Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam (Lv thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ MINH PHƯƠNG
CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TỪ THỰC TIỄN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số : 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ: “Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam” là công trình nghiên cứu
khoa học độc lập của riêng tôi cùng với sự hướng dẫn của PGS.TS Hồ Việt Hạnh Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu của công trình này là hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các đề tài khác
Hà Nội,ngày 29 tháng 08 năm 2017
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Phương
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM 8
1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao 8
1.2 Thiết kế chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao trong cơ quan nghiên cứu khoa học 12
1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 17
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao 21
1.6 Một số kinh nghiệm thu hút nhân lực chất lượng cao tại các quốc gia trên thế giới 23
Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỰC TIỄN TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM 31
2.1 Khái quát về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 31
2.2 Thực trạng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 34
2.3 Đánh giá chung về việc thực hiện các chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 40
Chương 3: HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG VIỆN HÀN LÂM KHXH VIỆT NAM 52
3.1 Quan điểm, định hướng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm 52
3.2 Giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam 53
3.3 Một số kiến nghị, đề xuất 66
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp” (trích Văn bia của Thân Nhân Trung năm 1442) Ngày nay, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa, việc thu hút và sử dụng người có tài năng trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định tầm quan trọng và đã ban hành một số chính sách nhằm thu hút, trọng dụng người
có tài năng, bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận
Tại Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển nhân lực, nhất
là nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá của chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020” Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng chỉ rõ: “Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba khâu đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa , đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao…” Khẳng định nâng cao chất lượng nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế là con đường tất yếu, là động lực thực sự của sự phát triển, đưa đất nước ta tới mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…”
Để cụ thể hoá các quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào các cơ quan hành chính nhà nước, đặc biệt là các cơ quan nghiên cứu, đào tạo: chính sách
về tuyển dụng, bổ nhiệm; chính sách đãi ngộ; chính sách tiền lương…
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - đơn vị nghiên cứu, tư vấn chính sách trực thuộc Chính phủ, và là cơ quan nghiên cứu đầu ngành cơ bản về khoa học
xã hội và nhân văn trong cả nước Để từng bước nâng cao chất lượng cán bộ viên chức quản lý, nghiên cứu Viện Hàn lâm đã thực hiện đầy đủ các chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao theo các quy định hiện hành của Chính phủ, đồng thời Viện cũng ban hành những chính sách đặc thù phù với thực tiễn phát triển của Viện Và
Trang 6chính sách đã thu hút một số kết quả đáng khích lệ, đã thu hút được nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tại các cơ sở đào tạo uy tín vào làm việc; thạc sỹ, tiến
sỹ tốt nghiệp ở các cơ sở đào tạo trong nước, ngoài nước vào làm việc tại Viện
Tuy nhiên, trên thực tế các chính sách này chưa phát huy được hiệu quả như mong muốn, chưa phát hiện đúng và thu hút được nhiều người có năng lực, trình độ vào làm việc trong các cơ quan nghiên cứu Đồng thời, một bộ phận cán bộ, công chức có trình độ, năng lực cao đang công tác tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành trực thuộc Viện Hàn lâm xin thôi việc để chuyển ra khu vực tư Tình hình đó do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, như: môi trường làm việc và cơ chế chính sách, chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng; bất cập trong khâu tuyển dụng, bổ nhiệm và sử dụng cán bộ, công chức.v.v Để góp phần giải quyết những vướng mắc nêu trên và đáp ứng những yêu cầu đặt ra, cần thiết phải có một nghiên cứu mang tính hệ thống về lý luận và thực tiễn, trên cơ sở đó đề xuất được những giải pháp thực tế phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Viện hàn lâm về thu hút
và trọng dụng người có tài năng làm việc tại các Viện nghiên cứu chuyên ngành
Với lý do nói trên, tôi lựa chọn vấn đề: “Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam” để làm đề tài
luận văn cao học chuyên ngành chính sách công là yêu cầu khách quan, cấp thiết cả
lý luận và thực tiễn
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhân lực chất lượng cao hiện nay đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trên nhiều lĩnh vực khoa học quan tâm nghiên cứu Trong những năm trở lại đây việc thu hút nhân lực chất lượng cao không những định hướng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mà còn được rất nhiều các các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, sau đây là một số công trình khoa học như:
- Nguyễn Thị Hồng Vân, 2005, “Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực
phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Phát triển giáo dục Bài báo đưa
độc giả có cái nhìn thiết thực nhất về giáo dục gắn liền với phát triển nguồn nhân
Trang 7lực có chất lượng để góp phần phát triển đất nước bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia
- Nguyễn Văn Khánh, 2010 “Xây dựng và phát triển nguồn lực trí tuệ Việt
Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước”, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Cuốn sách đã đưa ra cái nhìn khá sâu sắc về sự phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam, từ thực trạng về nguồn nhân lực để từ đó cho độc giả thấy được những bất cập, hạn chế tồn tại từ đó một số giải pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công cuộc chấn hưng đất nước
- Bùi Thị Lan Hương, 2011, Luận văn cao học “Quản lý nhà nước về đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành khoa học xã hội Việt Nam”
Luận văn đã cung cấp cơ sở lý thuyết Quản lý nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng và các nhân tố ảnh hưởng, đề ra mục tiêu phương hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của Quản lý nhà nước đối với nhân lực ngành Khoa học xã hội
- Chu Văn Cấp, 2012, bài báo “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
góp phần phát triển bền vững Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản
Bài báo đề cập về các vấn đề lý luận cơ bản của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng để phát triển bền vững Việt Nam; qua đó đưa ra những kiến nghị và giải pháp hợp lý trong thời kỳ đổi mới
- PGS.TS Văn Tất Thu (2012), “ chính sách đãi ngộ, khen thưởng, trọng
dụng và tôn vinh các cán bộ khoa học xã hội”, Đề tài cấp nhà nước, nhiệm vụ số
05- Đề án 928 cũng đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận về chính sách trọng dụng đãi ngộ, khen thưởng và tôn vinh cán bộ Khoa học xã hội, trên cơ sở đó, đề tài
đề xuất, kiến nghị đổi mới chính sách trọng dụng đãi ngộ, khen thưởng và tôn vinh cán bộ khoa học xã hội
- Hoàng Mạnh Dũng, 2012, Luận văn cao học “Đào tạo, bồi dưỡng nhân sự
theo vị trí việc làm trong các đơn vị sự nghiệp công lập từ thực tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”
Trang 8Luận văn đã có những đánh giá về hệ thống đào tạo, bồi dưỡng viên chức hiện nay đưa ra được những điểm mới gắn với vị trí việc làm tại các đơn vị sự nghiệp công lập
