nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói chung, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum nói riêng; đồng thời kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện hoạt động tín dụng đầu tư tại m
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH
Đà Nẵng, Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hà Thị Miền
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 6
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ 6
1.1.1 Đầu tư phát triển và nguồn vốn cho đầu tư 6
1.1.2 Khái niệm tín dụng đầu tư 8
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng đầu tư 9
1.1.4 Vai trò của tín dụng đầu tư 11
1.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 14
1.2.1 Ngân hàng Phát triển - tổ chức thực hiện TDĐT của Nhà nước 14
1.2.2 Hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam 16
1.2.3 Quy trình cấp tín dụng đầu tư của NHPT Việt Nam 20
1.2.4 Rủi ro trong hoạt động tín dụng đầu tư tại NHPT Việt Nam 23
1.3 NỘI DUNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ 25
1.3.1 Quan niệm về hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư 25
1.3.2 Các nội dung cơ bản phản ảnh sự hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư 26
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng đầu tư 28
1.4 KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 29
Trang 41.4.1 Kinh nghiệm của Đức (Ngân hàng tái thiết Đức - KFW) 30
1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản (NHPT Nhật Bản) 31
1.4.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc (NHPT Trung Quốc) 32
1.4.4 Một số bài học kinh nghiệm cho hoạt động TDĐT ở Việt Nam 33
CHƯƠNG 2 - THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KON TUM 35
2.1 GIỚI THIỆU VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KON TUM 35
2.1.1 Giới thiệu chung về NHPT Việt Nam 35
2.1.2 Giới thiệu chung về Chi nhánh NHPT Kon Tum 37
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TDĐT TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KON TUM 40
2.2.1 Chính sách hoạt động TDĐT tại Chi nhánh NHPT Kon Tum 40
2.2.2 Quy trình cấp TDĐT tại Chi nhánh Kon Tum 43
2.2.3 Thực trạng hoạt động TDĐT tại Chi nhánh NHPT Kon Tum 44
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TDĐT TẠI CHI NHÁNH NHPT KON TUM 54
2.3.1 Kết quả đạt được 54
2.3.2 Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc 58
2.3.3 Nguyên nhân 61
CHƯƠNG 3 - GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN KON TUM 69
3.1 NHỮNG CĂN CỨ CHỦ YẾU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 69
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Kon Tum và vai trò của Chi nhánh đối với việc phát triển kinh tế - xã hội tỉnh 69
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động của NHPT Việt Nam 71
3.1.3 Cơ hội, thách thức hoạt động TDĐT của NHPT Việt Nam 73
3.1.4 Định hướng phát triển của Chi nhánh NHPT Kon Tum 73
Trang 53.1.5 Quan điểm khi xây dựng giải pháp hoàn thiện hoạt động TDĐT
tại Chi nhánh 75
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ 76
3.2.1 Giải pháp tăng cường huy động vốn cho hoạt động tín dụng đầu tư 76
3.2.2 Xây dựng qui mô tăng trưởng tín dụng phù hợp với định hướng phát triển KT - XH tỉnh Kon Tum 77
3.2.3 Hoàn thiện công tác tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ TDĐT 78
3.2.4 Cải tiến quy trình cấp TDĐT và công khai hóa quy trình 80
3.2.5 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án 82
3.2.6 Giải pháp về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động TDĐT 84
3.2.7 Giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng, tăng cường công tác xử lý nợ 88
3.2.8 Một số giải pháp hỗ trợ khác 91
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TDĐT 92
3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các cơ quan quản lí có liên quan 92
3.3.2 Kiến nghị với NHPT Việt Nam 94
3.3.3 Một số kiến nghị đối với Chủ đầu tư 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
PHỤ LỤC
Trang 6WTO World Trade Organization
CNH-HĐH Công nghiệp hóa-hiện đại hóa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.1 So sánh TDĐT của Nhà nước và TDĐT của NHTM 11 2.1 Số dư vốn huy động 45 2.2 Số dư vốn huy động theo kỳ hạn 46 2.3 Tình hình dư nợ cho vay TDĐT 47 2.4 Tình hình cho vay, thu nợ 49 2.5 Tình hình chấp thuận cho vay dự án mới 50 2.6 Tỷ lệ nợ quá hạn phân theo ngành kinh tế 52 2.7 Tình hình thực hiện cấp hỗ trợ sau đầu tư 53
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Biểu đồ số dƣ huy động vốn của CN so với số huy
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín dụng đầu tư (hay là tín dụng đầu tư của Nhà nước) là hoạt động nhằm tạo ra các nguồn lực, tài sản mới cho nền kinh tế và xã hội Hoạt động tín dụng đầu tư thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thực hiện theo những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế, đầu tư xã hội của đất nước Đây là công cụ quan trọng của Nhà nước trong điều tiết nền kinh tế vĩ mô Chính vì vậy, chính sách tín dụng đầu tư (TDĐT) luôn được sửa đổi, bổ sung nhằm tạo môi trường thuận lợi khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất, kinh doanh Đến nay, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), lộ trình thực hiện các cam kết hội nhập của Việt Nam càng có tác động mạnh mẽ đến hoạt động TDĐT TDĐT hiện nay, không chỉ góp phần phát triển kinh tế - xã hội đối với một quốc gia, vùng lãnh thổ, tạo việc làm cho người lao động, mà còn góp phần không nhỏ vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tạo cân bằng cán cân thương mại, góp phần vào việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng GDP ở mức hợp
lý, bảo đảm an sinh xã hội
Với những lợi ích thiết thực như vậy, TDĐT luôn là mảng hoạt động được Nhà nước và Chính phủ Việt Nam quan tâm, ngoài kênh dẫn vốn chung trong toàn bộ nền kinh tế thì kênh dẫn vốn cho đầu tư qua tín dụng đóng vai trò đặc biệt quan trọng Hoạt động TDĐT của Ngân hàng Phát triển Việt Nam cũng như tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum trong 6 năm qua, ngoài những mặt lợi ích đạt được thì cũng còn bộc lộ nhiều tồn tại về cơ chế chính sách, quy trình cho vay, tài sản đảm bảo, quản lý, giám sát tiền vay
Việc tập trung nghiên cứu thực tế hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà
Trang 11nước tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam nói chung, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum nói riêng; đồng thời kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện hoạt động tín dụng đầu tư tại một số nước trên thế giới để có các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động này có ý nghĩa
rất quan trọng và cần thiết Đó là lý do tôi thực hiện đề tài: "Hoàn thiện hoạt
động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa vai trò của tín dụng đầu tư Nhà nước đối với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, của ngành
- Làm rõ vai trò của NHPT Việt Nam trong việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước ở Chi nhánh NHPT Kon Tum giai đoạn 2006 - 2011, từ đó tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động tín dụng đầu tư Nhà nước trong giai đoạn 2006 - 2011
