Những nội dung cơ bản của Học thuyết đạo đức của nho giáo và ảnh hưởng của nó trong việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức của con người Việt Nam
Trang 1Lời mở đầu 2 Nội dung 4
ảnh hởng và vai trò của Nho giáo trong việc xây dựng
và hoàn thiện đạo đức của 10 con ngời việt nam 10 Kết luận 15
Tài liệu tham khảo 16
Trang 2
Lời mở đầu
Nét đặc thù của triết học Trung quốc cổ đại là hầu hết các học thuyết có xu hóng đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con ngời, xây dựng con ngời xã hội lý tởng và con đờng trị nớc Có nhiều
hệ t tởng xuất hiện và tồn tại mãi cho đến ngày nay Theo sách Hán th có tất cả
103 học phái nhng ảnh hởng lớn nhất là 3 phái : Nho gia, Đạo gia, Mặc gia Học thuyết Nho gia có ảnh hởng lớn và phát triển T tởng Nho gia do Khổng tử sáng lập Khổng tử và các nhà Nho nói chung đều có t tởng xây dng một chế độ phong kiến có kỷ cơng nền nếp thanh bình thịnh trị, đất nớc có vua thánh tôi hiền dân an
c lạc nghiệp, đất nớc thanh bình thịnh trị, vua có đạo đức có trí tuệ biết dùng ngời Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở yêu trẻ kính già ai nấy đểu trọng tình cảm và công bằng, không ai nghèo quá mà cũng không ai giàu quá Đợc nh vạy thì các giai cấp hoà hợp với nhau không có sự oán giận Để thực hiện ý tởng nh vậy ông
đã xây dựng nên học thuyết đạo đức của Nho giáo
Trong đó có ba phạm trù cơ bản là Nhân - Lễ - Chính
Kể từ lúc xuất hiện từ vài thế kỷ trớc công nguyên cho đến thời nhà Hán (Hán Vũ Đế) Nho giáo đã chính thức trở thành hệ t tởng độc tôn và luôn luôn giữ
vị trí đó cho đến ngày cuối cùng của chế độ phong kiến Điều đó đã minh chứng rõ ràng: Nho giáo hẳn phải có những giá trị tích cực đặc biệt, nếu không sao nó có thể có sức sống mạnh mẽ đến nh vậy
Chính vì ý nghĩa và vai trò to lớn của Nho giáo đối với tiến trình phát triển của triết học, con ngời Trung Quốc và Việt Nam nên em chọn đề tài “Những nội dung cơ bản của học thuyết đạo đức của nho giáo và ảnh hởng của nó trong
Trang 3việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức của con ngời Việt Nam(trong lịch sử và hiện nay) ”
Trang 4Nội dung
Phần I: Nội dung cơ bản trong học thuyết đạo đức của
Nho giáo
Khổng tử và các nhà Nho nói chung đều có t tởng xây dng một chế độ phong kiến có kỷ cơng nền nếp thanh bình thịnh trị, đất nớc có vua thánh tôi hiền dân an c lạc nghiệp, đất nớc thanh bình thịnh trị, vua có đạo đức có trí tuệ biết dùng ngời Xã hội đó lấy gia đình làm cơ sở, yêu trẻ kính già, ai nấy đều trọng tình cảm và công bằng, không ai nghèo quá mà cũng không ai giàu quá Đợc nh vậy thì các giai cấp hoà hợp với nhau không có sự oán giận Nho giáo đặt vấn đề xây dựng con ngời một cách thiết thực Nho giáo hớng con ngời vào tu thân và thực hành đạo đức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất, luôn đợc đặt vào vị trí thứ nhất của sinh hoạt xã hội, quan điểm về vũ trụ, về nhân sinh, về nhận thức luôn thấm
đ-ợm ý thức đạo đức Tất cả mọi vấn đề đều lấy đạo đức làm chuẩn Vì vậy vấn đề thiện và ác của con ngời thành tiêu điểm tranh luận quan trọng nhất của lịch sử triết học Trung quốc
Ngời Trung quốc trong lịch sử coi việc tu thân dỡng tính cá nhân liên hệ mật thiết với nhận thức thế giới khách quan, coi tu thân dỡng tính là cơ sở để nhận thức thế giới khách quan Mục tiêu xây dựng của Nho giáo là giúp con ngời xác
định đợc 5 mối quan hệ cơ bản và làm tròn trách nhiệm trong mối quan hệ ấy Để thực hiện ý tởng đó ông đã xây dựng nên học thuyết đạo đức của Nho giáo, trong
