1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng ngành chè theo hướng an toàn tăng sức cạnh tranh trên thị trường

24 284 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng ngành chè theo hướng an toàn tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Tác giả Lê Thị Hồng Hạnh
Người hướng dẫn T.S. Trương Đức Lực
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 225 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau hơn hai mươi năm đổi mới ngành công nghiệp của nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Điều đó thể hiện ở tỷ trọng các ngành công nghiệp trong GDP của nền kinh tế quốc dân ngày càng tăng , đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao . Mục tiêu đặt ra của chúng ta là đến năm 2020 nước ta trở thành một nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. Trên cơ sở mục tiêu chung ấy và phân tích bối cảnh , điều kiện phát triển công nghiệp, những điểm mạnh, điểm yếu cơ hội và thách thức với triển công nghiệp Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ chiến lược phát triển công nghiệp như sau : “Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, như chế biến nông, lâm, thủy sản , may mặc giầy da điên tử -tin học,một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng … ”.Cây chè là một trong những loại cây phù hợp với điều kiện tự nhiên của nước ta. Các sản phẩm từ chè cũng có giá trị cao. Chủ chương phát triển ngành chè là một trong những chiến lược nhằm phát huy lợi thế của chúng ta . Tuy nhiên ngành chè hiện nay đã xuất khẩu sang khá nhiều nước trên thế giới nhưng thương hiệu chè Việt vẫn còn ít người biết đến do lượng xuất khẩu chưa nhiều đặc biệt là chất lượng sản phẩm chưa cao...Tôi nghiên cứu đề tài : “Xây dựng ngành chè theo hướng an toàn tăng sức cạnh tranh trên thị trường”nhằm hiểu sâu hơn về ngành chè một ngành công nghiệp chế biến đang phát triển ở nước ta và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển một thương hiệu chè Việt an toàn đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu . Để thực hiện thành công nghiên cứu đề tài này đã có một phần rất lớn sự hướng dẫn của T.S Trương Đức Lực và rất nhiều bài báo ,tài liệu viết về ngành chè

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn hai mươi năm đổi mới ngành công nghiệp của nước ta đã đạt được

nhiều thành tựu đáng kể Điều đó thể hiện ở tỷ trọng các ngành công nghiệp trongGDP của nền kinh tế quốc dân ngày càng tăng , đời sống nhân dân ngày càng đượcnâng cao Mục tiêu đặt ra của chúng ta là đến năm 2020 nước ta trở thành mộtnước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại Trên cơ sở mục tiêu chung ấy vàphân tích bối cảnh , điều kiện phát triển công nghiệp, những điểm mạnh, điểm yếu

cơ hội và thách thức với triển công nghiệp Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõchiến lược phát triển công nghiệp như sau : “Phát triển nhanh các ngành côngnghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước vàđẩy mạnh xuất khẩu, như chế biến nông, lâm, thủy sản , may mặc giầy da điên tử -tin học,một số sản phẩm cơ khí và hàng tiêu dùng … ”.Cây chè là một trong nhữngloại cây phù hợp với điều kiện tự nhiên của nước ta Các sản phẩm từ chè cũng cógiá trị cao Chủ chương phát triển ngành chè là một trong những chiến lược nhằmphát huy lợi thế của chúng ta Tuy nhiên ngành chè hiện nay đã xuất khẩu sang khánhiều nước trên thế giới nhưng thương hiệu chè Việt vẫn còn ít người biết đến dolượng xuất khẩu chưa nhiều đặc biệt là chất lượng sản phẩm chưa cao Tôi nghiên

cứu đề tài : “Xây dựng ngành chè theo hướng an toàn tăng sức cạnh tranh trên thị trường”nhằm hiểu sâu hơn về ngành chè một ngành công nghiệp chế biến

đang phát triển ở nước ta và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển một thươnghiệu chè Việt an toàn đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn nhằm tăng kim ngạch xuấtkhẩu Để thực hiện thành công nghiên cứu đề tài này đã có một phần rất lớn sựhướng dẫn của T.S Trương Đức Lực và rất nhiều bài báo ,tài liệu viết về ngànhchè Tôi xin chân thành cảm ơn thầy Trương Đức Lực đã giúp tôi thực hiện thànhcông đề án này Mặc dù đã rất cố gắng nhưng tôi cũng không thể tránh được nhữngthiếu sót,tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để cho đề tàicủa tôi ngày càng một hoàn thiện

