Việc tổ chức thực hiện hệ thống thông tin kế toán khoa học, hợp lý sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng quyết địn
Trang 1NGUYỄN THỊ PHI YẾN
ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng, năm 2013
Trang 2NGUYỄN THỊ PHI YẾN
ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN CÔNG PHƯƠNG
Đà Nẵng, năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các s ố liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Thị Phi Yến
Trang 4CCN Cụm công nghiệp Phước Lý
CC Chung cư Phước Lý
CN NNMN Hạng mục cấp nước Nam Nhà Máy Nước
ĐCS HHMR Điện chiếu sáng Hòa Hiệp Mở Rộng
ĐCS TĐCPL Điện chiếu sáng TĐC Phước Lý
DDHT ĐVCCN Di dời đường dây hạ thế Tuyến Đường
ĐVCCN Đường vào cụm công nghiệp Phước Lý
HĐT Hồ Điều Tiết Phước Lý
HHB Hòa Hiệp Bắc
KDCPL Khu Dân Cư Phước Lý
NNMN Nam Nhà Máy Nước
SN1 San nền 1
SN2 San nền 2
HHMR Tái Định Cư Hòa Hiệp Mở Rộng
TĐCPL Tái Định Cư Phước Lý
Trang 5VAS 01 : Chuẩn mực kế toán số 01 - Chuẩn mực chung
VAS 15 : Chuẩn mực kế toán số 15 - Hợp đồng xây dựng
VAS 14 : Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác VAS 16 : Chuẩn mực kế toán số 16 – Chi phí đi vay
NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp
NCTT : Nhân công trực tiếp
MTC : Máy thi công
TSCĐ : Tài sản cố định
HĐXD : Hợp đồng xây dựng
QLDN : Quản lý doanh nghiệp
HĐKD : Hoạt động kinh doanh
SXKD : Sản xuất kinh doanh
Trang 6Số hiệu Tên bảng Trang
2.1 Danh mục các dự án đã và đang thực hiện 25 2.2 Biên bản nghiệm thu khối lượng 33 2.3 Bảng thanh toán khối lượng 35 2.4 Bảng tổng hợp doanh thu 37 2.5 Bảng tổng hợp chi phí trực tiếp 44 2.6 Bảng tổng hợp phân bổ chi phí cho các công trình 47 2.7 Biên bản xác định giá trị dở dang cuối kỳ 49 2.8 Bảng tính giá thành 50 2.9 Bảng tổng hợp chi phí thời kỳ 52 2.10 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 54 3.1 Bảng xác định lại chi phí sửa chửa lớn cho các công
3.3 Bảng tập hợp và phân bổ lương ban chỉ huy cho các
đối tượng tập hợp chi phí
67
3.4 Xác định lại các khoản giảm chi phí 68 3.5 Bảng trích chi phí bảo hành của công trình 69
Trang 73.7 Bảng tổng hợp các nội dung chi phí thay đổi 71 3.8 Bảng xác định lại giá trị dở dang cuối kỳ 74 3.9 Bảng xác định lại giá thành 75 3.10 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2012 76
Trang 8MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG 8
1.1 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 8 1.1.1 Khái niệm lợi nhuận 8
1.1.2 Các nguyên tắc kế toán liên quan đến việc xác định lợi nhuận 9
1.2 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG .11
1.2.1 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng 11
1.2.2 Đo lường lợi nhuận trong doanh nghiệp xây dựng 15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 23
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM 24
2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH KINH VÀ TỔ CHỨC
Trang 92.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý Công ty cổ phần An Tâm 26
2.1.3 Đặc điểm tổ chức kế toán 28
2.2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM 30
2.2.1 Đặc điểm hợp đồng xây dựng có ảnh hưởng đến ghi nhận doanh thu ở Công ty 30
2.2.2 Đo lường doanh thu, thu nhập khác 31
2.3 ĐO LƯỜNG CHI PHÍ XÁC ĐỊNH LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHÀN AN TÂM 39
2.3.1 Ghi nhận giá vốn khối lượng xây dựng 39
2.3.2 Ghi nhận chi phí thời kỳ 51
2.3.3 Lợi nhuận tại Công ty cổ phần An Tâm 53
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠN CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM 55
2.4.1 Ưu điểm 55
2.4.2 Tồn tại 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM 59
3.1 HOÀN THIỆN VỀ ĐO LƯỜNG VÀ GHI NHẬN DOANH THU 59
3.2 HOÀN THIỆN VỀ ĐO LƯỜNG CHI PHÍ 62
3.2.1 Nguyên tắc xác định chi phí phù hợp với doanh thu 62
Trang 103.2.4 Tập hợp các chi phí sau khi xác định lại theo nguyên tắc phù hợp và thận trọng 70
3.2.5 Xác định lại giá trị dở dang cuối kỳ 72 3.2.6 Xác định lại giá thành các công trình 75 3.3 XÁC ĐỊNH LẠI KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 76
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng phổ biến và mạnh mẽ, để khẳng định được vị thế, vai trò của mình trên thị trường cũng như đẩy mạnh quá trình hội nhập và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, các doanh nghiệp cần phải tìm cho mình những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả Hệ thống thông tin kế toán tài chính trong các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các nhà quản lý trong doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp mình Việc tổ chức thực hiện hệ thống thông tin kế toán khoa học, hợp lý sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các doanh nghiệp
Lợi nhuận là một chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp Tuy nhiên, lợi nhuận có thể bị điều chỉnh tùy theo mục đích của doanh nghiệp Điều này làm ảnh hưởng đến việc đánh giá và
ra quyết định của các bên có liên quan (cơ quan thuế, ngân hàng,)… Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí Do đó, doanh thu và chi phí là hai nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc đo lường lợi nhuận Để đo lường lợi nhuận có độ tin cậy cao thì cần phải ghi nhận và đo lường doanh thu, chi phí hợp lý và có độ tin cậy cao
Công ty cổ phần An Tâm, là một Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp Công ty xây dựng công trình