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động TDĐT Nhà nước tại Chi nhánh NHPT Kon Tum đến năm 2015, góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hoạt động Tín dụng đầu tư của Nhà nước, tổ chức thực hiện, chính sách tín dụng đầu tư tại NHPT Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Kon Tum từ năm 2006 đến năm 2011 (trừ hoạt động Bảo lãnh đầu tư vì nghiệp vụ này chưa phát sinh ở Chi nhánh NHPT Kon Tum và cho vay đối với các dự án thực hiện theo Hiệp định của Chính phủ)
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu , phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng , kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, tổng hợp, phân tích để rút ra kết luận của vấn đề đang xem xét
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Chương 2: Thực trạng hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Kon Tum
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu liên quan đến lĩnh vực tín dụng nhà nước, tín dụng đầu tư cho thấy đã được nhiều người quan tâm chọn làm đề tài nghiên cứu Tuy nhiên vấn đề hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư gần như ít được quan tâm và cách tiếp cận cũng ở mức độ, phạm vi khác nhau Có thể thống kê một số đề tài đã nghiên cứu về TDĐT như sau:
Luận án Tiến sĩ “Tín dụng Nhà nước đối với phát triển kinh tế các tỉnh Tây Nguyên” của tác giả Vũ Mạnh Bảo (năm 2011) Luận án này có đối
tượng nghiên cứu là vai trò của tín dụng Nhà nước đối với sự phát triển kinh
tế các tỉnh Tây Nguyên; lấy phạm vi nghiên cứu là trong giai đoạn 2006 -
2011 thuộc NHPT Việt Nam và các Chi nhánh NHPT trên địa bàn Tây Nguyên Vì vậy, các vấn đề lý luận, giải pháp, đề xuất trình bày trong luận án mang tầm vĩ mô chung của tín dụng nhà nước cho sự phát triển của khu vực Tây Nguyên
Trang 13Luận án Tiến sĩ "Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước" của tác giả Trần Công Hòa (năm 2006) Luận án này có đối tượng nghiên cứu chuyên sâu vào hiệu quả tín dụng ĐTPT Nhà nước về mặt tài chính, kinh tế và xã hội; lấy phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn 2000
- 2006 thuộc Quỹ Hỗ trợ Phát triển Tác giả tập trung vào nghiên cứu một số nội dung, chỉ tiêu nhằm nâng cao hiệu quả vốn TDĐT của Nhà nước Vì vậy các vấn đề, giải pháp, đề xuất trình bày trong Luận án đều tập trung ở tầm vĩ
mô, phục vụ cho việc xây dựng thể chế, cơ chế chính sách và hành lang pháp
lý hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
Luận văn thạc sĩ "Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng Nhà nước qua Quỹ Hỗ trợ Phát triển" của tác giả Trần Thị Mỹ Hạnh (năm 2003); Luận văn thạc sĩ “Giải pháp đẩy mạnh hoạt động tín dụng đầu tư phát triển tại Chi nhánh Ngân hàng Phát triển Vĩnh Long” của tác giả Võ Thanh Phong (năm 2009); Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam" của tác giả Phạm Văn Lai (năm 2009); Các Luận văn, công trình này đều có phạm vi nghiên cứu cho cả hệ thống NHPT Việt Nam hoặc địa phương khác, hoặc trước thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO; chưa có tính thực tiễn để áp dụng cho những địa phương có đặc điểm kinh tế-xã hội như Tây nguyên; chưa đề cập, hệ thống hoá lý luận TDĐT cho những ai mới tiếp cận về TDĐT dễ hình dung hoặc coi hoạt động TDĐT chỉ là hoạt động cho vay đầu tư
Đối với các đề tài khoa học cấp ngành, thời gian qua cũng có một số đơn vị thuộc và trực thuộc NHPT Việt Nam tổ chức nghiên cứu các đề tài về TDĐT như: “Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay tín dụng đầu tư tại Chi nhánh Hà Tĩnh” của Chi nhánh NHPT Hà Tĩnh, (năm 2010); “Nghiên cứu vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài để bổ sung hoàn thiện tiêu chuẩn thẩm định
dự án đầu tư của NHPT Việt Nam trong điều kiện nguồn vốn có giới hạn” của
Trang 14Chi nhánh NHPT Phú Yên, (năm 2011), “Hoàn thiện công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư đề nghị cấp tín dụng của NHPT Việt Nam” của Chi nhánh NHPT Hà Nam”… Đây là những đề tài có phạm vi nghiên cứu một vấn đề, một lĩnh vực cụ thể ở những địa phương khác Những đề tài khoa học của ngành trong thời gian qua chưa có nghiên cứu chung những vấn đề thuộc về
lý luận TDĐT, mà tập trung giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá
trình thực tế tác nghiệp tại đơn vị, địa phương, một lĩnh vực nghiệp vụ cụ thể
Như vậy, chưa có một đề tài đi vào nghiên cứu cụ thể để hệ thống về lý luận tín dụng đầu tư phù hợp với ứng dụng thực tiễn tại Chi nhánh NHPT Kon Tum Vì vậy, đề tài nghiên cứu để hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh NHPT Kon Tum mà tác giả chọn là đề tài hoàn toàn mới, không trùng với các đề tài nghiên cứu trước đây và mang tính cấp thiết
Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống hóa lại những lý luận cơ bản về hoạt động tín dụng đầu tư một cách dễ tiếp cận Từ đó, xây dựng cơ sở lý thuyết về hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư, kết hợp với kinh nghiệm của một số quốc gia khác để tổ chức triển khai một cách có hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư tại Chi nhánh
Bằng cách tiếp cận thực tế từ Chi nhánh trong việc triển khai hoạt động tín dụng đầu tư trong giai đoạn dài từ năm 2006 - 2011; định hướng phát triển của Chi nhánh Kon Tum đến năm 2015; định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kon Tum, đề tài đã đề xuất một số giải pháp phù hợp với đặc điểm Chi nhánh, môi trường kinh tế xã hội trên địa bàn, góp phần hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư bền vững
Trang 15CHƯƠNG 1 - LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ
TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
1.1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐẦU TƯ
1.1.1 Đầu tư phát triển và nguồn vốn cho đầu tư
* Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hóa vốn bằng tiền thành vốn sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực cho sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác
Đầu tư phát triển là nhân tố quyết định phát triển kinh tế - xã hội, là chìa khóa để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo định hướng phát triển của Nhà nước Đầu tư phát triển có những đặc điểm khác so với các hình thức đầu tư khác như đầu tư tài chính, đầu tư thương mại thể hiện ở những điểm sau:
- Do mục tiêu chủ yếu là đầu tư vào TSCĐ, gồm: xây dựng, sửa chữa các công trình nhà cửa, các kết cấu hạ tầng, trang thiết bị nên đòi hỏi một lượng vốn rất lớn
- Thời gian để tiến hành một dự án đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường rất dài với nhiều biến động xảy ra Cũng do
đó, hoạt động ĐTPT không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên (địa lý, địa chất, môi trường khí hậu ), xã hội, chính trị, kinh tế Vì vậy, hoạt động đầu tư thường có
độ rủi ro cao
- Các thành quả của hoạt động ĐTPT có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm và gắn liền với không gian tạo ra nó Nên để đảm bảo cho việc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Trong công tác qui hoạch, thẩm định hiệu quả phải được tổ chức thực hiện