- Lương Công Lý, 2014, Luận án Tiến sĩ “Giáo dục - đào tạo với việc phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay”
Luận án đã đề cập được vấn đề quan trọng và sự gắn kết hữu cơ giữa giáo dục đào tạo với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta hiện nay; từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao từ giáo dục và đào tạo
- Nguyễn Thị Huế, 2016 Luận văn Thạc sĩ “Thực hiện chính sách phát triển
viên chức khoa học ở nước ta hiện nay”
- Nguyễn Anh Việt, 2016, Luận văn cao học “Thực hiện chính sách thu hút
nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Đại học quốc gia Hà Nội”
Luận văn đã đề ra được những chính sách, giải pháp thiết thực để thu hút nhân tài, nguồn nhân lực có chất lượng cao từ thực tiễn của Đại học quốc gia Hà Nội
- Trần Mạnh Cường, 2016, Luận văn cao học “Thực hiện chính sách thu hút
nhân lực chất lượng cao từ thực tiễn Tỉnh Yên bái”
Luận văn đã đề ra được những chính sách, giải pháp thiết thực để thu hút nhân tài, nguồn nhân lực có chất lượng cao từ thực tiễn Tỉnh Yên bái
- Vũ Cẩm Lệ, 2016, Luận văn cao học “Chính sách thu hút nguồn nhân lực
chất lượng cao trong cơ quan hành chính nhà nước từ thực tiễn Tỉnh Quảng ninh”,
Luận văn thạc sỹ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội
Những tài liệu nêu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý có giá trị tham khảo, kế thừa có chọn lọc để tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình Mặc dù, những nghiên cứu về nguồn nhân lực, thu hút nhân lực chất lượng cao rất đa dạng
và phong phú đã đạt được những kết quả khác nhau, nhưng cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao ở Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
Trang 93 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những vấn đề lý luận về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao của Việt Nam, luận văn phân tích làm rõ đánh giá về thực trạng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, chỉ ra những thành công, hạn chế, trên cơ sở đó đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề cơ sở lý luận về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam
- Phân tích, đánh giá thực trạng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
4.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu của đề tài là đội ngũ cán bộ, viên chức trong các đơn
vị thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
4.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
- Về thời gian: Nghiên cứu giai đoạn từ năm 2012 đến nay
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời đứng trên quan điểm của Đảng và Nhà
Trang 10nước ta về Nhà nước và pháp luật và yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân
Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công Tiếp cận chu trình chính sách từ hoạch định, xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của chủ thể chính sách Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách công chuyên ngành
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sẽ vận dụng một cách xuyên suốt các phương pháp tư duy duy vật lịch sử và biện chứng trong nghiên cứu, phân tích và trình bày các vấn đề
- Phương pháp thu thập thông tin: sẽ giúp đề tài thu thập tất cả các tài liệu,
số liệu liên quan đến đề tài trong các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, các tài liệu báo cáo đánh giá của Viện Hàn lâm và bộ/ngành trung ương liên quan đến luận văn
- Phương pháp phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, luật, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu đã được công bố Số liệu từ các báo cáo thống
kê của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
- Phương pháp đối chiếu - so sánh: Sau khi tổng hợp được các tài liệu liên quan, học viên sẻ phân tích đối chiếu so sánh để tìm ra các bất cập của chính sách
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa về lý luận
- Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm rõ vấn đề khoa học và thực tiễn của một chính sách cụ thể: chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
- Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu thực tế tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam qua đó góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công
Trang 116.2 Ý nghĩa về thực tiễn đóng góp của đề tài
Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao chỉ ra những thuận lợi, khó khăn, hạn chế trong hoạch định và thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các cơ quan, đơn vị có liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục các bảng biểu
và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có bố cục gồm 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thu hút nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao ở Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chương 2: Thực trạng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực
tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao từ thực
tiễn Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
XÃ HỘI VIỆT NAM 1.1 Các khái niệm liên quan đến chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
1.1.1 Khái niệm chính sách công
Hiện nay, có nhiều quan niệm và định nghĩa về chính sách công theo các các tiếp cận khác nhau William Jenkin cho rằng: “ Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được mục tiêu đó”
PGS.TS Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia) đưa ra khái niệm chính sách công với các nội hàm sau: Chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, chính sách do nhà nước ban hành nên chính sách công có thể coi là chính sách của nhà nước; chính sách công là những quyết định hành động, bao gồm cả những hành vi thực tiễn, chính sách công không chỉ thể hiện dự định của nhà nước hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao gồm những hành vi thực hiện dự định đó Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là khẩu hiệu mà thôi; chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề trong đời sống kinh tế-xã hội theo những mục tiêu xác định; chính sách công bao gồm nhiều quyết định có liên quan với nhau
Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, sử dụng khái niệm chính sách công là tổng thể chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt các mục tiêu đề ra
1.1.2 Giải pháp chính sách công
Giải pháp chính sách là cách thức chủ thể chính sách sử dụng để tác động đến đối tượng chính sách để đạt được mục tiêu của chính sách Nói cách khác, giải pháp chính sách đó là cách thức mà chủ thể sử dụng trong quá trình hành động để
Trang 13tối đa hóa kết quả về lượng và chất của mục tiêu chính sách hay còn gọi là những biện pháp chính sách Giải pháp chính sách thường chứa những cơ chế nhằm quy định các nguyên tắc tác động của chủ thể đến mỗi quá trình làm cho chúng vận động có hệ thống theo một hành lang nhất định Khi đưa ra giải pháp cần xem xét cách thức tác động của nó để đạt mục tiêu chính sách Việc lựa chọn giải pháp, công
cụ để can thiệp tùy thuộc vào đặc điểm, năng lực khả năng của Chính phủ (Nhà nước) cũng như điều kiện, hoàn cảnh, tính chất kinh tế xã hội của đối tượng chính sách cụ thể
Để thực hiện mục tiêu chính sách thường sử dụng các giải pháp sau: Giải pháp can thiệp thông qua lợi ích kinh tế; giải pháp can thiệp thông qua quan hệ cộng đồng; giải pháp can thiệp thông qua giá trị xã hội; giải pháp can thiệp thông qua tâm lý đám đông
Dù áp dụng giải pháp can thiệp nào tác động đến đối tượng để đạt được mục đích chính sách đều phải tuân theo cơ chế phù hợp, đều phải nhận thức rõ mối quan hệ biện chứng tác động qua lại giữa mục tiêu chính sách và giải pháp, biện pháp thực hiện chính sách Chính sách có thể đạt được mục tiêu khi xác định sử dụng được các giải pháp, biện pháp phù hợp với mục tiêu
1.1.3 Khái niệm về nhân lực và nhân lực chất lượng cao
- Nhân lực: Bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay
xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức
để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp
Tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu: nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước
- Khái niệm nhân lực chất lượng cao: Là nhân lực đáp ứng được yêu cầu
tốt nhất của nhà tuyển dụng và sử dụng, tức là có kiến thức, kỹ năng, thái độ và tác phong làm việc tốt, có trách nhiệm với công việc (nguồn: Sách kinh tế và nguồn lực – Học viện Tài chính 2016)
Trang 14Bên cạnh đó, về hình thức như trên có xu hướng coi NLCLC bao gồm các loại nhân lực tham gia vào các hoạt động: nghiên cứu sáng tạo (các nhà khoa học); giảng dạy KHXH (chủ yếu là nhân lực giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề); quản lý (trong KHXH, sản xuất, kinh doanh ); khai thác và sử dụng công nghệ (các kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật lành nghề ); trực tiếp tác nghiệp, vận hành thiết bị, máy móc (công nhân kỹ thuật)
Theo cách hiểu này, NLCLC không chỉ những người có học hàm, học vị, mà còn bao gồm những người lao động trong lĩnh vực sản xuất như chuyên gia, nghệ nhân Nhân lực chất lượng cao là những người có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất, sáng tạo và có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc của xã hội chứ không phải ở dạng tiềm năng
1.1.4 Các tiêu chí xác định nhân lực chất lượng cao
- Trình độ đào tạo: thông thường, người có trình độ đại học đã được xem là
được đào tạo và có chuyên môn nghề nghiệp Nên bằng cấp tối thiểu của nguồn nhân lực trình độ cao phải là bằng đại học Để nâng cao chất lượng đối tượng thu hút, các vấn đề về hạng tốt nghiệp (tốt, khá), ngành nghề đào tạo, cơ sở đào tạo là những yếu tố cần xem xét khi thu hút Những người tốt nghiệp hạng giỏi, xuất sắc
sẽ được ưu tiên, tuy nhiên đối với một số công việc hoặc lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù thì người tốt nghiệp hạng khá nhưng có kinh nghiệm làm việc với hiệu quả công việc cao vẫn có thể được xem xét thu hút (dù chính sách đãi ngộ có khác nhau) Tương tự như vậy, cũng có những lĩnh vực nghề nghiệp và vị trí tuyển dụng cụ thể
mà người có trình độ cao phải là thạc sĩ trở lên (như nghiên cứu khoa học, giảng viên các trường đại học, cao đẳng, trường THPT chuyên, )
- Các kỹ năng tin học, ngoại ngữ: trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin
và xu thế toàn cầu hóa, các kỹ năng tin học và ngoại ngữ là những tiêu chí quan trọng để xác định nguồn nhân lực trình độ cao Đây là những công cụ để người lao động tiếp cận tri thức và vận dụng tri thức hiệu quả trong công việc Cũng như tiêu chí trình độ chuyên môn, các kỹ năng tin học và ngoại ngữ cần được tiêu chuẩn hóa
Trang 15để đảm bảo rằng ứng viên có khả năng đọc hiểu các tài liệu chuyên ngành, khả năng giao tiếp, khả năng tìm kiếm sử dụng thông tin, tri thức hiệu quả
- Kinh nghiệm công tác: là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá
trình độ của nguồn nhân lực Kinh nghiệm làm việc khiến việc vận dụng kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo nhuần nhuyễn hơn và nhờ đó hiệu quả công việc cũng được đảm bảo hơn Vì thế đối với những người chưa có được trình độ chuyên môn thạc sĩ, tiến
sĩ thì cần xem xét thêm yếu tố kinh nghiệm công tác để quyết định tuyển dụng
- Thành tích nổi bật: Đây là yếu tố bảo chứng cho hiệu quả công việc của
người lao động, thành tích công tác có thể thể hiện dưới những sản phẩm, công trình
cụ thể hoặc chứng nhận, chứng thực của các cấp có thẩm quyền qua các hình thức khen thưởng, vinh danh
- Tư chất, đạo đức: Khả năng tư duy và giải quyết vấn đề rất quan trọng
trong việc xác định một nhân viên tốt, vì thế, các doanh nghiệp tuyển dụng nhân sự thường rất quan tâm đến việc kiểm tra tư chất của ứng viên thông qua các bài kiểm tra về IQ, EQ, hoặc các cuộc phỏng vấn, giải quyết tình huống,… Đây sẽ là tiêu chí
mà chúng ta cần cân nhắc khi thu hút và tuyển dụng nhân lực trong thời gian đến Ngoài ra, các phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong, lối sống cũng rất quan trọng trong quá trình xem xét tuyển dụng; kể cả việc nhận thức được tính chất của công việc trong khu vực công cũng cần được quan tâm để hạn chế tình trạng bỏ việc sau khi được
thu hút
- Tiêu chí khác: ngoài các tiêu chí cơ bản trên, trong từng trường hợp cụ thể,
đơn vị tuyển dụng có thể có các tiêu chí khác bổ sung như các kỹ năng xử lý công việc, khả năng làm việc nhóm, năng lực lãnh đạo,
Trang 16Bảng 1.1.5: Tóm tắt một số tiêu chí xác định nhân lực trình độ cao
sư
Tiến sĩ hoặc tương đương
Thạc sĩ hoặc tương đương
Ít nhất 02 năm kinh nghiệm phù hợp vị trí tuyển dụng
Các công trình nghiên cứu khoa học
Có công trình nghiên cứu khoa học hoặc giấy khen, bằng khen, giải thưởng, các hình thức khác ghi nhận kết quả công tác có hiệu quả cao
Có công trình nghiên cứu khoa học hoặc giấy khen, bằng khen, giải thưởng, các hình thức khác ghi nhận kết quả công tác có hiệu quả cao
6 Tư chất
đạo đức Trung thực, yêu thích làm việc trong khu vực công
(*) trong một số trường hợp đặc biệt có thể tốt nghiệp loại khá nhưng có kinh nghiệm hoặc thành tích công tác tốt
Trang 171.2 Thiết kế chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao trong cơ quan nghiên cứu khoa học
1.2.1 Xác định vấn đề chính sách
Xác định vấn đề chính sách phát triển và nâng cao chất lượng NLCLC được xác định là “yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” Đây là khâu đột phá quan trọng nhằm tập trung nâng cao sức mạnh nội sinh: tri thức - trí tuệ của dân tộc Việt Nam để thích ứng và đột phá phát triển trong thời kỳ hội nhập quốc tế
1.3 Mục tiêu chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
1.3.1 Mục tiêu chung
Một trong các mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm, giai đoạn 2016-2020 thể hiện trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là: “Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” Vấn đề đặt ra là cần đánh giá thực trạng công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay ra sao để có giải pháp hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế
Mỗi quốc gia, muốn phát triển kinh tế - xã hội, cần các nguồn lực gồm: Tài nguyên thiên nhiên, vốn, KHXH, con người… Trong đó nguồn lực con người là yếu
tố quan trọng và có tính chất quyết định nhất Nhân lực chất lượng cao là một bộ phận không tách rời nhân lực quốc gia, khi quốc gia đó chuyển dần sang nền kinh tế dựa trên tri thức là chủ yếu Cộng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa quốc tế, nhân lực chất lượng cao có vai trò quyết định, phát triển nhân lực chất lượng cao là gia tăng giá trị cho con người cả về vật chất, tinh thần, trí tuệ, kỹ năng, làm tươi mới năng lực và phẩm chất để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế
- xã hội Nhưng tựu chung, phát triển nhân lực chất lượng cao của một quốc gia chính là sự thay đổi số lượng và chất lượng về kiến thức, kỹ năng, thể lực và tinh thần; là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người cho phát triển
Trang 18kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện của mỗi cá nhân
Việt Nam đang ở trong giai đoạn dân số vàng, thời kỳ mà dân số trong độ tuổi lao động cao nhất Nhân lực dồi dào về số lượng, nhưng đáng tiếc lại hạn chế về chất lượng Theo một kết quả điều tra gần đây: số tiến sĩ là hơn 14 nghìn người, nhưng có tới 70% giữ chức vụ quản lý, chỉ còn 30% làm công tác chuyên môn Có tới hơn 60% số sinh viên tốt nghiệp đại học và thạc sĩ hằng năm ra trường chưa có việc làm Số sinh viên sau khi tốt nghiệp cũng phải đào tạo lại và mất một vài năm mới quen việc Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nhân lực của Việt Nam hiện nay chỉ đạt 3,39 trên 10 điểm, trong khi Hàn Quốc là 6,91; Ấn
Độ là 5,76; Ma-lai-xi-a là 5,59; Thái-lan là 4,94… Hơn nữa, nhân lực chất lượng cao ở nước ta lại phân bố không hợp lý: hơn 92% số cán bộ có trình độ tiến sĩ trở lên tập trung ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; tại Tây Nguyên, Tây Bắc và Nam Bộ tỷ