Trang 12kỹ thuật; xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, thủy điện, cơ sở hạ tầng,
hệ thống cáp ngầm bưu điện; xây lắp điện dưới 35KV; công trình cấp thoát nước; khai thác đá, cát, đất; vận tải hàng hóa bằng đường bộ; kinh doanh bất động sản; cho thuê kho bãi, nhà xưởng; đầu tư, xây dựng, kinh doanh khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư đô thị, san lấp mặt bằng
Hoạt động kinh doanh ban đầu của Công ty là kinh doanh suất ăn tại khu công nghiệp Hòa Khánh Đà Nẵng Sau khi chuyển qua lĩnh vực xây dựng còn gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng các qui định về kế toán trong lĩnh vực này Sản phẩm trong xây dựng là các hạng mục, các công trình Thời gian để hoàn thành sản phẩm kéo dài và khối lượng công việc nhiều làm cho việc ghi nhận doanh thu và chi phí ở Công ty chưa tuân theo các nguyên tắc kế toán Chi phí được xác định chưa phù hợp với doanh thu, chưa phản ánh đầy đủ và hợp lý các chi phí cho từng công trình Từ đó, chỉ tiêu lợi nhuận xác định trong một kỳ không phản ánh đúng với lợi nhuận kinh tế mà Công ty tạo ra Thực tế này làm cho chỉ tiêu lợi nhuận cung cấp không phản ánh đúng thực tế
Là nhân viên trong Công ty, phát hiện ra những tồn tại và hệ quả của
nó, em đã chọn đề tài: "Đo lường lợi nhuận tại Công ty Cổ phần An
Tâm" để có thể đề xuất những ý kiến giúp cho việc đo lường lợi nhuận hợp
lý, đảm bảo trong việc cung cấp thông tin cho các đối tượng có liên quan
2 Mục đích của đề tài
Thông qua việc phân tích cơ sở lý luận về việc ghi nhận doanh thu, chi phí theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 về “Hợp đồng xây dựng”, các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành để, tìm hiểu thực trạng ghi nhận doanh thu, chi phí để đo lường lợi nhuận tại Công ty cổ
Trang 13phần An Tâm; qua đó góp ý nhằm hoàn thiện công tác đo lường lợi
nhuận tại Công ty
3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Vận dụng các chuẩn mực và các hướng dẫn
cơ bản về kế toán doanh thu, chi phí về hoạt động xây dựng để tiến hành đo lường lợi nhuận trong doanh nghiệp xây dựng
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu đo lường lợi nhuận kế
toán tại Công ty cổ phần An Tâm Nguồn dữ liệu và thông tin sử dụng trong luận văn từ Công ty cổ phần An Tâm trong năm 2012
- Ph ương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp mô
tả, giải thích và suy diễn để đo lường lợi nhuận của doanh nghiệp
Phương pháp mô tả được vận dụng nhằm tìm hiểu thực tế việc đo lường doanh thu, chi phí, xác định lợi nhuận ở Công ty để từ đó trình bày lại những vấn đề cơ bản về đo lường lợi nhuận
Phương pháp giải thích được vận dụng để giải thích các công việc quan sát được như: trình bày một cách tường tận các bản chất của đo lường loại nhuận, các mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí với lợi nhuận, dựa vào các chuẩn mực và chế độ kế toán có liên quan Qua đó giúp đánh giá những ưu điểm, bất cập về đo lường lợi nhuận ở Công ty
Phương pháp suy diễn được áp dụng để suy luận các vấn đề về đo lường doanh thu, chi phí từ đó đưa ra các giả pháp nhằm hoàn thiện việc đo lường lợi nhuận tại Công ty
Thông tin, số liệu thu thập từ quan sát và tìm hiểu thực tế tại các bộ phận tham gia trực tiếp, gián tiếp của Công ty Dữ liệu (số liệu kế toán, định mức tiêu hao nguyên vật liệu, bảng hệ số sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ
Trang 14thuật, ) được thu thập trực tiếp từ bộ phận kế toán của Công ty thông quan các nhân viên kế toán phụ trách
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thực hiện luận văn để giúp cho Công ty xem lại quy trình đo lường doanh thu, chi phí để xác định lợi nhuận Qua đó chỉ tiêu lợi nhuận cung cấp hợp lý và đáng tin cậy đối với Công ty và người sử dụng thông tin kế toán
6 Tổng quan tài liệu
Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu tạo ra trong kỳ và chi phí phải bỏ ra để tạo nên doanh thu đó Do vây, việc đo lường lợi nhuận cũng chính là đo lường doanh thu và chi phí
Việc nghiên cứu về ghi nhận doanh thu, chi phí và đo lường lợi nhuận tại các doanh nghiệp được nhiều tác giả quan tâm, được thể hiện không chỉ luận văn mà còn nhiều tạp chí kế toán cũng đã đề cập
Trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Tạ Quang Trung (2011) thực hiện
Trang 15đề tài “Kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cổ phần Vinaconex 9” Bài nghiên cứu đã đưa được các cơ sở lý luận về doanh thu, chi phí, lợi nhuận Tuy nhiên, khi đi vào phần thực trạng của doanh nghiệp thì tác giả chỉ mới phân tích được việc ghi nhận doanh thu, chưa đi sâu vào công tác tính giá thành sản phẩm trong xây dựng Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày một số phương pháp để hoàn thiện công tác ghi nhận doanh thu, chi phí nhưng những phương pháp này chỉ mang tính chất
lý thuyết chưa giải quyết được các hạn chế của công tác kế toán về doanh thu, chi phí và lợi nhuận
Cũng trong lĩnh vực xây dựng, tác giả Tống Thị Hoa (2011) đã thực hiện đề tài về “Vận dụng nguyên tắc phù hợp trong doanh nghiệp xây lắp: trường hợp Công ty cổ phần máy & thiết bị phụ tùng (Seatech)” Tác giả đã nêu lên được nguyên tắc ghi nhận chi phí phù hợp với doanh thu theo quy định của chuẩn mực kế toán và việc vận dụng nguyên tắc phù hợp trong lĩnh vực xây lắp Mặc dù không đề cập nhiều đến việc xác định giá vốn, nhưng tác giả cũng đã đưa ra được các ý kiến hoàn thiện việc ghi nhận doanh thu như: định kỳ xác định doanh thu chi tiết cho từng công trình, tăng cường công tác nghiệm thu và xác định giá trị dở dang cuối kỳ Tuy nhiên, trong luận văn này chi phí quản lý doanh nghiệp tác giả đã phân bổ cho các đối tượng tập hợp chi phí theo tổng chi phí phát sinh trong kỳ, khi