Trang 16một cách chu đáo, bài bản dưới hình thức các dự án đầu tư, đây cũng là đặc điểm khác biệt so với các loại hình đầu tư khác
* Nguồn vốn cho dự án đầu tư
Vốn cho ĐTPT là nguồn lực tài chính để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác Vấn đề hết sức quan trọng là phải giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư và các định chế về sử dụng vốn có hiệu quả
Nguồn vốn đầu tư có thể được chia thành nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tư trong nước là phần tích lũy của nội bộ nền kinh tế bao gồm tiết kiệm của khu vực dân cư, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và tiết kiệm của chính phủ Nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm toàn bộ phần tích lũy của các cá nhân, các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và chính phủ nước ngoài có thể huy động vào quá trình ĐTPT của nước sở tại
Nguồn vốn cho ĐTPT được huy động từ các nguồn sau:
- Nguồn vốn NSNN: Là nguồn chi từ NSNN dành cho ĐTPT
- Nguồn vốn tự có: Vốn chủ sở hữu của chủ đầu tư
- Nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước: Là nguồn vốn được huy động nhằm tài trợ theo các hình thức tín dụng cho các dự án phát triển thuộc các chương trình, các lĩnh vực, các dự án theo mục tiêu phát triển KT-XH của Chính phủ Tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư của Nhà nước thường do Chính phủ thành lập
- Nguồn vốn từ khu vực tư nhân: Các nguồn vốn huy động từ khu vực
tư nhân thông qua các hoạt động vay vốn, liên kết
- Nguồn vốn tín dụng từ các NHTM
- Huy động từ thị trường vốn thông qua phát hành chứng khoán
Trang 17- Nguồn vốn ODA và vay nước ngoài
Nguồn vốn là yếu tố thiết yếu cho ĐTPT, bởi vậy, các chủ đầu tư luôn tìm kiếm, huy động tối đa các nguồn vốn với chi phí thấp nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, việc hỗ trợ trực tiếp từ NSNN cho ĐTPT không phải lúc nào cũng thực hiện được Vì thế các chủ đầu tư tìm đến các nguồn vốn vay khác nhau, trong đó có nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước Các nội dung
cụ thể về nguồn vốn này sẽ được trình bày ở phần dưới đây
1.1.2 Khái niệm tín dụng đầu tư
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh tế
đề cập đến, do đó, có nhiều cách hiểu và nhiều định nghĩa về tín dụng Tuy nhiên, thông dụng nhất, tín dụng có thể được hiểu như là một giao dịch giữa hai bên trong đó một bên (trái chủ hoặc người cho vay) chu cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán lại của bên kia (thụ trái hoặc người đi vay) trong tương lai Thông thường, những giao dịch như vậy còn bao gồm cả việc thanh toán lợi tức cho người cho vay [10]
Theo Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa 12 thì: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác
Như vậy, xét về bản chất nghiệp vụ, tín dụng đầu tư của Nhà nước là một hình thức của hoạt động Ngân hàng, các tổ chức tín dụng Điều khác biệt
cơ bản giữa tín dụng đầu tư của nhà nước và tín dụng thương mại chủ yếu là đối tượng cho vay và mục đích sử dụng vốn
Với cách lập luận như trình bày, trong đề tài này có thể hiểu: Tín dụng
Trang 18đầu tư là một hình thức tín dụng Nhà nước nhằm hỗ trợ cho các dự án đầu tư phát triển theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện mục tiêu đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội,“đó là quan hệ vay - trả giữa Nhà nước và các pháp nhân, thể nhân trong xã hội, được Nhà nước quy định với các cơ chế ưu đãi nhất định, nhằm thực hiện mục tiêu thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng của Nhà nước” [19]
Tín dụng đầu tư của Nhà nước được coi là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng giúp Nhà nước can thiệp vào thị trường, thúc đẩy đầu tư phát triển theo chính sách của Nhà nước với chức năng chủ yếu là phân phối lại nguồn vốn đầu tư phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư theo kế hoạch, định hướng của Nhà nước
Tín dụng đầu tư của Nhà nước là sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các hình thức tín dụng để tài trợ đầu tư các dự án phát triển thuộc lĩnh vực được Nhà nước khuyến khích đầu tư Hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước chính là việc tổ chức, triển khai các nội dung này Xét một cách thực chất, thông qua các quan hệ vay - trả, hoạt động tín dụng đầu tư của Nhà nước chính là một hình thức nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn cho đầu tư Ngoài nguồn vốn NSNN, Chính phủ các nước thường sử dụng tín dụng đầu
tư của Nhà nước như một công cụ nhằm tài trợ cho các dự án phát triển để đáp ứng các mục tiêu phát triển KT - XH trong từng thời kỳ như: thời kỳ khôi phục kinh tế đất nước sau chiến tranh hoặc trong thời kỳ công nghiệp hóa đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng đầu tư
Tín dụng đầu tư của Nhà nước là một công cụ nhằm điều tiết vĩ mô nền
KT - XH, phục vụ cho mục đích phát triển theo từng giai đoạn của Nhà nước Nên đặc điểm tín dụng đầu tư của Nhà nước thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động TDĐT không vì mục đích lợi nhuận mà nhằm hỗ
Trang 19trợ về tài chính cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, các cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh để có điều kiện đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm tạo sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Khác với TDĐT của Nhà nước, tín dụng đầu tư tại các NHTM là quan hệ tín dụng giữa hai bên cùng có lợi Tùy từng trường hợp mà ngân hàng có thể chủ động cho doanh nghiệp vay với lãi suất, mức vốn và thời gian vay khác nhau
Thứ hai, nguồn vốn cấp TDĐT thuộc nguồn vốn tín dụng Nhà nước
được Chính phủ bố trí kế hoạch Hàng năm căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội, Nhà nước bố trí một mức vốn nhất định để dành cho hoạt động TDĐT Đối với TDĐT tại các NHTM nguồn vốn cho vay chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động từ các tổ chức và cá nhân
Thứ ba, TDĐT của Nhà nước là tín dụng ưu đãi nhằm hỗ trợ về mặt tài
chính cho các tổ chức kinh tế có điều kiện thuận lợi để đầu tư sản xuất, mở rộng thị trường theo định hướng phát triển trong từng thời kỳ của Chính phủ
Đó là những ưu đãi về lãi suất, thời hạn vay vốn và ưu đãi về đảm bảo tiền vay cũng như các điều kiện tín dụng khác cũng thông thoáng hơn
Thứ tư, đối tượng cấp TDĐT của Nhà nước được chọn lọc và hạn chế
Mỗi quốc gia sẽ xác định những ngành nghề, vùng chiến lược trong từng thời
kỳ phát triển kinh tế và sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy ngành nghề, vùng đó và TDĐT của Nhà nước được thiết kế để thực hiện yêu cầu này Do đó, đối tượng hưởng trợ cấp TDĐT của Nhà nước hạn chế hơn các NHTM, các đối tượng có thể thay đổi trong từng thời kỳ tuỳ thuộc vào chiến lược phát triển Đặc điểm này cho thấy hoạt động tài trợ TDĐT của Nhà nước mang tính chất tập trung vào mũi nhọn chứ không mang tính rộng khắp như hoạt động tín dụng của các NHTM
Thứ năm, hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước không chỉ là hoạt
