1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam - Chi nhánh Đà Nẵng.

117 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 842,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bao gồm điều chỉnh mô hình tổ chức hoạt động bao thanh toán tại chi nhánh, thành lập bộ phận chuyên trách thuộc phòng quan hệ khách hàng; xây dựng đội ngũ nhân viên đủ về số lượng và chấ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ THỊ THU

TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

VÕ THỊ THU

TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN

KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ HỮU TIẾN

Đà Nẵng - Năm 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Võ Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 2

6 Tổng quan tài liệu 3

CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN 9 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN 9

1.1.1 Lịch sử hình thành sản phẩm bao thanh toán 9

1.1.2 Khái niệm bao thanh toán và các loại hình bao thanh toán 10

1.1.3 Lợi ích của bao thanh toán 14

1.1.4 Rủi ro của hoạt động bao thanh toán 17

1.1.5 Quy trình thực hiện bao thanh toán 19

1.2 CÁC ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN 22

1.2.1 Nhu cầu thị trường 22

1.2.2 Hệ thống pháp luật liên quan 23

1.2.3 Năng lực kinh doanh của đơn vị thực hiện bao thanh toán 25

1.2.4 Chính sách đối với dịch vụ bao thanh toán 28

1.2.5 Đối thủ cạnh tranh 29

1.2.6 Các điều kiện khác 29

1.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BTT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 30

1.3.1 Tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới 30

1.3.2 Tình hình chung thực hiện nghiệp vụ BTT tại Việt Nam 32

Trang 5

1.3.3 Rút ra bài học kinh nghiệm triển khai dịch vụ bao thanh toán tại

Việt Nam 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 : KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TẠI NH TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 37

2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NH TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 37

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của TCB Đà Nẵng 37

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Techcombank Đà Nẵng 38

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Techcombank Đà Nẵng 39

2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Techcombank ĐN thời gian qua 42

2.2 KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BTT TẠI TCB ĐN 44

2.2.1 Phân tích nhu cầu thị trường đối với dịch vụ BTT tại Đà Nẵng 44 2.2.2 Về môi trường pháp lý đối với sản phẩm BTT 49

2.2.3 Về năng lực kinh doanh 55

2.2.4 Chính sách của Techcombank đối với dịch vụ Bao thanh toán 61

2.2.5 Đối thủ cạnh tranh 70

2.3 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRIỂN KHAI NGHIỆP VỤ BTT TẠI CHI NHÁNH TCB ĐÀ NẴNG 73

2.3.1 Thuận lợi 73

2.3.2 Khó khăn 75

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 77

CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 79

Trang 6

3.1 MỤC TIÊU CỦA VIỆC TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN

TẠI TCB ĐÀ NẴNG 79

3.2 GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN TẠI CHI NHÁNH TCB ĐÀ NẴNG 80

3.2.1 Kế hoạch triển khai dịch vụ bao thanh toán tại TCB ĐN 80

3.2.2 Một số giải pháp thực hiện triển khai dịch vụ BTT tại TCB Đà Nẵng 82

3.3 KIẾN NGHỊ 93

3.3.1 Kiến nghị Hội sở Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam 93

3.3.2 Kiến nghị ngân hàng Nhà nước Việt Nam 95

3.3.3 Kiến nghị chính phủ 97

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI CỦA LUẬN VĂN (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Doanh số bao thanh toán trên thế giới 2006 - 2012 30 1.2 Doanh số bao thanh toán của các châu lục trên thế

giới từ 2006-2012

31

1.3 Doanh số bao thanh toán tại Việt Nam từ 2005-2012 33 1.4 Doanh số bao thanh toán của một số quốc gia châu Á 33 2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của TCB ĐN qua các

Trang 8

2.16 Danh mục các điểm giao dịch của TCB tại Đà Nẵng 60

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số hiệu

2.1 Biểu đồ kết quả hoạt động kinh doanh của TCB ĐN

qua 3 năm 2010, 2011, 2012

43

2.3 Biểu đồ một số chỉ tiêu tài chính của TCB ĐN các năm

2010-2012

56

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Số hiệu

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTT : Bao thanh toán

DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa

ĐN : Đà Nẵng

ĐVT : Đơn vị tính

FCI : Tổ chức bao thanh toán quốc tế

KPT : Khoản phải thu

NH : Ngân hàng

NHNN : Ngân hàng nhà nước

TCB : Techcombank

TMCP : Thương mại cổ phần

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đã gia nhập WTO từ năm 2006, mở ra rất nhiều cơ hội giao thương kinh tế Các ngân hàng nước ngoài tham gia vào thị trường Việt Nam ngày một sâu rộng hơn Do vậy, việc đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình là một thách thức đối với các ngân hàng trong nước nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh và đứng vững trên thị trường Nhận thức được điều

đó, Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam đã đưa vào áp dụng sản phẩm tài chính mới, trong đó có dịch vụ bao thanh toán Bao thanh toán

đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và đã đem lại lợi ích to lớn trong thương mại TCB đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội bao thanh toán quốc tế (FCI) từ cuối tháng 4/2005 Tuy nhiên, tại Ngân hàng Thương mại cổ phần

Kỹ thương – Chi nhánh Đà Nẵng, vẫn chưa triển khai thực hiện dịch vụ bao thanh toán do nhiều nguyên nhân Nếu thực hiện triển khai dịch vụ bao thanh toán thành công, thì đây chính là sản phẩm mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, cho chính ngân hàng và cho nền kinh tế Vì vậy tôi chọn vấn đề

“Triển khai dịch vụ bao thanh toán tại NHTMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” làm luận văn tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu : Cơ sở lý luận về nghiệp vụ bao thanh toán của NHTM và tình hình thực hiện bao thanh toán của các nước trên thế giới trong thời gian qua, đánh giá thực trạng dịch vụ bao thanh toán tại Việt Nam trong thời gian qua Đánh giá khả năng triển khai dịch vụ bao thanh toán

và tìm hiểu, phân tích những thuận lợi và khó khăn triển khai nghiệp vụ Bao thanh toán tại chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng Qua đó, đề xuất giải pháp để triển khai dịch vụ

Trang 12

bao thanh toán tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam– Chi nhánh Đà Nẵng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai dịch vụ BTT tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

a.Về nội dung

Luận văn nghiên cứu về dịch vụ bao thanh toán mà TCB đang triển khai và nhận định khả năng cùng giải pháp nhằm triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Chi nhánh TCB Đà Nẵng

c.Về không gian

Luận văn tập trung nghiên cứu triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu Luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phương

pháp: diễn giải và quy nạp, các phương pháp thống kê mô tả và tổng hợp để phân tích, nhận định, đánh giá và đề xuất

5 Bố cục đề tài

Bố cục của luận văn được trình bày thành ba phần như sau:

Chương 1: Lý luận cơ bản về dịch vụ bao thanh toán

Trang 13

Chương 2: Khả năng triển khai nghiệp vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

6 Tổng quan tài liệu

- Kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến luận văn nghiên cứu, theo tìm kiếm tại trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng có tác giả Phan

Quang Tuấn (2012), “Giải pháp triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân

hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam”

Đề tài trên được nghiên cứu trong bối cảnh ngành Ngân hàng đang hoạt động trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Chi nhánh Vietcombank Quảng Nam đã triển khai dịch vụ Bao thanh toán từ năm 2009 nhưng chưa đạt được hiệu quả mong muốn Do đó, đề tài trên tập trung nghiên cứu Vietcombank Quảng Nam đã gặp những khó khăn gì khi triển khai và đưa ra giải pháp để triển khai hiệu quả