đó, trong giá trị dở dang cuối kỳ có bao gồm cả chi phí quản lý doanh nghiệp, điều này đã vi phạm nguyên tắc thận trọng, đối với chi phí quản lý doanh nghiệp phải được ghi nhận là chi phí sản xuất trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ
Ngoài ra, trên Tạp chí kế toán số 10/2010 có bài nghiên cứu trao đổi
về “Vận dụng nguyên tắc phù hợp trong việc đánh giá sản phẩm dở dang ở
Trang 16các doanh nghi ệp xây lắp” của Th.s Lê Thị Diệu Linh (Học Viện Tài
Chính) Bài nghiên cứu đã đưa ra trình tự đánh giá sản phẩm dở dang cuối
kỳ Cụ thể: cuối kỳ, kiểm kê xác định khối lượng xây lắp dở dang, mức độ hoàn thành; xác định hệ số giữa chi phí thực tế với chi phí dự toán của khối lượng xây lắp theo mức độ hoàn thành; tính chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ Bài nghiên cứu cũng đã đưa ra các hạn chế khi áp dụng việc xác định giá trị dở dang cuối kỳ khi áp dụng Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 (VAS15) – Hợp đồng xây dựng, đó là lấy tổng chi phí thực
tế phát sinh trừ (-) đi giá thành sản phẩm, tuy nhiên, số liệu tổng chi phí phát sinh trong kỳ có thể không đúng với chi phí thực tế phát sinh và giá thành cũng chỉ mang tính hợp lý do “áp đặt”, vì vậy, số liệu giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ có thể không hợp lý
Trên các diễn đàn kế toán như http://www.webketoan.vn,
doanh thu và chi phí trong lĩnh vực xây dựng Đây có thể xem là lĩnh vực mới đối với các nhân viên kế toán với vào nghề, chẳng hạn như: thời điểm ghi nhận doanh thu, cách xác định doanh thu, hoạch toán doanh thu như thế nào, khi nào thì xuất hóa đơn, khi nào thì ghi nhận chi phí Việc vận dụng các chuẩn mực kế toán để áp dụng vào thực tế càng nhiều hạn chế Và khó khăn hơn là phải phù hợp với các yêu cầu của cơ quan thuế Trên các diễn đàn này cũng đã có nhiều trao đổi để áp dụng các chuẩn mực về ghi nhận doanh thu, chi phí trong xây dựng phù hợp với thực tế và cơ quan thuế
Ngoài ra còn có các bài báo, báo cáo khoa học về vấn đề lợi nhuận Như bài báo của Nguyễn Công Phương (2005) về “Kế toán theo sơ sở dồn tích và kế toán theo cơ sở tiền” Tác giả đã trình bày về việc vận dụng kế toán theo cơ sở dồn tích có thể mang lại cơ hội cho nhà quản trị thực hiện
Trang 17hành động điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu nào đó Các công
cụ được dùng để điều chỉnh là: lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và ước tính các khoản chi phí, doanh thu, lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.1 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1 Khái niệm lợi nhuận
Mục tiêu truyền thống và quan trọng của một chủ Công ty theo lý thuyết là đạt tối đa hóa lợi nhuận và giả thuyết này rất bền vững Nó vẫn tạo nên cơ sở của rất nhiều lý thuyết của kinh tế vi mô Về lịch sử mà nói những nhà kinh tế trong các phân tích của học về Công ty đều lấy lợi nhuận làm mục đích cuối cùng.Tuy nhiên có rất nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học trước Marx “cái phần trội nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận” Karl Marx cho rằng “giá trị thặng dư hay phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì tôi gọi là lợi nhuận” Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi ra” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là một khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một Công ty và tổng chi phí” (Kinh tế học, tập
1 – P.A.Samuelson)
Vậy, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp Từ góc độ của nhà quản trị tài chính doanh nghiệp
Trang 19có thể thấy rằng: lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại
Theo chuẩn mực kế toán VAS01 – Chuẩn mực chung, lợi nhuận kế toán là: thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các yếu
tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác và chi phí Như vậy, đo lường lợi nhuận kế toán thực chất là đo lường doanh thu, chi phí kế toán
1.1.2 Các nguyên tắc kế toán liên quan đến việc xác định lợi nhuận
Theo tài liệu “Lợi nhuận và chính sách kế toán của doanh nghiệp” của Nguyễn Công Phương (2011) thì có ba nguyên tắc liên quan đến việc
đo lường lợi nhuận Cụ thể
- Nguyên tắc ghi nhận doanh thu: “Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc
đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó Kết quả của doanh thu bán hàng được xác định khi thỏa mãn tất cả năm điều kiện sau:
+ Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
+ Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
+ Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn;
+ Doanh nghiệp đã thu hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch
Trang 20bán hàng;
+ Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng
Trường hợp giao dịch về bán hàng thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành
Doanh thu bán hàng chỉ được ghi nhận khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch Khi không thể thu hồi được khoản doanh thu đã ghi nhận thì phải hạch toán vào chi phí mà không được ghi giảm doanh thu Khi không chắc chắn thu hồi được một khoản mà trước đó
