảng Ninh đến Kiên Giang nhưng tập trung chủ yếu ở biển miền Trung

b) Phân loại cá nóc [16], [17]

Ở biển Việt Nam có 66 loài cá nóc, thuộc 12 giống và 4 họ

- Họ cá nóc hòm (Ostracointidae) có 2 giống 13 loài

 Giống cá nóc sừng (Lactoria)

 Giống cá nóc hòm (Ostracion)

Họ cá nóc 4 răng (Tetraodontidae) có 7 giống 43 loài

 Giống cá nóc mõm dài (Lagocephalus)

 Giống cá nóc Gai (Chilomycterus)

- Họ cá nóc ba răng (triodontidae) có 1 giống 1 loài

 Cá nóc ba răng (Triodon Bursarius Reinwardt)

c) Hình dạng cá nóc [16], [17], [19], [20]

Cá nóc là một loài cá xương cứng, thân thường ngắn và chắc, da cứng và ráp, vẩy kém phát triển Đặc biệt là chúng không có vây bụng, chỉ có vây lưng ở gần đuôi nằm đối xứng hoặc gần như đối xứng với vây hậu môn Đầu và mắt thường to, mõm

tù, tròn Răng gắn với nhau thành tấm, chắc và sắc

Trang 12

- Họ cá nóc nhím (Diodontidea)

Vẩy thường biến thành gai dài 1-20cm, nhọn và sắc như lông nhím Khi bị kích thích hoặc phản ứng tự vệ, cá phình to bụng như quả cầu gai

Trang 13

11

- Họ cá nóc ba răng (Triodontidae)

Chỉ có một loài (Triodon bursarius), rất hiếm, ít khi gặp

Thân tương đối thô, hình bầu dục, mõm nhọn, ngắn, có 3 răng chắc và sắc Các vây có hình quạt giấy, mắt tròn to, cuống đuôi ngắn Lưng mầu nâu nhạt Bụng mầu trắng xám và có thể phình to khi bị kích thích hoặc tự vệ Kích thước: 35cm Sống ở vùng có rạn san hô hoặc rạn đá

d) Độc tố cá nóc (Tetrodotoxin) [15], [17], [47].[48]

- Công thức hoá học: C11H17O8N3

- Tính chất của độc tố:

Trang 14

12

Tetrodotoxin (TTX) là độc tố thần kinh, tan trong nước và bền với nhiệt Độc tố này chỉ bị phá huỷ hoàn toàn ở 2000C trong vòng 10 phút hoặc trong môi trường axit chlohydric 0,2%- 0,5% trong 8 giờ Nếu đun sôi ở 1000 trong 6 giờ chỉ giảm được một nửa độc tính Do vậy bằng các cách chế biến thông thường đều không làm mất đi tính độc của nó Vì tính tan trong nước nên TTX rất dễ ngấm vào thịt cá trong khi giết mổ

- Sức tác động của độc tố:

Độc lực của độc tố cá nóc được xác định bằng đơn vị chuột (Mouse Unit -

MU): Một đơn vị chuột (MU) là lượng độc tố làm chết một con chuột nặng 20g trong vòng 30 phút

Sức tác động của độc tố: là lượng độc tố của 1 gam nội tạng có bao nhiêu đơn

vị chuột (MU/g) Lấy đơn vị này làm chuẩn, người ta có thể đo lường được sức tác

động của độc tố ở mức độ nào Ví dụ: lượng độc tố được chiết ra từ 10 gam nội tạng cá nóc làm chết 10.000 con chuột nặng 20g, thì toàn bộ lượng độc tố trong 10 gam nội tạng đó là 10.000 MU và sức tác động của độc tố được xác định như sau:

10.000 MU

= 1.000 MU/g 10g

Lượng độc tố tối thiểu làm chết một người lớn là 10.000 MU

Theo TS Tanikewa, độc tính của cá nóc được chia ra 4 cấp độ:

Độ 0 (không có độc): với trên 1000g nội tạng mà lượng độc tố chưa đến 10 MU

thì không gây chết người – liều không gây hại;

Độ I (Độc tố yếu): từ 100g đến 1000g nội tạng mà lượng độc tố trên 10 MU và

chưa đến 100 MU thì sẽ gây chết người;

Độ II (Độc tố mạnh): từ 10g đến 100g nội tạng mà lượng độc tố có trên 100

MU và chưa đến 1.000 MU thì sẽ gây chết người;

Độ III (Độc tố chết người): với dưới 10g nội tạng mà lượng độc tố trên 1.000

MU thì sẽ gây chết người

- Cơ chế gây độc của độc tố:

TTX được hấp thụ nhanh qua dạ dày trong vòng 5-15 phút và đạt nồng độ cao nhất trong máu sau 20 phút Độc tố gây chẹn kênh Na+

