Thực tế, trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND, một số người tiến hành tố tụng chưa thực sự quan tâm đến quyền của bị cáo, đặc biệt là đối với những bị c
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
TS ĐINH THỊ MAI
Phản biện 1: PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
Phản biện 2: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: giờ, ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viên học viện khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội và các mối quan hệ xã hội Chính vì thế, quyền con người luôn được quy định và bảo đảm thực hiện trong các đạo luật của mỗi quốc gia Tuyên ngôn
độc lập của Mỹ năm 1776 đã ghi nhận: “Tất cả mọi người đều sinh
ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”
Thực tế, trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND, một số người tiến hành tố tụng chưa thực sự quan tâm đến quyền của bị cáo, đặc biệt là đối với những bị cáo phạm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người hay các tội phạm về ma túy… Một số người cho rằng cần phải trừng trị nghiêm khắc và có thái độ kỳ thị đối với những bị cáo phạm loại tội này Vì vậy, quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử còn có lúc chưa được đảm bảo
Tỉnh Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm, là điểm chung chuyển giữa thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng, là địa bàn có nhiều khu công nghiệp, thu hút lao động từ nước ngoài và các tỉnh trên địa bàn
cả nước Chính vì vậy, tình hình tội phạm ở Hải Dương diễn biến phức tạp, người phạm tội đến từ nhiều nơi khác nhau Trước yêu cầu của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ thực trạng bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự, tác giả chọn đề tài: “Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh
Trang 4Hải Dương” làm luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Luật hình sự và tố
tụng hình sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến vấn đề này nhiều công trình đã được công bố
có nội dung đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung, và bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng Cụ thể có nhiều công trình, bài tham luận như: GS.TS Hoàng Văn Hảo và Phạm Ích Khiêm, Quyền con người trong thế giới hiện đại; Đỗ Trung Hiếu, Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay; Nguyễn Văn Vĩnh, Triết học chính trị về quyền con người; GS.TS Trần Ngọc Đường, Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; TS Tường Duy Kiên, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người; PGS TS Đinh Văn Mậu, Chuyên khảo “Quyền lực Nhà nước và quyền con người”…
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những tri thức lý luận nền tảng, cũng như những tri thức về nhân thân người phạm tội trong các công trình nghiên cứu mà mình tiếp cận được, tác giải sẽ vận dụng đi sâu nghiên cứu về việc bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Hải Dương
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là phân tích chỉ rõ những kết quả cũng như hạn chế, bất cập trong bảo đảm quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của TAND tỉnh Hải Dương từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường bảo đảm quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm VAHS
Trang 53.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền của bị cáo, bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm của Việt Nam nói chung và thực tế trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng, để rút ra những khó khăn, vướng mắc của pháp luật hiện hành và tìm ra nguyên nhân khắc phục những bất cập đó
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật
tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử
sơ vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới quyền con người, quyền của bị cáo, bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự trên địa bàn tỉnh Hải Dương
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi không gian trên lãnh thổ tỉnh Hải Dương
- Phạm vi tòa án: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi các tòa
án cấp sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Hải Dương
- Phạm vi hoạt động xét xử của tòa án: trong phạm vi hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự
- Phạm vi thời gian: trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016
Trang 65 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở lấy quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật XHCN và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần củng cố nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ cho những người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, HTND, KSV, Luật sư, Thư ký), trong việc bảo đảm quyền con người của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, góp phần hoàn thiện về nghiên cứu lý luận
và nghiên cứu thực tiễn đối với các quy định liên quan đến bảo đảm quyền con người đối với bị cáo trong xét xử sơ thẩm Đồng thời, kết quả nghiên cứu được đề cập trong luận văn này sẽ là một trong những tài liệu khoa học hữu ích cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu pháp luật liên quan Đối với các cơ quan nhà nước, luận văn có thể là tài liệu tham khảo có giá trị trong quá trình xây dựng, áp dụng
và thực hiện pháp luật
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm 03 Chương:
Chương 1 Khái quát chung về bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chương 2 Thực trạng bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Chương 3 Các giải pháp bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Trang 7Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Quyền con người là tổng hợp các quyền và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lý của cá nhân Nhưng có ý kiến cho rằng “Quyền con người
là những đặc quyền (nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và bảo hộ bằng luật quốc tế và pháp luật quốc gia Quyền con người là quyền của tất cả mọi người [15, tr 27]
Ban bố những quyền của dân, cho dân:
a) Nhân quyền;
b) Tài sản (quyền sở hữu);
c) Dân quyền: Quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền
1.1.2 Khái niệm bị cáo
Khái niệm bị cáo tiếp tục được mở rộng để phù hợp với xu hướng phát triển, hội nhập quốc tế của thời đại Chính vì vậy BLTTHS 2015 ra đời quy định chi tiết, đầy đủ, rõ nét hơn về bị cáo
Khoản 1 Điều 61 BLTTHS 2015 quy định: Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này
Trang 81.1.3 Khái niệm bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Với những nhận thức trên, theo tác giả, khái niệm bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được phát biểu như sau:
Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự là sự bảo đảm cho người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử được thực hiện trên thực tế một cách đầy đủ và hợp pháp các quyền được đề cập trong các quy định của BLTTHS bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cơ quan khác được pháp luật quy định