đã ghi vào doanh thu (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu Khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng
nợ phải thu khó đòi” (Theo chuẩn mực kế toán VAS14 - Doanh thu và thu nhập khác)
- Nguyên tắc phù hợp: “Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của
kỳ đó” (Theo chuẩn mực kế toán VAS01- Chuẩn mực chung)
- Nguyên tắc thận trọng: “Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, có những phán đoán cần thiết để lập các ước tính trong các điều kiện không chắc chắn Nguyên tắc thận trọng yêu cầu việc ghi tăng vốn chủ hữu chỉ được thực hiện khi có bằng chứng chắc chắn, còn việc ghi giảm giá vốn
Trang 21chủ sở hữu được ghi nhận từ khi có chứng cứ về khả năng có thể xảy ra Vận dụng nguyên tắc thận trọng để đo lường lợi nhuận thể hiện:
+ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này không mang lại lợi ích (không làm giảm vốn chủ sở hữu), ví dụ như: lập dự phòng, tiền phạt,…
+ Ghi nhận ngay chi phí phát sinh trong kỳ khi chi phí này mang lại lợi ích trong tương lai, nhưng không thể đo lường lợi ích đáng tin cậy, ví
dụ như: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi vay (không được vốn hóa),…
Tuân thủ nguyên tắc thận trọng sẽ giúp cho doanh nghiệp bảo toàn nguồn vốn, hạn chế rủi ro và khả năng hoạt động liên tục.” (Theo chuẩn mực kế toán VAS 01 – Chuẩn mực chung)
Lợi nhuận được xác định trên phải tuân thủ nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng Trình tự các bước
để xác định lợi nhuận là: i) Xác định doanh thu tuân theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu; ii) Xác định chi phí tuân theo nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng
1.2 ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG
1.2.1 Đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng
a Đặc điểm về sản xuất kinh doanh trong xây dựng
Theo Thúy Phượng (2006) về “Đặc điểm sản xuất xây lắp có ảnh hưởng đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp xây lắp”, xây dựng là một ngành sản xuất có tính chất công nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và cũng là ngành sản xuất công
Trang 22nghiệp đặc biệt, chính đặc điểm khác biệt này đã tác động lớn đến công tác kế toán trong doanh nghiệp nói chung và công tác đo lường lợi nhuận nói riêng Điều này được thể hiện:
- Sản phẩm xây dựng là sản phẩm mang tính đơn chiếc, riêng lẻ
Mỗi sản phẩm xây dựng là một công trình hoặc hạng mục công trình riêng biệt, có yêu cầu riêng về mặt thiết kế, mỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau, không sản phẩm nào giống sản phẩm nào Chính vì vậy, mỗi sản phẩm xây dựng đều có yêu cầu về tổ chức thi công
và biện pháp thi công phù hợp với đặc điểm của từng công trình cụ thể, do
đó yêu cầu quản lý và hạch toán doanh thu và chi phí cũng được tính cho từng sản phẩm xây dựng riêng biệt Điều này đòi hỏi công tác tập hợp chi phí sản xuất thực tế phải bám sát chi phí sản xuất dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình
- Sản phẩm xây dựng thường có giá trị lớn và thời gian thi công
công trình tương đối dài
Các công trình xây dựng thường có thời gian thi công rất dài, thường
là trên một năm, thậm chí có những công trình kéo dài hàng chục năm Điều này tác động rất nhiều đến việc xác định chi phí, doanh thu của HĐXD Để có thể đảm bảo tính trung thực của thông tin kế toán, đòi hỏi bộ phận kế toán trong doanh nghiệp xây dựng phải có phương pháp tập hợp chi phí, xác định doanh thu phù hợp và thống nhất theo quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành để đảm bảo tính đúng đắn và kịp thời của
số liệu kế toán và nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí
- Sản phẩm xây dựng có thời gian sử dụng tương đối dài
Các công trình xây dựng có thời gian sử dụng tương đối dài nên mọi
Trang 23sai lầm trong khi thi công đều khó sửa chữa, phải phá đi làm lại Mặt khác, giá trị công trình lại lớn vì vậy sai lầm trong xây dựng vừa gây lãng phí, vừa để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài và khó khắc phục Chính vì vậy trong quá trình thi công bên cạnh việc quản lý trên phương diện hạch toán cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng công trình
- Sản phẩm xây dựng được sử dụng tại chỗ gắn liền với địa điểm xây
d ựng, nơi sản xuất chính là nơi tiêu thụ sản phẩm
Do địa điểm xây dựng luôn thay đổi theo địa bàn thi công nên sẽ có rất nhiều khoản chi phí phát sinh kèm theo như: chi phí điều động nhân công, điều động máy móc thi công, chi phí xây dựng các công trình tạm thời (lán trại, nhà tạm…), chuẩn bị mặt bằng, san dọn mặt bằng sau khi thi công…nên nếu không có biện pháp tổ chức quản lý, thi công tốt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Sản phẩm xây dựng được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa
thu ận với chủ đầu tư từ trước (giá dự thầu)
Giá dự toán (trong chỉ định thầu) hoặc giá dự thầu (trong đấu thầu) là giá bán hay còn gọi là doanh thu của sản phẩm xây dựng Sự khác biệt lớn nhất giữa các doanh nghiệp xây dựng và các doanh nghiệp khác trong việc xác định giá bán chính là giá dự thầu do các doanh nghiệp xây dựng tham gia đấu thầu tự lập dựa trên hồ sơ thiết kế và các yêu cầu của bên mời thầu, các quy định chung về định mức, đơn giá của Nhà nước, các kinh nghiệm thực tế và ý đồ chiến lược tranh thầu Như vậy, doanh thu của sản phẩm xây dựng được xác định trước khi sản xuất sản phẩm, còn đối với các hàng hóa khác thì doanh thu chỉ được xác định sau khi bán được sản phẩm sản xuất ra Chính vì vậy, kế toán phải phản ánh và giám sát chặt chẽ quá trình bàn giao sản phẩm hoàn thành nhằm thu hồi vốn đủ và nhanh chóng