đó có ba phạm trù cơ bản là Nhân - Lễ - Chính
Học thuyết Nhân
Đây là phạm trù trung tâm của đạo đức Nho giáo thể hiện sáng tạo của Khổng Tử Ông đa ra phạm trù Nhân để phát huy tính năng động sáng tạo của con ngời Theo ông, triều đình muốn thái bình thịnh trị thì con ngời cầm quyền phải
có đức nhân Một xã hội muốn yên ổn thì phải có nhiều ngời theo điều Nhân Nhân có nhiều nghĩa khác nhau, có thể khái quát mấy nội dung sau:
Trang 5Trớc hết, Nhân là yêu ngời, thơng ngời hết lòng vói ngời khác Bản tính này
đợc bộc lộ, tiềm ẩn trong các quan hệ xã hội giữa ngời và ngời Khổng Tử nói: đạo
ta là do một lẽ mà thông suốt tất cả chỉ gom vào một chữ trung thứ Quan niệm trung thứ biểu hiện tính nhân văn sâu sắc, một lẽ sống, sống sao cho nên ngời Đó
là đạo làm ngời mà cốt lõi là vừa yêu thơng, vừa phải giúp đỡ lẫn nhau để tạo dựng cuộc sống cộng đồng hoà bình, hạnh phúc
Thứ hai, Nhân là cái gốc, Nhân sinh ra các đức khác, các đức khác hội tụ cả
ở Nhân Theo Khổng tử “Nhân là cái thế yên lặng nh núi, bao nhiêu cái đức khác
đều bơỉ đó mà sinh ra”
Nhân là cái gốc của sự sinh hoá trong trời đất :
Thế gian nhờ đó mà đứng
Vạn vật nhờ đó mà sinh
Quốc gia nhờ đó mà còn
Lễ nghĩa nhờ đó mà phát hiện ra
Nhân là yêu ngời, yêu vật, lòng yêu thơng ấy đều xuất phát một cách tự nhiên chứ không miễn cỡng chút nào Nh vậy theo Nho giáo, chữ Nhân gồm cả
đức, lễ, nghĩa, trí, tín (Ngũ luân)
Nhân còn bao gồm nhiêu tiêu chuẩn đạo đức khác nữa nh trung hiếu, cung kính, khoan hoà, cần mẫn, chính đáng, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm , học gắn với hành Nh vậy chữ Nhân trong Nho giáo không chỉ là yêu thơng con ngời mà còn
là đạo làm ngời Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nh vậy nên một ngời chỉ
có một số tiêu chuẩn thì cha thể coi là ngời có Nhân
Nho giáo gọi ngời có Nhân là ngời quân tử đối lập với kẻ tiểu nhân Sự phân biệt đẳng cấp nh vậy cũng là nét đặc biệt trong t tởng đạo đức của Nho giáo Có thể nói, Khổng tử là ngời đầu tiên trong lịch sử nhân loại đề cập đến con ngời trên bình diện Nhân đạo chứ không phải trên bình diện Nhân quyền, ông đã phát hiện sức mạnh của đạo đức
Học thuyết về Lễ
Lễ theo Khổng tử là toàn bộ những nghi lễ, chuẩn tắc trong quan hệ giứ
ng-ời với ngng-ời, từ hành vi ngôn ngữ cho đến trang phục, nhà cửa Lễ vừa là cách thờ
Trang 6cúng, vừa là quy định có tính luật pháp vừa là những phong tục tập quán một kỷ luật tinh thần Lễ đợc chia thành 5 loại: Cát Lễ, hung Lễ, quân Lễ, tân Lễ, gia Lễ
Lễ còn bao hàm mọi nghi thức trong sinh hoạt xã hội, nhng quy định chi tiết đến cả những hoạt động cá nhân (ăn mặc, đi đứng, chào hỏi, cới xin, hội hè của từng loại ngời trong xã hội) Ai ở phận vị nào thì chỉ đợc dùng lễ ấy, tùy vào tính chất công việc khác nhau mà dùng lễ khác nhau
Giữa Chinh danh và Lễ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: muốn Danh đợc chính, thì phải thực hiện Lễ, trau dồi Lễ Lễ của nhà Chu thuần túy là hình thức thể hiện của hành vi và ý thức Tôn giáo có tính chất tín điều, Khổng Tử đã biến Lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, có tác dụng điều chỉnh,
ớc thúc cái bản tính tự nhiên của con ngời Suy cho cùng Lễ chỉ là sự bổ sung cho Chính danh
nhằm thiết lập trật tự xã hội phong kiến
Lễ còn bao hàm cả mọi nghi thức trong sinh hoạt xã hội, những quy định chi tiết đến cả những hoạt động cá nhân, ai ở phận nào thì đợc dùng lễ ấy, tuỳ thuộc vào tính chât công việc khác nhau mà dùng lễ khác nhau Khổng tử đặc biệt nhấn mạnh thái độ Thành và Kính trong khi thực hành Lễ