Trang 2

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA NGÀNH CHÈ

1.1Tiềm năng của cây chè

Hiếm có nơi nào trên thế giới lại được thiên nhiên ưu đãi , đất đai phù hợpcho sự phát triển của cây chè như ở Việt Nam Hầu như khắp nơi trên đất nướcViêt Nam đều trồng được chè đặc biệt là ở các vùng trung du miền núi phía Bắc Chúng ta có thể đi cách Hà nội 20-40 km về phía Bắc là gặp những đồi chè lớn như

ở Thái Nguyên , Phú Thọ xa hơn nữa là Hà giang , Lào Cai , với những giống chènổi tiếng không những trong nước mà còn được bạn bè trên thế giới biết đến nhưchè Shan tuyết , chè lài ,chè Ô long …

Về phân bố địa lý hành chính ,36/64 tỉnh thành trong cả nước có chè, từ Trung

du miền núi phía Bắc, Đồng Bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ đến duyên hải miền Trung

4 tỉnh Tây nguyên và ba đô thị lớn nhất là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ ChíMinh Có những nơi như Đài Loan , phải cậy từng phiến đá , mua hoặc vận chuyểnđất từ nơi khác đến Nhưng ở nước ta chất lượng đất khá màu mỡ, đặc biệt là loạiđất Bazan tập trung ở các vùng núi là một trong những điều kiện quan trọng và cầnthiết nhất để phát triển cây chè Khí hậu cũng là một thuận lợi ở nước ta với nhữngtrận mưa phùn nhỏ tạo điều kiện cho cây chè ra búp nhiều

Việt Nam có đủ các loại chè nguyên sản, núi cao trên mực nước biển >1000m

có hương thơm tự nhiên, những cây chè cổ thụ hầu như còn nguyên vẹn tại một sốvùng miền núi phía Bắc Có những giống chè địa phương trồng ngay trong vườnriêng của gia đình và có cách pha chế hết sức đặc biệt

Ngoài ra Việt Nam cũng lai tạo và nhập thêm một số giống chè có chất lượngcao từ Ấn Độ, Trung Quốc ,Silanca, Đài Loan , Nhật Bản , Inđonêsia ,với quĩ genehơn 100 bộ giống

Với tiềm năng sẵn có như vậy việc phát triển ngành chè ở nước ta có nhiều thuận lợi

1.2 Phát triển ngành chè theo hướng an toàn để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

1.2.1 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh mặt hàng chè của Việt Nam

Trang 3

Đại hội Đại biểu lần thứ VIII đã đề ra phương hướng : “Phát triển mạnh các loạicây công nghiệp có hiệu quả kinh tế cao ; hình thành những vùng sản xuất tậptrung gắn với công nghiệp chế biến tại chỗ Trồng cây công nghiệp kết hợp vớichương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc theo hình thức nông lâm kết hợp ,coitrọng các biện pháp thâm canh tăng năng suất ; áp dụng công nghệ sinh học …Chính vì vậy , với ưu thế khí hậu, nguồn tài nguyên đất đai, lao động và sự ưachuộng của thị trưòng thế giới , sản xuất chè đã trở thành tập quán canh tác củanông dân Việt Nam, và ngày càng khẳng định trong nền kinh tế quốc dân đặc biệt

là trong xuất khẩu

Mặc dù có nhiều ưu thế và đạt được những thành quả cao, nhưng thực tiễn hoạtđộng sản xuất và xuất khẩu chè của nước ta nhiều năm qua cho thấy quy mô chưalớn , vẫn mang tính chất của nền sản xuất nhỏ , thị trường xuất khẩu chưa vữngchắc Do vậy nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng này là hoàn toàn mangtính cấp thiết với nhiều lý do về chính trị xã hội ,văn hoá kinh tế, mở rộng hợp tácquốc tế

Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển sản xuất và xuất khẩu chè góp phần cảibiến cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất theo hướng CNH-HĐH :

Thứ hai, khi năng lực cạnh tranh của mặt hàng xuất khẩu nâng cao lên sẽ làmhiệu quả kinh tế ngày càng cao, kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn ,góp phần tăngngân sách, cải thiện cán cân thanh toán quốc, đảm bảo cho nguồn thu ngoại tệ, ổnđịnh nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Thứ ba ,nâng cao năng lực cạnh tranh còn là một vấn đề cần thiết nhằm cải biến

cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH

Nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển sản xuất và xuất khẩu chè chính là một

cơ sở quan trọng để mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật với nước ngoài ,đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 4

