Ý thức được những điều trên, với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu, hướng tới một hệ thống thuận tiện hơn cho người sử dụng đồng thời đáp ứng được các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU THEO THỎA ƢỚC VÀ NGHỊ ĐỊNH THƢ
MADRID
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT -
NGUYỄN THỊ NGỌC BÍCH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU THEO THỎA ƯỚC VÀ NGHỊ ĐỊNH THƯ
MADRID
Chuyên ngành: Luật Quốc Tế
Mã số: 62 38 01 08 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS ĐOÀN NĂNG
2 TS LÊ VĂN BÍNH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu trong luận án là trung thực
Những kết luận khoa học trong luận án chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Ngọc Bích
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU 8
1.1 Tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu 8
1.2 Đánh giá về tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần nghiên cứu tiếp 24
Kết luận chương 1 27
Chương 2 29
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU 29
2.1 Khái niệm về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và hệ thống Madrid 29
2.2 Đặc điểm điều chỉnh pháp lý về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 39
2.3 Hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid 53
2.4 Các yếu tố bảo đảm việc sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid 58
2.5 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid 62
2.6 Xu hướng phát triển của hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu 66
Kết luận chương 2 69
Chương 3 71
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG HỆ THỐNG MADRID HIỆN NAY 71
3.1 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật về đăng ký quốc tế nhãn hiệu 71
3.2 Thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid tại Văn phòng quốc tế 79
3.3 Thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid tại một số thành viên 86
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid tại Thành viên 112
Kết luận chương 3 114
Chương 4 116
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG HỆ THỐNG MADRID TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 116
4.1 Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid 116
4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid 125
Kết luận chương 4 145
KẾT LUẬN 148
PHỤ LỤC 151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 185
TÀI LIỆU THAM KHẢO 186
Trang 5Danh mục các từ viết tắt
AIPPI Hiệp hội bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quốc tế APIC Trung tâm sở hữu công nghiệp châu Á – Thái Bình
dương ARIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ khu vực châu Phi
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BOIP Tổ chức sở hữu trí tuệ Benelux
CN Trung Quốc
CHF Frănxơ Thụy Sỹ
CIPO Cục Sở hữu trí tuệ Trung Quốc
Công ước Paris Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp CTM Nhãn hiệu Cộng đồng châu Âu
CTMR Quy định về Nhãn hiệu Cộng đồng
EU Liên minh châu Âu
EUIPO Cơ quan sở hữu trí tuệ Liên minh châu Âu
EVFTA Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu
Âu JICA Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản
JIII Viện Sáng chế và Sáng kiến Nhật Bản
JP Nhật Bản
JPO Cục Sáng chế Nhật Bản
NH Nhãn hiệu
Nghị định thư Nghị định thư Madrid liên quan tới Thoả ước Madrid về
đăng ký quốc tế nhãn hiệu NOIP Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam
OAPI Tổ chức sở hữu trí tuệ châu Phi
OHIM Văn phòng hài hoà thị trường nội địa
RU Liên bang Nga
SHTT Sở hữu trí tuệ
Trang 6Thoả ước Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu
TPP Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái bình dương TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại
của quyền Sở hữu trí tuệ TRT Hiệp ước đăng ký nhãn hiệu
VIPA Hội sở hữu trí tuệ Việt Nam
VPĐK Văn phòng đăng ký
VPXX Văn phòng xuất xứ
US Hoa Kỳ
WTO Tổ chức thương mại thế giới
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhãn hiệu ngày càng được ghi nhận
là một trong những tài sản trí tuệ có giá trị lớn, là một trong những yếu tố then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu, là công cụ hữu hiệu cho hội nhập kinh tế quốc tế Bằng việc giúp các doanh nghiệp phân biệt sản phẩm/dịch vụ của
họ với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp khác, nhãn hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược tiếp thị và phát triển thị trường, thương mại hóa sản phẩm/dịch vụ của mỗi doanh nghiệp, góp phần xây dựng hình ảnh và danh tiếng cho sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp trong con mắt người tiêu dùng, bảo đảm khả năng cạnh tranh và sự phát triển của doanh nghiệp trên thị trường Nhãn hiệu cũng tạo ra một động lực khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào việc duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm/dịch vụ của mình nhằm đảm bảo rằng các sản phẩm/dịch vụ mang nhãn hiệu của họ ngày càng có chỗ đứng vững chắc trên thị trường
Việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu không chỉ ở trong nước mà còn ở nước ngoài là một nhu cầu và đòi hỏi tất yếu, góp phần bảo vệ quyền tài sản và quyền nhân thân của chủ sở hữu là các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và lợi ích của cộng đồng; góp phần thúc đẩy thương mại, kinh tế và hợp tác quốc tế giữa các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế thị trường
Việc đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài mang tới cho chủ sở hữu một số lợi ích đáng kể sau đây:
- Thứ nhất, xuất phát từ “nguyên tắc lãnh thổ”, theo qui định tại Điều 6(3), Công ước Pari [185], “Nhãn hiệu được đăng ký hợp pháp tại quốc gia nào thì có hiệu lực độc lập trên lãnh thổ đó”, chỉ khi nhãn hiệu được bảo hộ tại một quốc gia/vùng lãnh thổ thì chủ sở hữu nhãn hiệu mới có quyền yêu cầu các cơ quan bảo
vệ pháp luật của nước sở tại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời chủ nhãn hiệu sẽ thuận lợi hơn trong việc cung cấp các chứng cứ trước tòa án và các
cơ quan hữu quan khi có tranh chấp về nhãn hiệu
Trang 8- Thứ hai, luật nhãn hiệu tại hầu hết các quốc gia đều tuân theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên “first to file”, nghĩa là quyền đăng ký nhãn hiệu thuộc về người nộp đơn trước; việc đăng ký nhãn hiệu càng sớm càng tốt không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu hợp pháp đối với nhãn hiệu tại thị trường
mà doanh nghiệp đang hướng tới mà còn tránh được nguy cơ bị người khác chiếm đoạt nhãn hiệu và quyền nhập khẩu và kinh doanh hợp pháp các sản phẩm mang nhãn hiệu tại thị trường đó; bảo đảm tính an toàn về mặt pháp lý cho các hoạt đồng đầu tư xây dựng và phát triển thương mại tại thị trường nước ngoài
Việc đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài có thể được thực hiện trực tiếp tại cơ quan đăng ký của quốc gia/khu vực hoặc tại Văn phòng quốc tế của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), thông qua cơ quan đăng ký tại quốc gia xuất xứ
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid (gọi tắt là hệ thống Madrid) giúp cho chủ sở hữu nhãn hiệu có thể đạt được quyền đối với nhãn hiệu của mình ở nước ngoài một cách dễ dàng và hiệu quả Ngày càng
có nhiều doanh nghiệp lựa chọn sử dụng hệ thống Madrid để đăng ký quốc tế nhãn hiệu bởi lẽ hệ thống này có nhiều ưu điểm hơn: tiết kiệm thời gian hơn, tiết kiệm chi phí hơn và đặc biệt là, đơn giản hơn về mặt thủ tục và dễ dàng hơn trong việc quản
lý nhãn hiệu sau khi đăng ký Ưu điểm của hệ thống Madrid được nhân lên cùng với
sự gia tăng số lượng thành viên (98 thành viên với tổng số 114 quốc gia, tính đến 06/01/2017) [139] và các sửa đổi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống [165]
Đặc biệt, trong điều kiện các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế tự do thương mại, việc gia nhập hệ thống Madrid còn là một yêu cầu bắt buộc [192, điều 18.7], việc thực hiện các nghĩa vụ về đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid được khẳng định [177, điều 5.1] đồng thời với các cam kết về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu, ở mức cao hơn so với các quy định trong các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trước đó, ví dụ: bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh và không được từ chối đăng ký nhãn hiệu đối với các dấu hiệu không nhìn thấy được bằng mắt [192, điều 18.18], hệ thống phân loại nhãn hiệu phù hợp với Thỏa ước Nice [192, điều 18.25], [191], thiết lập hệ thống quản lý nhãn hiệu điện tử
Trang 9[192, điều 18.24], đơn giản hóa thủ tục đăng ký nhãn hiệu [177, điều 5.1] Việc nghiên cứu nhu cầu hoàn thiện các quy định pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid, đáp ứng các yêu cầu của quá trình hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế, đặc biệt là các điều ước tự do thương mại như Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương [192], Hiệp định thương mại tự do
EU – Việt Nam [177] là vô cùng cần thiết
Hơn thế nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc “nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia đi đôi với chủ động, tích cực tham gia xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế và tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế” [159] cũng là quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký quốc tế theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid mà Việt Nam là thành viên nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống này là phù hợp với chủ chương của Đảng và Nhà nước
