Chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước điều hành, là một trong những bộ phận quan trọng nhất của hệ thống các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô của chính phủ, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểm soát, chi phối dòng chu chuyển tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu về ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ nhât định. Chính sách tiền tệ thường có sự đan xen phức tạp với các chính sách kinh tế vĩ mô khác, vì vậy, sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ đồng nghĩa với việc tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế mà thực chất là hoàn thiện môi trường kinh tế thị trường. Nếu các chính sách kinh tế vĩ mô khác được thực hiện có hiệu quả thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế hoạt động theo chiều hướng tăng trưởng và ổn định lâu dài. 2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm của NHTW nhằm hướng các tổ chức tín dụng thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước nhưng đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng đó. Chính sách tiền tệ có cùng mục tiêu giống như các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô khác: Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, cân bằng cán cân thanh toán, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng.
Trang 1CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG
I Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
1 Khái niệm
Chính sách tiền tệ do Ngân hàng Nhà nước điều hành, là một trong những
bộ phận quan trọng nhất của hệ thống các chính sách kinh tế tài chính vĩ mô củachính phủ, trong đó NHTW thông qua các công cụ của mình thực hiện việc kiểmsoát, chi phối dòng chu chuyển tiền và điều tiết khối lượng tiền cung ứng chonền kinh tế, nhằm đạt được những mục tiêu về ổn định tiền tệ, kiểm soát lạmphát, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong từng thời kỳ nhât định
Chính sách tiền tệ thường có sự đan xen phức tạp với các chính sách kinh
tế vĩ mô khác, vì vậy, sử dụng hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ đồngnghĩa với việc tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế mà thực chất là hoàn thiệnmôi trường kinh tế thị trường Nếu các chính sách kinh tế vĩ mô khác được thựchiện có hiệu quả thì nó sẽ thúc đẩy nền kinh tế hoạt động theo chiều hướng tăngtrưởng và ổn định lâu dài
2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm củaNHTW nhằm hướng các tổ chức tín dụng thực hiện những mục tiêu kinh tế vĩ
mô của đất nước nhưng đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động kinhdoanh của các tổ chức tín dụng đó
Chính sách tiền tệ có cùng mục tiêu giống như các công cụ chính sáchkinh tế vĩ mô khác: Ổn định giá cả, kiểm soát lạm phát, cân bằng cán cân thanhtoán, tạo việc làm và thúc đẩy tăng trưởng
2.1 Ổn định giá cả, ổn định tiền tệ và kiểm soát lạm phát
Trang 2Thuật ngữ lạm phát thường được hiểu là sự gia tăng mức giá chung (liêntục), và do vậy làm giảm giá trị của đồng tiền Có nhiều dạng lạm phát, xét theonguyên nhân trực tiếp: lạm phát cầu kéo, lạm phát tài chính, lạm phát tín dụng,lạm phát cung, lạm phát chi phí đẩy, lạm phát lợi nhuận, và lạm phát nhập khẩu.Nếu lạm phát cao sẽ tác động tiêu cực đến nền kinh tế nên các chính sách đượcthực thi luôn cố gắng tìm cách kiểm soát mức lạm phát.
Có thể nói ổn định giá trị đồng tiền có tầm quan trọng đặc biệt trong việcđịnh hướng phát triển kinh tế của một quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoánnhững biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Do đó, ổn định giá trị tiền tệ - ổnđịnh sức mua của đồng tiền, bao gồm sức mua đối nội và sức mua đối ngoại làmục tiêu hàng đầu và dài hạn của đất nuớc nhằm tạo một môi trường đầu tư ổnđịnh, an toàn, mức lạm phát thấp để thu hút sự đầu tư của các doanh nghiệp, gópphần sử dụng cũng như phân bổ nguồn lực, tài nguyên sao cho hiệu quả nhất
2.2 Tạo việc làm, giảm thất nghiệp
Ở đây khi nhắc tới thất nghiệp là chủ yếu đề cập tới thất nghiệp không tựnguyện Điều này xảy ra khi có những lao động (tiềm năng) sẵn sàng chấp nhậnđược làm việc với mức lương bằng hoặc thấp hơn một chút so với mức lươnghiện tại (mức lương thực tế) (Keynes, 1936), nhưng cầu về lao động thì lại
không đủ cho tất cả đều có việc làm: Cung về lao động do đó bị “giới hạn”.