1.2.2 Việt Nam phát triển chè theo hướng an toàn để cạnh tranh trên thị trường thế giới.

Hiện cả nước có khoảng 122.500 ha chè tăng 47.700 ha so với năm 1999 (63%)trong đó diện tích chè cho sản phẩm là 101.700 ha (68.9%), giai đoạn 1996-2006tốc độ tăng diện tích bình quân 6,2%một năm Chè Việt Nam đang đứng thứ nămthế giới về diện tích và trở thành cây công ngiệp mũi nhọn ,giải quyết việc làm cho400.000 lao động, mỗi năm xuất khẩu 100 triệu USD.Diện tích chè trên cả nước từnăm 1995-2007 liên tục tăng nhanh theo thống kê trên bảng sau ta thấy rõ điều đó :

Trồng chè đã trở thành nghề truyền thống của nhiều địa phương Tuy nhiên giáchè xuất khẩu trong những năm gần đây giảm Nếu như năm 1999, xuất giá bìnhquân 1.333 USD /1tấn đến năm 2003 còn 1.000USD /1tấn, năm 2004 còn968,5USD/tấn và năm 2006 dù nhích lên 1.057USD /tấn nhưng vẫn thua so với 7năm trước Ngoài những nguyên nhân do ảnh hưởng của giá chè quốc tế giảm , giáchè xuất khẩu của Việt Nam giảm còn do chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầucủa thị trường chè cao cấp về chất lượng sản phẩm

Mới đây Hiệp hội chè đã đưa ra cảnh báo khả năng mất thị trường Châu âu saukhi Anh và một số nước châu Âu đưa ra thông báo về dư lượng thuốc bảo vệ thựcvật trong các sản phẩm chè xuất khẩu vượt ngưỡng cho phép nhiều lần Khi có sự

Trang 5

mất cân đối giữa sự phát triển ồ ạt của các cơ sở chế biến chè dẫn đến sự khai tháccạn kiệt các vùng nguyên liệu Tình trạng sẽ cũng đe doạ đến mục tiêu tăng kimngạch xuất khẩu của ngành chè.

Chỉ tính riêng các doanh nghiệp chế biến chè hiện nay có 650 cơ sở côngnghiệp với tổng công suất trên 3.100tấn búp tươi một ngày Với sản lượng 546.000tấn chè búp tươi năm 2005 chỉ đáp ứng được 88% nhu cầu nguyên liệu chè búp củacác cơ sở chế biến này

Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công bán công nghiệp cùngtham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộm ướp hương đónggói chè Do thiếu nguyên liệu nên nhiều cơ sở không quan tâm đến chất lượng đầuvào, đặc biệt kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên chè, giá cả thu muakhông hơp lý nên không khuyến khích được người sản xuất coi trọng chất lượngnguyên liệu, chăm sóc vườn chè đúng quy cách, dẫn đến năng suất chè bình quân

cả nước chỉ đạt 5.7 tấn /ha (mà nếu chăm sóc tốt nhiều vườn chè cho năng suất 25tấn/ ha )

Bên cạnh đó , trang thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè ViệtNam được xuất khẩu ở dạng chè nguyên liệu ,chè thành phẩm mới chỉ chiếm 7%tổng kim ngạch xuất khẩu, chè nguyên liệu chiếm xấp xỉ 80%

Khi nguyên liệu thiếu như vậy thì giá chè tăng lên như vậy nhân dân được lợinhưng về lâu dài thì chất lượng chè kém đi Khi hái chè thông thường người chồngchè chỉ ngắt một búp, hai lá, nhưng giá tăng cao họ dùng liềm cắt cành dài khiếncho cây chè bị tổn thương , khó có thể khôi phục vườn chè nhanh được

Chất lượng chè kém đi thì xuất khẩu sẽ giam sút Với cơ cấu trên 2/3 sản lượng chèđược sản xuất dành cho xuất khẩu, trong khi chỉ có non 1/3 tiêu dùng trong nước.Chính vì thế, khi kim ngạch xuất khẩu giảm tất yếu sẽ dẫn đến chuyện đình đốn Theo số liệu thống kê sơ bộ, 4 tháng đầu năm 2007, xuất khẩu chè ước tính chỉ đạt