Trang 20động cho vay mà còn thực hiện một số hoạt động tín dụng gián tiếp khác như
hỗ trợ sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư
Như vậy, TDĐT của Nhà nước là công cụ tài chính của Nhà nước, nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế, hỗ trợ về mặt tài chính cho các chủ đầu tư, qua đó thực hiện các mục tiêu KT - XH của đất nước
Do bản chất và đặc thù riêng có của mình, TDĐT của Nhà nước có nhiều điểm khác biệt so với tín dụng NHTM Có thể nêu một số điểm khác biệt cơ bản được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.1: So sánh TDĐT của Nhà nước và TDĐT của NHTM
Mục tiêu hoạt động Tìm kiếm lợi nhuận Không vì mục tiêu lợi
nhuậnĐối tượng hỗ trợ
Không giới hạn, trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Giới hạn theo danh mục được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy địnhThời hạn Phần lớn là trung hạn Dài hạn
Lãi suất Theo lãi suất thị trường Ưu đãi
Bảo đảm tiền vay Phần lớn bắt buộc phải có tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh Được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để làm tài
Đặc điểm của TDĐT Nhà nước càng rõ nét khi nghiên cứu tiếp vai trò của vốn tín dụng đầu tư
1.1.4 Vai trò của tín dụng đầu tư
Tín dụng đầu tư của Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng cho việc
Trang 21thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế , đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, điều này thể hiện ở một số điểm như sau:
Tín dụng đầu tư của Nhà nước góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Cùng với các chính sách kinh tế khác như chính sách thuế, chính sách tiền tệ Tín dụng đầu tư của Nhà nước là một công cụ đắc lực, hữu hiệu của Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Mục tiêu đặt ra đối với tín dụng đầu tư là thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, một mặt phải tập trung vào những lĩnh vực, ngành nghề cần thiết cho phát triển kinh tế bền vững, nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phát triển các lĩnh vực ngành nghề, điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Mặt khác, tín dụng đầu tư của Nhà nước sẽ tập trung vào những ngành nghề, lĩnh vực công nghệ mới, có tác dụng thúc đẩy năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội nhằm cải thiện đời sống, rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước, bảo đảm không tụt hậu hoặc đi chệch xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thế giới, khu vực
Tín dụng đầu tư của Nhà nước nâng cao hiệu quả đầu tư, xóa bao cấp
về đầu tư
Tín dụng đầu tư của Nhà nước góp phần quan trọng để nâng cao hiệu quả trong đầu tư Các cơ chế, chính sách quản lý tín dụng đầu tư của Nhà nước được đưa ra chặt chẽ nhằm kiểm tra, giám sát trước trong và sau quá trình đầu tư một cách nghiêm ngặt Dưới các áp lực này, chủ đầu tư buộc phải tăng cường công tác hạch toán kế toán, phải chứng minh và chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước về khả năng tạo ra nguồn thu nhập cao hơn chi phí đầu tư để không chỉ bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra mà phải trả lãi cho khoản tín dụng Nhà nước [20]
Trang 22Đây cũng là động lực mạnh mẽ tạo nên tư duy làm ăn có hiệu quả, là yếu tố quan trọng trong việc động viên trí tuệ, sức lực của toàn dân nhằm phát huy nội lực cho công cuộc xây dựng đất nước
Tín dụng đầu tư của Nhà nước làm giảm sự bao cấp trực tiếp của Nhà nước đối với lĩnh vực đầu tư có khả năng hoàn vốn mà trước đây vẫn được Nhà nước cấp không hoàn lại Từ đó đã làm giảm đáng kể áp lực về nguồn vốn đối với ngân sách Nhà nước Đồng thời tín dụng đầu tư của Nhà nước cũng góp phần đa dạng hóa các hình thức huy động vốn đầu tư, thúc đẩy huy động vốn đặc biệt là huy động vốn dài hạn trong mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm thực hiện chủ trương phát huy nội lực cho phát triển kinh tế
Tín dụng đầu tư của Nhà nước giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất kinh doanh
Khi được tiếp nhận nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước các doanh nghiệp thuộc đối tượng sẽ có cơ hội mở rộng sản xuất kinh doanh dưới các hình thức đầu tư mới hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng qui mô phát triển sản xuất kinh doanh Mặt khác, hoạt động đầu tư của Nhà nước sẽ khuyến khích và lôi kéo các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua việc tạo ra các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sản xuất hoặc phát triển một số khâu nào đó của quá trình sản xuất Khi một dự án đầu tư đi vào hoạt động với máy móc được trang bị đầy đủ sẽ làm cho năng lực sản xuất tăng lên, hàng hoá được sản xuất ra nhiều hơn, đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại và chất lượng cao, trình độ công nghệ, năng suất lao động của xã hội được nâng lên Từ đó sẽ tiết kiệm được một khoản ngoại tệ lớn do không phải nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài vào, tạo điều kiện để người tiêu dùng tiếp cận với sản phẩm mới với chất lượng đảm bảo, giá cả hợp lý và xa hơn thế xuất khẩu ra nước ngoài để thu ngoại tệ Các dự án về cơ sở hạ tầng
Trang 23như: thông tin liên lạc, các công trình giao thông đường không, bộ, thuỷ, khu công nghệ cao có một ý nghĩa vô cùng quan trọng làm tiền đề phát triển cho các ngành kinh tế khác
Tín dụng đầu tư của Nhà nước góp phần tạo việc làm cho người lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội
Trong giai đoạn hiện nay, việc giải quyết việc làm là vấn đề hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Tín dụng đầu tư của Nhà nước với mục đích là hỗ trợ các dự án đầu tư phát triển của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn, các lĩnh vực mà không có sự ưu đãi đầu tư của Nhà nước thì sẽ không phát triển được, hoặc thực hiện đầu tư phát triển sản xuất tại các địa bàn có điều kiện
KT - XH khó khăn và đặc biệt khó khăn như: các tỉnh miền núi, biên giới hải đảo, vùng sâu, vùng xa hoặc các ngành nghề thuộc diện khuyến khích ưu đãi đầu tư của Nhà nước đối với các thành phần kinh tế, ngoài ý nghĩa về mặt kinh tế là thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế… góp phần tạo việc làm cho người lao động, giữ vững an ninh chính trị, ổn định trật tự xã hội
1.2 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
1.2.1 Ngân hàng Phát triển - tổ chức thực hiện TDĐT của Nhà nước
Với đặc điểm quan trọng là một công cụ nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH của Nhà nước, tín dụng đầu tư của Nhà nước được giao cho một tổ chức cụ thể để triển khai nhằm đảm bảo sự quản lý, giám sát và thực thi một cách có hiệu quả để đạt được mục tiêu đề ra Đa số các nước trên thế giới đều thành lập một tổ chức độc lập, hoạt động như một trung gian tài chính để thực hiện nhiệm vụ này với tên gọi phổ biến là "Ngân hàng
Trang 24Phát triển" Có thể khái quát về Ngân hàng Phát triển như sau:
- Ngân hàng Phát triển dù ở giai đoạn nào cũng có sự liên hệ chặt chẽ với Chính phủ, đều do Chính phủ thành lập và thuộc sở hữu Chính phủ hoặc Chính phủ nắm giữ lượng vốn chi phối rất mạnh nhằm đảm bảo hoạt động của NHPT theo đúng mục tiêu đề ra đáp ứng yêu cầu ĐTPT đất nước Cũng