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là tạo việc làm cho người lao động, giảm
tỷ lệ thất nghiệp của xã hội Thông qua các công cụ tác động tới nền kinh tếnhằm thu hút, mở rộng đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh, chính sách tiền tệgóp phần tạo nhiều việc làm hơn Tuy nhiên một thực tế đặt ra là mỗi nước đều
có một tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên Muốn tỷ lệ này ở mức thấp nhất có thể, nềnkinh tế phải chống suy thoái, nhất là suy thoái định kỳ, đạt tới mức tăng trưởng
ổn định
2.3 Tăng trưởng kinh tế
Trang 3Tăng trưởng là sự gia tăng thu nhập và của cải của đất nước Một nền kinh
tế với mức tăng trưởng nhanh và ổn định là mục tiêu hàng đầu của bất kỳ quốcgia nào Đó là nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển, vì tăng trưởng kinh tế sẽ đảmbảo các chính sách xã hội được thực thi một cách có hiệu quả, là căn cứ ổn địnhtiền tệ trong nước, nâng cao khả năng cân bằng cán cân thanh toán quốc tế vàkhẳng định vị trí của quốc gia trên trường quốc tế
Chính sách tiền tệ hướng vào ba mục tiêu trên, tuy nhiên giữa ba mục tiêunày lại tồn tại mối quan hệ vừa bổ sung, vừa mâu thuẫn Cụ thể, bằng cách duytrì tính cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ quốc gia, việc theo đuổi sự ổn địnhgiá cả (tức là bao gồm cả lạm phát) cũng có xu hướng đảm bảo cân bằng cán cânthanh toán và sự ổn định tỷ giá Tương tự, một mức độ ổn định giá cả có thểđịnh hình việc tiết kiệm tài chính, thúc đẩy tăng trưởng dài hạn nếu như nó đang
bị chậm lại do mức tiết kiệm thấp Nhưng trong ngắn hạn, theo đuổi một mụctiêu có thể phải hy sinh một mục tiêu khác, hoặc khiến cho việc đạt mục tiêukhác trở nên khó khăn hơn Trường hợp rõ ràng nhất về sự thay thế là ổn địnhgiá và cân bằng cán cân thanh toán toán với việc làm, muốn kiềm chế lạm phátphải chấp nhận nạn thất nghiệp tăng lên… Tính thay thế này xảy ra đối với tất cảcác công cụ, tuy nhiên chúng được thể hiện rõ ràng nhất đối với chính sách tiền
tệ Nói chung, tính thay thế có nghĩa là phải lựa chọn, theo trật tự ưu tiên mụctiêu nào tuỳ từng thời kỳ phát triển kinh tế của đất nước
II Các công cụ của chính sách tiền
Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW phải hình thành và sử dụng hệthống công cụ của nó Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo choNHTW khả năng tác động có hiệu lực đến các tổ chức tín dụng phải tự điềuchỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHTW nhưng vẫn đảm bảoquyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng trong môi trường cạnhtranh giữa các ngân hàng
Trang 41 Công cụ tái cấp vốn
Một vấn đề cần quan tâm là dự trữ của các ngân hàng có thể không đủ đápứng số tiền được kỳ vọng rút ra Các ngân hàng có thể tránh rơi vào tình trạngmất khả năng thanh toán nếu như đơn vị phát hành cung cấp tiền thêm cho cácngân hàng thông qua công cụ tái cấp vốn NHTW thực hiện vai trò người chovay cuối cùng Các chức năng của NHTW cũng bao gồm cả việc ra quy định cho
hệ thống ngân hàng và giám sát các ngân hàng để đảm bảo họ tuân thủ quy tắcquản lý tốt và do vậy đảm bảo tính ổn định của hệ thống tài chính
Tái cấp vốn là hình thức cấp tín dụng của NHTW đối với các Ngân hàngthương mại Khi cấp 1 khoản tín dụng cho Ngân hàng thương mại, NHTW đãtăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng thương mại nângcao khả năng thanh toán của họ
Trong vai trò ngân hàng của ngân hàng, NHTW tạo ra cơ sở tiền tệ thôngqua việc tái cấp vốn, tức là cấp vốn cho hệ thống tín dụng bằng cách chiết khấulại các tín phiếu hoặc thanh toán trước chứng khoán NHTW có thể quy địnhviệc tiếp cận tín dụng bằng cách thay đổi các điều khoản cung cấp tín dụng, chủyếu bằng cách thay đổi lãi suất cho vay tối thiểu (lãi suất chiết khấu chính thức)