Ý thức được những điều trên, với mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu, hướng tới một hệ thống thuận tiện hơn cho người
sử dụng đồng thời đáp ứng được các yêu cầu của các điều ước quốc tế trong quá trình hội nhập, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid” làm luận
án tiến sỹ luật học của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thoả ước và Nghị định thư Madrid và sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid; đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng hệ thống Madrid trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Phù hợp với mục đích nghiên cứu trên, luận án giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Trang 10Một là, nghiên cứu và tổng hợp các quy phạm pháp luật về đăng ký quốc tế
nhãn hiệu, phân tích các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống, khái quát các khái niệm cơ bản về việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu và việc sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu;
Hai là, nghiên cứu so sánh, tổng kết và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật
về đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Việt Nam và một số thành viên như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc và Nhật Bản;
Ba là, nghiên cứu những khó khăn, cản trở đối với việc sử dụng hiệu quả hệ
thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bao gồm cả những khó khăn, cản trở từ các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia; nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid;
Bốn là, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu
quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong quá trình hội nhập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phù hợp với chuyên ngành đào tạo, đối tượng nghiên cứu của luận án là các quy định pháp luật và thực tiễn sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid
Phạm vi nghiên cứu của luận án là vấn đề đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid, cụ thể là theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid tại Việt Nam và một số quốc gia thành viên của hệ thống Madrid Luận án tập trung nghiên cứu một
số vấn đề lý luận và thực tiễn sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid trong bối cảnh hội nhập kinh tế và thực thi các cam kết quốc tế
Cụ thể, luận án tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau đây:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về đăng ký quốc tế: khái niệm về đăng ký quốc tế; đặc điểm điều chỉnh pháp lý hệ thống đăng ký quốc tế; mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia;
- Các yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá việc sử dụng hiệu quả hệ thống; xu hướng phát triển của hệ thống Madrid;
Trang 11- Thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid tại một số thành viên: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam;
- Nhu cầu nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid, bao gồm cả nhu cầu hoàn thiện pháp luật về đăng ký quốc tế nhãn hiệu;
- Một số khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
hệ thống Madrid
Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu, luận án cũng đề cập tới một số điều ước quốc tế có liên quan tới hệ thống Madrid, các công cụ hỗ trợ vận hành hệ thống Madrid; phân tích một số thông tin về việc sử dụng hệ thống tại một vài quốc gia khác như Hàn Quốc, Mông Cổ, Philipin, Campuchia và Lào… như các ví dụ tham khảo cần thiết cho những kết luận và khuyến nghị của nghiên cứu
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và giải quyết vấn đề đặt ra, trong Luận án, tác giả sử dụng các phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đặc trưng cho lĩnh vực KHXH, đặc biệt là trong lĩnh vực luật học Phương pháp luận chủ yếu được sử dụng trong luận
án là phương pháp luận truyền thống, cụ thể là phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê Nin Phương pháp luận này được thể hiện xuyên suốt trong luận án và đặc biệt trong các phần/chương: tính cấp thiết của
đề tài nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu, một số vấn đề lý luận cơ bản về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid Các phương pháp nghiên cứu đặc trưng trong lĩnh vực luật học như: phân tích, tổng hợp, mô tả, thống
kê, so sánh, v.v, đã được tác giả kết hợp sử dụng trong toàn bộ luận án, trong đó tác giả đặc biệt chú trọng phương pháp luật học so sánh, được sử dụng trong hầu hết các chương của luận án Trong số các phương pháp nghiên cứu mà luận án sử dụng, phương pháp nghiên cứu luật học so sánh được coi là phương pháp được nghiên cứu sinh sử dụng chủ yếu trong khi nghiên cứu đề tài này Trên cơ sở tổng hợp, mô