vì vậy nên các NHTP thường được thành lập bởi một Luật riêng biệt, hoàn toàn khác so với các NHTM hoạt động theo điều lệ như một doanh nghiệp dưới một khung luật chung về chuyên ngành tín dụng - ngân hàng
- Hoạt động của NHPT nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH nên hoạt động của NHPT có gắn bó mật thiết với hoạt động của Chính phủ và các Bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ như: cơ quan về kế hoạch hóa và phát triển kinh tế đất nước, cơ quan về quản lý chuyên ngành (công nghiệp, nông nghiệp, hạ tầng xã hội và các cơ quan khác về chương trình phát triển của Chính phủ)
- Chính sách hoạt động của các NHPT nhằm tài trợ cho các dự án phát triển khi các dự án này không hoặc rất khó tìm kiếm được các nguồn tài trợ khác một cách phù hợp hoặc chưa tìm đủ nguồn vốn cần thiết Điều đó có nghĩa là khi các tổ chức khác không muốn hoặc không thể hoặc không đủ vốn thì NHPT sẽ sử dụng nguồn vốn dài hạn của mình tài trợ tín dụng phần còn thiếu để đầu tư dự án Một cách cụ thể hơn, chức năng tài trợ tín dụng cuối cùng này cũng mang ý nghĩa hỗ trợ cho các dự án có mức rủi ro cao hơn bình thường Trong quá trình đó, hỗ trợ của Chính phủ về vốn và huy động vốn có thể coi là biện pháp quan trọng để đạt mục tiêu về chính sách trong khuôn khổ gắn với thị trường
Ở Việt Nam nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước được giao cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam quản lý Chức năng, nhiệm vụ cũng như hoạt động tín dụng đầu tư tại NHPT Việt Nam như thế nào sẽ được trình bày cụ
Trang 25Nguyên tắc bảo đảm cân đối tài chính tiền tệ quốc gia [19]
Việc huy động vốn tín dụng đầu tư của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều tiết tài chính - tiền tệ, nên quản lý nguồn vốn huy động tín dụng đầu tư của Nhà nước thường được thực hiện theo cơ chế tập trung, thống nhất
Việc huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước nằm trong một số các ràng buộc tài chính - tiền tệ quốc gia như sau:
+ Huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước phải đặt trong các quan hệ với các kênh huy động khác, đảm bảo cân đối tích lũy, tiêu dùng, đầu
tư trong nền kinh tế;
+ Nợ nước ngoài của Nhà nước phải cân đối trong tổng nợ nước ngoài
để đảm bảo các chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài; đảm bảo khả năng chi trả nghĩa vụ nợ nước ngoài của Nhà nước trong tổng thu ngân sách;
+ Huy động vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước phải cân đối với nhu cầu
sử dụng nguồn vốn thực tế trên cơ sở các dự án đầu tư tín dụng Nhà nước khả thi, hạn chế tình trạng vốn chờ dự án;
+ Huy động vốn tín dụng đầu tư cần được xem xét, cân đối trong mối quan hệ điều tiết hàng năm, nhằm ổn định và phát triển thị trường tài chính lành mạnh
Nguyên tắc cân đối thời hạn huy động nguồn vốn [19]
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động đầu tư dự án thường có thời gian dài
Trang 26nên có thể khẳng định việc huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư thường có tính chất dài hạn Trong một nền kinh tế thị trường với các nhu cầu và khả năng không được xác định trước thì việc huy động nguồn vốn dài hạn chỉ có thể phát triển được nếu các hình thức huy động trở thành hàng hóa có tính lỏng cao trên thị trường tài chính Vì thế, đòi hỏi hình thức huy động vốn tín dụng đầu tư phải được chứng khoán hóa; lãi suất phải thị trường hóa; cơ chế phát hành phải được thực hiện thông qua đấu thầu
Nguyên tắc xác định lãi suất huy động vốn [19]
Lãi suất huy động vốn cho tín dụng đầu tư của Nhà nước là lãi suất thị trường, thực hiện thông qua việc đấu thầu chứng khoán Chính phủ trên các trung tâm hoặc Sở giao dịch chứng khoán Thực hiện cơ chế đấu thầu trong huy động nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước vừa giúp tập trung nguồn vốn nhanh, chi phí huy động vốn thấp vừa bảo đảm việc hình thành một mức lãi suất chỉ đạo trên thị trường
* Các hình thức huy động vốn
Huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu của Chính phủ
Phát hành trái phiếu Chính phủ là một cách tạo nguồn vốn hiệu quả trong việc điều tiết kinh tế nói chung, cũng như trong hoạt động tín dụng đầu
tư của Nhà nước nói riêng, đặt biệt ở các nước có thị trường tài chính phát triển Việc phát hành trái phiếu Chính phủ có ưu điểm là có khả năng tập trung nguồn vốn nhanh, với khối lượng lớn và chi phí tương đối thấp Đây được xem là nguồn vốn chủ lực trong hoạt động TDĐT tại các quốc gia trên thế giới
Huy động vốn thông qua vay nợ, viện trợ của nước ngoài
Là một cơ chế tài chính của Chính phủ, ngoài phần vốn vay nợ, viện trợ được chuyển từ NSNN sang nguồn vốn cho ĐTPT của Nhà nước dưới hình thức tín dụng có thể được tạo dựng bằng cách trực tiếp thực hiện việc vay nợ
Trang 27và nhận viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài
Đặc điểm của nguồn vốn này là không thường xuyên nhưng có lãi thấp Tuy nhiên, đối với việc vay nợ nước ngoài chi phí thực còn bao gồm cả sự biến động về tỷ giá Chính vì vậy, bên cạnh vấn đề lãi suất, cần quan tâm đến
xu hướng biến động của tỷ giá để thực hiện các nghiệp vụ phòng chống rủi ro
tỷ giá, hoặc có các phương hướng sử dụng hiệu quả hơn
Từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Trong cơ cấu chi hàng năm, ngoài chi thường xuyên và chi cấp phát cho đầu tư phát triển, NSNN luôn có một phần nhất định dành cho đầu tư dưới hình thức tín dụng
Từ nguồn vốn thu hồi nợ hàng năm
Vì hoạt động TDĐT của Nhà nước là hoạt động vay trả và được thực hiện thường xuyên nên hàng năm có một lượng vốn nhất định được thu hồi từ các dự án cho vay trước đó Vốn thu hồi nợ được sử dụng để trả nợ, bù đắp chi phí hoạt động và phần còn lại được tăng cường vào nguồn vốn TDĐT của Nhà nước hiện hành
Huy động vốn thông qua việc đi vay các Quỹ
NHPT Việt Nam huy động vốn từ các công ty bảo hiểm, các quỹ hưu trí, các quỹ tài chính tập trung của Nhà nước (nếu có), các công ty tài chính, các công ty tiết kiệm, các ngân hàng thương mại để tạo nguồn cho đầu tư phát triển
Huy động vốn thông qua nguồn vốn nhận ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
Ngoài các hình thức huy động nêu trên, tín dụng đầu tư của Nhà nước còn có thể thực hiện hình thức nhận nguồn vốn ủy thác từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để bổ sung cho nhu cầu luôn thiếu vốn của hoạt động ĐTPT như ủy thác từ các tổ chức bảo hiểm, các quỹ hưu trí, nguồn xây dựng
Trang 28cơ bản của các công ty
a Hoạt động sử dụng nguồn vốn
* Nguyên tắc quản lý sử dụng nguồn vốn
Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Sử dụng nguồn vốn phải đúng mục tiêu đã định và tiến độ đầu tư của
dự án nhằm duy trì sự điều tiết vĩ mô và đảm bảo cho dự án đầu tư hiệu quả
- Quản lý và sử dụng nguồn vốn phải đảm bảo việc hoàn trả nguồn vốn tín dụng
- Lãi suất cho vay phải linh hoạt theo khả năng sinh lời của từng lĩnh vực, từng ngành nghề sản xuất kinh doanh, phù hợp theo diễn biến của thị trường nhưng phải thấp hơn lãi suất thị trường cùng kỳ để thể hiện được sự ưu đãi của Nhà nước