và tỷ lệ chi trước tối đa
Tuy nhiên, việc tồn tại một người cho vay cuối cùng có thể dẫn tới vấn đềrủi ro đạo đức bởi vì các ngân hàng khi cảm thấy mình được bảo vệ (bảo hiểm)
từ NHTW có thể sẽ tham gia vào các giao dịch rủi ro cao hơn Việc quy định vàgiám sát của NHTW có thể giúp làm giảm nguy cơ này, đó là quy định các ngânhàng phải duy trì mức dự trữ tối thiểu Vai trò của NHTW trong việc kiểm soát
cơ sở tiền tệ được thấy rõ nhất trong những thời kỳ thị trường sôi động, khi cácngân hàng buộc phải sử dụng nguồn tín dụng của NHTW
2. Công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc
Là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi
Trang 5thương mại Dự trữ bắt buộc chính là khoản tiền mà các ngân hàng thương mạikhi nhận tiền gửi cần phải trích lại một lượng, gửi lại ở NHTW để thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia Phần tiền này dùng vào hai việc:
+ Đảm bảo thanh toán trong trường hợp khẩn cấp
+ Điều tiết lượng tiền mặt trong lưu thông, còn gọi là điều tiết quá trình tạo
ra tiền
Đối với chức năng đảm bảo thanh toán trong trường hợp khẩn cấp thì dựtrữ bắt buộc cộng với bảo hiểm tiền gửi trở thành các công cụ bảo vệ tài sản củangười gửi tiền, do họ là số đông dân cư xã hội vì khả năng gây bất ổn với sốđông dân cư có thể làm bất ổn cả xã hội và làm giảm mức thu nhập toàn xã hội.Chức năng này vì thế được quan tâm
Với chức năng điều tiết lượng tiền trong lưu thông: Do đồng tiền gửi vào
có thể được cho vay ra, tạo ra luồng tiền mới, và rồi lại quay vòng gửi vào, dựtrữ bắt buộc có khả năng điều tiết số tiền quay vòng trong lưu thông này đểNHTW thực hiện một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất là ổn định tiền tệ
và chống lạm phát Ở các nước nói chung, dự trữ bắt buộc chỉ được quy định đốivới tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi nhắn hạn
Thông qua việc thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc, NHTW tác động tới mứccung tiền cho toàn bộ nền kinh tế Nếu NHTW tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc thì khảnăng tín dụng của Ngân hàng Thương mại (NHTM) sẽ giảm xuống, làm giảmmức cung tiền Ngược lại nếu muốn nới lỏng điều kiện tín dụng và tăng lợinhuận của ngân hàng, NHTW có thể giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc Việc mở rộnghay thu hẹp khả năng cung tiền cho nền kinh tế quốc dân sẽ thúc đẩy hay hạnchế đầu tư và tiêu dùng, làm thay đổi tổng cầu, gây ảnh hưởng tích cực hoặc tiêucực đến nền kinh tế
Đây là công cụ có tác động mạnh mẽ đến lượng tiền cung ứng, tác độngđến các ngân hàng như nhau, giúp NHTW thực hiện chính sách thắt chặt hay mởrộng một cách nhanh chóng, linh hoạt Chỉ cần những thay đổi nhỏ về tỉ lệ dự
Trang 6trữ bắt buộc sẽ gây ra những sự thay đổi lớn đối với lượng tiền cung ứng, do đócông cụ này kém linh hoạt, chi phí cho sự điều chỉnh lại tốn kém Hơn nữa, việctăng dự trữ bắt buộc có thể gây ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh toán của cácNHTM, gây ra tình trạng không ổn định cho các ngân hàng Chính vì thế, công
cụ dự trữ bắt buộc thường không được khuyến khích và ít được sử dụng
3 Công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Là hoạt động NHTW mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trườngtiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dựtrữ của các Ngân hàng thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tíndụng của các Ngân hàng thương mại, dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền
tệ cung ứng Cụ thể: Khi NHTW bán các giấy tờ có giá cho các NHTM, NHTWthu hồi một phần tiền từ lưu thông làm giảm lượng tiền cung ứng, dẫn đến khảnăng cho vay của các NHTM giảm, và giá trị tín dụng tăng lên Ngược lại bằngviệc mua các giấy tờ có giá, NHTW làm tăng khả năng dự trữ, khả năng cho vaycủa các NHTM, làm tăng khả năng tạo tiền của hệ thống ngân hàng và do đólượng tiền cung ứng sẽ tăng lên
Nghiệp vụ thị trường mở có thể được tiến hành một cách nhanh chóng,đơn giản, không gây chậm trễ về mặt hành chính và ít tốn kém về mặt chi phí.Tuy nhiên khi NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường vẫn phụ thuộc vàongười mua bán (các NHTM), hơn nữa công cụ này chỉ áp dụng hiệu quả chonhững nước có thị trường tài chính tương đối phát triển, tiền trong lưu thôngphần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng
4 Công cụ lãi suất tín dụng
Đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi
vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiềntrong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là 1 công
cụ rất hữu hiệu Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ
Trang 7trương chính sách và giải pháp cụ thể của NHTW nhằm điều tiết lãi suất trên thịtrường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
4.1 Lãi suất tiền gửi và cho vay
NHTW có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trườngthông qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ Nếu lãi suất tiền gửi cao, khốilượng tiền gửi sẽ tăng, và ngược lại Do đó khi muốn kích thích các nhà đầu tưvay vốn, NHTW sẽ giảm mức lãi suất cho vay, khi cần hạn chế NHTW sẽ ấnđịnh một mức lãi suất cao Khi công cụ này được sử dụng có thể giúp ngân hànglựa chọn những dự án kinh tế tối ưu để cho vay, nhưng lại làm cho các NHTMmất tính chủ động, xử lý linh hoạt trong kinh doanh Thậm chí dẫn đến tìnhtrạng ứ đọng vốn ở ngân hàng nhưng lại thiếu vốn đầu tư phát triển sản xuất.Đối với những nước hoạt động theo cơ chế thị trường, nơi mà lãi suất rất nhạycảm với đầu tư và phải được vận động theo quan hệ cung cầu vốn trên thị trườngthường ít sử dụng biện pháp này
4.2 Lãi suất chiết khấu
Đây là hình thức NHTW cho các NHTM vay dưới hình thức tái chiếtkhấu tức là NHTW tái cấp vốn cho các NHTM kèm theo các quy định và điềukiện cho vay Các NHTM đi vay nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khảdụng để đáp ứng cho nền kinh tế, giup shệ thống ngân hàng hoạt động bìnhthường tránh nguy cơ phá sản
Khi NHTW thay đổi hạn mức chiết khấu, tái chiết khấu sẽ tác động đếnlãi suất huy động vốn và cho vay của các NHTM cũng như khả năng đi vay củacác NHTM tại NHTW, gây ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm lượng tiền cungứng cho nền kinh tế Cụ thể: Khi NHTW tăng lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu
sẽ dẫn đến lãi suất cho vay của các NHTM tăng, làm giảm nhu cầu tín dụng củanền kinh tế, làm giảm lượng tiền cung ưng trong lưu thông và ngược lại
Thông qua việc sử dụng công cụ này, NHTW đóng vai trò là người chovay cuối cùng Đây là công cụ có tính linh hoạt, mang lại hiệu quả, đảm bảo sự
Trang 8cạnh tranh bình đẳng và chủ động giữa các ngân hàng NHTW có thể điều chỉnh
cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế, gây tác động đến lãi suất thị trường liên ngânhàng theo ý NHTW Tuy nhiên điều này chỉ mang lại hiệu quả khi lãi suất lãisuất tái chiết khấu phù hợp với lãi suất thị trường, phụ thuộc vào vốn củaNHTW và NHTM
5 Công cụ hạn mức tín dụng