1.2 Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm hình sự
1.2.1 Các quyền con người, quyền công dân của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Điều 85 BLTTHS 2015, đã bổ sung thêm những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự: “…Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt”, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự và tạo sự công bằng cho người bị buộc tội Song song với việc thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến việc buộc tội thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến việc gỡ tội để tránh oan sai
1.2.2 Các quyền tố tụng của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
- Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định
Trang 9đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác Như vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo được nhận tất
cả các quyết định tố tụng liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của bị cáo
- Quyền tham gia phiên tòa, với quy định này thì bị cáo phải tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải, nếu vắng mặt có lý do thì phải hoãn phiên tòa, nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì HĐXX tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh
- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: trách nhiệm
của người tiến hành tố tụng khi làm việc với người bị buộc tôi trong các giai đoạn tố tụng là phải giải thích cho họ về quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ Tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền
và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục bắt đầu phiên tòa
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch: trong quá trình tham gia tố tụng, nếu có
căn cứ cho rằng người tiến hành tố tụng người giám định, người phiên dịch không vô tư trong quá trình giải quyết vụ án thì bị cáo có quyền đề nghị thay đổi Quyền này thể hiện sự công bằng, bình đẳng trong TTHS
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: BLTTHS 1988 quy
định, bị cáo có quyền đưa ra “chứng cứ và những yêu cầu”, khắc phục khó khăn cho bị báo về việc xác định thế nào là “chứng cứ” để đưa ra và giao nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng, BLTTHS 2003 quy định mở rộng hơn mang tính hoàn thiện và phù hợp với thực tế
- Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: quyền
bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS, bị cáo khi
Trang 10thực hiện quyền này sẽ đưa ra căn cứ để gỡ tội cho bản thân hoặc nhờ người bào chữa cho mình nếu không thể tự mình bào chữa Người bào chữa phải là người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật
- Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo khi
thực hiện quyền này sẽ đưa ra tài liệu, đồ vật, quan điểm của mình để tranh luận lại với lời luận tội của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố Quan điểm tranh luận của bị cáo sẽ được HĐXX xem xét khi nghị án
- Quyền nói lời sau cùng trước khi nghị án: Trước khi HĐXX vào nghị án, bị có được quyền nói lời sau cùng, bị cáo được
trình bày về những vấn đề mà họ cho là cần thiết nhất đối với mình
để hội đồng xét xử xem xét khi nghị án
- Quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án: Khi
HĐXX tuyên án, xét thấy bản án đã tuyên không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, mức hình phạt đã tuyên nặng so với hành vi phạm tội theo quy định …
- Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hệ thống văn bản quy phạm
pháp luật Việt Nam rất rộng, thường xuyên hoàn thiện thông qua việc sửa đổi, bổ sụng Bộ luật, văn bản hướng dẫn thi hành, nên việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không phải lúc nào cũng áp dụng pháp luật chính xác, tuyệt đối
1.2.3 Nội dung bảo đảm các quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm hình sự
Chương V Hiến pháp năm 2013 có quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” và
Trang 11“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” đã toàn diện hơn so với quy định tại Điều 72 Hiến pháp năm 1992 “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật”
1.2.4 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm hình sự
"Xét xử sơ thẩm" của BLTTHS 2003 Kể từ ngày 01/01/2018, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sẽ có hiệu lực, là cơ sở pháp lý thay thế cho BLTTHS 2003
Trang 12chấp hành án, vì vậy bị cáo là chủ thể có nguy cơ dễ bị xâm hại về quyền con người Cùng với quá trình phát triển và hội nhập, Việt Nam đã có những công cụ pháp lý quan trọng để đảm bảo quyền của bị cáo trong xét xử sơ thẩm được quy định tại Hiến pháp năm 2013,
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật tổ chức TAND 2014, Luật tổ chức Viện KSND 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG 2.1 Tổng quan thực trạng xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trong tổng số 1687 bị cáo bị xét xử sơ thẩm, Tòa án hai cấp
đã tuyên Miễn trách nhiệm hình sự 41 bị cáo, phạt tiền 112 bị cáo, cải tạo không giam giữ 168 bị cáo, cho hưởng án treo 323 bị cáo (chủ yếu tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và trộm cắp tái sản ít nghiêm trọng), tù dưới 3 năm 847 bị cáo, tù từ 3 năm đến dưới 7 năm 116 bị cáo, tù từ 7 năm đến dưới 15 năm 60 bị cáo, tù từ 15 năm đến 20 năm 12 bị cáo, phạt tù chung thân 07 bị cáo; Tổng hợp hình phạt tù trên 20 năm 01 bị cáo và hình phạt bổ sung là phạt tiền 137 trường hợp
Tình hình xét xử các vụ án hình sự tại Hải Dương cho thấy tình hình tội phạm chủ yếu tập trung vào các loại tội phạm về ma túy; tội Trộm cắp tài sản; Cướp tài sản; tội Đánh bạc; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tội Cố ý gây thương tích; Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Có một số ít là tội phạm công
Trang 13nghệ cao, chiếm đoạt tài sản qua mạng; Tội phạm về tham nhũng, kinh tế chức vụ
2.2 Thực trạng thực hiện quyền con người của bị cáo trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự tại các tòa án trên địa bàn tỉnh Hải Dương
2.2.1 Những kết quả đạt được
- Tòa án nhân dân hai cấp của tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương chấp hành nghiêm túc các quy định của Nhà nước về đảm bảo quyền cơ bản của bị cáo
- Để đảm bảo sự tranh tụng giữa bên buộc tội, gỡ tội, 100% phòng xử án trên địa bàn tỉnh Hải Dương được bố trí theo mô hình cải cách tư pháp thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa
- Bảo đảm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng
- Bảo đảm đầy đủ các quyền của bị cáo như: tham gia phiên tòa; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa…
- Thành phần HĐXX tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật Các nguyên tắc cơ bản theo quy định của BLTTHS được bảo đảm thực hiện
- Cơ chế giám sát hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự được chú trọng Giám sát của HĐND, Mặt trận tổ quốc, đối với hoạt động tư pháp được hiểu là giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự … giám sát hoạt động của Công an, TAND, VKSND cùng cấp trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án …