27 nghìn tấn với trị giá 26 triệu USD, tăng 8% về lượng và 4% về trị giá so vớicùng kỳ năm ngoái

Trang 6

Theo Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự nhận định về triển vọng xuấtkhẩu của Việt Nam, năm 2006 , tăng trưởng xuất khẩu đạt 22% và năm nay 2007

dự kiến sẽ đạt 25% Nếu giữ vững đà tăng trưởng này, ,sau 3 năm nữa (2010), kimngạch xuất khẩu của Việt Nam sẽ đạt 100 tỷ USD Hiện nay với tư cách là thànhviên WTO đã và đang mang lại những ưu thế cho các doanh nghiệp xuất khẩu ViệtNam Điều quan trọng hơn 84 luật và hơn 30 pháp lệnh đã được thông qua trướckhi Việt Nam gia nhập WTO giúp môi trường kinh doanh ở nước ta thông thoánghơn đối với mọi doanh nghiệp Tuy nhiên, hiện các nước nhập khẩu hàng Việt Namđều đang tích cực áp dụng những rào cản kỹ thuật nhằm bảo vệ người tiêu dùng vàsức khoẻ cộng đồng Vì vậy, đòi hỏi chất lượng hàng xuất khẩu ngày càng khắtkhe Vào năm 2015 sắp tới tiêu chuẩn thực phẩm toàn cầu (ISO 2015) sẽ được banhành Các nhà xuất khẩu Việt Nam phải lưu tâm điều này để tránh nguy cơ mất thịtrường xuất khẩu chỉ vì vài doanh nghiệp không chấp hành đúng luật

Với phong trào Nâng cao chất lượng an toàn sản phẩm trong công nhân lao độngngành chè đã có nhiều thành tích góp phần đưa xuất khẩu chè năm 2006 đạt mức

kỷ lục vượt 100.000 tấn đã đóng góp đưa tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạtgần 111.6 triệu USD

Trước mắt, ngành chè phải tiếp tục nâng cao chất lượng chè để tăng cường xuấtkhẩu Còn xuất khẩu thành phẩm đối với ngành chè dự đoán trong giai đoạn 5-10năm tới vẫn là mục tiêu cao xa

1.3 Quản lý sản xuất, chế biến và chứng nhận chè an toàn

Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn vừa có quyết định số BNN ngày 16/5/2007 ban hành Quy định về,sản xuất,chế biến và chứng nhận chè

43/2007/QĐ-an toàn ; áp dụng đối với tổ chức và cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nướcngoài tham gia sản xuất, chế biến,chứng nhận điều kiện sản xuất và chứng nhận sảnphẩm chè an toàn ở Việt Nam

Chè an toàn là sản phẩm chè được sản xuất bảo quản theo đúng quy trình kỹthuật, có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, kim loại nặng nitrat, chất điều hoà sinh

Trang 7

trưởng và các vi sinh vật có hại dưới mức giới hạn cho phép Quy định nêu rõ cácđiều kiện về đất trồng, phân bón, nước tưới, kỹ thuật canh tác chè an toàn, phòngtrừ sâu bệnh, … Sản phẩm chè an toàn trước khi đưa vào lưu thông phải có giấychứng nhận sản phẩm chè an toàn , bao gói nhãn mác theo qui định tại Nghị định số89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nghi nhãn mác hàng hoá vàThông tư 09/2007/BKHCN ngày 6/4/2007 của Bộ khoa học và công nghệ

Cơ sở sản xuất chè an toàn cần được tổ chức theo các hình thưc phù hợp với điềukiện cụ thể như doanh nghiệp hợp tác xã , trang trại Các cơ sở này phải đăng ký

và chấp hành nghiêm túc các quy định về điều kiện sản suất , chế biến chè an toàn ,

có hồ sơ hoạc sổ nghi tay ghi chép toàn bộ quá trình sản xuất , chế biến (theo mẫuquy định ) Tô chức cá nhân sản xuất gửi kèm hồ sơ đơn đăng ký về Sở Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn sở tại để cấp chứng nhận đủ điều kiện để sản suấtchè an toàn sau 30 ngày , kể từ ngày hồ sơ đăng ký hợp lệ và đảm bảo các điềukiện Giấy chứng nhận này có hiệu lực không quá 3 năm Tổ chức có nhu cầu hoạtđộng về chứng nhận sản phẩm chè an toàn gửi hồ sơ tới cục trồng trọt Trong thờihạn 15 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ , cục Trồng trọt tổ chức thẩm định nếu