Thuyết Chính danh
Với quan điểm cho rằng sự thay đổi của xã hội làm thiên hạ rối ren không phải một sớm một chiều mà là một quá trình bắt đầu từ sự sa đoạ của đẳng cấp cầm quyền khiến danh không dợc chính Nừu danh không đợc chính thì lời nói không đúng, lời nói không đúng sẽ dẫn đến việc làm sai Khi đó ngời với ngời trong xã hội không còn kính trọng nhau, không còn hòa khí, luật pháp lỏng lẻo, dân mất đoàn kết, mất nơi trông cậy nhờ vả, không còn tin ở bậc cầm quyền, tất yếu dẫn tới rối loạn Danh của Khổng Tử có thể hiểu nh tên gọi của một vật, một ngời trong mối quan hệ cụ thể trong xã hội Phận là nghĩa vụ và quyền lợi của từng ngời tơng ứng với danh của nó
Chính danh là làm rõ danh xng, danh phận vật nào ngời nào mang danh nào
và phải thực hiện bằng đợc những yêu cầu mà danh mình đòi hỏi Khổng Tử cho rằng Chính danh là làm việc cho ngay thẳng, vua phải làm trọn đạo làm vua, bề tôi
Trang 7phải làm trọn đạo của bề tôi, cha phải làm trọn đạo của cha và con phải làm trọn
đạo làm con Một xã hội có Chính danh là một xã hội có trật tự kỷ cơng, thái bình thịnh trị Trớc sự loạn danh của xã hội Đông Chu, Khổng Tử chủ trơng chính danh
để khôi phục lại kỉ cơng Cần chú ý là chính danh của Nho giáo nguyên thủy là chính danh hai chiều trong quan hệ mà trớc hết đặt trách nhiệm với bề trên: quân minh – thần trung, phụ từ – tử hiếu Nó khác hẳn với quan niệm về Chính danh của Đổng Trọng Th đời Hán sau này Cụ thể là Đổng Trọng Th đã chủ trơng kết hợp Nho gia với Pháp gia để trị quốc đã duy tâm hóa triệt để thuyết Chính danh Mối quan hệ trong các luân để giải quyết hoàn toàn theo Thiên mệnh, kẻ dới phải tuyệt đối phục tùng ngời trên đến mức: Vua xử bề tôi chết, bề tôi phải chết mới là trung, cha bắt con chết con phải chết mới là hiếu, chồng nói vợ phải tuyệt đối nghe theo mới là tiết hạnh Tam cơng cùng với những tiêu chuẩn đạo đức của bề dới nh: Trung, hiếu, tiết hạnh đợc đề cao hơn cả Để Chính danh, Nho giáo không dùng pháp trị mà dùng đức trị- Nhân chính Đức trị là dùng luân lý đạo đức điều hành guồng máy xã hội Từ vua cho tới dân đều thấm nhuần và hành động theo những tiêu chuẩn đạo đức Nho giáo, ở đây ông đã gắn đạo đức với chính trị
Vậy Nho giáo coi những quan hệ chính trị đạo đức là quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng là quan hệ vua -tôi, cha- con, anh-em, bạn bè và chồng – vợ điều này phản ánh t tởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho giáo.từ những quan hệ ấy ông cũng nêu lên các đức tính cần có là vua nhân, tôi trung, cha
từ, con hiếu, anh lành , em đễ, chồng có nghĩa, vợ vâng lời , bạn có tín
Để củng cố năm mối quan hệ cơ bản nêu trên, Nho giáo đã nêu lên những phẩm chất quan trọng con ngời phải đạt tới Con đờng phấn đấu là phải ra sức tu d-ỡng bản thân để xây dựng cuộc sống gia đình và đem lại yên vui cho thiên hạ
ở Trung Quốc xã hội phong kiến vẫn giữ lại rất nhiều di tích của xã hội thị tộc và xã hội nô lệ, biểu hiện trong pháp luật và phong tục dới nhiều hình thức nh quan niệm về sở hữu ruộng đất thuộc về quốc gia, quan niệm tôn pháp trong gia tộc, ở trong một xã hội nh vậy thì vua là tổ của thị tộc, là cha của dân, mà cha là trời của con, chồng là trời của vợ Để tồn tại trên cơ sở sản xuất đặc thù á Đông (phơng thức sản xuất Châu á) giai cấp địa chủ thống trị cần phải giữ những quan