(giảm nồng độ ion Na+ trong tế bào thần kinh), ngăn cản khử cực dẫn tới ức chế dẫn truyền xung động thần kinh Do

đó, nó gây liệt thần kinh trung ương và ngoại vi, làm yếu cơ, trụy tim mạch Bệnh

Trang 15

Ngộ độc cá nóc không tạo ra khả năng miễn dịch

- Phân bố của độc tố trong cơ thể cá nóc:

Trong cơ thể cá nóc, độc tố thường tồn tại dưới dạng tiền độc tố (Tetrodomin), không độc Khi cá bị va đập do đánh bắt, vận chuyển, hoặc cá bị ươn thì Tetrodomin chuyển thành Tetrodotoxin, gây độc Tuỳ từng loài cá nóc mà ta có thể thấy độc tố phân bố ở các bộ phận khác nhau

+Vây cá và môi cá: Độc tố ở vây có rất ít Tuy nhiên vây và môi ở các loài cá

có độc ở da thì cũng có độc Chỉ có vây của cá nóc hổ và cá nóc mắt đốm là an toàn

+ Da và các cơ quan dưới da: Độc tính của da và các cơ quan dưới da thường giống nhau Những loài da đen thông thường như cá nóc hổ, cá nóc mắt đốm được coi

là không có độc còn các loại cá da mầu nâu đỏ hoặc xanh lục thường có độc và không nên ăn

+ Bộ phận sinh dục: Tinh hoàn thường không có độc, ngoại trừ tinh hoàn của cá nóc cỏ, cá nóc thường, cá nóc báo đen Còn buồng trứng là bộ phận nội tạng nguy hiểm nhất, thường có độc tố cực mạnh gây chết người, ngoại trừ buồng trứng của các loài cá nóc vùng biển nội địa Nhật Bản như cá nóc thu trắng, cá nóc thu đen, cá nóc thu da chùng và cá nóc lưng nhẵn Buồng trứng cá nóc hổ có lượng độc tố cao nhất, có thể làm chết 12 người

+ Gan cá: Giống như buồng trứng, gan là nơi có sức tác động của độc tố mạnh nhất Theo kết quả nghiên cứu của TS Tanikewa (1945), hàm lượng độc tố ở gan cá nóc tím lên tới 325.000 MU và với hàm lượng độc tố gây chết người là 10.000 MU thì một buồng gan của một con cá nóc tím có thể làm chết 32 người, còn một buồng gan

cá nóc hổ có thể làm chết 10 người

+ Dạ dày và ruột: Độc tính ở dạ dày và ruột của cá nóc hổ, cá nóc mắt đỏ, cá nóc sọc vằn, cá nóc Oblongus có độc tố yếu Ở Cá Nóc Flavidus có độc tố mạnh, và ở

cá nóc cỏ có độc tố chết người

Trang 16

+ Thịt cá: Thịt của đa số các loài cá nóc là không có độc Có 2-3 loài có độc tố thấp nên nếu ăn không nhiều thì cũng không gây ra ngộ độc Tuy nhiên, các loài cá nóc ở biển Nam Trung Quốc như cá nóc lưng gù xanh lục, cá nóc má bạc, cá nóc thu đen có độc tố rất mạnh ở da và thịt

Sức tác động và hàm lượng của độc tố còn có sự thay đổi theo mùa, vùng địa lý

và theo giới

1.1.3.2 Kiến thức chung về chẩn đoán và điều trị ngộ độc cá nóc

a) Triệu chứng ngộ độc [43], [44], [49], [50]

Sau khi ăn phải cá nóc có độc tố từ 10-30 phút, có khi tới 3-4 giờ (có tác giả

cho rằng khoảng thời gian nung bệnh có thể tới 24 giờ) người bệnh có các triệu chứng:

- Cảm giác tê ngứa ở miệng, môi và lưỡi, dị cảm kiến bò ở mặt, chân và tay

- Người mệt mỏi, chóng mặt, choáng váng, cảm giác như nghẹt thắt lồng ngực, chảy nước dãi, buồn nôn và nôn, đau bụng, ỉa chảy, vã mồ hôi

- Rối loạn vận động: nói khó tăng dần, xuất hiện liệt sau 4-24 giờ, đầu tiên là chi dưới, chi trên, sau đó liệt cơ hô hấp Phản xạ gân cơ vẫn còn

- Rối loạn tuần hoàn: giảm huyết áp, loạn nhịp tim

- Rối loạn hệ thống thần kinh trung ương: run giật, cứng hàm, cứng lưỡi, cơn động kinh Bệnh nhân liệt toàn thân, người mềm ra, chân tay mất khả năng vận động, da tím tái

Tỷ lệ tử vong trong vòng 1 đến 24 giờ đầu là 60% Nếu sống qua được 24 giờ thì hy vọng có thể cứu sống được

b) Chẩn đoán [17]