đủ điều kiện trình Bộ quyết định công nhận Cục Trồng trọt tổ chức kiểm tra các tổchức chứng nhận chè an toàn , định kỳ 2 năm một lần hoặc đột xuất khi có khiếunại Chủ các lô sản phẩm chè có nhu cầu chứng nhận sản phẩm chè an toàn gửi hồ

sơ về Tổ chức chứng nhận sản phẩm chè an toàn và phải trả phí cho việc kiểmnghiệm và chứng nhận sản phẩm chè an toàn Mức phí do hai bên thoả thuận Quyết định còn ban hành các phụ lục về giới hạn cho phép của kim loại nặng cótrong đất , hàm lượng kim loại nặng trong đất , hoá chất bảo vệ thực vật trong đất ,hàm lượng kim loại nặng cho phép trong chè , đơn đăng ký chứng nhận điều kiệnsản xuất chè an toàn v.v…

Trang 8

II THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CHÈ VIỆT NAM

2.1 Những thành tựu đạt được trong sản xuất kinh doanh của ngành chè của nước ta

2.1.1 Kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng do doanh nghiệp chủ động tìm kiếm thị trường

Tháng 1/2007 , cả nước xuất khẩu được 8,4 nghìn tấn chè các loại với kim ngạchđạt trên 8 triệu USD , giảm 21,6 % về lượng và 24% về giá trị so với tháng 12/2006

Trang 9

Nhưng lại tăng 62,3%về lượng và 51% về giá trị so với cùng kỳ năm 2006 Trongtháng 1/2007, lượng chè xuất khẩu của Việt Nam sang Inđônêxia và thị trường Mỹtăng 44,7% và 31,4%

Dự kiến trong năm nay năm 2007 đạt giá trị xuất khẩu là 110 nghìn tấn , với kimngạch 140 triệu USD tăng 15% về lượng và 30% về giá trị so với năm 2006 Sáutháng đầu năm 2007, sản lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt 47.000 tấn , vớigiá trị trên 45 triệu tăng gần 0.9% về giá giá trị so với cùng kỳ năm 2006 Tháng7/2007, Việt Nam xuất được 12.000 tấn tăng 11.32% so với cùng kỳ năm 2006 ,tuy vậy tổng giá trị vẫn thấp hơn 0.9%so với năm trước Xuất khẩu chè tháng8/2007 của Việt Nam đạt 11 nghìn tấn , giảm 1000 tấn so với tháng 7 năm

2007 Nhưng do giá chè xuất khẩu tăng theo xu hướng chung trên thị trường thếgiới nên giá trị xuất khẩu tháng 8 đạt 13 triệu USD , tăng gần 1 triệu USD so vớitháng 7 Với kết quả trên , đã đưa khối lượng chè xuất khẩu 8 tháng / 2007 lên mức

70 nghìn tấn , tăng 8,3 % so với cùng kỳ năm 2006 Giá trị chè xuất khẩu 8 tháng/2007 cũng tăng 7.5% lên mức 72 triệu USD Tốc độ tăng về giá trị xuất khẩu thấphơn tốc độ tăng về khối lượng là do giá xuất khẩu về trung bình của chè 8 tháng/07thấp hơn 1% so với cùng kỳ năm 2006 Dự kiến, năm 2007, Việt Nam xuất khẩu

110 nghìn tấn chè, đạt 140 triệu USD, với đơn giá xuất trung bình 1.200 USD/tấn

Do nhu cầu chè trên thế giới vẫn đang ở mức cao, mặc dù nguồn cung thế giớitương đối nhiều nhưng theo các chuyên gia dự báo, giá chè xuất khẩu của ViệtNam sẽ tăng trong thời gian tới Năm 2007, sản lượng chè của Ấn Độ cao hơn năm