lệ này chưa tới 1% nhân lực ở nước ta đang có rất nhiều bất cập: số lượng đào tạo ở trình độ đại học trở lên trong những năm gần đây gia tăng đáng kể, nhưng chất lượng lao động của đối tượng này phần lớn chưa đạt các tiêu chí nhân lực chất lượng cao như đã đề cập ở trên Do vậy, khi họ ra làm việc, nhiều người không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng
Công tác quản lý nhà nước, nhất là quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển nhân lực của các ngành vẫn còn yếu kém, khá manh mún và thiếu đồng bộ Công tác dự báo nhu cầu nhân lực dài hạn cho phát triển kinh tế - xã hội cũng rất hạn chế,
cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, trình độ đào tạo không được quy hoạch lâu dài Các cơ sở đào tạo không đủ thông tin về cung, cầu lao động, nên việc xây dựng ngành nghề, chỉ tiêu và trình độ đào tạo hằng năm không sát thực tiễn
Việc sử dụng lao động vẫn còn bất hợp lý Chế độ đãi ngộ “người tài” cũng chưa phù hợp và chưa tương xứng; tình trạng thu nhập cào bằng đang là rào cản lớn cho sức sáng tạo của nhân lực chất lượng cao Các chế độ đãi ngộ nhân tài phần nhiều vẫn nằm trong các dự định, dự thảo của các cấp và các cơ quan có thẩm quyền Đối với đơn vị sử dụng lao động (bộ máy quản lý nhà nước và doanh nghiệp), cần tập trung tạo động lực để thu hút nhân tài theo hướng quan tâm đúng mức tới
Trang 19lợi ích kinh tế và danh dự cá nhân gắn với tinh thần dân tộc; thay đổi tiêu chí, chế
độ tuyển dụng, đãi ngộ, sử dụng trên cơ sở tăng cường quyền lực thực tế cho lãnh đạo các cấp; thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao, xóa bỏ các rào cản về tôn giáo, dân tộc trong việc chọn lựa người tài
Chú trọng đào tạo lại thông qua tổ chức các chương trình đào tạo ngắn hạn; tạo điều kiện cho người lao động tham gia bồi dưỡng và tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp qua đó nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực chất lượng cao tại doanh nghiệp; có chính sách thích hợp nhằm tạo môi trường thực
tế cho sinh viên; xây dựng một xã hội học tập, học tập suốt đời
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập, cạnh tranh và hướng tới nền kinh tế tri thức, các quốc gia đều chú trọng đầu tư đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Với Việt Nam, để không tụt hậu xa so với trình độ chung của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, chúng ta phải thật sự có các chính sách đổi mới công tác đào tạo phát triển nhân lực chất lượng cao
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao trong cơ quan nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn, trình
độ lãnh đạo quản lý trong từng lĩnh vực
Xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Bên cạnh việc thu hút nhân tài, mục tiêu của chính sách cũng hướng tới việc động viên khuyến khích nhân lực có tài và những sinh viên xuất sắc trong các trường đại học học tập, rèn luyện để cống hiến cho đất nước
Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao đưa ra nhằm mục tiêu phát hiện để thu hút những tài năng về làm việc bằng những ưu đãi như chế độ lương, thưởng xứng đáng; việc bố trí, sử dụng lao động hợp lý; môi trường làm việc tốt; có cơ hội phát triển thăng tiến… tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao
Trang 201.3.3 Tổ chức thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao phải đạt được các mục tiêu
- Khuyến khích được sự lao động sáng tạo của nhân lực chất lượng cao
- Đảm bảo được các điều kiện về vật chất tinh thần trong lao động và cuộc sống của nhân lực chất lượng cao
- Khích lệ được sự phát huy sáng tạo, kỹ năng lao động nghề nghiệp của nhân lực nhằm đạt hiệu suất, hiệu quả trong công việc
1.3.4 Các nguyên tắc chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
- Thu hút nhân lực chất lượng cao phải căn cứ vào nhu cầu phát triển nhân
lực, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao
- Thu hút nhân lực chất lượng cao đối với người học các chuyên ngành thuộc các lĩnh vực trong danh mục cần thu hút
- Người đã được hưởng các chính sách thu hút thì không được hưởng các chính sách hỗ trợ khác hiện hành
- Trường hợp người được thu hút có nhiều bằng cấp chuyên môn hoặc danh hiệu cao quý thì chỉ được hưởng 1 lần đối với bằng cấp hoặc danh hiệu cao nhất
1.3.5 Vai trò nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta hiện nay
Để đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, và hội nhập quốc tế sâu rộng thì vai trò của nhân lực chất lượng cao càng có vai trò quan trọng như sau
Thứ nhất, nhân lực chất lượng cao là nguồn lực chính quyết định quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển (2)
Thứ hai, nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện nền kinh tế
từ dựa vào nông nghiệp và thủ công sang máy móc công nghiệp là chính Đây là quá trình sử dụng nguồn lao động được đào tạo, kết hợp với công nghệ (3)
Trang 21Thứ ba, nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và
ứng dụng KHXH, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững
Thứ tư, nhân lực chất lượng cao là điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Toàn
cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen phức tạp Sự tùy thuộc lẫn nhau, hội nhập, cạnh tranh và hợp tác giữa các nước ngày càng trở thành phổ biến
1.4 Trách nhiệm thực hiện của các chủ thể chính sách trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.4.1 Trách nhiệm của Hội đồng Khoa học Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
- Tư vấn cho Chủ tịch Viện trong việc tham gia hoạch định chính sách phát triển khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV) của cả nước
- Tư vấn về những chính sách, chế độ trong quản lý khoa học; về tổ chức thực hiện các chương trình, đề tài nghiên cứu; về quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
- Đóng góp ý kiến về việc đánh giá hoặc tổ chức đánh giá các công trình khoa học theo yêu cầu của Chủ tịch Viện Xét chọn và đề nghị Nhà nước khen thưởng các công trình khoa học có chất lượng và các cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt nam có nhiều thành tích trong nghiên cứu khoa học
1.4.2 Trách nhiệm của Ban Tổ chức cán bộ
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc và trực thuộc Viện Hàn lâm xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn và hàng năm của Viện Hàn lâm trong lĩnh vực tổ chức cán bộ
- Tham mưu, giúp Chủ tịch Viện Hàn lâm, Đảng ủy Viện Hàn lâm xây dựng
tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Viện Hàn lâm
Trang 22- Tham mưu, giúp Chủ tịch Viện Hàn lâm xây dựng và ban hành các quy chế, quy định và văn bản quản lý trong công tác tổ chức - cán bộ
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc và trực thuộc Viện Hàn lâm thực hiện các quy định về tổ chức bộ máy, về xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; thực hiện chức năng quản lý trong công tác tổ chức - cán bộ theo sự phân cấp, ủy quyền của Chủ tịch Viện Hàn lâm
- Thống nhất quản lý về tổ chức và hoạt động trong lĩnh vực báo chí, xuất bản, hội đồng khoa học của Viện Hàn lâm và các đơn vị trực thuộc Viện Hàn lâm
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc và trực thuộc xây dựng phương án vị trí việc làm và nhân sự trình Chủ tịch Viện Hàn lâm quyết định
- Nghiên cứu, tham mưu, cụ thể hóa các quy định về chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức, viên chức của Đảng và Nhà nước phù hợp với đặc thù của Viện Hàn lâm
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị thuộc và trực thuộc Viện Hàn lâm tổ chức thực hiện công tác quản lý, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hợp đồng hưởng quỹ lương của Viện Hàn lâm
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức, nâng ngạch công chức của Viện Hàn lâm
1.4.3 Mục tiêu chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
- Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao trong cơ quan nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn, trình độ lãnh đạo quản lý trong từng lĩnh vực
- Xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước
- Bên cạnh việc thu hút nhân tài, mục tiêu của chính sách cũng hướng tới việc động viên khuyến khích nhân lực có tài và những sinh viên xuất sắc trong các trường đại học học tập, rèn luyện để cống hiến cho đất nước
Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao đưa ra nhằm mục tiêu phát hiện để
Trang 23thu hút những tài năng về làm việc bằng những ưu đãi như chế độ lương, thưởng xứng đáng; việc bố trí, sử dụng lao động hợp lý; môi trường làm việc tốt; có cơ hội
phát triển thăng tiến nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cao
1.4.4 Giải pháp và công cụ chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
Một là, đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về phát triển nhân lực: Trong đó,
cần tập trung vào việc hoàn thiện bộ máy quản lý phát triển nhân lực, đổi mới phương pháp quản lý, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động bộ máy quản lý về phát triển nhân lực Cần hình thành một cơ quan chịu trách nhiệm thu thập, xây dựng hệ thống thông tin về cung - cầu nhân lực trên địa bàn cả nước nhằm bảo đảm cân đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội Đổi mới các chính sách, cơ chế, công cụ phát triển nhân lực (bao gồm các nội dung về môi trường làm việc, chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội, điều kiện nhà ở và các điều kiện sinh sống, định cư, chú ý các chính sách đối với bộ phận nhân lực chất lượng cao, nhân tài) Cải tiến và tăng cường sự phối hợp giữa các cấp các ngành, các chủ thể tham gia phát triển nhân lực
Hai là, bảo đảm nguồn lực tài chính cho phát triển nhân lực: Ngân sách nhà
nước là nguồn lực chủ yếu để phát triển nhân lực quốc gia đến năm 2020 Tăng đầu
tư phát triển nhân lực cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội Cần xây dựng kế hoạch phân bổ ngân sách nhà nước theo hướng tập trung chi để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, dự án đào tạo theo mục tiêu ưu tiên và thực hiện công bằng xã hội (hỗ trợ đào tạo, phát triển nhân lực ở các vùng sâu, vùng xa, cho các đối tượng là người dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách,…)
Ba là, chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nhân lực Việt Nam: Xây dựng,
thường xuyên cập nhật hệ thống pháp luật về phát triển nguồn nhân lực Việt Nam phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng không trái với thông lệ và luật pháp quốc tế về lĩnh vực này mà Việt Nam tham gia, ký kết, cam kết thực hiện
Trang 241.4.5 Công cụ thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành chủ trương, đường lối và các cơ quan tổ chức xã hội ở các cấp căn cứ, triển khai, thực hiện, thể chế hóa quan điểm để việc thu hút nhân lực đạt hiệu quả cao
- Nghị quyết số 27-NQ/TƯ “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” Nghị quyết đã đề cao vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam và những cống hiến trong thời gian qua của đội ngũ trí thức; những hạn chế, yếu kém của đội ngũ này và những nguyên nhân Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
- Ngày 18/6/2013, Quốc hội đã thông qua Luật KH&CN, bao gồm nội dung ưu đãi sử dụng nhân lực, nhân tài trong hoạt động KH&CN; theo đó, ngày 14/4/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 40/2014/NĐ-CP quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN, trong đó dành riêng Điều 9 quy định về kéo dài thời gian công tác khi các nhà khoa học có trình độ cao theo quy định đến đủ tuổi nghỉ hưu và công văn số 27/KHXH-TCCB ngày 07/01/2015 Hướng dẫn về quy trình, thủ tục kéo dài thời gian công tác đối với công chức, viên chức khoa học khi
đủ tuổi nghỉ hưu, trong đó phân cấp cho Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc ký quyết định kéo dài thời gian công tác đối với công chức, viên chức khi đủ tuổi nghỉ hưu
- Nghị quyết số 29-NQ/TW về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trờng định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Điều 14 Xét tuyển đặc cách Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là đơn vị đầu tiên đã có công văn 1114/KHXH-TCCB thông báo các đơn
vị trực thuộc tổ chức thành công kỳ thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành KH&CN năm 2017 từ hạng II lên hạng I Kết quả cụ thể NCVC lên NCVCC là 65 người; NCV lên NCVC là 115 người
- Luật lao động: Chương 11, Mục 4 quy định về lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao
Trang 25- Luật Cán bộ, công chức năm 2008, điều 6 quy định về chính sách đối với người có tài năng; Nhà nước có chính sách để phát hiện , thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao
- Lương, thưởng, phúc lợi
Lương là yếu tố đầu tiên thể hiện khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất của người lao động Có thể nói, đối với phần lớn người lao động, lương là một trong những yếu tố cơ bản chi phối quyết định lựa chọn công việc Đối với khu vực nhà nước, mức lương thường khó có thể cạnh tranh với khu vực tư, tuy nhiên, nhà nước vẫn cần có những chính sách hỗ trợ tài chính hoặc tạo điều kiện nâng cao thu nhập bằng năng lực, trí tuệ cho người lao động thì mới có thể kết hợp thêm các yếu tố khác để cạnh tranh thu hút nguồn nhân lực Vì thế, hầu hết các tỉnh, thành phố ở Việt Nam khi xây dựng chính sách này đều tính đến việc trợ cấp thêm một khoản tiền hàng tháng để cải thiện thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức
Bên cạnh lương, các chế độ thưởng và phúc lợi cũng góp phần đáp ứng nhu cầu vật chất của người lao động Một số phúc lợi có ý nghĩa chi phối nhiều đến quyết định lựa chọn công việc và nơi làm việc của người lao động là nhà ở (nhất là
ở những thành phố lớn), bố trí công việc cho vợ (chồng), cơ hội học tập của con cái, chế độ chăm sóc sức khỏe, nghỉ dưỡng, du lịch, Thưởng hàng năm và thưởng theo thành tích cũng có tác động khuyến khích
- Tính chất công việc
Đối với nguồn nhân lực trình độ cao, tính chất công việc có ý nghĩa rất quan trọng Càng được đào tạo chuyên sâu, người lao động càng muốn khai thác tối đa những tri thức mà mình lĩnh hội Vì thế, việc bố trí công việc đúng chuyên môn và khai thác được sở trường của họ phải là ưu tiên hàng đầu Bên cạnh đó, sự thú vị, thách thức trong công việc cũng có ý nghĩa quan trọng đối với trí thức Đây chính là
sự thỏa mãn nhu cầu cao nhất của con người - nhu cầu được làm những việc mình yêu thích, khát vọng Đôi khi những giá trị vật chất không còn ý nghĩa quan trọng
Trang 26nếu người trí thức thỏa mãn được những kỳ vọng lớn lao của mình như được cống hiến và thấy mình hữu ích
- Điều kiện làm việc
Điều kiện làm việc bao gồm các yếu tố vật chất như máy móc, thiết bị, thông tin, tài liệu, phòng làm việc, Đối với nguồn nhân lực trình độ cao thì yêu cầu về điều kiện làm việc càng cấp thiết Các nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật cần các phòng thí nghiệm, thư viện hiện đại; các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn, kinh tế cần nguồn thông tin, tài liệu đầy đủ, kịp thời; bác
sĩ cần máy móc, thiết bị tiên tiến, Nếu điều kiện làm việc không đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu, sáng tạo, ứng dụng thì rất khó có thể thu hút được nguồn nhân lực trình độ cao về công tác Đây là vấn đề đã được các trí thức Việt kiều quan tâm khi được mời gọi về làm việc tại Việt Nam
Bên cạnh đó, các điều kiện về thời gian, không gian làm việc cũng có ý nghĩa tác động nhất định, nhất là đối với những công việc mang tính nghiên cứu, sáng tạo thì cách quản lý thời gian làm việc cần linh hoạt hơn
- Môi trường làm việc
Con người không chỉ có nhu cầu vật chất mà còn có nhu cầu giao tiếp, được ghi nhận, tôn trọng và yêu thương Vì thế, mối quan hệ đồng nghiệp – đồng nghiệp
và quan hệ cấp trên – cấp dưới cũng là vấn đề mà người lao động quan tâm Thái độ thân thiện, giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp sẽ khiến cho người lao động cảm thấy gắn bó hơn với nơi làm việc; trong khi sự suy bì, ganh đua dễ khiến những người giỏi thấy nản lòng Những người có trình độ cao cũng có nhu cầu được làm việc với những người giỏi, nhất là cấp trên trực tiếp của họ phải có năng lực chuyên môn và khả năng quản lý tốt Sự ngưỡng mộ hay kính nể đối với lãnh đạo cũng là một trong những yếu tố thu hút và giữ chân nhân viên