- Phải đảm bảo bảo toàn và phát triển nguồn vốn TDĐT thông qua một
cơ chế xử lý rủi ro thích hợp
* Các hình thức sử dụng nguồn vốn
Hoạt động TDĐT của Ngân hàng phát triển Việt Nam được quy định bởi các Nghị định của Chính phủ về thực hiện chính sách tín dụng đầu tư trong từng thời kỳ nhất định
Nguyên tắc của chính sách tín dụng đầu tư
- Hỗ trợ cho những dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm hoàn trả được vốn vay
- Một dự án có thể đồng thời được hỗ trợ theo hình thức cho vay đầu tư một phần và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư; hoặc đồng thời được cho vay đầu tư một phần và bảo lãnh tín dụng đầu tư (trước Nghị định 75/2011/NĐ-CP)
Trang 29- Chủ đầu tư phải sử dụng vốn vay đúng mục đích; trả nợ gốc, lãi vay đầy đủ và đúng thời hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký; thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng
- Dự án đầu tư phải được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay trước khi quyết định đầu tư
Tín dụng đầu tư của Nhà nước bao gồm các hình thức:
Cho vay đầu tư
Cho vay đầu tư là một hình thức tín dụng đầu tư của Nhà nước truyền thống, nguồn vốn tín dụng nhà nước trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư phát triển Ưu điểm của hình thức tín dụng này là có khả năng thực hiện quản
lý, giám sát nguồn vốn chặt chẽ ở các khâu trước và trong khi cho vay Tuy nhiên, thực hiện việc cho vay đầu tư thì phải luôn có sẵn nguồn vốn theo tiến
độ thực hiện dự án đầu tư
Hỗ trợ sau đầu tư
Hỗ trợ sau đầu tư là việc Nhà nước sử dụng một phần NSNN dành cho đầu tư phát triển để hỗ trợ một phần lãi suất cho chủ đầu tư vay vốn của các
tổ chức tín dụng để đầu tư vào các dự án nằm trong danh mục điều tiết của Nhà nước, sau khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng và trả được nợ vay
Bảo lãnh tín dụng đầu tư
Bảo lãnh tín dụng đầu tư là hình thức tín dụng đầu tư gián tiếp, ở đó cơ quan quản lý tín dụng đầu tư của Nhà nước với uy tín và nguồn vốn của mình thực hiện việc bảo lãnh cho các nhu cầu vay vốn đầu tư nằm trong danh mục điều tiết kinh tế của Nhà nước
1.2.3 Quy trình cấp tín dụng đầu tư của NHPT Việt Nam
* Nguyên tắc thực hiện
- Hội sở chính NHPT tiếp nhận Hồ sơ đề nghị cấp TDĐT do Chủ đầu
tư gửi đối với các dự án quan trọng quốc gia, các dự án nhóm A theo đề nghị
Trang 30của cơ quan có thẩm quyền, của Chủ đầu tư và trên cơ sở quyết định của Tổng Giám đốc NHPT
- Chi nhánh NHPT tiếp nhận Hồ sơ vay vốn do Chủ đầu tư gửi đối với các dự án không thuộc diện do Hội sở chính NHPT tiếp nhận Hồ sơ từ Chủ đầu tư như nêu trên
* Trình tự và thời gian thực hiện
- Tiếp xúc khách hàng: Khi một Chủ đầu tư có nhu cầu vốn TDĐT tại NHPT, cán bộ đơn vị chủ trì (do Lãnh đạo Chi nhánh phân công) trao đổi, đàm phán, nếu mục đích vay vốn của Chủ đầu tư thuộc diện tài trợ bằng nguồn vốn TDĐT Nếu dự án tín dụng đầu tư phù hợp với đối tượng và điều kiện vay vốn của NHPT thì cán bộ tín dụng thông báo cho khách hàng biết các chính sách TDĐT mà NHPT đang áp dụng, thương thảo sơ bộ các điều kiện về lãi suất, thời hạn, hình thức bảo đảm
- Hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ đề nghị cấp TDĐT: Hướng dẫn khách hàng cung cấp những thông tin về khách hàng; các qui định của NHPT
mà Chủ đầu tư phải đáp ứng về điều kiện cấp TDĐT và hướng dẫn lập hồ sơ vay vốn, hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh
- Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định hồ sơ của khách hàng:
Trường hợp thuộc phân cấp của Chi nhánh
Sau khi nhận đầy đủ các hồ sơ pháp lý, thủ tục vay vốn của chủ đầu tư chuyển đến bộ phận văn thư được lãnh đạo cho ý kiến xử lý chuyển bộ phận chủ trì thẩm định Bộ phận thẩm định có trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của bộ hồ sơ Nếu hồ sơ đủ điều kiện, hợp lệ thì Chi nhánh tiến hành thẩm định Nếu đảm bảo điều kiện cấp vốn TDĐT, tiến hành lập thông báo kết quả thẩm định, trình ban lãnh đạo Chi nhánh để thông báo cho khách hàng
Trang 31Trường hợp vượt phân cấp của Chi nhánh
Chi nhánh tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ đối với các dự án không thuộc diện phân cấp cho Giám đốc Chi nhánh NHPT quyết định cho vay Hồ
sơ đề nghị vay vốn của dự án đầu tư cùng với Báo cáo tổng hợp kết quả thẩm định đã được Lãnh đạo đơn vị chủ trì thẩm định ký duyệt được trình Giám đốc Chi nhánh NHPT để xem xét, chỉ đạo hoàn thiện thẩm định để đề xuất ý kiến về đề nghị vay vốn của Chủ đầu tư (chấp thuận cho vay/từ chối cho vay, các kiến nghị): Báo cáo tổng hợp kết quả thẩm định gửi Hội sở chính NHPT xem xét quyết định đối với đề nghị vay vốn của Chủ đầu tư Hội sở chính chịu trách nhiệm ra thông báo kết quả thẩm định gửi cho khách hàng
- Bàn giao Hồ sơ cấp TDĐT sau khi dự án được quyết định tài trợ vốn TDĐT: Đối với các dự án được quyết định cho vay, Đơn vị chủ trì thẩm định chuyển Hồ sơ vay vốn kèm toàn bộ bản chính các tài liệu liên quan đến quá trình thẩm định dự án (Báo cáo tổng hợp trong quá trình thẩm định dự án, Thông báo kết quả thẩm định, ) cho Phòng Tín dụng để Phòng Tín dụng soạn thảo HĐTD, hoàn tất các thủ tục đảm bảo tiền vay, bảng khế ước nhận
nợ, thông báo về việc ký HĐTD và thực hiện các bước tiếp theo như giải ngân, thu nợ
Đơn vị chủ trì thẩm định lưu bản sao Hồ sơ vay vốn và các tài liệu liên quan đến quá trình thẩm định dự án
- Thời gian thẩm định và xét duyệt:
* Đối với cho vay đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư:
Thời gian thẩm định dự án được tính từ ngày NHPT Việt Nam nhận đủ
Hồ sơ đề nghị vay vốn hợp pháp, hợp lệ đến thời điểm có văn bản thông báo kết quả thẩm định, được quy định như sau:
Trang 32+ Đối với dự án quan trọng quốc gia: Thời gian thẩm định, tham gia ý kiến thực hiện theo thời gian yêu cầu của cơ quan chủ trì thẩm định (không quá 60 ngày làm việc)
+ Đối với dự án nhóm A: Không quá 40 ngày làm việc;
+ Đối với dự án nhóm B: Không quá 30 ngày làm việc;
+ Đối với dự án nhóm C: Không quá 20 ngày làm việc
Thời gian quy định trên áp dụng cho các trường hợp thẩm định dự án cho vay mới và thẩm định lại dự án
* Đối với dự án hỗ trợ sau đầu tư: Tối đa là 24 ngày làm việc kể từ khi
NHPT nhận đủ hồ sơ theo qui định
Theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP thì Bảo lãnh TDĐT không còn là hình thức thuộc TDĐT của nhà nước nữa và trên thực tế Chi nhánh NHPT Kon Tum chưa hề phát sinh nghiệp vụ này nên từ phần sau trở đi luận văn sẽ không đề cập đến hoạt động Bảo lãnh TDĐT
1.2.4 Rủi ro trong hoạt động tín dụng đầu tư tại NHPT Việt Nam
Trong hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng thì việc quản lý rủi ro tín dụng là vô cùng cần thiết, có thể nói sự thành công hay thất bại trong hoạt động tín dụng là phụ thuộc vào việc phòng ngừa, hạn chế rủi ro tốt hay không tốt Đối với hoạt động tín dụng đầu tư tại NHPT Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật đó Quản lý rủi ro luôn được chú trọng trong tất cả
các khâu nghiệp vụ thẩm định, giải ngân, giám sát vốn tín dụng đầu tư
a Khái niệm rủi ro TDĐT