2006, do đó sản lượng xuất khẩu sang các nước như Ai Cập, Pakistan, Irắc và Nga

sẽ tăng Ấn Độ hy vọng đạt 6-10 triệu kg chè xuất khẩu sang Ai Cập so với 2.7triệu kg của năm 2006 Nhờ giao thông thuận lợi, giảm thuế và cước vận chuyển đãlàm tăng lượng chè xuất khẩu sang Pakistan đạt 20 triệu kg chè, cao hơn 5 triệu kgcủa năm 2006 Xuẩt khẩu chè của Bănglađét có thể đạt 7 triệu kg trong năm 2007,cao hơn 2 lần so với 3 triệu kg năm 2006 nhờ thời tiết thuận lợi Chè Việt Nam đãđược xuất sang 107 thị trường trên thế giới, trong đó có 68 thị trường thuộc các

Trang 10

quốc gia thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)- một kết quả màkhông phải bất kỳ nước nào cũng đạt được, kể cả các nước thành viên của Tổ chứcnày Trong số gần 60 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đang tiêu thụ chè ViệtNam, có 18 thị trường truyền thống ở châu Á, châu Mỹ, châu Âu Không chinhphục được thị trường chất lượng cao, các doanh nghiệp xuất khẩu chè Việt Namđành hướng đến các thị trường trung bình như Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ và thịtrường các nước Châu Phi.

Thị trường Hoa Kỳ:

Hoa K ỳ, nước tiêu thụ chè lớn thứ 8 thế giới với tổng lượng nhập hàng/nămkhoảng 149.000 tấn (chè đen chiếm 84%) Năm 2002, chè Việt Nam xuất khẩu vàođây là 2.200 tấn (chiếm 3% thị trường chè chiết xuất tại Hoa Kỳ), trong đó, chè đen(mã 0902.40.00) chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu vào thị trường này Giá chè xuấtkhẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ thấp hơn nhiều so với giá chè của các nước khác.Giá chè đen nhập khẩu vào Hoa Kỳ năm 2002 bình quân là 1.320 USD/tấn (giáFAS ở cảng xếp hàng nước xuất khẩu) trong khi đó, giá nhập từ Việt Nam chỉ là

740 USD/tấn, bằng 56% giá bình quân nói trên Đây cũng là một thị trường chè cóđòi hỏi rất khắt khe với sự kiểm soát chặt chẽ của Cơ quan Quản lý an toàn thựcphẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA)

Tại Châu Á, Việt Nam có 2 khách hàng lớn là Nhật Bản và Đài Loan Trong

đó, Nhật là một thị trường đầy triển vọng với tổng nhu cầu 136.000 tấn/năm và sảnxuất trong nước của Nhật chỉ có thể đáp ứng khoảng 90.000 tấn/năm Mặt hàng chèđen đang đặc biệt được ưa chuộng trên thị trường này Chè Việt Nam chỉ chiếmkhoảng 6,5% tỷ trọng và giá thành bằng 35% so với giá 3.400 USD/tấn nhập khẩu

từ các nước khác

Với EU, nhu cầu chè của khối này chủ yếu đều được đáp ứng bằng nhập khẩuvới gần 300.000 tấn/năm Nhưng chè Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1-1,5% tổng kimngạch Giá chè của Việt Nam tại đây chỉ bằng 40% so với mặt bằng giá 2.500USD/tấn nhập khẩu từ các nước khác

Trang 11

Nga là thị trường truyền thống giàu tiềm năng với sức tiêu thụ khoảng 162.000 tấn/năm mà sản xuất chỉ đáp ứng 1% nhu cầu Tuy nhiên, giá chè ViệtNam vào Nga cũng mới chỉ bằng 75% so với giá 1.330 USD/tấn nhập khẩu từ cácnước khác Thêm vào đó, chè Việt Nam phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của Ấn Độ,Sri Lanka, Trung Quốc và Indonesia

Pakistan: Dự báo, đến năm 2010, Pakistan sẽ là nước nhập khẩu chè lớn nhất thế

giới Nước này có nhu cầu thị trường hàng năm khoảng 150.000 tấn Trong đó, chỉ

có 5% chè xanh, còn lại là chè đen Năm 2002, Việt Nam xuất 12.400 tấn vào nướcnày nhưng chủ yếu lại là chè xanh Tuy nhiên, thuế nhập khẩu chè của Pakistan caohơn so với các nước khác

2.1.2 Một số loại chè của Việt Nam được ưa chuộng trên thế giới.

Ngành chè Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển cao Trong cơ cấu sảnphẩm , chè đen giảm dần , trong khi chè xanh và các loại chè cao cấp , đặc sản tăngdần ; đạt cơ cấu với cơ cấu 50%chè đen và 50% chè xanh và các loại chèkhác Theo hiệp hội chè Việt Nam , cơ cấu giống chè đang được thay đổi Các loạigiống có năng suất cao ; chất lượng tốt được tuyển chọn , lai tạo và nhân trồngđang tăng nhanh , đến năm 2006 đã đạt được 35,4% diện tích tương đương với hơn