Trong chương 1, đề tài tập trung làm rõ các vấn đề về dịch vụ bao thanh toán của Ngân hàng thương mại Trong đó, giới thiệu về dịch vụ ngân hàng và tổng quan về dịch vụ bao thanh toán Đề tài đã nêu ra các khái niệm, chức năng và các hình thức bao thanh toán chủ yếu; quy trình thực hiện bao thanh toán phổ biến, các rủi ro phát sinh từ hoạt động bao thanh toán; lợi ích của bao thanh toán và lợi thế so với một số sản phẩm ; các điều kiện triển khai dịch vụ bao thanh toán Đề tài cũng đã sơ lược về hoạt động bao thanh toán trên thế giới và kinh nghiệm phát triển

Trong chương 2, đề tài đã trình bày thực trạng triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam Chi nhánh Vietcombank Quảng Nam đã triển khai dịch vụ này từ năm

2009 và được Hội sở giao chỉ tiêu số dư Bao thanh toán là 100.000 USD

Trang 14

nhưng vẫn chưa đạt được kết quả, chưa có một giao dịch nào về bao thanh toán Và chỉ ra một số nguyên về phía nhà nước, nguyên nhân về phía Vietcombank Hội sở, nguyên nhân về phía Vietcombank Quảng Nam, nguyên nhân về phía doanh nghiệp

Trong chương 3, đề tài đã đưa ra một số các giải pháp để triển dịch vụ bao thanh toán tại Chi nhánh Vietcombank Quảng Nam Bao gồm điều chỉnh

mô hình tổ chức hoạt động bao thanh toán tại chi nhánh, thành lập bộ phận chuyên trách thuộc phòng quan hệ khách hàng; xây dựng đội ngũ nhân viên

đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ bao thanh toán; các giải pháp liên quan đến quá trình cung cấp dịch vụ bao thanh toán cho khách hàng (quy trình thực hiện, thẩm định, kiểm soát khách hàng); chính sách ưu đãi đối với khách hàng sử dụng dịch vụ bao thanh toán; giải pháp thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ bao thanh toán Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra một số kiến nghị đối với Ngân hàng TMCP Vietcombank Việt Nam; kiến nghị đối với Nhà nước

Như vậy, thông qua tài liệu nêu trên, luận văn nghiên cứu đang đề cập

có thể kế thừa những nội dung đã được nghiên cứu về lý thuyết, bổ sung thêm phần lịch sử hình thành bao thanh toán; bổ sung nghiên cứu tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua giai đoạn

2006 - 2012 Nghiên cứu triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng Địa bàn Quảng Nam và Đà Nẵng cũng có những điều kiện tương đối giống nhau Những thuận lợi và khó khăn khi triển khai dịch vụ có thể tương đồng nhau Do vậy, vẫn có thể kế thừa từ tài liệu trên Tuy nhiên, cần phải tìm hiểu kỹ thêm về những điều kiện thuận lợi và khó khăn tại Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng, nhận định về khả năng triển khai dịch vụ bao thanh toán Về nhóm các giải pháp, Chi nhánh Techcombank ĐN chưa từng triển khai dịch vụ này nên đề tài nghiên cứu sẽ triển khai theo

Trang 15

hướng thử nghiệm dịch vụ trước khi thương mại hóa dịch vụ Trên cơ sở nghiên cứu những thuận lợi và khó khăn, phần giải pháp sẽ cố gắng phát huy những điều kiện thuận lợi và khắc phục những khó khăn và từ đó có những khó khăn không phải tự bản thân Chi nhánh Techcombank Đà Nẵng có thể giải quyết được Do đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị đối với Hội sở Techcombank Việt Nam, đối với Ngân hàng Nhà nước, đối với chính phủ nhằm khắc phục những khó khăn sẽ gặp phải khi các Ngân hàng triển khai dịch vụ bao thanh toán và nhằm thúc đẩy dịch vụ bao thanh toán có nhiều tiện ích phát triển hơn nữa trong tương lai

- Bài báo “ Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán trong hoạt động tài trợ thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh tại các NHTM ở Việt Nam” của Huỳnh Thị Hương Thảo đăng trên Tạp chí Ngân hàng (Số 19

về luật pháp, điều ước và tập quán quốc tế vẫn còn là trở ngại; Quan hệ với thị trường nước ngoài còn hạn chế Bên cạnh việc đưa ra các vấn đề tồn tại, bài viết cũng đã đưa ra một số giải pháp để phát triển dịch vụ bao thanh toán gồm: nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động bao thanh toán, xây dựng sản phẩm phù hợp với thị trường, hoàn thiện quy trình bao thanh

Trang 16

toán, thành lập phòng/ bộ phận bao thanh toán

- Bài báo “ Bao thanh toán - một dịch vụ tài chính đầy triển vọng cho các doanh nghiệp Việt Nam “ của Nguyễn Xuân Trường (2006), đăng trên tạp chí ngân hàng số 7

Bài viết đã nêu tóm tắt về cơ sở lý luận về dịch vụ bao thanh toán gồm Khái niệm; Phân loại bao thanh toán; Cơ chế hoạt động; Lợi ích khi sử dụng bao thanh toán Và bài viết cũng đã chỉ ra được những khó khăn khi triển khai bao thanh toán ở Việt Nam gồm:

+ Tâm lý các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa muốn công khai tình hình hoạt động, càng không muốn một tổ chức bất kỳ nào can thiệp vào quá trình kinh doanh của họ Vì vậy, các đơn vị bao thanh toán gặp nhiều khó khăn khi tiếp thị sản phẩm mới với khách hàng

+ Các ngân hàng Việt Nam, và kể cả các ngân hàng nước ngoài, vẫn coi trọng tài sản đảm bảo

+ Lợi ích của bao thanh toán là không cần dùng thương phiếu để tài trợ

và giải quyết mọi tranh chấp thương mại, mà chỉ cần có hợp đồng và các hóa đơn thương mại đã được đóng dấu chuyển quyền sở hữu Trong điều kiện Việt Nam chưa có Luật Thương phiếu để xử lý nợ thì hợp đồng bao thanh toán cũng như các hợp đồng thương mại khác sẽ được xem như là cơ sở pháp

lý để trong trường hợp có tranh chấp, sẽ được đưa ra trọng tài kinh tế hoặc tòa

án thương mại để xét xử Nhưng vấn đề ở đây là, ở Việt Nam, hiệu lực hợp đồng và thậm chí là hiệu lực kết quả xét xử của trọng tài kinh tế hay tòa án thương mại vẫn còn bị xem nhẹ Nói tóm lại, một nguyên nhân khiến bao thanh toán chậm được triển khai ở Việt Nam là do luật pháp của ta chưa nghiêm

+ Các doanh nghiệp vẫn quen dùng các phương thức thanh toán truyền thống như chuyển tiền T/T, đặc biệt là L/C

Trang 17

+ Chưa có quỹ dự phòng bù đắp rủi ro và bảo hiểm tín dụng cho các ngân hàng

+ Tính cho đến thời điểm hiện nay, NHNN vẫn chưa có một hành lang pháp lý vững chắc để các ngân hàng có thể triển khai hoạt động bao thanh toán có hiệu quả nhất, cụ thể là vẫn chưa đưa Pháp lệnh Thương phiếu áp dụng vào thực tiễn

+ Môi trường thông tin của nền kinh tế chưa được minh bạch hóa, cơ sở thông tin dữ liệu về khách hàng đã có nhưng vẫn còn thiếu, yếu và chưa được tập trung Hiện nay, Trung tâm thông tin tín dụng CIC của NHNN là đầu mối tập trung thông tin nhiều nhất Tuy nhiên, thông tin từ CIC vẫn chưa phản ánh đúng mức độ an toàn tín dụng của khách hàng

+ Chưa có sự nhận thức đồng bộ giữa các cơ quan Bộ, ngành như Ngân hàng, Bộ Tài chính, Tòa án Nếu xảy ra tranh chấp, ngân hàng sẽ rất vất vả