Trang 24- Sản phẩm xây dựng thường được tổ chức sản xuất ngoài trời, chịu tác động trực tiếp của các yếu tố môi trường, khí hậu, thời tiết Do đó, sản
ph ẩm xây dựng thường mang tính chất thời vụ
Đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây dựng cần tổ chức tốt công tác quản lý lao động, vật tư chặt chẽ đảm bảo thi công nhanh đúng tiến độ Trong điều kiện thi công môi trường không thuận lợi các doanh nghiệp xây dựng cần có biện pháp, kế hoạch cụ thể nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do thời tiết gây ra (như phải phá đi làm lại, sửa chữa hoặc ngừng thi công…)
Có thể nói, xây dựng là một ngành sản xuất có nhiều nét đặc thù so với các doanh nghiệp SXKD nói chung Vì thế, kế toán chi phí, doanh thu HĐXD trong các doanh nghiệp xây dựng đòi hỏi phải được tổ chức khoa học, nhằm đảm bảo cung cấp thông tin một cách trung thực và khách quan
về tình hình hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp xây dựng
b Đặc điểm doanh thu, chi phí
Sản phẩm xây lắp được thực hiện theo nhiều giai đoạn, nhiều hạng mục nên việc xác định doanh thu, chi phí cũng theo từng giai đoạn, từng hạng mục Do hoạt động xây dựng chịu nhiều tác động của các yếu tố không chắc chắn trong tương lai nên doanh thu của hoạt động xây dựng bao gồm 2 bộ phận:
- Doanh thu ghi nhận ban đầu được ghi trong hợp đồng;
- Các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng
Do đặc thù sản phẩm xây dựng có thời gian thi công dài, bàn giao khối lượng theo từng giai đoạn nên doanh thu được ghi nhận theo từng giai đoạn hình thành Hay nói cách khác, doanh thu được ghi nhận theo mức độ
Trang 25thực hiện giá trị khối lượng hoàn thành
Đối với một hợp đồng xây dựng, ghi nhận các khoản chi phí theo phương pháp tập hợp chi phí thông thường Các chi phí này phải là các thành phần có trong hồ sơ dự toán thiết kế Khi tiến hành công trình, các kỹ thuật sẽ tiến hành bóc khối lượng của công trình để lập hồ sơ dự toán, sau
đó căn cứ vào hồ sơ dự toán được duyệt mới tiến hành mua nguyên liệu, thuê nhân công, …, xây dựng công trình Khi quyết toán, hay tiến hành thanh toán phải tổng hợp các chi phí này để lập hồ sơ thanh toán, quyết toán hay hồ sơ hoàn công
1.2.2 Đo lường lợi nhuận trong doanh nghiệp xây dựng
a Đo lường và ghi nhận doanh thu hợp đồng xây dựng
Theo chuẩn mực kế toán VAS 15, doanh thu của hợp đồng xây dựng được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được Việc xác định doanh thu của hợp đồng chịu tác động của nhiều yếu tố không chắc chắn vì chúng tùy thuộc vào các sự kiện xảy ra trong tương lai Việc ước tính thường phải được sửa đổi khi các sự kiện đó phát sinh và những yếu tố không chắc chắn được giải quyết Vì vậy doanh thu của hợp đồng có thể tăng hay giảm ở từng thời kỳ Chủ đầu tư
và đơn vị thi công có thể đồng ý với nhau về các thay đổi và các yêu cầu tăng hoặc giảm doanh thu của hợp đồng trong kỳ tiếp theo so với hợp đồng được chấp thuận ban đầu
Doanh thu của hợp đồng xây dựng bao gồm:
- Doanh thu ban đầu được ghi trong hợp đồng: là giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu
- Các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng, các khoản tiền
Trang 26thưởng và các khoản thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu và có thể xác định được một cách đáng tin cậy
b Xác định và ghi nhận doanh thu
Theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu, doanh thu được ghi nhận trong
kỳ kế toán là doanh thu đã thực hiện trong kỳ đó, thông thường doanh thu trong kỳ được ghi nhận khi đơn vị xuất hóa đơn cho bên chủ đầu tư Tuy nhiên, trong trường hợp hợp đồng được thực hiện nhiều kỳ thì đơn vị thi công có thể xuất hóa đơn một lần cho toàn bộ việc cung cấp theo hợp đồng Trong trường hợp này, doanh thu trên hóa đơn là doanh thu của các kỳ kế toán tương ứng với khối lượng thực hiện trong từng kỳ, do đó, cần phải được ghi nhận vào doanh thu của các kỳ kế toán tương ứng với khối lượng công việc đã thực hiện trong kỳ
Các trường hợp ghi nhận doanh thu và các cách xác định doanh thu hoạt động xây dựng (theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 – VAS15):
- Ghi nhận doanh thu theo tiến độ kế hoạch: khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính
mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền trên hóa đơn là bao nhiêu
- Ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện: khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ và được phản ánh trên hóa đơn đã xuất
Trang 27Cả hai cách ghi nhận doanh thu nói trên đều dựa vào mức độ công việc hoàn thành Cách xác định mức độ công việc đã hoàn thành của hợp đồng xây dựng làm cơ sở xác định doanh thu được qui định trong VAS 15
“Hợp đồng xây dựng” theo một trong ba các sau:
- Tỷ lệ (%) chi phí thực tế phát sinh của phần công việc đã hoàn thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng
- Đánh giá phần công việc hoàn thành
- Tỷ lệ (%) giữa khối lượng công việc hoàn thành với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành
c Xác định và ghi nhận chi phí xác định lợi nhuận
Giá vốn trong doanh nghiệp xây dựng