- Cơ hội đào tạo, thăng tiến
Mỗi người đều có nhu cầu phát triển bản thân vì thế các cơ hội đào tạo, huấn luyện hữu ích luôn được người lao động đánh giá cao Ngoài ra, trong những nhu cầu ở bậc cao của con người, theo A Maslow, có nhu cầu được tôn trọng, ghi nhận,
Trang 27kính nể Trong nhiều trường hợp, người lao động vẫn chấp nhận mức lương thấp nếu môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội đào tạo, thăng tiến
- Những yếu tố xuất phát từ môi trường sống (môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ)
Trên thực tế, Những thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh thường không có nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút nhân lực trình độ cao nhưng đó vẫn là nơi được đa số giới trí thức chọn làm việc vì những thuận lợi về điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí cho vợ (chồng), con cái Tại những khu vực khác thì các thành phố trung tâm khu vực cũng có được điều kiện thuận lợi này dù không hấp dẫn bằng hai thành phố lớn nhất nước
Đối với một số nhà khoa học, môi trường hoạt động khoa học cũng có ý nghĩa nhất định, trong một số trường hợp, yếu tố này lại là yếu tố quyết định Những chuyên gia nghiên cứu khoa học cần có đồng nghiệp, đội ngũ trợ giúp nghiên cứu phù hợp, máy móc thiết bị hiện đại cũng như môi trường trao đổi kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu
1.6 Một số kinh nghiệm thu hút nhân lực chất lượng cao tại các quốc gia trên thế giới
1.6.1 Kinh nghiệm của Mỹ
Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới và cũng là quốc gia có nền khoa học – công nghệ tiên tiến nhất Năm 2012, dân số của Mỹ là 314,07 triệu người Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,910, GDP năm 2011 là 15.094 tỷ USD, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 48.386 USD Để có kết quả như trên, Mỹ đã trải qua hơn 200 năm phát triển với triết lý thực dụng và phương châm “nguồn nhân lực là trung tâm của mọi phát triển” Mỹ đã đưa ra chiến lược xây dựng nguồn nhân lực với hai hướng chủ lực: tập trung cho đầu tư giáo dục – đào tạo và thu hút nhân tài Về phát triển giáo dục – đào tạo: Mỹ được xem là quốc gia không thành công trong giáo dục phổ thông nhưng lại là một điển hình cần được nhân rộng trong giáo dục đại học Hệ thống giáo dục đại học của Mỹ được xây dựng với hai đặc trưng cơ bản là tính đại chúng và tính khai phóng Với hơn 324 triệu dân nhưng Mỹ có tới
Trang 28hơn 4.200 trường đại học Theo kết quả đánh giá và xếp hạng các trường đại học hàng đầu thế giới thì Mỹ có tới 88/200 trường đại học hàng đầu thế giới, chiếm 44% Mỹ phát ttriển rộng rãi hệ thống đại học cộng đồng (nơi đào tạo đại trà, giải quyết số lượng), tỷ lệ là 1/30 Tức là cứ có một trường đại học nghiên cứu thì có 30 trường đại học cộng đồng Mức học phí cũng khác nhau phù hợp với mọi đối tượng, học phí trường đại học cộng đồng rẻ hơn nhiều so với đại học nghiên cứu Với hệ thống giáo dục đại học đa dạng (trường công lập, trường tư thục, trường cộng đồng
…), nước Mỹ đã đào tạo được một nguồn nhân lực chất lượng cao đồi dào, chiếm tới 40% tổng số lực lượng lao động quốc gia
Về thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao: Chính phủ Mỹ không chỉ chú ý đến việc đào tạo mà còn chú trọng việc thu hút và sử dụng nhân lực, đặc biệt là người tài từ các quốc gia khác Những nhân tài kiệt xuất của nước Đức, những nhà khoa học lỗi lạc của Nga và châu Âu, những chuyên gia tầm cỡ quốc tế của Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia đang phát triển khác đã “hội tụ” về Mỹ Hiện nay toàn cầu có 1,5 triệu lưu học sinh và học giả đang học tập hoặc làm công tác nghiên cứu ở nước ngoài, trong đó có 500.000 người tập trung ở Mỹ Con số này làm cho
Mỹ trở thành quốc gia của người nhập cư Trong quá trình thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, nước Mỹ đặc biệt chú trọng thu hút đội ngũ các nhà khoa học sáng chế và đội ngũ chuyên gia trong các ngành công nghệ cao, tạo điều kiện tốt về lương, chỗ ở, điều kiện đi lại…để các chuyên gia làm việc và cống hiến Như vậy, nhờ có chiến lược và chính sách đúng qua hơn 200 năm phát triển, nền giáo dục Mỹ
đã phát triển mạnh và là một trong những nền giáo dục tốt nhất thế giới Nền giáo dục này đã tạo ra một lớp công dân có trình độ học vấn cao, tay nghề vững và kỹ năng giỏi, góp phần đưa đất nước lên vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học – công nghệ
1.6.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc với dân số hơn 1,343 tỷ người, diện tích tự nhiên 9.597 km2, hiện đang là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Năm 2011, chỉ số phát triển con người (HDI) của Trung Quốc là 0,687, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 8.382
Trang 29USD Trung Quốc đặt mục tiêu trở thành nước hiện đại và phát triển Chính phủ và nhân dân Trung Quốc, một mặt nhấn mạnh yếu tố tự lực tự cường, mặt khác không ngừng tìm tòi và áp dụng các công nghệ tiên tiến và các phương pháp quản lý tiên tiến của nước khác, trong đó phải kể đến sự nhấn mạnh về phát triển nguồn nhân lực Từ sau ngày giải phóng (1949) Trung Quốc thực hiện chính sách đầu tư mạnh cho phát triển giáo dục Ưu tiên giáo dục – đào tạo trong nước, đầu tư xây dựng, mở rộng, nâng cấp, cải tạo nội dung chương trình; ưu tiên cho việc cập nhật tri thức mới, công nghệ mới, mời chuyên gia… Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc chú trọng việc gửi lưu học sinh theo học các nước phát triển như Mỹ, Đức, Anh và Pháp Từ năm 1979 đến 1983, Trung Quốc đã gửi 11.700 sinh viên đi học ở nước ngoài, bằng số sinh viên gửi ra nước ngoài từ 1949 đến 1978 Từ năm 1979 đến
1987, hơn 40.000 sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học tập ở 73 nước, đồng thời cũng trong thời kỳ đó 18.000 sinh viên tốt nghiệp trở về nước làm việc Trung Quốc một mặt vẫn gửi lưu học sinh ra nước ngoài học tập, mặt khác tiến hành cải cách nền giáo dục đại học theo các phương hướng: đa dạng hóa các cấp đào tạo và các hình thức trường lớp, giao cho các trường đại học và các trường tổng hợp nhiệm vụ lập thêm các chi nhánh đào tạo, các khóa đào tạo ngắn hạn, các khóa đặc biệt đào tạo cán bộ kỹ thuật…thành lập các trường trung học dạy nghề và tăng số lượng sinh viên các loại Tăng cường đào tạo sau đại học Như vậy, đến nay Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã chứng minh một hướng đi đúng trong việc phát triển nguồn nhân lực để phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đó là tăng trưởng kinh tế gắn với giáo dục – đào tạo
1.6.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ ba thế giới, diện tích 378 ngàn km2, dân số 127,8 triệu người (2011), chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2011 là 0,901, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 34.739 USD Nhật là một trong những nước
có sự thành công trong phát triển kinh tế với tốc độ nhanh dựa trên nguồn nhân lực
kỹ thuật được đào tạo tốt, có đủ khả năng, trình độ tiếp thu, lĩnh hội kỹ thuật, công
Trang 30nghệ tiên tiến nhập khẩu Có thể nói, Nhật là nước đầu tiên ở châu Á đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ việc Nhật nghèo về tài nguyên thiên nhiên, lại luôn gặp thiên tai, phần lớn nguyên nhiên vật liệu lại nhập khẩu, nền kinh tế Nhật lại bị phá hủy trong Chiến tranh thế thới thứ hai Sau đại chiến thế giới thứ hai, Chính phủ Nhật ưu tiên tuyển chọn, đào tạo những người tài giỏi thích hợp cho công cuộc hiện đại hóa đất nước Nhật đã có nhiều chính sách đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học nhằm xóa khoảng cách về khoa học – công nghệ giữa Nhật và các nước tiên tiến khác Chính phủ Nhật đã triển khai thực hiện triết lý phát triển: con người Nhật cộng với khoa học kỹ thuật phương Tây Để đảm bảo nguồn nhân lực thường xuyên cho phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành hệ thống giáo dục – đào tạo nghề trong các công ty, doanh nghiệp Cùng với việc tăng cường giáo dục – đào tạo (nhất là đào tạo nghề), Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với lực lượng lao động có tay nghề cao, chuyên môn giỏi, đồng thời khích lệ hoạt động sáng tạo của người lao động luôn thích ứng với mọi điều kiện Về sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, Nhật thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Như vậy, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của Nhật là nhằm phát huy cao độ tính chủ động sáng tạo của người lao động; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có khả năng thích ứng nhanh với điều kiện làm việc luôn thay đổi và nhạy bén trong việc