để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình

- Bài báo “ Kinh nghiệm quốc tế về chính sách tài chính hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa” của tác giả Nguyễn Hà Phương, Viện chiến lược Ngân hàng đăng trên website của Ngân hàng nhà nước ngày 5/2/2012

Bài viết có nêu đến “Mexico và chương trình bao thanh toán trực tuyến

NAFIN (Nacional Financiera)”, đây là một chương trình tạo cầu nối hữu

hiệu giữa người mua là các khách hàng lớn và người bán là những nhà cung cấp nhỏ Chương trình NAFIN cho phép các nhà cung cấp nhỏ sử dụng các khoản phải thu của họ từ những khách hàng lớn để có thể có được nguồn vốn tài trợ cho hoạt động Dù nền kinh tế Mexico vẫn đang phát triển và các ngân hàng tích cực tham gia cho vay các DNNVV, bao thanh toán vẫn giữ vai trò là một hình thức tài trợ tiết kiệm nhất cho các doanh nghiệp này

Trang 18

Bài viết còn kể đến những ưu điểm vượt trội của chương trình bao thanh toán NAFIN : Thứ nhất, sử dụng nền tảng điện tử và Internet làm giảm chi phí và tăng hiệu quả giao dịch cho cả 3 bên tham gia: nhà cung cấp, khách hàng và tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ bao thanh toán; Thứ hai, sử dụng dịch vụ bao thanh toán ngược sẽ giúp chuyển giao rủi ro tín dụng của nhà cung cấp nhỏ sang người mua có độ an toàn tín dụng cao và cho phép NAFIN cung cấp dịch vụ bao thanh toán miễn truy đòi hay không phải thế chấp cho các DNNVV Thêm vào đó, mặc dù dịch vụ bao thanh toán có thu phí, nhưng phí suất này sẽ thấp hơn rất nhiều so với lãi suất mà các DNNVV phải đi vay

ở các ngân hàng thương mại; Thứ ba, tính chất “tức thời” của giao dịch trực tuyến và cơ cấu chương trình cho phép nhiều tổ chức tín dụng tham gia đã nuôi dưỡng tính cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng và cho phép các nhà cung cấp nhỏ lựa chọn các gói bao thanh toán có những điều khoản thuận lợi nhất cho mình

Bài viết còn kể đến vai trò của Chính phủ Mexico, Chính phủ đã có những chính sách hỗ trợ giúp bao thanh toán phát triển gồm cho phép các văn bản điện tử có hiệu lực pháp luật giống như các văn bản viết, ban hành luật chữ ký điện tử, hoàn thiện pháp luật về giao dịch điện tử, trong đó có bao thanh toán, các điều kiện thuế thuận lợi đã làm giảm chi phí bao thanh toán cho các DNNVV và cung cấp nhiều ưu đãi cho đối tượng này khi tham gia chương trình Tất cả phí suất mà các nhà cung cấp nhỏ phải trả cho các tổ chức tài chính có dịch vụ bao thanh toán đều được khấu trừ thuế

Các tài liệu trên đây đã giúp ích cho tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn của mình

Trang 19

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN

1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN

1.1.1 Lịch sử hình thành sản phẩm bao thanh toán

Bao thanh toán như chúng ta biết ngày nay là một ngành kinh doanh được hình thành từ thời trung cổ khi người ta bắt đầu giao thương với nhau và phát sinh các khoản nợ thương mại Bao thanh toán xuất phát từ đại lý hưởng hoa hồng, những người thực hiện việc mua bán và luân chuyển hàng hóa khoảng 2000 năm trước dưới thời đế chế La Mã Do hệ thống thông tin lúc bấy giờ còn sơ khai, đại lý hoa hồng thực hiện chức năng marketing quan trọng trong giao dịch thương mại giữa nhà sản xuất nước ngoài và người mua trong nước

Sự phát triển của ngành công nghiệp Anh ở thế kỷ 14, 15 đã nâng cao tầm quan trọng của các đại lý bao thanh toán Khi các đại lý dần dần tin cậy vào khả năng trả nợ của người mua trong nước, họ bắt đầu cấp tín dụng cho người ủy nhiệm mình (nhà cung ứng sản phẩm) để lấy hoa hồng cao hơn Thực tế là, với khoản hoa hồng nhiều hơn, đại lý bao thanh toán bắt đầu bảo đảm khả năng trả nợ của người mua bằng cách hứa trả đúng hạn cho người

ủy nhiệm trong tương lai, kể cả trong trường hợp người mua không trả được

nợ đúng hạn Các đại lý thanh toán có đủ vốn bắt đầu ứng trước một phần cho người ủy nhiệm của mình dựa trên khoản thanh toán của người mua trong tương lai Do có những khoản ứng trước này mà đại lý hoa hồng tính thêm phí hoa hồng hay lãi suất

Đến những năm 60 của thế kỷ 19 thì bao thanh toán bắt đầu phát triển ở Châu Âu Năm 1963, cơ quan kiểm soát tiền tệ công bố đây là một hoạt động ngân hàng hợp pháp Đến 1974, BTT được hầu hết các nước trên thế giới công nhận

Trang 20

Đến nay, bao thanh toán đã được hầu hết các nước trên thế giới công nhận nghiên cứu và ứng dụng Doanh số những năm đầu rất ít nhưng ngày một tăng lên theo thời gian Tính từ năm 1998 đến nay, doanh số BTT của thế giới liên tục gia tăng Năm 2006, doanh số bao thanh toán chỉ đạt là 1.133.143 triệu EUR, đến năm 2011 là 2.015.413 triệu EUR, năm 2012 là 2.132.231 triệu EUR

Số lượng thành viên tham gia bao thanh toán cũng tăng lên đáng kể Năm 2012 đã có đến hơn 2500 đơn vị bao thanh toán đang hoạt động Con số thành viên tham gia bao thanh toán hứa hẹn sẽ còn tiếp tục gia tăng hơn nữa

1.1.2 Khái niệm bao thanh toán và các loại hình bao thanh toán

a Khái niệm bao thanh toán

Theo Công ước UNIDROIT về bao thanh toán quốc tế (Unidroit Convention on International Factoring – Ottawa, 28 May 1988) tại Chương 1, Điều 1, khoản 2: Hợp đồng bao thanh toán (Factoring contract) là hợp đồng giữa đơn vị bán và đơn vị bao thanh toán (Factors), theo đó người bán có thể hoặc sẽ chuyển nhượng cho các đơn vị bao thanh toán các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá/dịch vụ giữa người bán và người mua hàng Bên bao thanh toán phải thực hiện ít nhất hai trong những chức năng sau:

+ Tài trợ cho người bán, bao gồm khoản vay và khoản ứng trước; + Theo dõi công nợ (giữ sổ cái) liên quan đến khoản phải thu;

+ Thu tiền từ các khoản phải thu;

+ Bảo hiểm rủi ro không thanh toán của con nợ

Theo Quy tắc chung về Bao thanh toán quốc tế (GRIF) của Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế FCI (Factors Chain International) phiên bản tháng 6, 2012: Phần 1, điều 1: Hợp đồng bao thanh toán là hợp đồng theo đó người bán hàng có thể hoặc sẽ chuyển nhượng khoản phải thu cho đơn vị bao thanh

Trang 21

toán (factor), vì mục đích là để nhận khoản tài trợ thưong mại hoặc không, nhưng tốt thiểu phải nhận được một trong những chức năng sau:

+ Theo dõi sổ sách các khoản phải thu;

+ Thu tiền từ các khoản phải thu;

+ Bảo hiểm rủi ro nợ xấu

Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ngày 06/09/2004 và Quyết định số 30/2008/QĐ-NHNN của Ngân hàng nhà nước về Ban hành quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, tại Điều 2: Bao thanh toán

là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ

Vậy, thông qua các khái niệm nêu trên ta có thể thấy, dịch vụ bao thanh toán thông thường sẽ có sự xuất hiện của ít nhất ba bên:

Tổ chức bao thanh toán (factor): là ngân hàng, công ty tài chính chuyên thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ Trong nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế sẽ có hai đơn vị bao thanh toán, một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà nhập khẩu

Người bán hay nhà xuất khẩu (seller, exporter): các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ của khách hàng nhưng chưa đến hạn thanh toán

Người mua hàng (người mắc nợ) hay nhà nhập khẩu (buyer, debtor, importer): hay còn gọi là người phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng

Tóm lại, mặc dù có nhiều cách diễn đạt khác nhau cho khái niệm về

Trang 22

nghiệp vụ bao thanh toán, nhưng nói chung có thể hiểu nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thức tài trợ cho những khoản thanh toán chưa đến hạn (trong ngắn hạn) từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ

b Các loại hình bao thanh toán

· Căn cứ theo phạm vi thực hiện

Bao thanh toán nội địa (Domestic Factoring): là hình thức cấp tín dụng của đơn vị bao thanh toán cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá/cung ứng dịch vụ trong đó bên bán hàng hoá/cung ứng dịch vụ và bên mua hàng/sử dụng dịch vụ là người cư trú trong phạm vi một quốc gia

Bao thanh toán quốc tế (International Factoring): là nghiệp vụ bao thanh toán liên quan tới ít nhất hai quốc gia khác nhau Đơn vị bao thanh toán cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ hợp đồng xuất nhập khẩu được bên bán hàng/cung ứng dịch vụ và bên mua hàng hóa/sử dụng dịch vụ thỏa thuận ký kết, mà việc mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia

· Căn cứ theo ý nghĩa bảo hiểm rủi ro

Bao thanh toán có quyền truy đòi (recourse factoring): là hình thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho bên bán hàng khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu

Bao thanh toán miễn truy đòi (Non-recourse factoring): là hình thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán chịu toàn bộ rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu Đơn vị bao thanh toán chỉ có quyền đòi lại số tiền ứng trước cho bên bán hàng trong truờng hợp bên mua hàng từ chối thanh toán khoản phải thu do

Trang 23

bên bán hàng giao hàng không đúng hợp đồng hay một lý do nào khác không liên quan đến khả năng thanh toán của bên mua hàng

· Căn cứ theo thời hạn

Bao thanh toán ứng trước (bao thanh toán chiết khấu): là loại hình bao thanh toán theo đó đơn vị bao thanh toán thực hiện chiết khấu các khoản phải thu trước ngày đáo hạn và ứng trước tiền cho đơn vị bán hàng (có thể đến 80% trị giá hóa đơn)

Bao thanh toán khi đến hạn: là loại hình bao thanh toán theo đó đơn vị bao thanh toán sẽ trả cho bên bán hàng số tiền bằng giá mua của các khoản bao thanh toán khi đáo hạn

· Căn cứ theo phương thức bao thanh toán

Bao thanh toán từng lần: là phương thức bao thanh toán mà tương ứng với từng lần thực hiện mua bán hàng hóa/dịch vụ giữa bên bán hàng/cung ứng dịch vụ và bên mua hàng/sử dụng dịch vụ theo những thỏa thuận trong hợp đồng mua bán/cung ứng dịch vụ, đơn vị thực hiện bao thanh toán sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giá trị giao dịch của lần mua bán hàng hóa/dịch vụ đó

Bao thanh toán theo hạn mức: là phương thức bao thanh toán mà đơn vị thực hiện bao thanh toán sẽ xem xét cấp một hạn mức bao thanh toán tối đa cho bên bán hàng/cung ứng dịch vụ Căn cứ vào việc giao dịch mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ được thực hiện giữa bên bán/cung ứng dịch vụ và bên mua/sử dụng dịch vụ mà đơn vị thực hiện bao thanh toán sẽ ứng trước một số tiền tạm ứng căn cứ trên giao dịch miễn là tổng số tiền ứng trước tại một thời điểm không được vượt quá hạn mức bao thanh toán đã được cấp

Đồng bao thanh toán: là phương thức bao thanh toán mà các đơn vị bao thanh toán phải liên kết với nhau để thực hiện bao thanh toán cho bên bán hàng do số tiền ứng trước cho bên bán hàng lớn hơn tỷ lệ an toàn trên vốn

Trang 24

điều lệ hoạt động của đơn vị bao thanh toán đó theo quy định của pháp luật

· Căn cứ vào cách thức thực hiện

Phương thức thực hiện truyền thống (factoring): Bên bán và bên mua sẽ liên hệ với đơn vị bao thanh toán để biết chắc rằng đơn vị bao thanh toán có mua lại các khoản phải thu cho bên bán hay không trước khi thực hiện mua bán theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán

Phương thức thực hiện phi truyền thống (reverse factoring): Đơn vị bao thanh toán sẽ tiến hành xây dựng những tiêu chuẩn chung cho bên mua và bên bán đủ điều kiện thực hiện bao thanh toán tại đơn vị bao thanh toán đó Trên

cơ sở chuẩn xếp hạng, đơn vị bao thanh toán sẽ cấp hạn mức bao thanh toán cho cả bên bán và bên mua Nếu những quan hệ giao dịch mua bán phát sinh

mà bên mua và bên bán nằm trong tiêu chuẩn chung thì đơn vị này sẽ tiến hành thực hiện bao thanh toán, miễn là tổng số tiền ứng trước không được vượt quá hạn mức bao thanh toán đã được cấp cho bên mua hay bên bán

1.1.3 Lợi ích của bao thanh toán

a Đối với người bán

- Nguồn vốn ngắn hạn của DN được đáp ứng kịp thời bằng dịch vụ bao thanh toán, các đơn vị bao thanh toán có thể ứng trước tiền hàng cho người bán để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định Do vậy, bên bán hàng

có thể tận dụng lợi thế chiết khấu khi bán hàng để tăng khả năng cạnh tranh

mở rộng thị trường, giảm tồn kho thông qua việc cho phép người mua thanh toán bằng các phương thức trả chậm

- Báo cáo tài chính của người bán sẽ giảm được những khoản nợ xấu, cải thiện được các chỉ số về khả năng thanh toán Các đơn vị BTT luôn dự phòng các khoản tổn thất tín dụng phòng ngừa khả năng không thanh toán được nợ của bên mua và tư vấn những rủi ro trong quan hệ mua bán, theo dõi

và thu hồi công nợ cho bên bán,…Việc này rất có ích cho bên bán khi mua

Trang 25

bán vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia hay tham gia mua bán trong lĩnh vực mới

- Người bán giảm thiểu được chi phí hành chính vì chỉ phải làm việc

với một đơn vị bao thanh toán mặc dù bán hàng đi nhiều vùng, nước khác nhau Người bán có thể giảm chi phí quản lý trong việc theo dõi sổ sách công

nợ

- Người bán không cần có tài sản đảm bảo nhưng vẫn có thể giải quyết được nhu cầu về vốn Các đơn vị bao thanh toán thường chỉ quan tâm nhiều đến khả năng trả nợ của bên mua, chất lượng của hàng hóa dịch vụ của bên bán hơn là khả năng tài chính của bên bán và tài sản đảm bảo của họ

- Người bán có cơ hội tiếp cận với những cơ hội giao thương quốc tế mới khi bao thanh toán được áp dụng rộng rãi, được sự tư vấn của đơn vị bao thanh toán để hạn chế những rủi ro trong quan hệ mua bán với các nước khác tới mức thấp nhất Những khó khăn về bất đồng ngôn ngữ được đơn vị bao thanh toán san sẻ Có thể giảm được rủi ro về tỉ giá hối đoái được bảo hiểm rủi ro tín dụng 100% giá trị hóa đơn

b Đối với người mua

- Nhà nhập khẩu không phải mở thư tín dụng, không phải trả phí mở thư tín dụng và không phải ký quỹ Do vậy nhà nhập khẩu giảm được gánh nặng về tài chính và không gặp phải những khó khăn do L/C mang lại