Là 1 công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của NHTW đểkhống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tíndụng là mức dư nợ tối đa mà NHTW buộc các Ngân hàng thương mại phải chấphành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế NHTW xác định hạn mức tín dụng căn cứvào các chỉ tiêu như tốc độ tăng trưởng kinh tế, biến động về giá cả, tỉ lệ thấtnghiệp…
Biện pháp này rất phù hợp trong nền kinh tế có lạm phát Trong nền kinh
tế thị trường khi mà cung cầu tín dụng biến đổi không ngừng, hạn mức tín dụngchỉ được áp dụng một cách hạn chế vì nó triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa cácngân hàng, nó có thể làm sai lệch cơ cấu đầu tư trong nền kinh tế bởi với hạnmức tín dụng được NHTW quy định thì các NHTM sẽ tập trung vào các dự ánđầu tư lớn, dễ thu đựơc lợi nhuận và gây ra khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ
6 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ
Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiện quan hệ cung cầungoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tácđộng mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhậpkhẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hútvốn dầu tư, dự trữ của đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ củachính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy
Trang 9nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷgiá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
Trang 10CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN
TỆ CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY
Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấpsang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy thời gian chưa nhiều,nhưng đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế và những biểuhiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ Kể từ năm 1986 đến nay, tăng trưởngkinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng4,7%/ năm; năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8,7%/ năm mà đỉnh cao là năm
1995 với GDP tăng 9,5%; năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/ năm ,năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7,6%/ năm, và năm 2007 đạt mức 8,4%/năm Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển tương đối nhanh, cácnhà kinh tế cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam có thể đạt gần 10% trong
5 năm tới
Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy, có nhiều nước dựa vào mô hình tăngnhanh đầu tư, dù phải chấp nhận gánh nặng nợ nước ngoài ngày càng gia tăng,nghĩa là tăng trưởng cao bằng mọi giá Kết quả là tốc độ tăng trưởng kinh tế xấp
xỉ 2 con số, đồng thời lạm phát cũng gia tăng, nền kinh tế phát triển quá “nóng”,các nhân tố khủng hoảng kinh tế - tài chính xuất hiện và ngày càng chín muồidẫn tới khủng hoảng không thể tránh khỏi Tuy vậy, một số nhà kinh tế vẫn ủng
hộ quan điểm chấp nhận khủng hoảng (khủng hoảng lạm phát cao, khủng hoảng
nợ, khủng hoảng thâm hụt ngân sách nhà nước) và coi đó như một nhân tố thúcđẩy cải tổ cơ cấu nhanh hơn, có hiệu quả hơn và do đó tiếp tục đạt tốc độ tăngtrưởng cao hơn Tóm lại, đây là mô hình tăng trưởng nhanh “lồi lõm” nhưng xuhướng chung vẫn đưa nền kinh tế đạt trình độ cao hơn
Trang 11Quan điểm thứ hai đang được nhiều nước ủng hộ là tăng trưởng ổn định.Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chỉ có thể duy trì được dài hạn nếu ở mức vừaphải, kinh nghiệm quốc tế chỉ ra rằng mức đó không quá 6 – 8%/ năm Muốnquy mô GDP năm 2010 gấp đôi so với năm 2000 thì tốc độ tăng trưởng kinh tếbình quân hàng năm phải đạt 7,2%, tức là nằm trong khung 6 - 7%/ năm.
