1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển KTNT trong quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam

21 330 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Ktnt Trong Quá Trình Cnh - Hdh Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Thôn
Thể loại Đề Án Nghiên Cứu
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 137,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua 5 năm thực hiện chủ trương CNH - HĐH do Đại hội Đảng IX đề ra ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội.

Trang 1

A MỞ BÀI

Qua 5 năm thực hiện chủ trương CNH - HĐH do Đại hội Đảng IX

đề ra ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội Bình quân trong 10 năm GĐP nông nghiệp tăng 4,3%, sản lượng lương thực tăng 5,5%, gấp hơn

2 lần so với tỷ lệ tăng dân số Tuy nhiên nếu đánh giá một cách khách quan, nhìn thẳng vào sự thật và đối chiếu với tiềm năng, lợi thế nông nghiệp nước ta cũng như mục tiêu mà Đại hội IX đã đề ra thì thấy rằng sự phát triển của KTNT thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiền năng hiện có, vẫn còn nhiều hạn chế, tính biền vững và hiệu quả chưa cao

Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ mục tiêu: “CNH - HĐH đất nước trong

đó trước hết là trọng tâm và CNH - HĐH nông thôn phấn đấu đến năm

2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp”.

Việc phát triển KTNT trong quá trình CNH - HĐH nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết, thu hút

sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước và Chính phủ

Với đề tài: “Phát triển KTNT trong quá trình CNH - HĐH ở Việt Nam” em xin được xây dựng một số vốn hiểu biết của mình nói về vấn

đề phát triển KTNT ở Việt Nam Cách nhìn nhận vấn đề và giải quyết vấn đề cùng một số kiến nghị về chính sách nông nghiệp nông thôn nhằm hoàn thiện hơn cho việc thúc đẩy phát triển KTNT góp phần phát triển kinh tế Việt Nam theo định hướng XHCN

Trong đề án nghiên cứu này còn nhiều điều em chưa đề cập đến do

Trang 2

B NỘI DUNG

I/ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN KTNT THEO CON ĐƯỜNG CNH - HĐH

Ở VIỆT NAM 1/ Thế nào là KTNT.

1.1 Định nghĩa:

Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong Nông - Lâm - Ngư nghiệp, cùng với các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh

tế vùng và lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Cơ cấu ngành nghề kinh tế nông thôn

Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước

Công nghiệp gắn với nông, lâm, ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp và các ngành tiểu thủ công nghiệp khác

Các loại hình dịch vụ thương nghiệp, tín dụng, khoa học và công nghệ, tư vấn… cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, đường, trường, trạm…)

Đó là những bộ phận hợp thành của kinh tế nông thôn và sự phát triển của chúng là biểu hiện trình độ phát triển của kinh tế nông thôn

Cơ cấu thành phần kinh tế nông thôn

Kinh tế nhà nước trong lĩnh vựa nông nghiệp là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế nông thôn Bộ phận tiêu biểu của thành phần kinh tế này là các nông – lâm trường quốc doanh, các trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp

và các cơ sở hạ tầng ở nông thôn

Trang 3

Chúng gắn bó hữu cơ với kinh tế nông thôn từng vùng như là bộ phận cấu thành bên trong của nó.

Kinh tế tập thể sẽ trở nên đa dạng hơn, các hình thức kinh tế này sẽ phát triển từ thấp đến cao, hoàn chỉnh nhất là các hợp tác xã kiểu mới, tiến lên liên hiệp các hợp tác xã kinh doanh nhiều ngành nghề Kinh tế tập thể là con đường tất yếu để nông dân và cư dân nông thôn đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và cùng với kinh tế nhà nước trong nông thôn hợp thành nền tảng của nền kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế hộ gia đình chưa tham gia hợp tác xã thuộc thành phần kinh tế cá thể hoặc tiểu chủ: Hộ gia đình và hợp tác xã được là đơn vị cơ bản trong kinh tế nông nghiệp.hộ gia đình đó còn là hình thức trung gian chuyển tiếp từ thành phần kinh tế cá thể sang kinh tế tập thể

Kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước tiếp tục tồn tại và phát triển Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tìm ra những hình thức kinh tế thích hợp để từng bước đưa thành phần kinh tế tư nhân đi vào con đường kinh tế tư bản nhà nước để tiến lên chủ nghĩa xã hội

Về trình độ công nghệ kinh tế nông thôn

Đây là sự tổng hợp, kết hợp có căn cứ khoa học nhiều trình độ và quy mô nhất định: Từ công nghệ truyền thống nói chung còn lạc hậu cho đến công nghệ nửa hiện đại và hiện đại ; nhiều quy mô, trong đó quy mô nhỏ và vừa là thích hợp nhất

Về cơ cấu xã hội – giai cấp.