- Mua hàng theo điều khoản trả sau, nhà nhập khẩu chưa phải thanh toán ngay cho số hàng nhận được

- Cũng như người bán, nhà nhập khẩu cũng được đơn vị bao thanh toán san sẻ những khó khăn về bất đồng ngôn ngữ với người xuất khẩu

- Giảm được chi phí quản lý sổ sách, quản lý các khoản nợ do nhà nhập khẩu có thể thoả thuận với đơn vị bao thanh toán trong việc quản lý nợ của mình

Trang 26

c Đối với đơn vị bao thanh toán

- Khi thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán thu được như lãi suất, phí, là một phần quan trọng giúp doanh thu hoạt động của đơn vị bao thanh toán tăng lên Việc gia tăng doanh thu sẽ đồng nghĩa với việc gia tăng lợi nhuận hoạt động

- Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán góp phần tạo nên sự đa dạng hóa

các sản phẩm dịch vụ cho các đơn vị bao thanh toán (thông thường là các NHTM, công ty tài chính,…), tạo thêm sản phẩm mới cho các doanh nghiệp lựa chọn qua đó còn phát triển mạng lưới khách hàng Bao thanh toán không những giúp NH tăng nguồn thu mà còn góp phần nâng cao hình ảnh thương hiệu, tăng sức cạnh tranh của mình cả trong nước và quốc tế

- Tăng dòng tiền chạy vào đơn vị bao thanh toán, cải thiện tính thanh khoản của đơn vị bao thanh toán

- Các đơn vị bao thanh toán có thể loại trừ được các khoản nợ xấu

thông qua việc thực hiện BTT có quyền truy đòi Ngoài ra, quy trình nghiệp

vụ bao thanh toán yêu cầu đơn vị bao thanh toán xem xét đến khả năng tài chính của bên bán và bên mua, hoạt động mua bán phải thực hiện đúng những thỏa thuận và không trái pháp luật; đây là căn cứ vững chắc trong việc thu hồi các khoản phải thu sau khi đơn vị bao thanh toán đã mua lại từ bên bán

- Trên cơ sở ước tính các khoản chi phí liên quan đến sản phẩm dịch vụ,

lợi nhuận mong đợi, kiểm tra tín dụng và chấp nhận rủi ro tín dụng; các NH sẽ quyết định một tỷ lệ ứng trước phù hợp với từng lần bao thanh toán Điều này cho phép NH có thể hạn chế những rủi ro tín dụng đến mức có thể

- Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán đồng nghĩa với việc NH cung cấp

tài chính để đổi lấy các khoản phải thu, lưu giữ sổ cái bán hàng và tiến hành thu nợ các hóa đơn bán hàng chưa thanh toán Nếu thực hiện hoạt động bao thanh toán thường xuyên, NH có thể kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh

Trang 27

của các khách hàng hiện có, mở rộng quy mô hoạt động và có thể tiếp thị được những khách hàng tiềm năng trong tương lai

- Hưởng được lợi thế về quy mô lớn Các đơn vị bao thanh toán cung cấp dịch vụ này cùng lúc cho nhiều khách hàng nên xét về quy mô sẽ giảm được chi phí cố định liên quan đến các khách hàng đó

1.1.4 Rủi ro của hoạt động bao thanh toán

a Đối với người bán

- Đối với nghiệp vụ bao thanh toán có truy đòi thì bên bán vẫn còn chịu rủi ro từ phía người mua Khi người mua mất khả năng thanh toán, người bán có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền đã ứng trước cho đơn vị bao thanh toán

- Thông tin về người mua phải được cung cấp cho đơn vị BTT Do vậy, điều này có thể làm ảnh hưởng đến mối quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp

b Đối với người mua

Người mua sẽ chịu rủi ro từ phía người bán gây ra chẳng hạn như hàng hoá giao không đúng chất lượng, không đúng quy cách

c Đối với đơn vị bao thanh toán

Trong nghiệp vụ BTT, NH là người chịu nhiều rủi ro do đã mua lại các KPT từ người bán Những rủi ro NH thường gặp có thể kể đến như sau:

- Rủi ro từ người bán: Người bán thực hiện bán toàn bộ KPT cũng

đồng nghĩa với việc chuyển giao toàn bộ những rủi ro cho NH Trong trường hợp NH chấp nhận BTT có quyền truy đòi người bán, NH phải tìm hiểu thông tin về phía người bán như tình hình tài chính, khả năng có thể thu hồi khoản tài trợ Bởi vì, nếu NH không thu hồi được nợ từ người mua thì cũng sẽ gặp khó khăn trong việc truy đòi người bán nếu như không nắm

rõ thông tin về nguời bán Do đó, khi thực hiện bao thanh toán đối với

Trang 28

người bán thì NH cần phải thẩm định người bán về tình hình tài chính, về tình hình hoạt động kinh doanh của DN, về hàng hoá được giao dịch, tức là thẩm định KPT Nhìn chung, các ngân hàng chỉ quyết định bao thanh toán cho khách hàng khi thấy đảm bảo an toàn Tuy nhiên, các nhà kinh doanh ngân hàng khó có thể phân tích, dự đoán chính xác được mọi vấn đề có thể xảy ra Do vậy rủi ro này tồn tại một cách khách quan, chỉ có thể hạn chế, giảm rủi ro chứ không thể loại trừ và các NHTM cần trích lập dự phòng rủi ro nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động

- Rủi ro từ người mua: đây là rủi ro cao nhất có thể xảy ra khi NH cung cấp dịch vụ BTT bởi vì trách nhiệm trả nợ thuộc về người mua Nếu đánh giá không đúng chất lượng KPT, có thể NH sẽ không thu hồi được

nợ và chịu nhiều rủi ro cho khoản bao thanh toán Do vậy, việc thẩm định người mua và khoản phải thu là một việc làm cần thiết và quan trọng được NH quan tâm Khi NH quyết định bao thanh toán cho một KPT, NH tiến hành thẩm định khách hàng về khả năng thanh toán KPT khi đến hạn của người mua Cụ thể là thẩm định chất lượng người mua như thẩm định về tình hình tài chính của DN, uy tín, quá trình hoạt động kinh doanh của DN Ngoài ra, đơn vị bao thanh toán cần thẩm định chất lượng thu hồi của KPT Việc thẩm định khách hàng là người mua ở quốc gia khác là rất khó khăn cho đơn vị bao thanh toán Vì thế, rủi ro mà NH gánh chịu từ nghiệp vụ này rất cao Để khắc phục khó khăn này tổ chức BTT trong nước phải thông qua một tổ chức bao thanh toán ở quốc gia người NK để tiến hành thẩm định Tuy vậy, cũng giống như đã nêu tại rủi ro từ người bán, khó có thể phân tích, dự đoán chính xác được những ảnh hưởng có thể xảy ra liên quan đến khả năng thanh toán của người mua Ngân hàng cần chấp nhận và giảm thiểu rủi ro này chứ không thể loại trừ được BTT quốc tế được thực hiện thông thường giữa hai quốc gia khác nhau

Trang 29

- Rủi ro đạo đức: Ngoài các loại rủi ro nêu trên, các NHTM còn phải đối mặt với rủi ro đạo đức từ phía khách hàng và từ chính nhân viên ngân hàng Khi khách hàng cố ý lừa đảo ngân hàng, ngân hàng thực hiện bao thanh toán dựa trên bộ chứng từ, hóa đơn giả mạo Với công nghệ tiên tiến hiện đại như hiện nay, công nghệ làm giả rất tinh vi và khó phát hiện Và càng khó khăn hơn cho Ngân hàng nếu có sự thông đồng giữa bên bán và bên mua để lừa ngân hàng Bên cạnh đó, còn có rủi ro đạo đức từ phía nhân viên ngân hàng khi vì lợi ích cá nhân nên nhân viên, cán bộ ngân hàng cố tình cấu kết với khách hàng để lừa đảo ngân hàng