Theo nguyên tắc phù hợp, khi ghi nhận một khoản doanh thu thì đồng thời phải xác định và ghi nhận chi phí đã bỏ ra để hoàn thành và có được doanh thu đó Giá vốn trong hoạt động xây dựng chính là giá thành của công trình, hạng mục công trình, phần khối lượng công việc hoàn thành khi doanh thu của nó được xác định Do đó, việc xác định giá vốn của công trình, hạng mục công trình chính là đi xác định giá thành của nó Vì giá vốn trực tiếp tạo
ra doanh thu nên xác định giá vốn phải tuân theo nguyên tắc phù hợp Hay nói cách khác, việc xác định giá thành khối lượng công trình bàn giao phải hợp lý, phù hợp với chi phí phát sinh Để tính giá thành công trình bàn giao, cần tập hợp đúng chi phí phát sinh và xác định hợp lý giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ (nếu có sản phẩm dở dang cuối kỳ)
Tính giá thành công trình, hạng mục công trình
Việc xác định giá thành sản phẩm xây dựng rơi vào các trường hợp sau:
Trang 28+ Nếu vào cuối kỳ kế toán mà công việc chưa hoàn thành (doanh thu chưa được ghi nhận) thì toàn bộ chi phí sản xuất liên quan đến hợp đồng xây dựng đó là sản phẩm dở dang của hợp đồng đó Đến khi công việc hoàn thành, thì toàn bộ chi phí liên quan đến hợp đồng đó chính là giá
thành của công trình, hạng mục công trình
+ Nếu cuối kỳ kế toán, toàn bộ giá trị hợp đồng được thực hiện thì
toàn bộ chi phí của công trình cũng chính là giá thành của công trình đó
+ Trong kỳ, khi ghi nhận doanh thu từng giai đoạn thông qua khối
lượng hoàn hành, thì giá thành của khối lượng đó được xác định như sau :
Ghi nhận chi phí thực tế phát sinh trong kỳ để tính giá thành và giá vốn
- Ghi nhận chi phí NVLTT, NCTT: đây là những khoản chi phí liên quan trực tiếp đến từng công trình, hạng mục công trình Theo nguyên tắc phù hợp, trong kỳ, các khoản mục chi phí này được ghi nhận tương ứng với khối lượng công việc đã được nghiệm thu, phần còn lại sẽ tính vào giá trị dở dang cuối kỳ và được ghi nhận là chi phí khi khối lượng dở dang được nghiệm thu ở kỳ kế toán tiếp theo Cụ thể:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm: chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ Khi xuất dùng nguyên vật liệu, nếu xác định rõ được đối tượng tập hợp chi phí là công trình, hạng mục cụ thể thì căn cứ vào chứng từ gốc
để ghi nhận cho phí trực tiếp vào đối tượng tập hợp chi phí đã xác định
Trường hợp giao khoán chi phí xây dựng, căn cứ vào hồ sơ quyết
Giá thành thực tế
của khối lượng
Chi phí dở dang đầu kỳ
Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ
Chi phí dở dang cuối kỳ
Trang 29toán được duyệt, kế toán ghi nhận chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vào từng công trình, hạng mục công trình
+ Chi phí nhân công trực tiếp
Trong doanh nghiệp xây dựng, chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lao động trực tiếp tham gia trực tiếp quá trình thi công kể cả nhân công thuê ngoài Chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh và theo dõi riêng cho từng công trình, hạng mục
- Ghi nhận chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung: theo nguyên tắc phù hợp thì đây là những khoản chi phí góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ nhưng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí
nên cần tập hợp và phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu thức phù hợp
+ Chi phí sử dụng máy thi công là chi phí cho máy móc nhằm thực hiện khối lượng công tác xây dựng Chi phí này diễn ra thường xuyên và tạm thời Chi phí thường xuyên là chi phí phát sinh hàng ngày (chi phí nhân công sử dụng máy thi công, chi phí nhiên liệu, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài) Chi phí tạm thời là chi phí nhằm hỗ trợ cho việc sử dụng máy thi công (chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí bảo dưỡng máy) Chi phí sử dụng máy thi công liên quan đến nhiều công trình, nên được phân bổ cho các công trình theo
tiêu thức phù hợp, thường là theo số ca máy và sô km
+ Chi phí sản xuất chung
Đối với hoạt động xây dựng, chi phí sản xuất chung là chi phí phục
vụ cho đội ngũ quản lý, chỉ huy công trình (bao gồm: lương nhân viên quản
lý công trình, phụ cấp hàng tháng cho nhân viên, các khoản trích theo lương), chi phí khấu hao TSCĐ cho hoạt động của công trình, chi phí sửa
Trang 30chữa, chi phí thuê ngoài, chi phí điện nước, khấu hao CCDC, chi phí bảo hành công trình Trong chi phí SXC có chi phí dự phòng bảo hành sản phẩm, chi phí này được ghi nhận dựa vào nguyên tắc thận trọng Chi phí sản xuất chung được tiến hành phân bổ cho từng công trình, hạng mục
công trình theo tiêu thức phù hợp
- Xác định và ghi nhận giá trị dở dang cuối kỳ
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 – VAS15, đối với công trình, hạng mục công trình mà hợp đồng quy định thanh toán khối lượng khi hoàn thành toàn bộ công trình (đối với nhũng công trình có quy mô nhỏ, thời gian thi công ngắn) Khi đó sản phẩm dở dang là tổng chi phí phát sinh từ lúc thi công đến thời điểm kiểm kê kết thúc kỳ kế toán Lúc này, giá vốn của công trình chính là toàn bộ chi phí của công trình được chấp nhận theo nguyên tắc phù hợp
Đối với công trình, hạng mục công trình mà hợp đồng quy định thanh toán theo tiến độ kế hoạch hợp đồng hoặc theo khối lượng thực hiện: sản phẩm dở dang giá trị khối lượng thi công chưa hoàn thành (chưa tới điểm dừng kỹ thuật) hoặc khối lượng đã hoàn thành nhưng chưa nghiệm thu Chi phí sản xuất sản phẩm xây dựng dở dang cuối kỳ là phần còn lại sau khi đã phân bổ chi phí thực tế phát sinh trong kỳ có liên quan cho các giai đoạn hoàn thành