Chẩn đoán xác định dựa vào 3 tiêu chuẩn sau:

 Dịch tễ học: Người bệnh ăn cá nóc trước đó từ 10 phút đến 24 giờ

 Lâm sàng:

- Hội chứng rối loạn cảm giác:

Trang 17

15

 Dị cảm, tê ngứa ở lưỡi, họng, môi, mặt và chi

 Choáng váng, chóng mặt, đau đầu, cảm giác nghẹt thở, đau ngực, vã mồ hôi, mặt đỏ, tiết nước dãi

- Hội chứng rối loạn vận động:

 Nói khó, nuốt khó tăng dần

 Cứng hàm, cứng lưỡi rồi yếu dần

 Run giật, liệt vận động nhãn cầu, cơn động kinh

 Yếu, liệt chi dưới

 Liệt toàn thân, liệt hô hấp

- Hội chứng rối loạn tuần hoàn hô hấp: huyết áp giảm, trụy tim mạch, khó thở

- Hội chứng rối loạn tiêu hoá: đau bụng, buồn nôn và nôn, tiêu chảy

 Xét nghiệm: xác định độc tố Tetrodotoxin

Trang 18

16

Chẩn đoán phân biệt: sốc phản vệ hoặc dị ứng do ăn cá biển:

- Khó thở kiểu hen, mạch tăng, huyết áp giảm

- Rối loạn tiêu hoá

- Dấu hiệu dị ứng: da đỏ, nổi ban và ngứa

c) Cách phòng và xử trí ngộ độc cá nóc [9], [17], [25]

Phòng ngộ độc cá nóc

Hiện nay chưa có thuốc phòng và thuốc điều trị đặc hiệu ngộ độc cá nóc Các loài cá nóc ở biển Việt Nam chưa được nghiên cứu để biết loài nào ăn được, loài nào không ăn được, bộ phận nào độc, bộ phận nào không độc cũng như cách chế biến đảm bảo an toàn Do đó cách tốt nhất là không ăn cá nóc và các sản phẩm chế biến từ cá nóc

Xử trí khi bị ngộ độc cá nóc

- Gây nôn:

Gây nôn khi bệnh nhân còn tỉnh, càng sớm càng tốt, ngay khi có dấu hiệu ngộ độc đầu tiên như tê môi, lưỡi và mặt Có thể cho uống bột Ipeca 1,5-2 gam hoà với nửa cốc nước ấm hoặc tiêm Apomorphin 0,005g dưới da

- Uống than hoạt tính:

 Người lớn: uống 30g pha với 250ml nước

 Trẻ em từ 1-12 tuổi: uống 25g pha với 100-200ml nước

 Trẻ em dưới 1 tuổi: uống 1g/1kg pha với 50ml nước

Chống chỉ định: người bệnh đã hôn mê hay rối loạn ý thức

- Nhanh chóng chuyển đến cơ sở y tế:

 Trong khi vận chuyển, phải để người bệnh nằm nghiêng, đầu thấp

 Đảm bảo hô hấp

 Duy trì huyết áp > 90mHg: truyền dịch Natriclorua 0,9%, Glucose 5%

- Rửa dạ dày:

 Chỉ định: người bệnh đến sớm trước 3 giờ và còn tỉnh táo

 Rửa dạ dày bằng dung dịch kiềm 2% hoặc 1,4%

- Hồi sức chống sốc:

 Đảm bảo huyết động: truyền dịch Natriclorua 0,9%, glucose 5%

 Theo dõi chức năng sống liên tục trong 24 giờ đầu

Trang 19

17

 Đảm bảo thông khí

- Điều trị triệu chứng

1.1.3.3 Kiến thức, thực hành của người dân về cá nóc và ngộ độc cá nóc

Ngộ độc cá nóc như đã nêu là vấn đề y tế của các nước có ăn cá nóc đặc biệt là

ở Việt Nam Nhận thức được tính cấp bách của vấn đề và hưởng ứng Thông tư liên tịch số 15/2001/TTLT/YT-TS ngày 18/7/2001 về việc phối hợp trong phòng chống ngộ độc cá nóc nên đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu về ngộ độc cá nóc như:

Phùng Xuân Tý, Bùi Công Nghiêm, Trần Văn Chí và cộng sự (2001) nghiên cứu nhận thức, thái độ, thực hành về cá Nóc của người dân vùng biển Quảng Trị Kết quả nghiên cứu hồi cứu cho thấy: tại 12 xã ven biển của 4 huyện từ năm 1997 đến 8/2001 xảy ra 11 vụ ngộ độc cá nóc với số mắc 52 và số tử vong là 10 Kết quả điều tra cắt ngang 1239 hộ gia đình cho thấy: tỷ lệ hộ biết nhận dạng cá nóc là 99,91%, biết