tả và phân tích những nguồn luật khác nhau liên quan đến đăng ký quốc tế nhãn hiệu và thực tiễn áp dụng pháp luật bởi các chủ thể khác nhau khác nhau, tác giả tiến hành so sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa các quy định pháp luật
Trang 12và thực tiễn sử dụng hệ thống, từ đó tìm ra xu hướng phát triển của hệ thống và đề xuất các giải pháp để phát huy hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu
5 Những đóng góp mới của luận án
Là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid, luận
án có những đóng góp mới sau đây:
- Một là, luận án nghiên cứu và khái quát một số vấn đề lý luận cơ bản về
đăng ký quốc tế nhãn hiệu như khái niệm đăng ký nhãn hiệu, đăng ký quốc tế; đặc điểm điều chỉnh pháp lý về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu (điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia); hiệu quả của việc sử dụng hệ thống Madrid; các yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá việc
sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid; và xu hướng phát triển của hệ thống Madrid;
- Hai là, luận án khái quát xu hướng gia nhập hệ thống; nghiên cứu và đánh
giá thực tiễn sử dụng hệ thống tại một số thành viên của hệ thống như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam; làm rõ các rào cản đối với việc
sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid;
Ba là, luận án phân tích nhu cầu nâng cao hiệu quả hệ thống Madrid nhằm
tạo thuận lợi cho người sử dụng và đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các điều ước quốc tế;
Bốn là, luận án đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện và kiện toàn hệ thống, cụ
thể là: các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế; các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thực thi như văn phòng quốc
tế, cơ quan đăng ký quốc gia; các cơ quan thực thi khác; các giải pháp khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng từ phía người nộp đơn/chủ sở hữu và luật sư/đại diện chủ thể quyền và các tổ chức xã hội nghề nghiệp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án góp phần xây dựng, hoàn thiện cơ sở lý luận và hoàn thiện pháp luật
về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid, đồng thời, luận án cung cấp
Trang 13những thông tin, kiến thức hữu ích cho người sử dụng hệ thống nhằm áp dụng pháp luật và sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho các doanh nghiệp, người nộp đơn/đại diện người nộp đơn khi xây dựng chiến lược, áp dụng pháp luật và sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid và các công cụ hỗ trợ để đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho một số cơ quan có thẩm quyền khi xây dựng, hoạch định chính sách và pháp luật, thực thi pháp luật về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu Kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo về luật, kinh tế, thương mại… và cho các tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu, quan tâm đến đăng ký quốc tế nhãn hiệu
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid
Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về đăng ký quốc tế nhãn hiệu
Chương 3: Đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid hiện nay
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ
QUỐC TẾ NHÃN HIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu và các vấn đề đã được nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu
Qua nghiên cứu các công trình khoa học được công bố ở Việt Nam và ở nước ngoài, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu lý luận về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid đã được các nhà khoa học pháp
lý đề cập đến ở những phạm vi và theo những khía cạnh khác nhau Hệ thống đăng
ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid có thể được các nhà khoa học nghiên cứu ở phạm vi rộng, trong khuôn khổ khoa học Luật quốc tế, Luật dân sư hoặc ở phạm vi hẹp, trong chuyên ngành Luật sở hữu trí tuệ
Dưới góc độ Luật quốc tế, pháp luật quốc tế về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được đề cập với tư cách là nguồn của Tư pháp quốc tế, bao gồm những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự (theo nghĩa rộng) có yếu tố nước ngoài [46], cụ thể là quan hệ về quyền sở hữu công nghiệp Tại chương IX của Giáo trình tư pháp quốc tế [47], Thỏa ước Madrid [184] và Nghị định thư Madrid [190] được đề cập trong danh mục các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp Tại chương VII “Quyền Sở hữu công nghiệp trong tư pháp quốc tế” của giáo trình Tư pháp quốc tế [11], Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid được coi là những “điều ước quốc tế chuyên biệt” nhằm mục đích quy định các điều kiện thuận lợi cho việc đăng ký nhãn hiệu tại các nước thành viên, đáp ứng nhu cầu thống nhất hóa, đơn giản hóa quy trình, thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại nước ngoài Trong giáo trình này, tác giả cũng đề cập một cách khái quát sự khác nhau giữa Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid, các qui định của Thỏa ước và Nghị định thư về việc nộp đơn đăng ký quốc tế, hiệu lực của đăng ký quốc tế và từ chối bảo hộ [11, tr 217-218] Tại chương III của giáo trình Tư pháp quốc tế [28], tác giả cũng giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành và ý nghĩa của Thỏa ước Madrid và