Trang 8niệm ấy, do đó chữ Trung, chữ Hiếu, chữ Chinh là những khái niệm luân lý tuyệt
đối trong xã hội phong kiến Trung Quốc Trong hình thái ý thức phong kiến hệ giữa ngời với ngời chỉ đợc ghép vào 5 loại (ngũ luân), ấy là: vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bạn bè Trong 5 cặp ấy thì hai cặp anh em, bạn bè chỉ là nhành ngọn, mà 3 cặp kia mới là cội gốc Những tính lớn của nhân loại, theo quan niệm phong kiến là nhân, nghĩa, lễ, trí (về sau có thêm chữ tín) cũng là phát sinh trên cơ
sở của ngũ luân Nh Khổng Tử nói rằng hiếu đễ là gốc của chữ Nhân
T tởng của chế độ phong kiến thì lấy đạo đức, danh dự làm hình thái đại biểu
Nó không giống với t tởng của thời đại t bản chủ nghĩa ở chỗ t tởng này lấy tự do bình đẳng làm hình thái đại biểu ở đây chữ đạo đức và danh dự cũng đồng nghĩa với chữ lý luận và danh phận trong Nho giáo mà tự do, bình đẳng là t tởng cá nhân của xã hội t sản
Nho giáo là hình thái ý thức của giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến ở Trung Quốc Đối với nó thì ngũ luân, ngũ thờng, hay tam cơng ngũ thờng là những cái tuyệt đối Theo bộ sậu chính thờng của t tởng đạo đức thì đạo đức quan phải diễn dịch từ vũ trụ quan, nhng nho giáo thì làm ngợc trở lại, nó xuất phát từ ngũ luân, ngũ thờng rồi đem gán những cái ấy cho vũ trụ, cho thợng đế: nó đã luân lý hoá cả vũ trụ, cả thợng đế, vũ trụ và thợng đế của Nho giáo đều nhuốm màu luân
lý Đối với nho giáo thì luân lý cơng thờng là hằng tồn, là phổ biến Nho giáo không có lịch sử quan, tiến hoá luận Đối với nó xã hội phong kiến không phải chỉ
là một giai đoạn trong lịch sử loài ngời, luân lý phong kiến không chỉ là một hình thái ý thức của giai đoạn ấy, nh họ nói: “Quân thần chi nghĩa vô sở đào thiên địa chi gian”
Đạo ở đây tức là tam cơng, ngũ thờng
Nhng qua các thời đại Nho giáo phải chống đỡ một cuộc đấu tranh lý luận đối với những hệ thống khác, nh triết học của Mặc Tử, Lão Tử, biện chứng pháp của danh gia, xã hội học của pháp gia, hình nhi thợng của Hoa nghiêm tông, thiền tông Vì vậy Nho gia đời sau cảm thấy phải xây đắp cho nó một cơ sở lý luận ít ra cũng “dễ coi” Họ tìm đợc những yếu tố triết học trong Nho gia nh sách Trung Dung, Đại học,
Trang 9Mạnh Tử, Kinh Dịch Họ lại vay mợn thêm của các triết học và tôn giáo, khác những cái gì có thể dung hoá đợc, rồi mỗi ngời, mỗi phái xây dựng một học thuyết làm cơ sở
lý luận cho Nho giáo Do đó đã từng hiện ra cảnh tợng hỗn độn, phức tạp trong các chi phái nh nói ở trên, chi phái của Nho giáo có thể là nhất nguyên luận hay nhị nguyên luận, chủ quan luận hay khách quan luận, duy lý chủ nghĩa hay trực quan chủ nghĩa, đức trị chủ nghĩa hay công lợi chủ nghĩa nhng tất cả đều thống nhất trên quan điểm luân thờng, cơng thờng Cho nên, có thể nói, bản chất của t tởng phong kiến nói chung là đạo đức và danh dự mà bản chất của Nho học là luân lý, danh phận tức là tam cơng, ngũ thờng
Trang 10Phần II
ảnh hởng và vai trò của Nho giáo trong việc xây dựng
và hoàn thiện đạo đức của con ngời việt nam
Trong quá trình tiếp biến các hệ tử tởng triết học đợc du nhập từ bên ngoài, Nho giáo từ Trung quốc đã đóng góp một vai trò đặc bịêt quan trọng cả trong lịch
sử và trong thời đại ngày nay
1.Trong lịch sử:
Những t tởng triết học của Nho giáo có vai trò đặc biệt quan trọng đối với lịch sử triết học nớc ta từ những năm cuối trớc Công nguyên Từ cuối thế kỷ 18 trỏ