40 ngàn ha, vượt mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra theo Quyết định 43 phải đạt 30%diện tích đến năm 2010 Trong tập đoàn quỹ gene đã có 152 giống làm cơ sở choquá trình chọn giống sau này Đến năm 2007 Việt Nam đã có 7 giống được côngnhận là giống quốc gia , 7 giống được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chophép khảo nghiệm trên diện rộng là giống Kim Tuyền , Ngọc Thuý ,Bát Tiên , Keo

Am Tích ,Hùng Đỉnh Bạch ,PT95và Phúc Vân Tiên Bộ đã công nhận 13 giống câychè shan đầu dòng và cho phép nhân trồng để kịp thời nhân nhanh trong sản xuấtđại trà

Ở các tỉnh trong vùng dự án phát triển chè và cây ăn quả, hàng trăm vườn ươmgiống chè tốt được công nhận Hàng trăm hội đồng khoa học công nghệ của hiệphội chè Việt Nam đã thông qua cơ cấu giống chè cho từng khu vực và tỉnh đã có,

Trang 12

nhiều đơn vị điển hình đạt năng xuất cao chất lượng tốt như công ty chè Mộc Châu,công ty Liên doanh chè Phú Đa ,công ty chè phú bền Đặc biệt , vùng chè caocấp, giống Kim Tuyên sản xuất chè Ô Long, Công ty Nguyên Ô long Bảo Lộc LâmĐồng … Một số loại chè nổi tiêng và có giá trị cao ở nước ta như:

1.1.2.1 Sản phẩm chè Ô Long: Ô Long là loại chè được ưa chuộng và có giá trịkinh tế cao Nghiên cứu của Viện nghiên cứu chè qua 4 năm cho thấy các giống chètại Việt Nam không thể làm nguyên liệu để sản xuất chè Ô Long được Chè ÔLong là loại chè nổi tiếng trên thị trường thế giới Chè Ô Long được sản xuất ởTrung Quốc và Đài Loan rất nhiều Trên thị trường thế giới, chè Ô Long tốt giá bántới 70USD/kg Chè Ô Long khác với các sản phẩm khác về hương vị và ngoại hình.Tuỳ theo thị hiếu của người tiêu dùng, chè Ô Long được chế biến theo các quytrình công nghệ khác nhau để sản phẩm có màu nước vàng sẫm, vàng đậm, vàng

đỏ Vị chè Ô Long có vị chát nhẹ, có hậu hương, có nét đặc trưng riêng thơmđượm, ta có thể pha tới nhạt nước mà chén chè vẫn thơm Mùi thơm của bản thânchè không có lai tạp, đây chính là nét đặc trưng của chè Ô Long mà các loại chèkhác không có Chè Ô Long được chế biến với công nghệ cổ truyền Hiện nay, tạiTrung Quốc và Đài Loan người ta đã chế tạo những dây chuyền sản xuất chè ÔLong hiện đại, đạt được trình độ cơ giới hoá và tự động hoá Do giá trị của chè ÔLong cao nên các nhà doanh nghiệp Việt Nam và Đài Loan đã đưa một số dâychuyền chế biến chè Ô Long vào sản xuất tại các vùng Ba Vì, Yên Bái, Mộc Châu.Các giống chè như Kim Huyền, Ngọc Thuý, Ô Long, Thanh Tâm là những giốngchè tốt để chế biến chè Ô Long ở Đài Loan đã được vào Việt Nam Hiện nay, cácgiống chè này được chú ý để nhân giống nhanh

1.1.2.2 Chè San Tuyết : Cây chè San núi cao là một loại tài nguyên thực vậtquý, là một trong những loại chè phổ biến ở Việt Nam Đặc điểm nổi bật của chèSan là cây gỗ lớn, răng cưa, sâu búp chè lớn, tôm chè có lông trắng, năng suất cao,chất lượng tốt Chè San có hai dạng canh tác là theo kiểu cây rừng và canh tác theokiểu thâm canh như các loại chè khác Đây là loại hình độc đáo chủ yếu phân bố

Ngày đăng: 22/07/2013, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w