Trang 15Nghị định thƣ; thủ tục đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hai điều ƣớc này, những điểm giống nhau và khác nhau khi đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ƣớc và Nghị định thƣ Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ƣớc và Nghị định thƣ đƣợc các tác giả của các cuốn Giáo trình tƣ pháp quốc tế [11], [46], [47], [49], [28]
đề cập trong tổng thể các điều ƣớc quốc tế trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã gia nhập
Trong tài liệu “Những vấn đề của Tƣ pháp quốc tế về Bảo hộ nhãn hiệu và internet trong Cộng đồng châu Âu”(“International Private Law Issues regarding Trademark Protection and the Internet within the EU”) [152], Thỏa ƣớc Madrid và Nghị định thƣ Madrid [185] đƣợc ghi nhận là nguồn của luật quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm quyền đối với nhãn hiệu Tuy nhiên, tài liệu này chƣa làm rõ khái niệm về đăng ký quốc tế, chƣa cung cấp một cách hệ thống và đầy đủ các qui định pháp luật quốc tế về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, chƣa phân tích đầy đủ những hiệu quả của việc sử dụng hệ thống cũng nhƣ quy trình nộp đơn và thẩm định đơn quốc tế theo hệ thống Madrid
Trong tài liệu “Luật Nhãn hiệu quốc tế - hệ thống Madrid” (“International
Trademark Law – the Madrid System”) [125], tác giả Vicenç Feliú đề cập tới khái
niệm về “hệ thống Madrid” là một hệ thống quản lý tập trung (bởi WIPO) để có đƣợc đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia riêng rẽ, trên cơ sở một “đăng ký quốc tế” nhãn hiệu; đồng thời khái quát sơ bộ về quy trình nộp đơn quốc tế và sự chồng lấn thành viên của Thỏa ƣớc Madrid và Nghị định thƣ Đồng thuận với quan điểm của tác giả Vicenç Feliú, trong luận văn thạc sỹ của mình, tác giả cũng đã chỉ rõ “liên quan tới việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu, có hai điều ƣớc quốc tế, độc lập với nhau nhƣng có liên quan mật thiết với nhau, cùng đảm bảo cho một hệ thống duy nhất để đăng ký quốc tế nhãn hiệu trong phạm vi đa quốc gia/lãnh thổ trên khắp thế giới, đƣợc gọi là “hệ thống Madrid” Đồng thời, tác giả cũng đã đề cập tới quá trình hình thành và phát triển của hệ thống Madrid; phân tích và so sánh các quy định pháp luật về đăng ký quốc tế nhãn hiệu giữa Thỏa ƣớc và Nghị định thƣ, các ƣu điểm và nhƣợc điểm của hệ thống nói chung và của từng điều ƣớc nói riêng, những điểm
Trang 16chung và điểm khác biệt của hai điều ước quốc tế này, quy trình xử lý đơn quốc tế Tuy nhiên, một số các vấn đề lý luận như: khái niệm “đăng ký quốc tế nhãn hiệu”; các điều ước quốc tế có liên quan đến việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu; hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid; các yếu tố bảo đảm cho việc sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid, v.v chưa được nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện
Dưới góc độ Luật dân sự, hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được nghiên cứu với tư cách là quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa – tiền tệ và các quan hệ nhân thân [53], trên cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên lãnh thổ một/một số quốc gia hoặc trong khu vực hoặc trên thế giới, trong đó đối tượng điều chỉnh chính là quan hệ về tài sản và quan hệ về nhân thân [43] đối với quyền
sở hữu trí tuệ, cụ thể là, quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập thông qua hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu Trong giáo trình Luật dân sự của TS Nguyễn Ngọc Điện [20], sách chuyên khảo về Luật dân sự của các tác giả TS Nguyễn Xuân Quang, TS Lê Nết và TS Nguyễn Hồ Bích Hằng [48], TS Đinh Văn Thanh và Đinh Thị Hằng [54], nội dung về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước
và Nghị định thư được đề cập như một trong những cách thức xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu, trong tổng thể đề cập tới những vấn đề cơ bản về nhãn hiệu, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu, thực trạng vi phạm và vấn đề bảo hộ
Trong các tài liệu chuyên ngành Luật sở hữu trí tuệ như Giáo trình Luật Sở
hữu trí tuệ của các TS Lê Đình Nghị và TS Vũ Thị Hải Yến [44], Bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của các TS Lê Hồng
Hạnh và Đinh Thị Mai Phương [31], vấn đề đăng ký quốc tế nhãn hiệu được đề cập trong một tổng thể hệ thống các đối tượng sở hữu trí tuệ, cách thức bảo hộ và cơ chế
thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung Tài liệu Thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong
tiến trình hội nhập quốc tế - Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS Nguyễn
Bá Diến [12] cũng đề cập tới Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan tới Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu là hai trong số các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam đã tham gia, trong tổng
Trang 17thể pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ Một số các tài liệu trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ có đề cập tới vấn đề đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước hoặc Nghị định
Thư hoặc theo cả hai điều ước này, đó là: Quyền Sở hữu trí tuệ của TS Lê Nết [43],
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của TS Lê Trung Đạo [19], Tài liệu tập huấn về WTO
và hội nhập kinh tế quốc tế cho đối tượng doanh nghiệp của TS Phạm Văn Chắt
[6], Bảo hộ sở hữu công nghiệp, 380 câu hỏi và đáp dành cho doanh nghiệp của tác
giả Vũ Khắc Trai [58], Các yếu tố của quyền SHTT của TS Phùng Trung Tập [52], Chỉ dẫn áp dụng Luật sở hữu trí tuệ của tác giả Trần Hoài Nam [39] và 99 câu hỏi
về nhãn hàng hóa và nhãn hiệu hàng hóa của Viện nghiên cứu và đào tạo về quản
lý [60] Trong một số các tài liệu đã công bố của các chuyên gia trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ có liên quan tới việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu, như: tài liệu Đổi mới và
hoàn thiện pháp luật về Sở hữu trí tuệ của TS Lê Xuân Thảo [55], tài liệu Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ trên thế giới và phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ ở Việt Nam của TS Nguyễn Thị Quế Anh [1], tài liệu Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS kinh nghiệm cho Việt Nam
của tác giả Nguyễn Thanh Tú [59], tài liệu Quyền sở hữu công nghiệp trong hoạt
động thương mại của TS Nguyễn Thanh Tâm [51], vấn đề đăng ký nhãn hiệu được
đề cập trong tổng thể với các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh, chuyển giao công nghệ hoặc nếu được đề cập riêng thì cũng tập trung đề cập tới việc giới thiệu
vị trí, vai trò của nhãn hiệu và cách thức, thủ tục đăng ký nhãn hiệu, chủ yếu là đăng
ký quốc gia, tức là nộp đơn trực tiếp tại cơ quan đăng ký quốc gia nơi mà nhãn hiệu
dự kiến được bảo hộ Nội dung về đăng ký quốc tế nhãn hiệu được đề cập trong các tài liệu, nếu có, chủ yếu là nêu tên điều ước quốc tế, cụ thể là Nghị định thư và/hoặc Thỏa ước Madrid, mà chưa phân tích một cách cụ thể các vấn đề lý luận và quy định pháp luật về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu này
Trang 18Trong một số bài báo khoa học, tạp chí, tài liệu hội thảo, vấn đề đăng ký quốc tế nhãn hiệu cũng đƣợc đề cập nhƣ một trong những cách thức xác lập quyền
đối với nhãn hiệu Có thể kể tới một số ấn phẩm sau đây: Hoàn thiện pháp luật về
SHTT trong điều kiện Việt Nam hội nhập quốc tế [13]; Bảo hộ quyền SHTT theo Hiệp định TRIPs [14], Về cơ chế thực thi quyền SHTT trong tiến trình hội nhập quốc tế [15]; Bảo hộ và thực thi quyền SHTT hiện nay [16], Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế thực thi quyền SHTT [17] của GS TS Nguyễn Bá Diến; Về thực trạng
và phương hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền SHCN ở nước ta hiện nay và Thực trạng pháp luật về Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam [42] của PGS TS
Đoàn Năng; Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế [2]; Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các qui định về xác lập quyền sở hữu công nghiệp [3], Xu hướng phát triển của hệ thống pháp luật bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế [4] của TS Nguyễn
Thị Quế Anh; Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của xã hội
trong bảo hộ quyền SHTT [29], Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định BTA [30] của TS Lê Thị Nam Giang Câu chuyện về mùi và đăng ký nhãn hiệu mùi
[33] của tác giả Nam Hoa; Bảo hộ tài sản sở hữu trí tuệ [37] của tác giả Nguyễn Đức Lam, Bảo hộ quyền SHTT trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam [36] của TS Trần Lê Hồng; Vai trò của SHTT và đẩy mạnh việc thực thi bảo hộ SHTT
trong các doanh nghiệp ở Việt Nam [56] của TS Lê Xuân Thảo; Khái quát về Công ước Paris, hệ thống Madrid và hiệp định TRIPs [22], Mối quan hệ giữa nhãn hiệu với các tài sản trí tuệ khác [23], Các điều ước về SHTT và nhãn hiệu mà Việt Nam
đã tham gia [24], Quyền đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam [25], và Quyền và nghĩa
vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu [26] của TS Đào Minh Đức Trong các ấn phẩm này,