làm chủ công nghệ và các hình thức lao động mới
Trong khi đó, ở Hàn Quốc, đội ngũ cán bộ trí thức được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu: Nhà nước, các trường, viện, trung tâm nghiên cứu và các tập đoàn kinh tế Giai đoạn đầu, do điều kiện còn hạn chế, Nhà nước - thông qua Bộ KH&CN và các đơn vị nghiên cứu do nhà nước lập ra - đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng, phát triển các cơ sở KH&CN, nguồn nhân lực và đội ngũ trí thức chất lượng cao
1.6.4 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Sự ra đời của Viện KH&CN Hàn Quốc (KIST), các trường đại học, trung tâm nghiên cứu với các chính sách mạnh bạo đã thu hút nhân tài từ khắp thế giới
Trang 31Nhà khoa học Hàn Quốc ở nước ngoài được mời về Viện KIST với mức lương gấp
3 lần các giáo sư trong nước, được đảm bảo các phương tiện nghiên cứu hiện đại, hoạt động độc lập, tự chủ về R&D và kèm theo nhiều đãi ngộ khác Chỉ sau 50 năm, KIST đã nằm trong danh sách 10 viện hàng đầu thế giới và Hàn Quốc trở thành quốc gia công nghiệp hóa thành công nhất Nước này cũng có chính sách khuyến khích các trường đại học tăng cường R&D, tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế đi sâu nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu KH&CN vào phát triển kinh tế, đáp ứng trực tiếp các nhu cầu của thị trường
1.6.5 Kinh nghiệm của Singapore
Từ khi tách khỏi Malaysia năm 1965, Singapore đã thực hiện thành công nhiều giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, bao gồm giai đoạn công nghiệp hóa (1960 – 1970), giai đoạn tái cấu trúc nền kinh tế (1970 – 1980), và giai đoạn phát triển công nghệ cao để xây dựng nền kinh tế tri thức (từ 1990 đến nay) Singapore là quốc gia có diện tích nhỏ, dân số không đông (5,1 triệu người năm 2010), tài nguyên thiên nhiên ít, nông nghiệp chiếm tỷ trọng 0%, GDP bình quân đầu người năm 2011 là 59.711 USD Để đạt được mục tiêu trên là kết quả của rất nhiều nỗ lực của Chính phủ Singapore Một trong những chính sách được đánh giá cao nhất của Chính phủ Singapore là chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao để mở rộng và phát triển khoa học và công nghệ cho nền kinh tế, từ đó đưa nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao Giáo dục – đào tạo, vốn được đặc biệt coi trọng ở Singapore, lại tiếp tục được nhận thức như là chìa khóa để củng cố nhân lực, phát triển đất nước Các nhà lãnh đạo Singapore quan niệm rằng: thắng trong cuộc đua về giáo dục sẽ thắng trong cuộc đua về phát triển kinh tế Vì vậy, chính phủ Singapore đã thực hiện những bước đi trọng tâm trong giáo dục để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Chính phủ Singapore đã dành một khoản đầu tư rất lớn để phát triển giáo dục Từ mức đầu tư khoảng 3% GDP những năm
1990 đã tăng dần lên 3,6%, 4% và dự kiến tăng lên tới 5% trong những thập niên đầu thế kỷ XXI Mức chi cho giáo dục tài khóa 2007 – 2008 là 6,796 tỷ đô la Singapore (SGD), 2008 – 2009 là 8,22 tỷ SGD và 2009 – 2010 là 8,7 tỷ SGD Để
Trang 32phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển kinh tế, Singapore đã xây dựng một hệ thống trường cao đẳng nghề, trường đại học quy mô lớn và khuyến khích các công ty tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Ngoài việc đầu tư mạnh cho giáo dục – đào tạo, Singapore còn được đánh giá là một trong những quốc gia có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực tài năng bài bản nhất thế giới Quốc gia này coi việc thu hút nhân tài là chiến lược
ưu tiên hàng đầu Chính phủ Singapore đã xây dựng chính sách sử dụng người nhập
cư hay còn gọi là chính sách tuyển mộ nhân tài nước ngoài như đòn bẩy về nhân khẩu để bù vào sự thiếu hụt lực lượng lao động người bản địa Nguồn nhân lực có kinh nghiệm và chất lượng tốt ở nước ngoài được tuyển dụng một cách tích cực và
có hệ thống bổ sung cho những khu vực còn hạn chế của nguồn nhân lực trong nước Những người này được trợ giúp để cư trú tại Singapore Chính phủ Singapore miễn xét thị thực cho du học sinh quốc tế, không đòi hỏi phải chứng minh tài chính, chi phí học tập vừa phải, môi trường học tập hiện đại Như vậy, là một quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp và đạt được nhiều thành tựu ấn tượng mà cả thế giới phải thừa nhận Có thể nói Singapore đã biến việc trọng dụng nhân tài trở thành một thương hiệu quốc gia, từ đó, tạo lực kéo người đến và giữ người ở lại phục vụ cho
sự nghiệp phát triển đất nước Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Singapore được coi là hình mẫu cho các quốc gia trong khu cũng như trên thế giới
Từ nghiên cứu kinh nghiệm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại các cơ quan nghiên cứu, chúng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam và Viện Hàn lâm như sau:
Thứ nhất, cần thực hiện mô hình giáo dục đại học đại chúng để gia tăng
nguồn nhân lực chất lượng cao Để gia tăng nhanh chóng số lượng nguồn nhân lực
có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phải thực hiện mô hình giáo dục đại học cho số đông Trong mô hình này có sự kết hợp giữa đào tạo chuyên sâu mang tính nghiên cứu với đào tạo đại trà mang tính cộng đồng Mô hình giáo dục này được thực hiện thông qua việc thành lập mới các trường đại học trong nước
Trang 33và quốc tế, đẩy mạnh việc liên kết đào tạo giữa các trường đại học trong nước và các trường nước ngoài, đặc biệt là với các nước có nền giáo dục tiên tiến
Thứ hai, nhà nước cần chú trọng đầu tư để phát triển giáo dục đại học quốc gia, phải thực sự coi giáo dục đại học là quốc sách hàng đầu Việc đầu tư lớn phải kết hợp với việc quản lý hiệu quả nguồn đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí Trong quá trình đầu tư, không nên dàn trải, cào bằng Cần đầu tư có trọng điểm để có những đại học thực sự trở thành những đại học tiêu biểu Tận dụng và phát huy khả năng tài chính của các cá nhân, tổ chức nhằm đầu tư cho nền giáo dục quốc gia Xây dựng đội ngũ giảng viên đại học có đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng Đội ngũ giảng viên đại học cần được đào tạo trong nước, gửi đi đào tạo ở các nước có nền giáo dục tiên tiến Ngoài việc đào tạo, cần thu hút những giáo sư, những chuyên gia, những nhà hoạt động thực tiễn tài năng là Việt kiều hoặc người ngoại quốc tham gia vào đội ngũ cán bộ
Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo nguồn nhân lực cần phải đi theo nhu cầu thực tế của xã hội Các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tập trung đào tạo nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến
Thứ tư, quan tâm tạo điều kiện tốt cho nguồn nhân lực trẻ tài năng Vì vậy, quốc gia nào biết quan tâm, tạo điều kiện để lực lượng nhân lực trẻ phát huy tối đa khả năng thì họ sẽ góp phần to lớn vào quá trình phát triển vững vàng của quốc gia trong tương lai Lao động chất lượng cao phải được trả giá cao, tương xứng để thúc đẩy khả năng sáng tạo của họ Cần áp dụng thước đo của thị trường để trả công xứng đáng cho những tài năng ở cả khu vực công và khu vực tư Đặc biệt, vấn đề thu nhập trong khu vực công cần được điều chỉnh một cách mềm dẻo, linh hoạt để thích ứng với những biến động của thị trường lao động Chỉ có như thế mới giữ được những người tài năng làm việc lâu dài và cống hiến cho đất nước
Trang 34Kết luận Chương 1