đi , Nho giáo dần dần lấn át Phật giáo và trỏ thành quốc giáo Nó đợc phát triển trong sự ảnh hởng của t tởng truyền thống Việt Nam và Phật giáo T tởng của nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh bảo vệ chủ quyền dân tộc
Công lao của Nho giáo là đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt Nam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất nh: Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm, Theo Nguyễn Trãi, đạo làm ngời ở ông là phải vơn tới mẫu ngời quân tử, hào kiệt,
đại trợng phu, phải có ba đức tính: nhân, trí, dũng Đạo làm nguời của ông đợc phát triển từ đạo làm ngời của Nho giáo, nhng lại khác Nho giáo ở chỗ trung không phải chỉ với một vua một triều đại mà trung với nớc với dân Từ sự phân tích thời thế, chủ quan khách quan ông đã đa ra phơng pháp lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh ,và đã thành công Điều đó chứng tỏ t duy lý luận của ông ở thời đó là hoàn toàn đúng đắn và nó vẫn còn ý nghĩa lý luân về sau
Nho giáo hớng nhân dân vào con đờng ham tu dỡng đạo đức theo nhân - nghĩa - lễ – tín, ham học tập để phò vua giúp nớc ảnh hởng chính của nho giáo là thiết lập
kỷ cơng và trật tự xã hội Nhiều t tởng tiến bộ trong các quan điểm về đạo đức của Nho giáo đã đợc các nhà t tởng Việt Nam kế thừa theo tinh thần thực tiễn của dân tộc Đó là t tởng thân dân, trọng dân, coi dân là gốc của quốc gia; đó là t tởng nhân nghĩa trong đời sống chính trị xã hội
Trang 11Sự phát triển của Nho giáo Việt Nam không tách rời những yêu cầu xã hội, cho nên trong buổi thịnh tự nhất, nó không khỏi có một số tác dụng tích cực
Trớc hết là cơng vị độc tôn, Nho giáo đã có thêm nhiều sức mạnh và uy thế góp phần củng cố và phát triển chế độ quân chủ và những kinh nghiệm mẫu mực cho việc chấn chỉnh và mở rộng nhà nớc phong kiến tập quyền theo một quy mô hoàn chỉnh có đầy đủ những thể chế và điều phạm Mà ở thế kỷ XV, các xu thế phát triển đó đã và đang giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trên các bình diện sản xuất và củng cố quốc phòng
Nh đã biết, quá trình đi lên của Nho giáo Việt Nam không tách rời yêu cầu phát triển nền kinh tế tiểu nông, gia trởng dựa trên quyền sở hữu của giai cấp địa chủ của nhà nớc và của một bộ phận nông dân trực tiếp tự canh về ruộng đất Vì thế cho nên khi chiếm đợc vị trí chủ đạo trên vòm trời t tởng của chế độ phong kiến, Nho giáo càng có điều kiện xúc tiến sự phát triển này Nó làm cho sản xuất nông nghiệp và trao đổi hàng hoá đợc đẩy mạnh hơn trớc
Đồng thời Nho giáo đem lại một bớc tiến khá căn bản trong lĩnh vực văn hoá tinh thần của xã hội phong kiến nớc ta từ thế kỷ XV, trớc hết nó làm cho nền giáo dục phát triển hết sức mạnh mẽ nhất là dới triều Lê Thánh Tông Nền giáo dục ấy cùng với chế độ thi cử đã đào tạo ra một đội ngũ tri thức đông đảo cha từng thâý trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Do đó khoa học và văn học nghệ thuật phát triển
Hơn nữa sự thịnh trị của Nho giáo từ thế kỷ XV cũng là một hiện tợng góp phần thúc đẩy lịch sử t tởng nớc ta tiến lên một bớc mới Là một học thuyết tích cực nhập thể, nó cổ vũ và khuyến khích mọi ngời đi sâu vào tìm hiểu những quan
hệ xã hội, những vấn đề của thực tiễn chính trị, pháp luật và đạo đức Do đó, nhận thức lý luận của dân tộc ta về các vấn đề ấy cũng đợc nâng cao hơn Dựa vào lịch
sử của Nho giáo, nhà vua và các nho sĩ giải thích các vấn đề ấy có lập luận và có lý
lẽ đầy đủ hơn
Đó là mặt tích cực của Nho giáo Nhng nó góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến kìm hãm quan hệ kinh tế t bản phát triển ở nớc ta Nho