1.1.5 Quy trình thực hiện bao thanh toán

a Hệ thống một đơn vị bao thanh toán (điển hình được sử dụng trong

nghiệp vụ bao thanh toán nội địa)

(1) ( 6)

(2) Người bán/người cung ứng dịch vụ đề nghị đơn vị bao thanh toán tài trợ với tài sản đảm bảo chính là khoản phải thu trong tương lai từ hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ

(3) Đơn vị bao thanh toán tiến hành thẩm định khả năng thanh toán của người mua/người sử dụng dịch vụ

ĐƠN VỊ BAO THANH TOÁN

Trang 30

(12) (8) (5)

(4) Sau khi xem xét nếu có thể thu được tiền hàng từ người mua theo đúng hạn hợp đồng mua bán, đơn vị bao thanh toán sẽ thông báo đồng ý tài trợ cho người bán/người cung ứng dịch vụ

(5) Đơn vị bao thanh toán và người bán/người cung ứng dịch vụ thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán

(6) Người bán giao hàng/cung ứng dịch vụ cho người mua theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ

(7) Người bán/cung ứng dịch vụ chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ, chứng từ bán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán

(8) Đơn vị bao thanh toán ứng trước một phần tiền cho người bán/người cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

(9) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán tiến hành thu hồi nợ

b Hệ thống hai đơn vị bao thanh toán (điển hình được sử dụng trong

nghiệp vụ bao thanh toán quốc tế)

(1)

(7)

(2) (5) (6) (8) (9) (13) (4) (10) (11)

(3)

ĐƠN VỊ BTT

XUẤT KHẨU

ĐƠN VỊ BTT NHẬP KHẨU

Trang 31

(3) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu đề nghị đơn vị bao thanh toán nhập khẩu cùng thực hiện hợp đồng bao thanh toán

(4) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu thực hiện phân tích các khoản phải thu, tình hình hoạt động và khả năng tài chính của bên mua hàng/bên sử dụng dịch vụ

(5) Sau khi xem xét bên mua hàng/bên sử dụng dịch vụ, nếu xét thấy đáp ứng được điều kiện, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu đồng ý tham gia giao dịch bao thanh toán với đơn vị bao thanh toán xuất khẩu Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chấp thuận tài trợ cho người bán

(6) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu và người bán (nhà xuất khẩu) thỏa thuận và ký kết hợp đồng bao thanh toán

(7) Người bán (nhà xuất khẩu) tiến hành giao hàng/cung ứng dịch vụ cho người mua/bên sử dụng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ

(8) Người bán (nhà xuất khẩu) chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng hóa/cung ứng dịch vụ, chứng từ bán hàng và các chứng từ khác liên quan đến các khoản phải thu cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu

Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu tiếp tục chuyển nhượng các chứng từ trên cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu

(9) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu chuyển tiền ứng trước cho người bán (nhà xuất khẩu) theo thỏa thuận trong hợp đồng bao thanh toán

Trang 32

(10) Khi đến hạn thanh toán, đơn vị bao thanh toán nhập khẩu tiến hành thu hồi nợ từ người mua

(11) Người mua (nhà nhập khẩu) thanh toán tiền cho đơn vị bao thanh toán nhập khẩu

(12) Đơn vị bao thanh toán nhập khẩu trích trừ phí và lãi (nếu có) rồi chuyển số tiền còn lại cho đơn vị bao thanh toán xuất khẩu

(13) Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu trích trừ phí rồi chuyển số tiền còn lại cho người bán (nhà xuất khẩu)

1.2 CÁC ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN

Để đảm bảo triển khai dịch vụ bao thanh toán và đưa sản phẩm áp dụng rộng rãi, an toàn và phát huy đuợc những lợi ích vốn có như các loại hình sản phẩm khác trong lĩnh vực tài chính, cần phải có những điều kiện nhất định

1.2.1 Nhu cầu thị trường

Nhu cầu được tài trợ luôn là nhu cầu bức thiết của các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình Trong thời buổi nền kinh tế đang bước vào giai đoạn khủng hoảng như hiện nay, lòng tin của doanh nghiệp đối với các đối tác trong kinh doanh đã giảm, đặc biệt là tín dụng xuất nhập khẩu và rủi ro trong việc thu hồi các khoản phải thu từ bên nhập khẩu luôn là mối lo của các nhà xuất khẩu Trong khi đó các nguồn tài trợ truyền thống vẫn chưa

đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đó của bên xuất khẩu Từ thực tế đó, các NH càng cần đưa ra một sản phẩm tài chính mới hơn để có thể tạo được mối quan

hệ giữa các doanh nghiệp, là cầu nối giữa các doanh nghiệp trong các thương

vụ kinh tế Ngân hàng sẽ thay mặt cho bên bán hàng đứng ra quản lý các khoản phải thu và thu hồi nợ phải thu, chịu rủi ro đối với các khoản phải thu, giúp cho doanh nghiệp mua hàng chưa phải trả tiền ngay khi nhận hàng để có thời gian sản xuất kinh doanh Một sản phẩm tài chính với các chức năng như trên chính là dịch vụ bao thanh toán Ta có thể thực hiện khảo sát thị trường để

Trang 33

đánh giá nhu cầu đối với sản phẩm

Việc tiến hành khảo sát thị trường nhằm xác định đặc điểm thị trường, các yếu tố của thị trường để đưa tới quyết định hướng phát triển của hoạt động bao thanh toán Quá trình khảo sát thị trường là quá trình thu thập, phân tích thông tin về thị trường Những phân tích này sẽ giúp nhà quản lý đưa ra kết luận đúng đắn và lập kế hoạch dự báo thị trường Nội dung nghiên cứu thị trường cho việc phát triển hoạt động bao thanh toán bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

- Nghiên cứu nhu cầu thị trường;

- Tìm hiểu khách hàng tiềm năng;

- Nghiên cứu thị trường ngân hàng có dự định xâm nhập để triển khai hoạt động bao thanh toán;

Đối tượng khách hàng của bao thanh toán tương đối rộng Bao thanh toán có khả năng phục vụ cho mọi doanh nghiệp dù hoạt động trong lĩnh vực nào sản xuất, thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu… cho dù doanh nghiệp đó quy mô lớn hay nhỏ Song điều quan trọng là khách hàng đó phải hiểu biết về bao thanh toán và có nhu cầu thực sự đối với bao thanh toán

Sau khi nghiên cứu, phân tích các số liệu, thông tin thu thập được NHTM sẽ tiến hành dự báo cơ hội kinh doanh cũng như các nguy cơ tiềm ẩn

và đưa ra chiến lược quảng bá hoạt động bao thanh toán tới khách hàng

1.2.2 Hệ thống pháp luật liên quan

Đây là điều kiện cần để đưa bất kỳ một sản phẩm tài chính nào vào sử dụng Bất kỳ một hoạt động nào cũng đều cần phải có một hàng lang pháp lý chặt chẽ cho việc phát triển hoạt động đó Mức độ thông thoáng của hành lang pháp lý sẽ mang yếu tố quyết định tới mức độ phát triển của hoạt động Tuy nhiên các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật luôn luôn thận trọng trong việc giới hạn mức độ hoạt động để phù hợp với sự phát triển kinh tế

Trang 34

hiện tại và phòng tránh rủi ro cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung

Trên phạm vi quốc tế hệ thống pháp luật liên quan nghiệp vụ bao thanh toán khá hoàn thiện bao gồm: Công ước Unidroit về bao thanh toán quốc tế và Công ước Liên hiệp quốc về việc chuyển nhượng các khoản phải thu trong thương mại quốc tế Trên thế giới hiện nay có Hiệp hội bao thanh toán quốc tế FCI chiếm 90% doanh số bao thanh toán thế giới và có những quy định của Hiệp hội này liên quan đến bao thanh toán

Tại mỗi quốc gia muốn phát triển nghiệp vụ bao thanh toán, phải xây dựng Hiệp hội bao thanh toán của riêng mình và xây dựng nên hệ thống pháp luật quốc gia hoàn chỉnh liên quan đến nghiệp vụ bao thanh toán

Thứ nhất, Ngân hàng trung ương cần xây dựng quy định, quy chế và các văn bản hướng dẫn hoạt động bao thanh toán, quy định về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan trên cơ sở theo thông lệ quốc tế và tình hình kinh tế xã hội của nước mình Việc xây dựng quy chế này nhất thiết phải phù hợp với những hệ thống luật chi phối trong lĩnh vực ngân hàng, ngoài ra còn phải có tính mở để tạo điều kiện cho các tổ chức thực hiện bao thanh toán có thể xây dựng quy chế hoạt động sản phẩm bao thanh toán phù hợp với những điều kiện sẵn có của đơn vị mình

Thứ hai, về thuế liên quan đến hoạt động bao thanh toán, chính phủ nên

nghiên cứu để đưa ra các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động bao thanh toán đảm bảo tạo điều kiện cho việc phát triển loại hình dịch vụ tiện ích cho nền kinh tế này

Thứ ba, chính phủ cần xây dựng một môi trường chia sẻ thông tin nhanh chóng, kịp thời và chính xác để có thể ứng dụng rộng rải phổ biến sản phẩm BTT Do tính chất của sản phẩm BTT là tài trợ dựa trên các khoản phải thu nên môi trường thông tin là điều kiện quan trọng nhất để quyết định

Trang 35

Ngoài những thông tin, tài liệu do khách hàng cung cấp NHTM còn phải tiến hành thu thập thông tin từ các nguồn bên ngoài nhằm có thông tin đầy đủ hơn

về khách hàng và tránh sự lừa đảo từ phía khách hàng Hệ thống thông tin minh bạch là điều kiện tốt cho ngân hàng thực hiện BTT hiệu quả, mức độ rủi

ro thực hiện BTT giảm thiểu đáng kể Song điều này thường bị hạn chế ở các quốc gia đang phát triển Tại các quốc gia phát triển hệ thống thông tin minh bạch, công khai, hoạt động kiểm toán chất lượng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động bao thanh toán phát triển và giảm thiểu mức độ rủi ro

Cuối cùng, chính phủ cần thành lập Hiệp hội bao thanh toán quốc gia Hiệp hội bao thanh toán quốc gia tiến hành xây dựng điều lệ hoạt động được các thành viên thống nhất thông qua Hiệp hội bao thanh toán vừa đại diện và bảo vệ lợi ích cho các Hội viên và là cầu nối hữu hiệu giữa Chính phủ và các đơn vị bao thanh toán trong quá trình xây dựng và thực hiện các quy định bao thanh toán Ngoài ra, Hiệp hội bao thanh toán ra đời còn có vai trò quan trọng là

tư vấn và giúp đỡ các hội viên trong quá trình triển khai và phát triển bao thanh toán Các NH khi triển khai nghiệp vụ BTT, cần tham gia vào hiệp hội để được chia sẻ kinh nghiệm và nhận sự tư vấn của hiệp hội và các thành viên cùng tham gia Mức độ hoạt động, phát triển của Hiệp hội sẽ có tác động đáng

kể tới sự phát triển hoạt động bao thanh toán

1.2.3 Năng lực kinh doanh của đơn vị thực hiện bao thanh toán

a Năng lực về tài chính

Đây một điều kiện quan trọng cho bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng Các NHTM muốn phát triển hoạt động bao thanh toán cần đảm bảo nguồn vốn để tài trợ cho khách hàng của mình Trong hoạt động huy động vốn của các NHTM, tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn và ngắn hạn là rất lớn Đây là nguồn vốn ngắn hạn dồi dào để triển khai tốt bao thanh toán Ngoài ra, các NHTM còn có thể huy động vốn chủ sở hữu, hoặc tìm nguồn tài trợ từ các

Trang 36

đơn vị khác Nguồn vốn càng lớn ngân hàng càng có điều kiện tốt để phát triển tốt bao thanh toán

b Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực phục vụ triển khai BTT đòi hỏi NH phải có đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn cao, vững vàng về nghiệp vụ đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng, hoạt động xuất nhập khẩu, đã có kinh nghiệm hoặc hiểu biết về hoạt động BTT Kiến thức của nhân viên ngân hàng phải bao quát, rộng rãi bởi lẽ BTT là một hoạt động có liên quan mật thiết với hầu hết các ngành, lĩnh vực khác và bao thanh toán diễn ra trên một phạm vi rộng, có thể giữa hai hay nhiều quốc gia Ngoài ra, để làm tốt BTT quốc tế nhân viên đó phải có kiến thức về lĩnh vực xuất nhập khẩu, am hiểu luật lệ trong nước và các quy định, thông lệ quốc tế, nếu không có kiến thức về lĩnh vực này sẽ tiềm ẩn rủi ro rất cao khi thực hiện bao thanh toán xuất- nhập khẩu Do vậy, đối với các NHTM khi triển khai dịch vụ BTT cần phải có một phòng, ban, cán bộ chuyên trách để thực hiện tốt quá trình triển khai và hoàn thiện hoạt động này

Nguồn nhân lực không những đòi hỏi cán bộ, nhân viên ngân hàng phải

có trình độ chuyên môn mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp Nhân viên ngân hàng phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật liên quan tới hoạt động bao thanh toán của Việt Nam và các quy định, thông lệ quốc tế Họ phải là những người trung thực, khách quan, bản lĩnh cao không bị cám dỗ bởi lợi ích cá nhân mà tiếp tay cho khách hàng làm những điều sai trái, lừa đảo ngân hàng Họ còn phải là những người có tinh thần trách nhiệm, cần mẫn, nhiệt huyết trong công việc, trung thành với ngân hàng, có tinh thần đoàn kết vì lợi ích chung của ngân hàng

c Cơ sở vật chất và công nghệ ngân hàng

Thực ra hoạt động bao thanh toán không đòi hỏi quá nhiều về cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ Hoạt động bao thanh toán tại một NHTM trong

Trang 37

thời đại hiện nay tối thiểu cần có máy vi tính (có nối mạng Internet), các thiết

bị liên lạc thông thường khác như điện thoại, máy fax…

Tuy nhiên, với trình độ khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, các NHTM khi thực hiện triển khai dịch vụ BTT cần phải trang bị công nghệ hiện đại để có thể lưu trữ đuợc thông tin khách hàng không ngừng tăng lên và phải cập nhập thường xuyên Hệ thống quản lý thông tin khách hàng càng tốt

sẽ giúp ngân hàng sẽ giúp cho các NH thuận lợi hơn khi triển khai dịch vụ BTT Ngoài ra, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, dưới sự hỗ trợ của chính phủ, các NH có thể triển khai dịch vụ BTT trực tuyến như một số quốc gia đã thực hiện Muốn vậy, NHTM cần có nền tảng công nghệ và quan tâm đầu tư thêm trang thiết bị phù hợp và hiện đại

d Mạng lưới, khách hàng, quan hệ đối tác

Mạng lưới: Các NH cần xây dựng cho mình một hệ thống mạng lưới

rộng khắp để có thể thẩm định được khách hàng, thẩm định được người mua một cách thuận lợi và nhanh chóng nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Hoạt động bao thanh toán liên quan tới ba bên: ngân hàng, bên bán và bên mua vì vậy số lượng khách hàng ngân hàng cần quản lý sẽ không ngừng gia tăng và nằm rải rác ở nhiều khu vực khác nhau Ngân hàng càng có nhiều chi nhánh thì việc tiếp xúc với khách hàng, quản lý khách hàng sẽ dễ dàng, tiết kiệm thời gian và chi phí cho ngân hàng