do yêu cầu chặt chẽ và giới hạn về khuôn khổ bài viết trên các báo, tạp chí, bài phát biểu, vấn đề đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid chƣa đƣợc trình bày đầy đủ và chi tiết Hơn nữa, chƣa có một tài liệu nào trong số này đề cập tới nghiên cứu thực trạng pháp luật quốc tế về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, tác động của hệ
Trang 19thống Madrid đối với người sử dụng cũng như vấn đề hoàn thiện pháp luật quốc tế
và quốc gia nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid
Tài liệu Các điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập [9]
do Cục Sở hữu công nghiệp và Cục bản quyền tác giả biên soạn và phát hành, cung cấp toàn văn bản hai điều ước quốc tế về đăng ký quốc tế nhãn hiệu: Thỏa ước [184] và Nghị định Thư [190], kèm theo Quy chế chung [171] bằng tiếng Việt, mang tính chuẩn mực của cơ quan đăng ký quốc gia Việt Nam Các tài liệu hướng
dẫn Đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước/Nghị định thư Madrid có nguồn gốc
Việt Nam [8] được đăng trên trang web của Cục Sở hữu trí tuệ và Bộ Khoa học công
nghệ cung cấp một số thông tin cơ bản về việc nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid tại Việt Nam Đến nay, chưa có một tài liệu chính thức nào từ Cục Sở hữu trí tuệ cung cấp thông tin một cách toàn diện và đầy đủ về hệ thống Madid, hướng dẫn chi tiết về hệ thống, quy trình đăng ký, cách thức sử dụng hệ thống và các tiện ích hỗ trợ của hệ thống cho người sử dụng
Vấn đề nhãn hiệu và đăng ký quốc tế nhãn hiệu được đề cập trong một số ấn phẩm của tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới WIPO, Cục sáng chế Nhật bản, ví dụ như:
“Các Quy định và Điều ước về Luật Nhãn hiệu” (Trademark Law Treaty and
Regulations) [147],“Hướng dẫn về Đăng ký quốc tế Nhãn hiệu” (Guide to the International Registration of Marks) [131], “Sửa đổi Điều khoản 9sexxies của Nghị định thư Madrid, Quy chế Chung thi hành Thỏa ước Madrid và Nghị định Thư, và Bảng lệ phí, kèm theo Quy chế Chung” (Amendment to Article 9sexies to the Madrit Protocol, to the Common Regulations under the Madrid Agreement and Protocol and to the Schedule of Fees, Annexed to the Common Regulation) [165],“Giáo trình
Sở hữu công nghiệp “Nhãn hiệu”(Industrial property textbook “Trademark”) [61],
“Giới thiệu về Nghị định thư Madrid” (Introduction to Madrit Protocol) [62],
“Thỏa ước Madrid về đămg ký quốc tế nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan tới Thỏa ước: Mục tiêu, Đặc điểm chính, Ưu điểm” (The Madrid Agreement concerning the International Registration of Marks and the Protocol relating to that Agreement: Objectives, Main Features, Advantages) [145],“Nhóm làm việc đặc biệt
Trang 20về các vấn đề pháp lý của hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu” (Ad hoc Working Group on the legal development of the Madrit system for the International Registration of Mark) [129] Các tài liệu này đề cập về quy trình, thủ tục đăng ký
quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Tuy nhiên, đây hoàn toàn chỉ là phần liệt kê các qui định pháp luật; không phân tích các vấn đề lý luận, các nhược điểm và những điểm bất cập của hệ thống, phương án hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu cũng được đề cập trong cuốn “Cẩm
nang sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và áp dụng” (WIPO Intellectual Property
Handbook: Policy, Law and Use) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới [149] với bản dịch tiếng Việt [57] do Cục Sở hữu trí tuệ phát hành Đây là một trong những tài liệu cơ bản và chuẩn mực về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu Tuy nhiên, tài liệu mới chỉ cung cấp một số những thông tin cơ bản như giới thiệu sơ lược về lý do tồn tại song song hai điều ước quốc tế trong hệ thống, chức năng của hệ thống đăng ký, một số nội dung về đơn đăng ký quốc tế, phí đăng ký, hiệu lực và sự phụ thuộc của đăng ký quốc tế vào nhãn hiệu gốc, những thuận lợi của hệ thống và điều kiện trở thành thành viên của Thỏa ước hoặc Nghị định thư Các nhược điểm của hệ thống,
sự so sánh điểm giống nhau và khác nhau của hai điều ước quốc tế cũng như quy trình đăng ký quốc tế nhãn hiệu chưa được đề cập trong tài liệu này
Tài liệu “Tài liệu tập huấn của WIPO – Giới thiệu Luật pháp và Thực tiễn về
Nhãn hiệu: các khái niệm cơ bản” (WIPO training material - Introduction to Trademark law and practice: the Basic concept) [150] đề cập một cách đầy đủ hơn
về hệ thống Madrid, chỉ ra một số nhược điểm của Thỏa ước Madrid Các nội dung
về từng điều ước trong hệ thống Madrid, Quy chế chung thi hành Thỏa ước và Nghị định thư, đơn đăng ký quốc tế, đăng ký quốc tế, từ chối tạm thời, chỉ định quốc gia, thay đổi, hủy bỏ, gia hạn đã được đề cập trong tài liệu này với sự dẫn chiếu tới các quy tắc được quy định trong Quy chế chung [171] Tuy nhiên, tài liệu này vẫn chưa khái quát toàn bộ trình tự và thủ tục đăng ký quốc tế và do đó, chưa tạo thuận lợi cho người nộp đơn sử dụng và phát huy hiệu quả của hệ thống Madrid