Quá trình phát triển kinh tế nông thôn là quá trình phát triển công lao động

xã hội, chuyển đổi và đa dạng hoá

Ngành nghề sản xuất và dịch vụ ở nông thôn Quá trình đó cũng dẫn đến sự

Trang 4

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh tháiNông thôn nước ta bao gồm những khu vực rộng lớn Ở đây, các tài nguyên của đất nước chiếm tuyệt đại bộ phận như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển, nguồn nước Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng.

2/ Vai trò của KTNT.

2.1 KTNT phát triển sẽ tạo ra những tiền đề, cơ sở quan trọng để đảm bảo thắng lợi cho quá trình CNH - HĐH ở nước ta.

Phát triển KTNT trước hết là phát triển KTNN một cách mạnh mẽ

và ổn đinh, tạo cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là cho công nghiệp một cơ sở vững chắc về nhiều phương diện, trước hết là về lương thực, thực phẩm Dù cho nền kinh tế có phát triển đến đâu thì nông nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng vì nó thoả mãn nhu cầu hàng đầu của con người là nhu cầu ăn, tạo ra sự ổn định về chính trị, kinh tế

và quốc phòng Với việc phát triển đồng bộ các ngành nghề ở nông thôn, KTNT sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm với giá trị ngày càng tăng và điều đó góp phần giải quyết vấn đề vốn để CNH - HĐH

2.2 Phát triển KTNT theo hướng CNH - HĐH sẽ thực hiện dược quá trình CNH - HĐH tại chỗ.

Gắn bó tại chỗ công nghiệp với nông nghiệp, vấn đề đô thị hoá sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị hoá tại chỗ, làm cho người lao động có việc làm tại chỗ, giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém phát triển

Trang 5

KTNT, trong khi phát triển mạnh mẽ không chỉ nông nghiệp mà cả công nghiệp, thương nghiệp cùng các ngành nghề khác, sẽ làm cho toàn

bộ các ngành đó chuyển mạnh sang một nền kinh tế phát triển

2.3 KTNT phát triển sẽ tạo cơ sở vật chất, tạo tiền đề cho sự phát triển văn hoá ở nông thôn.

Nông thôn vốn là vùng kinh tế, văn hoá lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục, ít theo luật pháp thống nhất Mặt khác, nông thôn

là nơi truyền thống cộng đồng (cả tốt lẫn xấu) còn sâu đậm Phát triển KTNT sẽ tạo điều kiện vừa để giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá xã hội tốt đẹp, bài trừ văn hoá lạc hậu cũ, vừa tổ chức tốt đời sống văn hoá

và tinh thần

2.4 Sự phát triển của KTNT gắn liền với phát triển xã hội, văn hoá, chính trị và kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, sẽ dẫn đến thắng lợi của CNXH trên đất nước ta.

Một nông thôn có kinh tế và văn hoá phát triển, dời sống ấm no, đầy

đủ về vật chất, yên ổn và vui tươi về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định củng cố vững chắc trận địa lòng dân, thắn chặt mối liên ming công nông - đảm bảo cho nhân dân ta có thể đánh bại mọi âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, cũng như tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng - an ninh đủ sức đánh bại mọi âm mưu xâm lược vũ trang của mọi kẻ thù, dưới bất kỳ hình thức nào

Trang 6

II/ CÁC GIẢI PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH ĐỂ PHÁT TRIỂN KTNT Ở VIỆT NAM

TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH.

Trong lương thực, sản xuất lúa tăng nhanh và ổn định cả về diện tích

và năng suất Nếu năm 1990 cả nước mới gieo cấy 6 triệu ha thì năm

2000 đã tăng lên 7,67 triệu ha do khai hoang và tăng vụ Cơ cấu mùa vụ

và cây trồng đã có sự chuyển biến tích cực theo hướng tăng diện tích lúa đông xuân, lúa hè thu, giảm diện tích lúa mùa có năng suất thấp từ 2,73 triệu ha xuống 2,38 triệu ha trong 12 năm tương ứng, tạo điều kiện để thâm canh tăng năng suất lúa từng vụ và cả năm