ăn cá nóc có thể ngộ độc là 86,06%, biết bộ phận gây ngộ độc 86,06%, tỷ lệ hộ ăn cá nóc 71,02% [28]

Phan Thị Thuỷ và cộng sự (2002) nghiên cứu tình hình ngộ độc cá nóc tại Quảng Bình trong 2 năm 2000-2001 và giải pháp phòng chống cho thấy: trong 2 năm, toàn tỉnh đã có 51 trường hợp ngộ độc cá nóc và 6 trường hợp tử vong do cá nóc Các tác giả cũng phân tích các trường hợp ngộ độc và tử vong do cá nóc về địa điểm và thời gian xảy ra ngộ độc cũng như tử vong [29]

Trung tâm Y tế Dự phòng Hải Phòng (2002) điều tra các yếu tố liên quan đến việc sử dụng và ngộ độc cá Nóc cho thấy: tỷ lệ hộ ngộ ăn cá nóc là 70,7%; tỷ lệ hộ có người bị ngộ độc cá nóc là 2,5%; tỷ lệ hộ biết cá nóc là cá độc là 99,1%, biết bộ phận độc là buồng trứng (78,1%), gan (96,2%), nhận biết được cá nóc (89,7%), … [26]

Tóm lại, những nghiên cứu về ngộ độc cá nóc ở Việt Nam còn rất ít trong khi tình hình ngộ độc và tử vong do cá nóc ngày càng gia tăng Xuất phát từ tình hình thực

tế đó, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu này nhằm góp phần nâng cao nhận thức

và thực hành của ngư dân về cá nóc để giảm bớt tỷ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc ở Việt Nam

1.2 HOẠT ĐỘNG PHÕNG CHỐNG NGỘ ĐỘC THỰC PHẨM VÀ NGỘ ĐỘC

CÁ NÓC

Trang 20

18

1.2.1 Pháp lệnh an toàn vệ sinh thực phẩm [5], [34]

Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của con người, duy trì và phát triển nòi giống; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm; Thừa lệnh Chủ tịch nước số 20/2003-CTN ngày 7 tháng 8 năm 2003 về việc công bố Pháp lệnh an toàn vệ sinh thực phẩm; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 12/2003/Pl-UBTVQH11 ngày 7 tháng 8 năm 2003 về an toàn vệ sinh thực phẩm Pháp lệnh này quy định việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh thực phẩm; phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và bệnh truyền qua thực phẩm Ngoài ra, Pháp lệnh còn quy định về:

- Quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm

- Kiểm tra, thanh tra về an toàn vệ sinh thực phẩm

- Khen thưởng và xử lý vi phạm quy định của Pháp lệnh và các quy định khác

về an toàn vệ sinh thực phẩm

Nội dung quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm bao gồm:

- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch về

- Quản lý hệ thống kiểm nghiệm, thử nghiệm về an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Quản lý việc công bố tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, chứng nhận đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về

an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Hợp tác quốc tế về an toàn vệ sinh thực phẩm;

- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật

về an toàn vệ sinh thực phẩm

Trang 21

Mã, Giảng Võ của Hà Nội…

a) Mô hình chợ an toàn vệ sinh thực phẩm:

- Thiết kế cơ sở hạ tầng chợ đảm bảo vệ sinh môi trường và ATVSTP

- Quản lý, sắp xếp ngành hàng trong chợ tránh lây nhiễm chéo

- Quản lý vệ sinh cá nhân người bán hàng thực phẩm:

+ Tập huấn ATVSTP

+ Phát thanh tuyên truyền vệ sinh phòng chống dịch mùa hè của Ban Quản lý chợ 2 lần/1 tuần

+ Khám sức khoẻ định kỳ cho người bán hàng

- Quản lý vệ sinh nguồn hàng thực phẩm

+ Có sổ đăng ký danh mục và nguồn gốc nhập hàng thực phẩm của chủ hộ kinh doanh

+ Thực hiện ghi sổ đăng ký danh mục và nguồn gốc nhận hàng thực phẩm + Thực hiện kinh doanh phụ gia thực phẩm trong danh mục cho phép của Bộ Y

tế

+ Kiểm tra thú y hàng ngày đối với thực phẩm tươi sống

- Hoạt động của ban quản lý chợ:

+ Phát quy chế của ban quản lý chợ tới các hộ kinh doanh

+ Thành lập tổ kiểm soát chất lượng ATVSTP

+ Kiểm tra việc thực hiện quy chế của các hộ kinh doanh 1lần/1 tuần

b) Mô hình bảo đảm an toàn vệ sinh thức ăn đường phố

- Xây dựng tiêu chí đảm bảo an toàn vệ sinh thức ăn đường phố

- Thành lập Ban chỉ đạo ATVSTP phường

- Tập huấn nội dung quy trình triển khai, các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm

- Tập huấn cho chủ cơ sở và người chế biến, kinh doanh dịch vụ thức ăn đường phố

Trang 22

20

- Tuyên truyền phổ biến kiến thức ATVSTP, các quy định về ATVSTP cho toàn phường qua hệ thống loa đài

- Ký cam kết giữa chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ với UBND phường

- Tổ chức kiểm tra, đánh giá

Cục ATVSTP cũng đã xây dựng mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc tại huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận Chúng tôi tiến hành đánh giá để trên cơ sở những kết quả thu được đề xuất những khuyến nghị về công tác truyền thông- giáo dục ATVSTP cho người dân khi sử dụng thực phẩm có nguồn gốc từ cá và cá nóc nhằm giảm thiểu tỷ lệ ngộ độc và tử vong do cá nóc

1.2.2.2 Các kỹ thuật đánh giá mô hình [13]

Theo Green và Kreuter (1991), đánh giá được chia làm 3 loại sau:

- Đánh giá quá trình

- Đánh giá tác động

- Đánh giá hiệu quả

Trang 23

21

- Đánh giá quá trình trong truyền thông là đánh giá xem nội dung truyền thông, cách thức truyền thông, thời gian và vật liệu có phù hợp với đối tượng của chương trình không Nội dung của truyền thông phải ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đủ các thông tin cần truyền tải, ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu Cách thức truyền thông, thời gian và vật liệu cũng phải đảm bảo cho sự tiếp cận thông tin của đối tượng đạt hiệu quả cao nhất

- Đánh giá tác động là để xem xét những thay đổi trong kiến thức, thái độ, niềm tin và thực hành của đối tượng Loại đánh giá này sẽ cho biết những kết quả can thiệp hoặc là những mục tiêu vạch ra đã đạt được đến đâu? Thêm vào đó, đánh giá tác động giúp cho nhà đánh giá xác định tính phù hợp của những mục tiêu giáo dục và mức độ thành công hay thất bại của chương trình Thông thường người ta kết hợp cùng lúc cả hai

Chương trình Nội dung?

Phương pháp?

Phân bố thời gian?

Vật liệu?

Hà nh vi Kiến thức đạt được?

Thay đổi thái độ?

Thay đổi thói quen?

trình

Trang 24

22

đánh giá đó là đánh giá tác động và đánh giá quá trình để vạch ra những vùng cần cải thiện

- Đánh giá hiệu quả là xem xét sự cải thiện về tình trạng sức khoẻ của cộng động: Tỉ lệ

tử vong? Tỉ lệ mắc bệnh? Chất lượng cuộc sống? Nói cách khác, đánh giá hiệu quả là xem xét chương trình có thành công hay không Mục đích của các chương trình y tế là cải thiện sức khoẻ cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống cho nên nếu chương trình chỉ dừng lại ở việc thay đổi về kiến thức và hành vi nhưng không cải thiện được tình trạng sức khoẻ thì vẫn chưa đạt được đích của chương trình

Trang 25

23

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng:

- Chủ hộ ngư dân và hộ ngư dân

- Sổ sách báo cáo về tình hình kinh tế xã hội tại UBND xã

- Sổ sách báo cáo thống kê về tình hình dịch bệnh của trạm y tế xã

2.1.2 Địa điểm :

Hình 2.1: Bản đồ huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận

(Tỷ lệ 1: 325 000) Huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận có 11 xã với dân số là 147.813 người và tổng diện tích tự nhiên là 986,42 km2 Nghiên cứu này của chúng tôi chỉ tiến hành tại 3 xã/thị trấn ven biển: Lagi, Tân Bình và Tân Hải

Trang 26

24

Thị trấn Lagi, xã Tân Bình và Tân Hải có diện tích là 139,28km2 với số dân là

68665 người, trong đó có 23.788 ngư dân, chiếm khoảng 37,08% tổng dân số Ngành nghề ở đây rất đa dạng: khai thác và chế biến hải sản, trồng trọt, các nghề công nghiệp

và tiểu thủ công nghiệp như đóng sửa tàu thuyền, đan lưới, cung ứng nguyên liệu… Tuy nhiên, ngành nghề chủ yếu vẫn là khai thác và chế biến hải sản Tổng sản lượng

cá đánh bắt được hàng năm khoảng 7.000 tấn/năm trong đó cá Nóc là 562 tấn/năm, chiếm tỷ lệ 8,03% Tỷ lệ cá Nóc so với tổng sản lượng cá ở nơi đây là cao nhất trong

cả nước vì nơi đây là vùng biển miền Trung, có mật độ cá nóc tập trung đông Hơn thế nữa, 3 xã/thị trấn này cũng là nơi có số trường hợp ngộ độc và tử vong do cá nóc cao nhất trong toàn huyện và so với các xã trong cả nước.Vì vậy, mà chúng tôi chọn 3 xã/thị trấn ven biển của Bình Thuận là nơi thực hiện nghiên cứu