Khách hàng: Khách hàng là nhân tố quyết định thành công cho mọi hoạt động của ngân hàng trong bất kỳ hoạt động nào khi ngân hàng tiến hành triển khai một hoạt động mới Vì vậy, trước khi ra mắt thị trường, ngân hàng phải tìm hiểu, tính toán và xác định khách hàng tiềm năng cho hoạt động đó Khách hàng tiềm năng của BTT là những người có hiểu biết về hoạt động bao thanh toán và có nhu cầu sử dụng Ở các quốc gia phát triển hoạt động BTT khá phổ biến nên sự cạnh tranh để giành khách hàng khá gay gắt Trái lại,

Trang 38

quốc gia đang phát triển được đánh giá là thị trường đầy tiềm năng, ít đơn vị BTT song do sự hiểu biết của các doanh nghiệp về BTT còn hạn hẹp nên đa

số còn dè dặt trước hoạt động mới này Song với thời đại công nghệ hiện đại, trình độ dân trí ngày càng cao việc phát triển khách hàng tiềm năng không phải là vấn đề quá khó khăn Trong giai đoạn đầu triển khai, NH nên phát triển khách hàng tiềm năng cho hoạt động BTT từ chính khách hàng mà ngân hàng đang phục vụ Số lượng khách hàng ngân hàng đang phục vụ càng lớn sẽ

là một tiềm năng giàu mạnh cho ngân hàng

Quan hệ đối tác: Việc tham gia vào các hiệp hội bao thanh toán quốc gia và quốc tế là một thuận lợi trong việc tìm kiếm đối tác Các Hiệp hội bao thanh toán được lập nên bởi các đơn vị bao thanh toán trong một quốc gia (Hiệp hội bao thanh toán quốc gia) hoặc giữa các quốc gia có hoạt động bao thanh toán (Hiệp hội bao thanh toán quốc tế - FCI), có điều lệ hoạt động được các thành viên thống nhất thông qua Các hiệp hội bao thanh toán sẽ bảo vệ lợi ích cho các hội viên, là cầu nối giữa Chính phủ và các đơn vị BTT trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện các quy định BTT Các NHTM có dịch

vụ BTT cần tham gia vào các Hiệp hội này để được chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, nhận sự tư vấn của Hiệp hội và các thành viên Tuy nhiên, thực tế có nhiều quốc gia vẫn chưa có Hiệp hội này

1.2.4 Chính sách đối với dịch vụ bao thanh toán

Mỗi đơn vị thực hiện sản phẩm bao thanh toán phải tự xây dựng cho mình hệ thống chính sách, quy trình nghiệp vụ liên quan đến BTT đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan, hạn chế đuợc các rủi ro trong quá trình thực hiện, đơn giản dễ thực hiện, phù hợp với thực tế để có thể phát triển được dịch vụ này

Chính sách đối với dịch vụ BTT gồm các yếu tố về hạn mức BTT đối với một khách hàng, kỳ hạn BTT, lãi suất và phí BTT, phương thức BTT, hướng giải quyết khi KH được BTT vượt giới hạn, xử lý đối với các khoản

Trang 39

BTT có vấn đề… Ngân hàng nên đa dạng hoá các mức lãi suất và phí BTT phù hợp với từng loại khách hàng, từng kỳ hạn cho vay và chính sách khách hàng hấp dẫn thì càng thu hút được khách hàng Nhưng nếu lãi suất và phí BTT không phù hợp quá cao hay quá thấp, không có lãi suất ưu đãi thì sẽ không thu hút được nhiều khách hàng và như vậy sẽ hạn chế trong việc triển khai dịch vụ BTT của Ngân hàng Các yếu tố thuộc chính sách đối với dịch vụ BTT có tác dụng mạnh mẽ đối với việc triển khai dịch vụ BTT Nếu chính sách được xây dựng đúng đắn, hợp lý, linh hoạt và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách hàng thì sẽ góp phần triển khai dịch vụ BTT thành công Ngược lại, nếu chính sách này bất hợp lý, cứng nhắc và không theo sát thực tế

sẽ dẫn đến những khó khăn nhất định trong việc triển khai hiệu quả dịch vụ BTT

1.2.5 Đối thủ cạnh tranh

Đối thủ cạnh tranh luôn là động lực để Ngân hàng ngày càng hoàn thiện mình hơn Trong môi trường có nhiều đối thủ cạnh tranh thì Ngân hàng càng cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc nâng cao, tăng cường các dịch vụ của mình để có thể thu hút được nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ của mình, thậm chí thu hút được khách hàng của đối thủ cạnh tranh Do đó, việc tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh là vô cùng cần thiết, đặc biệt là khi triển khai dịch

vụ mới

Quá trình tìm hiểu về đối thủ cạnh tranh cần tìm hiểu về thị phần, về phí đối với sản phẩm BTT, về quy trình chính sách,… của các NH trên cùng địa bàn để từ đó tìm ra mặt mạnh, mặt yếu của NH mình so với đối thủ cạnh tranh và tìm giải pháp khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh để nâng cao khả năng cạnh của mình khi triển khai dịch vụ BTT

1.2.6 Các điều kiện khác

Bên cạnh các điều kiện nêu trên, để tạo tiền đề cho nghiệp vụ phát

Trang 40

triển, việc giới thiệu sản phẩm đến người tiêu dùng là không thể thiếu được Nghiệp vụ này hầu như chưa được thị trường biết đến, các DN chưa quan tâm đến nghiệp vụ này Thông qua việc giới thiệu sản phẩm, người tiêu dùng sẽ nhận thấy được tính ưu việt của sản phẩm, từ đó kích thích nhu cầu sử dụng

1.3 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG BTT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1.3.1 Tình hình hoạt động bao thanh toán trên thế giới

Tổ chức Bao thanh toán thế giới FCI thành lập và phát triển từ năm

1968 đến nay đã tăng trưởng mạnh với hơn 2500 thành viên của hơn 70 quốc gia trên toàn thế giới

Theo số liệu mới nhất của FCI cho thấy rằng năm 2012 doanh số BTT đạt 2.132.321 triệu EUR, tăng 6% so với năm 2011, năm 2011 doanh số bao thanh toán thế giới đạt 2.015.413 triệu EUR tăng 22,28% so với năm 2010 bất chấp ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới Kết quả trên cho thấy các nhà xuất khẩu và nhập khẩu trên khắp thế giới, ngày càng trở nên quen thuộc hơn với các lợi ích của dịch vụ bao thanh toán như: tài trợ vốn lưu động, phòng ngừa rủi ro tín dụng và dịch vụ thu hộ cho nhà xuất khẩu, về phía nhà nhập khẩu là mua hàng mà không cần phải mở thư tín dụng hay sử dụng hình thức thanh toán với những điều khoản ràng buột khắc khe

Bảng 1.1 Doanh số bao thanh toán trên thế giới 2006 - 2012

ĐVT: triệu EUR

Năm Chỉ tiêu

Bao thanh toán nội địa 1.030.598 1.153.131 1.148.943 1.118.100 1.402.331 1.750.899 1.779.785 24,86% 1,65% Bao thanh toán quốc tế 102.545 147.535 175.707 165.459 245.898 264.138 352.446 7,42% 33,43% Tổng số 1.133.143 1.300.666 1.324.650 1.283.559 1.648.229 2.015.037 2.132.231 22,25% 5,82%

Tỷ lệ tăng 2012/2011

Ngày đăng: 14/11/2017, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w