Việc phân bổ chi phí phát sinh cho các khối lượng sản phẩm hoàn thành và chưa hoàn thành được thực hiện theo tỷ lệ hoàn thành, theo Chuẩn mưc kế toán Việt Nam số 15 –VAS15 :
Hệ số chi phí phân bổ cho giai đoạn i
Trang 31Ghi nhận chi phí thời kỳ
- Chi phí bán hàng: Trong hoạt động xây dựng, khoản mục chi phí bán hàng hầu như không có
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là chi phí liên quan đến việc quản lý chung của doanh nghiệp Ngoài các khoản chi phí phát sinh liên quan trong kỳ, các chi phí được phân bổ trong kỳ, cuối kỳ kế toán cần phải ghi nhận các khoản chi phí phải chi trong tương lai nhưng lại liên quan đến doanh thu thực hiện trong kỳ thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp như chi phí sửa chữa lớn TSCĐ của bộ phận quản lý Đối với các khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi và dự phòng trợ cấp mất việc, vào cuối năm doanh nghiệp cần xác định mức dự phòng và phản ánh vào chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phi QLDN phát sinh trong kỳ được tính hết vào chi phí để xác định kết quả tuân theo nguyên tắc phù hợp hoặc nguyên tắc thận trọng Những chi phí ghi nhận theo nguyên tắc thận trọng là những chi phí không góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ (như chi phí dự phòng, các khoản tiền
Giá trị dự toán khối
lượng dở dang cuối
Giá dự toán của giai đoạn i
Tỷ lệ hoàn thành của giai đoạn i
Tổng chi phí thực tế phát
sinh trong kỳ
Tổng giá thành dự toán của khối lượng được thanh toán
Tổng giá thành dự toán của khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ
=
+
+
Trang 32phạt) hoặc những chi phí có góp phần tạo ra doanh thu trong kỳ tới nhưng không thể xác định hợp lý mức doanh thu tạo ra là bao nhiêu thì phải được tính hết trong kỳ phát sinh, phần lớn là các chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí tài chính: Ghi nhận dựa trên nguyên tắc phù hợp Các chi phí tài chính liên quan đến việc tạo ra doanh thu trong kỳ cũng được ghi nhận chi phí trong kỳ Chi phí lãi vay sau khi xác định vốn hóa chi phí đi vay, phần còn lại được tính vào chi phí tài chính trong kỳ
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1, trình bày hệ thống hóa những nội dung cơ bản về đo lường lợi nhuận trong các doanh nghiệp nói chung và lĩnh vực xây dựng nói riêng Chương 1 đã trình bày khái niệm, các nguyên tắc liên quan đến
đo lường lợi nhuận thông qua việc đo lường doanh thu và chi phí, cụ thể: doanh thu được xác định theo nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi phí được xác định theo nguyên tắc phù hợp, nguyên tắc thận trọng Bên cạnh
đó, chương 1 cũng trình bày về đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh về lĩnh vực xây dựng và đi vào chi tiết các đo lường lợi nhuận trong lĩnh vực này Đối với lĩnh vực xây dựng thì doanh thu được xác định dựa vào mức độ công việc hoàn thành và chi phí được xác định phải phù hợp với doanh thu đã ghi nhận trong kỳ theo 2 nguyên tắc nói trên Đây là cơ sở
lý luận để xem xét đánh giá thực trạng đo lường lợi nhuận tại Công ty cổ phần An Tâm
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN
TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM
2.1 ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH KINH VÀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM
2.1.1 Giới thiệu về Công ty
Công ty cổ phần An Tâm được thành lập theo Giấy phép đăng ký kinh doanh số 2703000260 do Sở kế hoạch đầu tư thành phố Đà Nẵng cấp ngày 26/04/2004 Công ty đóng tại 159A Tôn Đức Thắng, Cẩm Lệ,
Đà Nẵng
Công ty cổ phần An Tâm là doanh nghiệp tư nhân có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, vốn điều lệ là 50 tỷ đồng, tổ chức sản xuất kinh doanh và hạch toán độc lập, có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ trong việc ký kết hợp đồng nhận thầu và đấu thầu xây dựng công trình Lĩnh vực hoạt động bao gồm: Xây dựng công trình giao thông, thủy lợi, dân dụng và xây dựng điện
Trong những năm qua, Công ty đã dần khẳng định được uy tín bằng chất lượng công trình, dành được sự tin tưởng của khách hàng Quy mô Công ty ngày càng mở rộng, hàng năm, Công ty đều đầu tư thêm cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị đầy đủ hơn, máy móc hiện đại hơn Vì thế, trong những năm qua Công ty đã đạt kết quả khả quan trong việc giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ thi công, tham gia ngày càng nhiều gói thầu lớn trong và ngoài thành phố Đà Nẵng:
Trang 35Lý 9.390.540.000 10/HĐXL-DMT/2011 HTKT KTĐC Hòa Hiệp mở
rộng (nam nhà máy nước) 30.448.647.000 04/HĐNT-DMT/2011 HTKT Khu dân cư Quang
Thành 3B 13.316.257.000 36/HĐXL-DMT/2009 Đường vào cụm công
nghiệp phước lý 12.195.669.000 09/HĐXL-DMT/2010 HTKT cụm công nghiệp
Phước Lý-Gói số 1 65.551.243.900
DMT/2010 Chung cư thu nhập thấp tại
07A/HĐXL-khu TĐC Phước Lý 60.605.237.000 04/HĐXL-DMT/2011
Trang 362.1.2 Đặc điểm tổ chức quản lý Công ty cổ phần An Tâm
a Tổ chức quản lý của Công ty cổ phần An Tâm
b Chức năng nhiệm vụ của các cấp quản lý
- Chủ tịch hội đồng quản trị: Quyết định phương thức đầu tư và dự
án đầu tư có trị giá lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của Công ty Thông qua hợp đồng vay, bán tài sản Bầu, miễn nhiệm,
GIÁM ĐỐC HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