2.1.3 Thời gian:

Thời gian thực hiện toàn bộ đề tài từ tháng 8/2003 đến tháng 6/2005:

- Từ tháng 8/2003 đến tháng 10/2003: điều tra cắt ngang ban đầu

- Từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2004: thực hiện can thiệp

- Từ tháng 10/2004 đến tháng 12/2004: điều tra cắt ngang sau can thiệp

- Từ tháng 01/2005 đến tháng 6/2005: Xử lý số liệu, viết phân tích và đánh giá

Phần điều tra trước can thiệp và xây dựng mô hình truyền thông do Cục An toàn Vệ sinh thực phẩm thực hiện Chúng tôi tiến hành điều tra sau can thiệp, xử lý số liệu, viết phân tích và đánh giá

Trang 27

25

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu [8], [31]:

Là nghiên cứu đánh giá hiệu quả can thiệp (so sánh trước- sau), do đó chủ yếu

sử dụng phương pháp điều tra cắt ngang kết hợp với phân tích số liệu:

Điều tra, đánh giá

trước can thiệp

Can thiệp

Mô hình truyền thông

Điều tra, đánh giá sau can thiệp

Đánh giá hiệu quả

mô hình

Hình 2.2: Sơ đồ thiết kế mô hình nghiên cứu 2.2.2 Kỹ thuật đánh giá [13]

Đánh giá tác động: so sánh sự thay đổi các chỉ số về kiến thức và thực hành của

ngư dân tại 2 thời điểm trước can thiệp mô hình truyền thông (tháng 10/2003) và sau can thiệp (tháng 10/2004)

Cách đánh giá và xếp loại kiến thức

+ Kiến thức đạt loại trung bình phải trả lời đúng các câu hỏi 2, 3 và ý 1, ý 2 và

ý 3 của câu 1: người trả lời phải biết nhận dạng 3 loại cá nóc thường gặp, biết cá nóc độc và hiểu đúng về cá nóc (chỉ có một số loài ăn được)

+ Kiến thức đạt loại khá phải trả lời đúng các câu hỏi 1, 2, 3, 4 và 5: ngoài những yêu cầu của mức đạt người trả lời còn phải biết bộ phận độc của cá nóc và biết các cách chế biết thông thường không làm mất được độc tính của cá nóc

+ Kiến thức đạt loại giỏi phải trả lời đúng các câu hỏi từ 1 đến 7: ngoài yêu cầu của mức khá người trả lời còn phải biết dấu hiệu ngộ độc cá nóc và biết cách xử trí đối với người bị ngộ độc

Trang 28

26

Cách đánh giá và xếp loại thực hành

+ Thực hành đạt: có câu trả lời là 11.1 và 18.2, tức là không sử dụng cá nóc

và không bị ngộ độc cá nóc (ăn nhầm phải cá nóc)

+ Thực hành không đạt: phạm phải 1 trong 2 điều trên đều không đạt

Cách cho điểm (xem phần phụ lục 2)

Đánh giá hiệu quả: So sánh tỷ lệ hộ ngư dân có người bị ngộ độc do ăn cá nóc ở 2

thời điểm trước và sau can thiệp mô hình bằng tính chỉ số hiệu quả (CSHQ)

CSHQ(%) =

Tỷ lệ % trước can thiệp – Tỷ lệ % sau can thiệp

Tỷ lệ % trước can thiệp

100

Trang 29

27

2.2.3 Nội dung, các chỉ số nghiên cứu trong điều tra cắt ngang

Được thực hiện ở giai đoạn trước can thiệp và đánh giá hiệu quả mô hình sau can thiệp

hiện ở giai đoạn

trước can thiệp)

- Đặc điểm địa lý

- Đặc điểm dân số: tổng số hộ, tổng số dân, phân bố dân cư

- Trình độ học vấn

- Phân bố ngành nghề, thu nhập…

- Thâm niên nghề

- Tổng sản lượng khai thác cá nóc mỗi năm

- Sử dụng số liệu

có sẵn

- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo ở các xã nghiên cứu

+ Đặc điểm nhận dạng cá nóc + Tính độc của cá nóc

+ Loài cá nóc ăn được

+ Bộ phận độc của cá nóc

+ Cách làm mất tính độc của cá nóc + Dấu hiệu ngộ độc cá nóc

+ Cách xử trí khi bị ngộ độc cá nóc

+ Biện pháp kiểm soát ngộ độc cá nóc

- Tỷ lệ hộ ngư dân thực hành phòng chống ngộ độc do cá nóc tốt:

+ Tình hình đánh bắt cá nóc

+ Tình hình và cách thức sử dụng cá nóc

+ Lý do sử dụng cá nóc

- Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ ngư dân

Trang 30

28

+ Cách chế biến cá nóc + Dấu hiệu khi bị ngộ độc do cá nóc

- Hồi cứu số liệu sẵn có

2.2.4 Mục tiêu, các hoạt động và nội dung của mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc cho các ngư dân ở địa phương nghiên cứu

a) Mục tiêu của mô hình:

- Cung cấp cho ngư dân các kiến thức cơ bản về loài cá nóc ở Việt Nam và tính độc của cá nóc, mối nguy hại của cá nóc đối với sức khỏe người ăn cá nóc

- Nâng cao kiến và kỹ năng thực hành về phòng chống ngộ độc cá nóc cho các hộ ngư dân

b) Thời gian thực hiện mô hình: 12 tháng (từ tháng 10/2003 đến tháng 10/2004) c) Các hoạt động của mô hình:

 Hoạt động tập huấn cho cán bộ xã, thôn, cán bộ y tế, cán bộ trong ban điều hành của xã

Nội dung tập huấn bao gồm: kiến thức cơ bản về cá nóc, độc tính của cá nóc, triệu trứng ngộ độc cá nóc, cấp cứu người bị ngộ độc cá nóc, tình hình ngộ độc cá nóc

và Thông tư liên tịch số 15/2001/TTLT/YT-TS ngày 18/7/2001 về việc phối hợp trong phòng chống ngộ độc cá nóc

 Hoạt động truyền thông về cá nóc và phòng chống ngộ độc do cá nóc

- Các hình thức truyền thông:

 Tổ chức thi tìm hiểu về cá nóc và ngộ độc cá nóc: Cuộc thi được triển khai trong học sinh khối lớp 5 của tất cả các trường tiểu học trong toàn huyện Hàm Tân (34 trường) Kết quả có 3850 bài dự thi gửi về Ban Tổ chức cuộc thi Cuộc thi cũng đã thu

Trang 31

 Nói chuyện cụm dân cư: 22 buổi

 Loa phát thanh: mỗi tuần 3 lần, thời lượng phát thanh là15 phút

 Đài phát thanh truyền hình huyện: đã phát 30 buổi, nội dung về phòng chống ngộ độc cá nóc, thời lượng 5 phút/ buổi

- Nội dung tuyên truyền và truyền thông:

2.2.5 Mẫu nghiên cứu [31]:

Mẫu nghiên cứu là mẫu dùng chung cho cả giai đoạn điều tra đánh giá thực trạng (trước can thiệp) và giai đoạn đánh giá hiệu quả sau 12 tháng thực hiện mô hình truyền thông phòng chống ngộ độc cá nóc (sau can thiệp)

Trang 32

30

Chọn xã nghiên cứu: 3 xã/thị trấn Lagi, Tân Bình, Tân Hải được chọn vào nghiên cứu dựa trên 2 tiêu chí: nơi có sản lượng đánh bắt cá nóc cao nhất và có số vụ ngộ độc cá nóc xảy ra nhiều nhất trong 3 năm gần nhất

Chọn đối tượng nghiên cứu: đối tượng được chọn vào nghiên cứu là hộ ngư dân

vì họ là người trực tiếp ăn cá nóc và là người đưa cá nóc và sản phẩm của cá nóc ra thị trường Tất cả các hộ ngư dân của 3 xã/thị trấn nghiên cứu đều được chọn vào nghiên cứu (chọn mẫu có chủ đích) [8]

Đây là một đề tài khoa học cấp Bộ do Cục ATVSTP Bộ Y tế phối hợp cùng Sở

Y tế Bình Thuận, Trung tâm Y tế dự phòng Bình Thuận, Trung tâm Y tế Hàm Tân và Phòng Giáo dục đào tạo Hàm Tân tổ chức nghiên cứu

Trang 33

Hộ ngƣ dân Cục ATVSTP

Trang 34

32

- Thực hiện phỏng vấn 3278 hộ gia đình trước và sau 1 năm can thiệp mô hình: cán bộ Cục ATVSTP, học viên, cán bộ Sở Y tế Bình Thuận, cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Thuận và các cán bộ Trung tâm Y tế huyện Hàm Tân thực hiện

- Công cụ phỏng vấn là phiếu điều tra do các cán bộ Cục ATVSTP soạn thảo (xem phần phụ lục 1)

2.2.7 Xử lý số liệu:

Các số liệu thu thập được sau cuộc điều tra được xử lý và phân tích trên phần mềm EPI-INFO 6.04 để tính toán các tỷ lệ Các test thống kê được sử dụng là test 2

và test t Nhận định sự khác biệt giữa các tỷ lệ trước và sau can thiệp bằng giá trị p: p