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN, tại khoản 1 điều 2 đã đề cập khái niệm: Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Trang 33Có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng với phạm vi nghiên cứu là hoạt động TDĐT của Nhà nước tại NHPT Việt Nam, thì khái niệm rủi ro được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất do người vay, người được bảo lãnh không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo điều khoản đã cam kết với NHPT Rủi ro xảy ra khi người vay không trả được đầy đủ các khoản vay (gốc, lãi), hoặc việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không được thực hiện đúng hạn theo các điều khoản đã cam kết Rủi ro TDĐT của Nhà nước tại NHPT Việt Nam không chỉ đơn thuần là khả năng xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà còn xảy ra những thiệt hại về xã hội và ảnh hưởng đến sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong từng thời kỳ
b Quản lý rủi ro tín dụng đầu tư
Quản lý rủi ro TDĐT của Nhà nước là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách quản lý tín dụng và các biện pháp nhằm giảm thiểu đến mức chấp nhận được những tổn thất về tài sản, thu nhập do người vay vốn TDĐT không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo điều khoản đã cam kết với ngân hàng
NHPT Việt Nam thực hiện quản lý rủi ro TDĐT xuất phát từ những lý
do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ đặc tính rủi ro của hoạt động đầu tư Hoạt động
đầu tư ẩn chứa nhiều yếu tố dẫn đến rủi ro không thu được nợ cho các tổ chức tín dụng, những rủi ro này xuất phát từ những rủi ro vốn có của hoạt động đầu
tư dự án (sự biến động về tỷ giá hối đoái, thời gian thực hiện quá dài nên bị ảnh hưởng về giá cả, chế độ chính sách thay đổi…) Rủi ro là yếu tố gắn liền với mọi hoạt động, là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động đi vay - cho vay của các tổ chức tín dụng , vì thế các tổ chức tín dụng chỉ có thể nhận diện
và tìm cách quản lý , đưa ra hướng xử lý để rủi ro ở mức chấp nhận và kiểm soát được
Trang 34Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu về bảo toàn vốn, nâng cao năng lực tự
chủ tài chính Quản lý rủi ro TDĐT tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động của ngân hàng Hàng năm, các ngân hàng phải trích lập quỹ dự phòng rủi ro hạch toán vào chi phí, quy mô của quỹ dự phòng căn cứ vào mức độ và khả năng rủi ro Quản lý rủi ro TDĐT tốt sẽ giảm thiểu chi phí hoạt động do giảm chi phí dự phòng đối với các khoản vay được xếp vào nhóm nợ rủi ro cao; hạn chế tình trạng mất nguồn thu và mất vốn do phải xử
lý rủi ro bằng hình thức khoanh nợ, miễn, giảm lãi tiền vay hoặc xoá nợ
Thứ ba, xuất phát từ nguy cơ xảy ra rủi ro TDĐT của Nhà nước cao
Khách hàng vay vốn TDĐT của Nhà nước được hưởng những điều kiện vay vốn ưu đãi nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ Trong đó, có những khoản vay tiềm ẩn nhiều rủi ro , NHTM không muốn cho vay song NHPT có thể xem xét , chấp thuận cho vay nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ
Vì vậy, quản lý rủi ro TDĐT tại NHPT Việt Nam là hết sức cần thiết
để vừa đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra, vừa hạn chế rủi ro ở mức chấp nhận được, tránh gây thất thoát vốn Nhà nước
Thực hiện quản lý rủi ro tín dụng là một trong những nội dung chính trong việc hoàn thiện hoạt động TDĐT
1.3 NỘI DUNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ
1.3.1 Quan niệm về hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư
Quan niệm về hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư được thể hiện trên các phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng tín dụng đầu tư, đáp ứng một cách tốt
nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng, đảm bảo cho các dự án tín dụng đầu tư của Nhà nước phát huy được hiệu quả phục vụ cho sự phát triển KT - XH
Trang 35Thứ hai, hạn chế thấp nhất rủi ro tín dụng đầu tư nhằm bảo toàn nguồn
vốn
Thứ ba, bảo đảm qui mô tín dụng đầu tư phù hợp với yêu cầu của từng
giai đoạn phát triển KT - XH, TDĐT phải phát huy được tối đa vai trò của mình đối với nền kinh tế
1.3.2 Các nội dung cơ bản phản ảnh sự hoàn thiện hoạt động tín dụng đầu tư
Việc hoàn thiện hoạt động TDĐT sẽ nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn TDĐT đối với nền kinh tế nói chung cũng như việc đạt được mục tiêu đề ra của Chính phủ Trong NHPT Việt Nam, sự hoàn thiện hoạt động TDĐT sẽ giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nguồn vốn cho Nhà nước Có nhiều nội dung phản ảnh sự hoàn thiện nhưng có thể nêu lên một số nội dung chính phản ảnh sự hoàn thiện của hoạt động TDĐT như sau:
* Chính sách tín dụng đầu tư phù hợp
Chính sách TDĐT phù hợp và có tính ổn định tương đối, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế từng miền, vùng là tiền đề để hoạt động TDĐT phát huy hiệu quả Đối tượng cho vay, mức vốn cho vay phải được phân theo từng nhóm, phù hợp với điều kiện phát triển KT - XH của từng địa phương Lãi suất cho vay có tính ưu đãi theo thực tế khó khăn từng vùng và tiếp cận dần đến lãi suất thị trường Thời hạn cho vay phải phù hợp với dự án, phù hợp
để chủ đầu tư có khả năng thu hồi vốn Chính sách bảo đảm tiền vay có thể điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn phát triển của chủ đầu tư, nền kinh tế
* Qui trình tín dụng đầu tư chặt chẽ
Bất kỳ một nghiệp vụ kinh doanh nào cũng phải có qui trình riêng của
nó và hoạt động TDĐT cũng như vậy Căn cứ vào đặc điểm hoạt động TDĐT, những qui định của Chính phủ cũng như của ngân hàng để thiết lập qui trình tín dụng phù hợp, đảm bảo sự thông suốt trong quá trình tác nghiệp Việc xây
Trang 36dựng qui trình tín dụng chặt chẽ sẽ có tác dụng sau:
+ Dựa trên qui trình, ngân hàng sẽ xây dựng được bộ máy phù hợp Nhiệm vụ của các bộ phận được xác định rõ ràng, tránh được lãng phí nhân lực cũng như việc phân định rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân
+ Qui trình được cụ thể hóa thành sổ tay nghiệp vụ, là cẩm nang tài liệu
để đào tạo cho nhân viên ngân hàng
+ Qui trình tín dụng là cơ sở để kiểm soát tất cả các khâu trong hoạt động TDĐT, giúp nhà quản trị có thể phát hiện những khâu, những qui định cần điều chỉnh, kiểm soát được các rủi ro khi cấp tín dụng
* Mô hình tổ chức thực hiện tín dụng đầu tư phù hợp
Xây dựng mô hình tổ chức thực hiện phù hợp với bất kỳ hoạt động nào cũng là điều kiện tiên quyết nói nên sự thành công của hoạt động đó Nếu có
mô hình tổ chức phù hợp, chúng ta sẽ tiết kiệm được chi phí, từ đó gia tăng lợi nhuận Một tổ chức thực hiện hoạt động nhịp nhàng, có sự phối hợp chặt chẽ sẽ đẩy nhanh tiến độ công việc, khách hàng gặp thuận lợi trong giao dịch
Hội đồng quản lý và Ban lãnh đạo cấp cao của ngân hàng phải thường xuyên điều chỉnh mô hình tổ chức thực hiện cho phù hợp với xu thế hội nhập
và tình hình phát triển KT - XH theo từng giai đoạn nhất định
* Hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro về hoạt động tín dụng đầu tư phát huy hiệu quả
Hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro hoạt động TDĐT được thể hiện trong các nội dung:
+ Chu trình xét duyệt tín dụng, giám sát tín dụng được thực hiện đầy