PHÒNG HÀNH CHÍNH NHÂN
SỰ
PHÒNG TÀI CHÍNH
KẾ TOÁN
PHÒNG THIẾT
BỊ VẬT
TƯ VÀ VẬN TẢI
TỔ CƠ KHÍ, SỬA CHỮA
KẾ TOÁN CÔNG TRÌNH
Trang 37cắt chức giám đốc, phó giám đốc và bộ máy quản lý Quyết định mức lương, lợi ích khác đối với giám đốc, phó giám đốc và cán bộ quản lý Thông qua các báo cáo tài chính hàng năm, phương án sử dụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lãi lỗ của Công ty Quyết định cơ cầu
tổ chức, sửa đổi, bổ sung điều lệ và quyết định giải thể Công ty
- Ban giám đốc: Điều hành và quyết định mọi hoạt động hàng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình Tổ chức thực hiện các quyết định của hội đồng quản trị Ban hành quy chế quản lý nội bộ của Công ty, được tuyển dụng lao động Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, đầu tư của Công ty Ký kết hợp đồng, trình các báo cáo quyết toán hàng năm lên hội đồng quản trị
- Các phòng ban chức năng:
+ Phòng kế toán: Giúp Công ty thực hiện thanh toán và quyết toán theo luật kế toán và các quy định của nhà nước Cung cấp số liệu, báo cáo theo yêu cầu của ban giám đốc và hội đồng quản trị
+ Phòng kế hoạch, kỹ thuật: Quản lý kỹ thuật Công ty và thiết kế các công trình theo tiêu chuẩn kỹ thuật và qui định chung của cấp có thẩm quyền Có chức năng lập dự án đầu tư, dự toán công trình Theo dõi tiến độ công trình, làm hồ sơ thanh quyết toán công trình Định hướng chiến lược kinh doanh của Công ty, trên cơ sở kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Giúp Công ty nghiên cứu thị trường, quan hệ tìm kiếm đối tác, thu thập thông tin chuẩn bị cho công tác đấu thầu, nhận thầu và đầu tư có hiệu quả, xây dựng kế hoạch toàn Công ty Phát hiện kịp thời và điều chỉnh những sai lệch, đảm bảo cho hoạt động của Công ty đạt và vượt kế hoạch
đề ra
Trang 38+ Phòng hành chính nhân sự: phòng hành chính nhân sự có trách nhiệm về công tác nhân sự, thực hiện tổ chức cán bộ lao động Hỗ trợ các phòng ban về thiết bị văn phòng phẩm, tiếp nhận, vận chuyển công văn đi-đến theo qui định của Công ty
+ Phòng thiết bị, vật tư và vận tải: theo dõi trình hình xe, máy thiết
bị, điều vận xe máy, thiết bị thi công cho các công trình Công ty đang thực hiện, báo cáo hiệu quả sử dụng xe, máy thi công
+ Ban quản lý công trình: trực tiếp quản lý các đội thi công thuê ngoài của Công ty và phần nhân công giao khoán, giám sát, đảm bảo công trình thi công đúng tiến độ, chịu trách nhiệm chính đối với vật tư xuất dùng cho công trình
Kế toán
tổng hợp
Kế toán thanh toán
Trang 39Bộ máy kế toán của Công ty cổ phần An Tâm được tổ chức theo mô hình tập trung dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng Các bộ phận kế toán phối hợp với nhau thực hiện công tác kế toán toàn Công ty Kiểm tra, giám sát và phối hợp cùng các phòng nghiệp vụ liên quan trong công tác thanh quyết toán công trình Do khối lượng công việc nhiều nhưng số lượng kế toán còn hạn chế nên một kế toán phải kiêm nhiều việc
Tất cả các giai đoạn hạch toán ở mọi phần hành kế toán được thực hiện tại phòng kế toán từ thu nhận, xử lý thông tin, ghi sổ đến báo cáo kế toán quản trị và báo cáo kế toán tài chính
Theo quy trình của phần mềm kế toán, các thông tin được tự động nhập vào sổ kế toán tổng hợp và các sổ, thẻ kế toán chi tiết liên quan
Cuối tháng (hoặc bất kỳ vào thời điểm cần thiết nào), kế toán thực hiện các thao tác khoá sổ (cộng sổ) và lập báo cáo tài chính Việc đối chiếu giữa số liệu tổng hợp với số liệu chi tiết được thực hiện tự động và luôn đảm bảo chính xác, trung thực theo thông tin đã được nhập trong kỳ Người làm kế toán có thể kiểm tra, đối chiếu số liệu giữa sổ kế toán với báo cáo tài chính sau khi đã in ra giấy
Thực hiện các thao tác để in báo cáo tài chính theo quy định Cuối
Trang 40năm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết được in ra giấy, đóng thành quyển và thực hiện các thủ tục pháp lý theo quy định về sổ kế toán ghi bằng tay
2.2 THỰC TRẠNG ĐO LƯỜNG LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN AN TÂM
2.2.1 Đặc điểm hợp đồng xây dựng có ảnh hưởng đến ghi nhận doanh thu ở Công ty
Hầu hết các HĐXD mà Công ty có được là do chỉ định trúng thầu HĐXD sẽ được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên về việc thực hiện sản xuất sản phẩm xây dựng Giá trị hợp đồng ban đầu là giá dự toán, gói thầu được duyệt dựa trên thiết kỹ thuật và đơn giá trong xây dựng cơ bản do Nhà nước quy định cho từng khu vực Sau đó chủ đầu tư sẽ tiến hành thỏa thuận với nhà thầu được chỉ định mức giá ghi trong hợp đồng và không vượt quá dự toán gói thầu
Nhìn chung, HĐXD của Công ty hiện nay là HĐXD với giá cố định Tuy nhiên mức giá cố định tùy theo từng hợp đồng có thể được điều chỉnh theo những điều khoản cụ thể ghi trong hợp đồng Chẳng hạn, khi Nhà nước thay đổi chính sách về tiền lương, thay đổi các chính sách chế độ mới làm thay đổi mặt bằng giá đầu tư xây dựng công trình, hoặc khi khối lượng phát sinh >20% khối lượng công việc tương ứng mà nhà thầu phải thực hiện thì xem xét đến việc điều chỉnh đơn giá của khối lượng phát sinh đó
Về phương thức thanh toán của hợp đồng: ngay sau khi hợp đồng được ký kết Bên A (chủ đầu tư) sẽ tiến hành tạm ứng vốn ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực (mức tạm ứng thông thường là 20% giá hợp đồng), sau đó hợp đồng sẽ được thanh toán theo kế hoạch bố trí vốn của cấp có thẩm quyền và theo tiến độ thực hiện thi công công trình của Công ty Sau khi