Cùng với mở rộng diện tích, 10 năm qua sản xuất lúa nước ta còn đạt nhiều tiến bộ về thâm canh tăng năng suất và nâng cao chất lượng lúa

Trang 7

gạo Trình độ thâm canh lúa của nông dân tăng lên cùng với tác động tích cực của khoa học kỹ thuật nhất là giống lúa mới, đã tạo ra sự ổn định về năng suất lúa:

Năm Năng suất

2000 42,6 tạ/ha

Bình quân 10 năm năng suất lúa tăng 10 tạ/ha

Cùng với những tiến bộ về mùa vụ, chuyển vụ và thâm canh lúa,

12 năm qua đã hình thành một số vùng lúa đặc sản phục vụ xuất khẩu ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như: An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long Trung bình mỗi tỉnh có từ 10 vạn đến 20 vạn lúa đặc sản với nhiều chủng loại khác nhau nhưng có đặc điểm giống nhau là hạt gạo dài, thơm ngon theo yêu cầu của thị trường Ở tỉnh An Giang đã xuất hiện mô hình sản xuất lúa xuất khẩu theo mô hình liên doanh gắn với thị trường tiêu thụ ở Nhật Bản, theo qui trình công nghệ Nhật Bản Trong 3 năm từ 1996 đến 1998 nước ta xuất khẩu 10,2 triệu tấn gạo, nhiều hơn lượng gạo xuất khẩu năm trước đó gần 1 triệu tấn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới sau Thái Lan Đến năm 2001 Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới

Cùng với lúa, màu lương thực khá ổn định trong 12 năm qua góp phần bổ sung nguồn lương thực cho người và thức ăn gia súc Sản lượng màu qui thóc bình quân mỗi năm đạt gần 3 triệu tấn, trong đó tăng trưởng nhanh nhất là ngô:

Trang 8

Năm Diện tích Năng suất Sản lượng

Cây ăn quả và cây công nghiệp.

Trong trồng trọt bước đầu đã thực hiện được phương châm “Đất nào cây ấy” để tăng hiệu quả, chuyển dần những diện tích trước đây trồng lúa, màu năng suất thấp sang trồng cây ăn quả và cây công nghiệp

có lợi hơn Bình quân qua 12 năm từ 1988 đến 2000 với bình quân 5 năm trước đó, sản lượng lạc tăng 34%, mía tanưg 74%, cao su tăng 78%,

hồ tiêu tăng 68% đặc biệt sản lượng cà phê tăng nhanh:

Trang 9

Cùng với cà phê là cây sao su, năm 1998 sản lượng cao su đạt 199 ngàn tấn, tăng 3,5 lần so với năm 1990, năm 2000 đạt trên 250 ngàn tấn chủ yếu do tăng diện tích cho sản phẩm Cao su vẫn là mặt hàng nông sản xuất khẩu có thị trường và có giá trị lớn thứ ba sau gạo và cà phê.

Các cây ăn quả đặc sản có chất lượng cao phát triển mạnh, nhất là nho, vải thiều, nhãn, mận hậu, cam đã đem lại hiệu quả kinh tế xã hội

rõ nét ở nhiều vùng Nam Bộ, mìn núi phía Bắc Huyện Lục Ngạn (Bắc Giang); huyện Đông Triệu (Quảng Ninh) đã và đang giàu lên nhờ mở rộng diện tích và tăng năng suất vải thiều

Trang 10

1.1.b Chăn nuôi.

Chăn nuôi phát triển nhanh và toàn diện, bình quân qua 12 năm từ

1988 đến 2000 so với bình quân 7 năm trước đó 1981, 1987 đàn trâu tăng 5%, đàn bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 20%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 25%, sản lượng trứng tăng 33% Năm 2000 đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 1,4 triệu tấn, tăng 67% và gấp hơn 2,5 lần so với năm 1988 đặc biệt đàn

bò sữa tăng khá, năm 1999 đạt gần 30 ngàn con, trong đó TPHCM gần

25 ngàn con tăng gấp 3 lần so với năm 1990 Chăn nuôi bò sữa là một nghề mới của nông dân TPHCM và Hà Nội, đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng sữa tươi của dân cư các thành phố, thị xã trong điều kiện thu nhập

và đời sống được cải thiện so với trước đây Nhờ ứng dụng những tiến

bộ khoa học kỹ thuật mới về giống, thức ăn và thú y nên chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển khá ổn định, tốc độ tăng trưởng cao, góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp

1.2 Trong lâm nghiệp và thủy sản.

Những thành tựu đạt được trong sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản trong

12 năm từ 1988 đến 2000 như một mốc son chói lọi đánh dấu sự sang trang từ tự cấp tự túc đến sản xuất hàng hoá Nguồn ngoại tệ thu được từ các sản phẩm Nông - Lâm - Thủy sản những năm qua chiếm tỷ trọng từ 45% đến 47% tổng giá trị xuất khẩu cả nước Điều đặc biệt có ý nghĩa là giá trị xuất khẩu Nông - Lâm - Thủy sản thu được là phần dư ra sau khi

đã thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước trong điều kiện thời tiết không thuận lợi

Trang 11

1.3 Tình hình tiểu thủ công nghiệp.

Tốc độ phát triển tiểu thủ công nghiệp ở một số vùng nông thôn thời gian qua tương đối tăng nhanh, đạt mức bình quân 10 đến 11% một năm

kể từ khi có luật đất đai Các nghề và làng nghề truyền thống bước đầu được phục hồi, nghề và làng nghề mới đang được phát triển Những tỉnh

có nhiều làng nghề là Hà Tây, Nam Định, Thanh Hoá Tiểu thủ công nghiệp góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân nông thôn Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm ổn định cho 25 đến 27 lao động, bình quân mỗi hộ ngành nghề giải quyết được 3 đến 5 lao động Thu nhập của lao động chuyên tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn cao hơn lao động nông nghiệp thuần tuý khoảng 3 đến 6 lần

Tuy nhiên, qui mô tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn còn nhỏ, kinh tế

hộ là phổ biến Trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật của người lao động làm tiểu thủ công nghiệp còn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn Có tới 55% lao động trong các cơ sở chưa qua đào tạo, 36% không có chuyên môn kỹ thuật Máy móc thiết bị phần lớn đơn giản, cũ, thải loại từ công nghiệp thành phố, không đảm bảo kỹ thuật an toàn và

vệ sinh môi trường Vốn nhỏ bé, chủ yếu là tự có Chất lượng sản phẩm thấp, đơn điệu, mẫu mã bao bì chưa hấp dẫn hơn 90% là tiêu thụ trong nước Tình hình chất thải của tiểu thủ công nghiệp không được xử lý gây

ô nhiễm môi trường nông thôn Tình trạng khai thác bừa bãi nguồn tài nguyên gây hậu quả xấu cho môi trường và cảnh quan thiên nhiên

1.4 Trong công nghiệp.

Công nghiệp dịch vụ khoa học ở nông thôn kém phát triển, chủ

Trang 12

1.5 Cơ cấu nông nghiệp nông thôn.

Trong 10 năm qua tỷ trọng nông nghiệp trong GDP có xu hướng chững lại và giảm đần, sự đóng góp của nông nghiệp trong GDP nhỏ so với lực lượng lao động đông đảo, công nghiệp và dịch vụ chưa đóng góp được vai trò thu hút lao động mạnh mẽ

Đã tạo được sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng đa dạng hơn với những sản phẩm cây công nghiệp lớn, hình thành các vùng tập trung chuyên canh có sản lượng hàng hoá cao như: Cà phê, cao su, chè, điều Trong nông nghiệp đã bước đầu chú ý đến khu vực dịch vụ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi (tuy còn thấp xa so với yêu cầu)

Do phát triển đa dạng hơn nên từng bước đã tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành thủy sản và giữa được tỷ trọng ngành lâm nghiệp

Cơ cấu công nghiệp đã có sự chuyển biến mạnh mẽ theo lãnh thổ đi vào khai thác thế mạnh của nền nông nghiệp sinh thái của từng vùng, gắn với thị trường Các mặt hàng Nông - Lâm - Thủy sản đã trở lên đa dạng hơn, chất lượng cao hơn (từ nguyên liệu, bán tươi và chế biến tinh)

Cơ cấu nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và trong nội tại ngành nông nghiệp nhìn chung chuyển biến còn rất chậm và đang trong bước khởi đầu Trong cơ cấu giá trị sản xuất ngành trồng trọt, giá trị sản xuất cây công nghiệp tăng, nhưng tăng chậm, có cây công nghiệp còn tiêu thụ chậm

2/ Những vấn đề đặt ra.

Bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, nông nghiệp nước ta cũng

đã xuất hiện những vấn đề đặt ra cần quan tâm

Ngày đăng: 22/07/2013, 10:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w