Mặc dù công cụ của chính sách tiền tệ hướng vào các mục tiêu kinh tế vĩ
mô nhưng tác động của chúng không nhất thiết sẽ tác động đồng đều tới toàn bộ
hệ thống kinh tế Ngược lại, chúng có tính chọn lọc Ví dụ, đối với chính sáchtiền tệ thắt chặt, nó có ảnh hưởng bất lợi đối với các doanh nghiệp nhỏ nhiềuhơn; đó thường là các doanh nghiệp trả lãi suất cao hơn, nó thường bị hạn chếtín dụng và chỉ có thể sử dụng nguồn tự tài trợ hết sức hạn chế và nguồn tài trợchéo, có tài trợ chéo khi lợi nhuận trong một khu vực được sử dụng để tài trợđầu tư cho một khu vực khác nhằm duy trì tăng trưởng của doanh nghiêp trongkhu vực thứ hai Tương tự, việc nâng giá hay lên giá của tỷ giá sẽ làm giảm xuấtkhẩu đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa co giãn mạnh theo giá nhiềuhơn là các doanh nghiệp sản xuất các hàng hóa mới hay hàng hóa chất lượng caobởi vì co giãn của cầu theo giá thấp hơn
I Sử dụng công cụ chính sách tiền tệ qua các giai đoạn
Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước còn điều hành chính sách tiền tệ thôngqua các công cụ gián tiếp như nghiệp vụ thị trường mở, dự trữ bắt buộc, chiết
Trang 12khấu, tỷ giá, trong đó nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng để điềutiết cung-cầu vốn
Trong năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện khoảng 160 phiênmua bán, chủ yếu là các phiên chào mua, với doanh số vốn cung ứng hàng ngàn
tỷ đồng Đây là công cụ có tính thị trường cao, giúp các ngân hàng thương mại
xử lý nhanh sự thiếu hụt về vốn
Năm 2005 cũng là năm cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam thặng
dư khoảng 1,9 tỷ USD, gấp hơn hai lần so với mức 863 triệu USD năm trước.Theo nhận định của Ngân hàng Nhà nước, thặng dư cán cân thanh toán quốc tếtăng cao góp phần làm giảm sức ép điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ và kiềm chế lạmphát trong nước
Trong bối cảnh cán cân thương mại nhập siêu ở mức khá lớn, việc điềuhành tỷ giá cũng đã được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh ở mức thích hợp đểgóp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tiền tệ, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhậpkhẩu và hạn chế tác động làm tăng lạm phát từ nhập khẩu cũng như giảm áp lựccho doanh nghiệp
Cùng với việc điều hành chính sách tỷ giá thả nổi có kiểm soát, Ngânhàng Nhà nước tiếp tục mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối Ước tính đến cuốinăm 2005, dự trữ ngoại hối của Việt Nam đã ở mức trên 10 tuần nhập khẩu hànghóa, trong khi mức dự trữ vào thời điểm cuối năm 2004 là 9 tuần, đủ khả năngcan thiệp để ổn định thị trường ngoại tệ
Riêng thị phần tín dụng cho đầu tư phát triển từ khu vực ngân sách Nhànước và các "Quỹ" tài chính nhà nước ngoài ngân sách đã chiếm tới hơn 30%tổng đầu tư toàn xã hội trong những năm vừa qua Đó là chưa kể, phần tín dụngchính sách, phần vốn nhà nước ở khu vực các doanh nghiệp nhà nước, các ngânhàng quốc doanh và phần bù lãi suất cho tín dụng chính sách ưu đãi hàng nămcũng ngày càng gia tăng Luật pháp điều chỉnh không thống nhất đã làm chia cắt