Trong chương 1, đề tài đã làm rõ được những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam, chính sách công và chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao; thiết kế chính sách, xác định vấn đề chính sách, mục tiêu, giải pháp và công cụ chính sách Bên cạnh đó, đề tài còn đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách thu hút NLCLC trong Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam để làm cơ sở cho việc phân tích trong chương 2 Mặt khác, đề tài nêu ra một số kinh nghiệm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao tại các nước có
sự thu hút nhân lực CLC tốt để làm tham khảo kinh nghiệm làm cơ sở trong việc đề xuất giải pháp và kiến nghị trong chương 3
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO THỰC TIỄN TẠI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
2.1 Khái quát về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.1.1 Giới thiệu chung về Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam - tên giao dịch quốc tế là Vietnam Academy of Social Sciences (VASS) - có tiền thân từ Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa
lý - Văn học (gọi tắt là Ban nghiên cứu Sử - Địa - Văn) được thành lập ngày 02 tháng 12 năm 1953
Theo Nghị định số 109/2012/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Căn cứ Nghị định số 217/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2012/NĐ-CP; Nghị định 99/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 v/v thay thế 02 Nghị định cũ
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là nơi tập trung các nhà khoa học
xã hội đầu ngành, với 2.029 người, trong đó có 1318 cán bộ có học hàm giáo sư, phó giáo sư, học vị tiến sĩ khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội, làm việc trong 05 đơn vị giúp việc Chủ tịch Viện, 32 đơn vị nghiên cứu khoa học, 5 đơn vị sự nghiệp khác (trong đó có 1 cơ sở đào tạo sau đại học và 2 nhà xuất
2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khoa học xã hội; cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện tư vấn về chính sách phát triển; đào tạo sau đại học về khoa học xã hội; tham gia phát triển tiềm lực khoa học xã hội của cả nước
Trang 36Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về khoa học xã hội như: đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam; sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; những vấn đề cơ bản về phát triển toàn diện con người Việt Nam và các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa của văn hóa, văn minh nhân loại; những vấn đề cơ bản và cấp bách về dân tộc, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, văn học, ngôn ngữ, tâm lý học nhằm phát huy sức mạnh dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; những vấn đề cơ bản, toàn diện, có hệ thống về
lý thuyết phát triển của Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; những khía cạnh khoa học xã hội của nền kinh tế tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa và ứng phó với biến đổi khí hậu và đánh giá tác động đến tiến trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam; lý luận và kinh nghiệm phát triển trên thế giới, dự báo xu hướng phát triển chủ yếu của khu vực và thế giới, đánh giá những tác động nhiều mặt của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đến sự phát triển toàn cầu, khu vực và Việt Nam; nghiên cứu, điều tra cơ bản, liên ngành về khoa học xã hội, phân tích và dự báo kinh tế - xã hội phục vụ nhu cầu phát triển đất nước, chú trọng những lĩnh vực kinh tế - xã hội chủ yếu, những ngành, vùng kinh tế trọng điểm và các liên kết vùng; nghiên cứu, tổ chức biên soạn những công trình khoa học tiêu biểu, những bộ sách lớn, thể hiện tinh hoa của trí tuệ Việt Nam và thế giới phục vụ công tác nghiên cứu và truyền bá tri thức về khoa học xã hội Viện có nhiệm vụ tư vấn và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và
dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp Viện còn có nhiệm vụ tổ chức sưu tầm, khai quật, nghiên cứu, bảo tồn và bảo tàng nhằm phát huy những giá trị di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam; kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực khoa học xã hội; đào tạo và cấp bằng thạc sỹ và tiến sỹ về khoa học xã hội
Trang 37theo quy định của pháp luật; tham gia phát triển nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp; tổ chức hợp tác nghiên cứu, liên kết đào tạo về khoa học xã hội với các tổ chức quốc tế, viện, trường đại học nước ngoài theo quy định của pháp luật; tổ chức tư vấn và thực hiện dịch vụ công theo quy định của pháp luật; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin khoa học xã hội, phổ biến tri thức khoa học, góp phần nâng cao trình độ dân trí; …
- Đơn vị thuộc và trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
+ Ban chức năng: Ban Tổ chức cán bộ, Ban Quản lý khoa học, Ban thi đua khen thưởng, Ban kế hoạch tài chính, Ban hợp tác quốc tế
+ Khoa học xã hội: Viện triết học, Viện kinh tế, Viện nghiên cứu con người, Viện thông tin khoa học xã hội, Viện từ điển và bách khoa toàn thư Việt Nam, Trung tâm phân tích và dự báo, Viện Nhà nước và pháp luật, Viện xã hội học, Viện địa lý và nhân văn, Viện nghiên cứu gia đình và giới, Viện nghiên cứu phát triển bền vững vùng
+ Khoa học và nhân văn: Viện sử học, Viện ngôn ngữ học, Viện khảo cổ học, Viện tâm lý học, Viên nghiên cứu tôn giáo, Viện văn học, Viên nghiên cứu hán nôm, Viện Dân tộc học, Viện nghiên cứu văn hóa, Trung tâm nghiên cứu kinh thành
+ Khối kinh tế vùng: Nam Bộ, Tây Nguyên, Trung Quốc, Đông Nam Á, Châu Âu, Châu phi và Trung Đông, …
+ Khối các đơn vị khác: Văn phòng, Trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin, Học viện khoa học xã hội, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về phát triển, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, Trung tâm giao lưu nghiên cứu và hợp tác về nhân lực khoa học
Trang 382.2 Thực trạng chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
2.2.1 Các chủ trương thu hút nhân lực chất lượng cao tại Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
Trong thời gian qua để thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào làm việc tại các ban chức năng và các đơn vị nghiên cứu chuyên ngành, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam đã ban hành một số chủ trương sau:
- Chiến lược phát triển cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ra yêu cầu sớm thực hiện cơ chế chính sách, phát hiện, tuyển chọn, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng các nhân tài khoa học, nhất là nhân tài trong các lĩnh vực Khoa học xã hội để thực hiện có hiệu quả vấn đề này, cần có chính sách phát triển mạnh tiềm lực Khoa học xã hội đặc biệt là đội ngũ khoa học có trình độ cao, chuyên ngành, đầu ngành
- Thực hiện một số chính sách đãi ngộ riêng để thu hút nhân tài, nhân lực chất lượng cao về làm việc tại Viện Hàn lâm theo các tiêu điểm sau: Ưu tiên các cử nhân, kỹ sư đúng chuyên ngành đào tạo, tốt nghiệp từ loại giỏi trở lên được cộng điểm khi tuyển dụng, sinh viên khi được tuyển dụng về Viện ưu tiên đã có bằng Thạc sĩ không phải tập sự và được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên bậc 2 (2,67);
ưu tiên cán bộ trẻ được tham gia vào các đề tài cấp bộ, được làm chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở hành năm; ưu tiên cán bộ trẻ được tham gia vào các khóa học đào tạo tại nước ngoài, tạo điều kiện cho cán bộ nghiên cứu trẻ được tham gia các diễn đàn khoa học trong nước và quốc tế, các cán bộ trẻ được quy hoạch bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý phù hợp với năng lực, chuyên môn, tạo điều kiện tốt nhất
về thời gian cho cán bộ, viên chức thuộc đối tượng cử đi đào tạo được học trong giờ hành chính, ngoài giờ hành chính sau khi đã hoàn thành đúng hạn chương trình đào tạo sau đại học tại các cơ sở đào tạo ở trong nước (có văn bằng tốt nghiệp) được hỗ trợ đầu ra 1 lần với định mức kinh phí chuẩn: Tiến Sĩ là 30 triệu đồng, Thạc sỹ là 15 triệu đồng theo chủ trương thu hút nhân lực