< 0,05 được coi là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

2.2.8 Các biện pháp khống chế sai số:

- Xin ý kiến các chuyên gia về phiếu điều tra

- Tập huấn cho điều tra viên trước khi điều tra: kỹ năng thu thập thông tin, kiến thức về cá nóc và phòng chống ngộ độc cá nóc

- Kiểm tra, giám sát trong quá trình thu thập số liệu

2.2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

- Mọi thông tin cá nhân đều được giữ bí mật

- Nghiên cứu nhằm mục đích khoa học Tuy nhiên nếu hộ nào vi phạm những điều đã cam kết thì tùy mức độ vi phạm mà cơ quan chức năng sẽ có hình thức nhắc nhở, hoặc xử phạt, biểu dương, khen thưởng những hộ thực hiện tốt

- Nghiên cứu mang lại lợi ích cho các hộ ngư dân như họ được cung cấp thông tin về cá nóc và phòng chống ngộ độc cá nóc, được hướng dẫn sơ cấp cứu người bị ngộ độc cá nóc giúp cho người dân bảo vệ sức khỏe của chính họ

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 KẾT QUẢ THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA NGƯ DÂN VỀ

CÁ NÓC SAU 1 NĂM THỰC HIỆN MÔ HÌNH CAN THIỆP

3.1.1 Một số đặc điểm của chủ hộ ngư dân 3 xã nghiên cứu của huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận

Trang 35

33

34.41%

D-íi 30 tuæi 9.27%

- Lứa tuổi dưới 30 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 9,27%

- Lứa tuổi từ 31 đến 50 tuổi chiếm đa số (67,12%)

- Lứa tuổi trên 50 tuổi cũng chiếm tỉ lệ thấp hơn so với lứa tuổi từ 31- 40 tuổi (34,41%) và từ 41 – 50 tuổi (32,71%), chỉ chiếm 23,61%

Trang 36

34

CÊp II

32.37%

CÊp I 56.07%

CÊp III 11.01%

Trªn cÊp III 0.55%

Hình 3.2: Trình độ học vấn của các chủ hộ ngư dân Nhận xét:

Trình độ học vấn của các chủ hộ ngư dân ở 3 xã nghiên cứu tại Hàm Tân tỉnh Bình Thuận nhìn chung là tương đối thấp:

- Phần lớn chủ hộ ngư dân có trình độ cấp I (tiểu học) và thấp hơn (bổ túc văn hoá) (50,07%)

- Tỷ lệ chủ hộ ngư dân có trình độ cấp II (trung học cơ sở) chỉ chiếm 32,37%

- Tỷ lệ chủ hộ ngư dân có trình độ cấp III (trung học phổ thông) và trên cấp III

là rất thấp, chỉ chiếm 11,01% và 0,55%

Trang 37

35

11 - 20 n¨m 32.52%

≤10 n¨m 6.83%

21-30 n¨m 36.73%

≥ 30 n¨m 23.92%

Hình 3.3: Thâm niên nghề của các chủ hộ ngư dân Nhận xét:

- Số chủ hộ ngư dân có thâm niên nghề (số năm gắn bó với nghề biển) dưới 10 năm là rất ít, chỉ chiếm 6,83%

- Số chủ hộ ngư dân có thâm niên nghề từ 11 đến 30 năm chiếm đa số (69,22%)

- Tỷ lệ chủ hộ ngư dân có thâm niên nghề trên 30 năm là 23,92%, ít hơn tỷ lệ chủ hộ ngư dân có thâm niên nghề từ 11-20 năm (32,52%) và tỷ lệ chủ hộ ngư dân có thâm niên nghề từ 21-30 năm (36,73%)

3.1.2 Thay đổi về kiến thức của chủ hộ ngư dân 3 xã/thị trấn Lagi, Tân Bình và Tân Hải trước và sau can thiệp mô hình truyền thông

Bảng 3.1: Khả năng nhận biết cá nóc của các chủ hộ ngư dân trước và sau can thiệp

Khả năng nhận biết cá nóc Trước can thiệp Sau can thiệp

Số chủ hộ Tỷ lệ % Số chủ hộ Tỷ lệ %

Trang 38

4 lo¹i 3 lo¹i 2 lo¹i 1 lo¹i Kh«ng biÕt

Hình 3.4: Tỷ lệ chủ hộ ngư dân nhận biết được cá nóc

trước và sau can thiệp

Trang 39

- Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trước và sau can thiệp (p < 0,001)

Bảng 3.2: Kiến thức của chủ hộ ngư dân về tính độc của cá nóc trước và sau can thiệp

Trang 40

72.754.36

81.3674.31100

23.182.07

68.8287.98

2.65 00

Hình 3.5: Tỷ lệ chủ hộ biết bộ phận độc của cá nóc trước và sau can thiệp

Nhận xét:

Ngày đăng: 15/11/2017, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w