đủ, kịp thời, có hiệu quả, ngăn ngừa được những thiếu sót trong xử lý nghiệp
vụ
+ Các dữ liệu liên quan đến hoạt động tín dụng được thu thập, xử lý, chuyển giao một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác giúp cho việc ra quyết định
Trang 371.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng đầu tư
a Nhân tố thuộc về Ngân hàng Phát triển
Những nhân tố ảnh hưởng tới quy mô, chất lượng của hoạt động tín dụng đầu tư thuộc về nội tại của NHPT có thể kể đến như sau:
- Tổ chức bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ: Thể hiện qua việc tổ chức bộ máy thực thi, các nguyên tắc quản lý giữa Hội Sở chính và Chi nhánh, cách thức tổ chức quản trị nội bộ, các qui định về các thủ tục hành chính
- Quy trình thực hiện nghiệp vụ: Có chặt chẽ, bao quát mọi hoạt động
và giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ hay không? Qui trình tín dụng được xây dựng khoa học, qui định rõ trách nhiệm từng cá nhân,
bộ phận sẽ nâng cao chất lượng của việc ra quyết định cấp tín dụng, cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng
- Cơ sở vật chất, nguồn vốn có khả năng để thực hiện được nghiệp vụ: Bao gồm về cơ sở vật chất, hạ tầng, mạng lưới thông tin, thu thập và xử lí thông tin, hệ thống thanh toán
Nguồn vốn là vấn đề sống còn đối với bất kỳ một tổ chức tín dụng nào,
nó quyết định đến kết quả hoạt động Trong điều kiện NSNN đang hạn hẹp như hiện nay thì việc huy động được nguồn vốn có kỳ hạn dài phù hợp với cấp tín dụng cho các dự án có tác động hết sức quan trọng trong hoạt động TDĐT
- Nguồn nhân lực thực hiện các nghiệp vụ: Thể hiện qua chất lượng bộ
Trang 38máy tác nghiệp, kỹ năng lãnh đạo của đội ngũ quản lý các cấp, trình độ am hiểu, tinh thông về nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp ; các chính sách đãi ngộ, tiền lương, tuyển dụng, đào tạo phù hợp
b Nhân tố bên ngoài Ngân hàng Phát triển
Hoạt động tín dụng đầu tư muốn phát triển thì bên cạnh những nhân tố bên trong của cơ quan thực thi thì còn phụ thuộc vào các nhân tố bên ngoài như:
- Cơ chế, chính sách của quốc gia đó về tín dụng đầu tư: Nếu cơ chế phù hợp với nhiều chính sách ưu đãi sẽ là ưu tiên lựa chọn hàng đầu cho các chủ đầu tư Đối tượng được hưởng chính sách TDĐT tương đồng với hoạt động đầu tư trên địa bàn thì hoạt động TDĐT của Nhà nước sẽ có nhiều cơ hội để phát triển và ngược lại
- Năng lực nội tại của chủ đầu tư nhận tài trợ vốn tín dụng đầu tư: Thể hiện ở khả năng đáp ứng vốn tự có tham gia dự án, khả năng huy động vốn khác, năng lực quản lý, thực hiện dự án Chủ đầu tư có năng lực thì khả năng
dự án thành công và trả được nợ là rất lớn, ngược lại, nếu chủ đầu tư kém năng lực nội tại thì vốn TDĐT của Nhà nước bỏ ra cho dự án sẽ kém phát huy hiệu quả, dễ dẫn đến thất thoát vốn
- Môi trường và rủi ro kinh doanh của quốc gia trong từng giai đoạn phát triển
- Trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế, nhu cầu được tài trợ TDĐT của các doanh nghiệp sẽ dưới nhiều hình thức khác nhau
1.4 KINH NGHIỆM VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Nhằm khuyến khích các hoạt động đầu tư, Chính phủ của nhiều nước
đã thành lập các cơ quan thực hiện TDĐT nhằm tạo ra một công cụ hỗ trợ về vốn cho các ngành, nghề, lĩnh vực và vùng ưu tiên phát triển theo từng thời kỳ
Trang 39nhất định
Tùy theo vị thế ở mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới, tùy từng thời điểm và nguồn lực của mỗi nền kinh tế, Chính phủ các nước đưa ra các chính sách TDĐT khác nhau Các nước càng phát triển mạnh, mức độ và trình độ hỗ trợ ngày càng tinh vi, đối với các nước đang và chậm phát triển thì chủ yếu là
hỗ trợ trực tiếp cho đầu tư phát triển
1.4.1 Kinh nghiệm của Đức (Ngân hàng tái thiết Đức - KFW)
KFW là một tổ chức công được thành lập vào tháng 11 năm 1948 theo luật KFW về khuyến khích tái thiết nền kinh tế của Tây Đức sau chiến tranh
Phần lớn nguồn vốn của KFW là tự huy động thông qua phát hành trái phiếu và các khoản vay trên hối phiếu nhận nợ, hoặc các khoản vay của các quỹ xã hội Nguồn vốn chính dành cho tài trợ đầu tư là từ vốn tự có của KFW Đối với các chương trình ổn định ngân hàng duy trì lãi suất thấp bằng cách phối hợp các nguồn vốn từ các quỹ công cộng Ngoài ra để có đủ nguồn vốn cần thiết, KFW dùng vốn vay với lãi suất thấp từ quỹ đặc biệt chương trình khôi phục Châu Âu hoặc phát hành trái phiếu huy động vốn trực tiếp từ thị trường vốn và cũng nhận vốn ủy thác từ Chính phủ liên bang
Về lãi suất cho vay: Thời gian đầu thực hiện, KFW cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường nhưng sau đó lãi suất sẽ được điều chỉnh sát với lãi suất thị trường để giảm sự bao cấp của Nhà nước Bên cạnh việc giảm
ưu đãi về lãi suất là mở rộng thời hạn cho vay, chất lượng dịch vụ, điều kiện vay vốn…
KFW rất chú trọng trong công tác quản lý rủi ro tín dụng Để phòng ngừa rủi ro phát sinh do thay đổi lãi suất và tỷ giá, KFW tham gia vào một số các giao dịch có kỳ hạn tương lai KFW đã tiến hành một số bước để cải thiện khả năng cải thiện tài sản nợ của mình, và những bước này đã góp phần tăng khả năng sinh lời và ổn định tài chính của ngân hàng
Trang 401.4.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản (NHPT Nhật Bản)
Nhật Bản thành lập NHPT Nhật Bản (JDB) vào năm 1951, nhằm mục đích tài trợ cho các ngành công nghiệp có quy mô lớn Cũng như các NHPT khác trên thế giới, NHPT Nhật Bản cũng thuộc sở hữu của Nhà nước
Nguồn vốn chủ yếu là vay từ Chính phủ dưới hình thức Quỹ tín thác đầu tư Nguồn của Quỹ này chủ yếu là tiết kiệm trong nước với thời hạn trung
và dài hạn với lãi suất huy động cao hơn các NHTM
Trong giai đoạn đầu sau chiến tranh từ năm 1953 đến 1960, khoảng 87% khoản cho vay của WB cho Nhật Bản đều thông qua NHPT và Chính phủ trở thành người bảo lãnh
Trong cơ cấu tài sản của JDB, phần lớn tập trung vào cho vay phát triển, dài hạn Tỷ lệ đầu tư cho kết cấu hạ tầng cơ sở, cải thiện điều kiện sống, cải tiến nông nghiệp và doanh nghiệp rất lớn Việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng vừa nâng cao mức sống của dân cư, vừa tạo điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh Hiệu quả tài chính trực tiếp từ các khoản đầu tư này rất khó xác định trong ngắn hạn, do vậy thường không nằm trong mục tiêu cho vay của các ngân hàng khác Trợ giúp vốn cho doanh nghiệp nhằm góp phần trang trải chi phí nghiên cứu ban đầu đối với sản phẩm mới, cho vay tài sản lưu động trong giai đoạn đầu của các dự án… Ngân hàng chú trọng các khoản cho vay
hỗ trợ ban đầu, cho vay đối với các lĩnh vực sinh lời thấp song có tác dụng tương hỗ rộng đối với các vấn đề kinh tế, xã hội
Về chính sách tín dụng của JDB cũng thể hiện đúng bản chất của một ngân hàng chính sách của Chính phủ từ đối tượng vay vốn; lãi suất cho vay dần tiếp cận với lãi suất thị trường có sự linh động đối với một số trường hợp cần thiết; tập trung hỗ trợ về các điều kiện vay vốn như mức vốn vay có thể xác định tối đa có thể (có nhiều dự án mức vốn vay lên tới 90% đến 100% tổng nhu cầu vốn), thời hạn cho vay được mở theo nhu cầu trên cơ sở xác