Trang 21Tài liệu “Giới thiệu về Nghị định thư Madrid”(Introduction to Madrid
Protocol) [110] của tác giả Sukenori Nojo do Cục sáng chế Nhật Bản và Trung tâm
Sở hữu công nghiệp châu Á – Thái Bình Dương, Viện Sáng chế và Sáng kiến Nhật Bản phát hành được sử dụng như một trong những tài liệu hướng dẫn của Cơ quan đăng ký cho người nộp đơn Nhật Bản về Nghị định thư Madrid Tài liệu [110] đề cập về Nghị định thư Madrid, sự khác biệt về thủ tục về đăng ký nhãn hiệu theo Công ước Paris [185] và Nghị định thư, khả năng nộp đơn, yêu cầu đối với nhãn hiệu, tài liệu cần thiết, ngôn ngữ, các điểm cần lưu ý khi điền hồ sơ, cách thức nộp đơn, lệ phí đăng ký, nghĩa vụ của cơ quan đăng ký của nước xuất xứ, nghĩa vụ của Văn phòng quốc tế và các thành viên được chỉ định, nghĩa vụ của người nộp đơn, các thủ tục sau đăng ký Tuy nhiên, tài liệu này chỉ đề cập tới Nghị định thư Madrid với các điều kiện áp dụng tại Nhật Bản và do đó, hữu hiệu với người nộp đơn tại Nhật Bản Các vấn đề lý luận về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid nói chung không được đề cập trong tài liệu này
Tài liệu “Giới thiệu về Nghị định thư Madrid cho Người nộp đơn Hoa Kỳ”
(Introduction to Madrid Protocol for American Applicant) [127] của các tác giả
Virgina S Taylor, William M Bryner, Carrie A Johnson và Jackson Vogel chỉ ra những ưu điểm của Nghị định thư như: nộp tại một địa điểm, một bộ hồ sơ, bằng tiếng Anh/Pháp hoặc Tây Ban Nha, một mức phí bằng Franc Thụy Sỹ hoặc Đôla
Mỹ và có được một đăng ký quốc tế với một ngày gia hạn hiệu lực và được bảo hộ
ở các quốc gia trong số 67 thành viên của Nghị định thư theo mong muốn của người nộp đơn Tài liệu này cũng chỉ ra nội hàm của khái niệm “đăng ký quốc tế” không
có nghĩa là quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được tự động xác lập và thực thi được
mà, về bản chất, hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu, trong trường hợp này, theo Nghị định thư chỉ là một hệ thống nộp đơn để tối ưu hóa nhiều đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu trong nước tới các quốc gia khác được chỉ định [127] Các tác giả tập trung phân tích những vấn đề được coi là thách thức đồng thời là nhược điểm của hệ thống đối với người nộp đơn Hoa Kỳ, như là: danh mục hàng hóa và dịch vụ của đơn quốc tế, thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu tại các quốc gia được chỉ
Trang 22định, điều khoản về tấn công trung tâm [127], yêu cầu về việc sử dụng nhãn hiệu nhằm duy trì đơn cơ sở và đơn đăng ký quốc tế, điều khoản “tấn công trung tâm” [97], căn cứ từ chối, thời hạn phản đối đơn, công bố lại đơn tại Hoa Kỳ, sửa đổi nhãn hiệu, chuyển nhượng/đổi tên, đăng ký li-xăng [85] Tuy nhiên, các phân tích,
so sánh và nhận định trong các tài liệu [127], [97], [85] chỉ phù hợp với điều kiện áp dụng tại các quốc gia/vùng lãnh thổ chỉ là thành viên của Thỏa ước và phần lớn chỉ thích hợp với hệ thống pháp luật hiện hành của Hoa Kỳ
Tài liệu “Hướng dẫn về Luật Sở hữu trí tuệ Trung Quốc” (China Intellectual
Property Law Guide) [91] có đề cập tới việc áp dụng Thỏa ước và Nghị định thư
đối với đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Trung Quốc, dẫn chiếu tới tài liệu “Các
Giải pháp Thực thi Đăng ký Quốc tế Nhãn hiệu”(Implementing Measures on the Madrid International Registration of Mark) [109] do Bộ Công nghiệp và Thương
mại Trung Quốc (SAIC) ban hành, trong đó quy định các điều khoản chi tiết về quy trình nộp đơn, các tài liệu cần thiết, các điều kiện đối với người nộp đơn đăng ký
quốc tế nhãn hiệu tại Trung Quốc Tài liệu “Hướng dẫn bảo hộ nhãn hiệu tại Trung
Quốc”(Guide to trademark protection in China) [71] đề cập tới việc đăng ký nhãn
hiệu theo Thỏa ước Madrid như một trong những cách thức đạt được quyền sở hữu đối với nhãn hiệu ở nước ngoài, bên cạnh cách thức đăng ký theo quy định của Nhãn hiệu cộng đồng (CTM) Tài liệu này lưu ý người nộp đơn Trung Quốc về sự cần thiết phải sử dụng luật sư của nước sở tại trong trường hợp nhãn hiệu theo đơn
đăng ký quốc tế bị từ chối tại quốc gia được chỉ định Trong tài liệu “Hướng dẫn về
Sở hữu trí tuệ - Trung Quốc”(Intellectual Property Guide – China) [67], văn phòng
luật sư Baker Mc Kenzie cũng dẫn chiếu Thỏa ước và Nghị định thư là hai điều ước quốc tế về đăng ký quốc tế nhãn hiệu mà Trung Quốc đã tham gia Tuy nhiên, tài liệu [67] không đề cập tới các đặc điểm điều chỉnh pháp lý về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hai điều ước này cũng như các giải pháp khuyến khích sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid
Tài liệu “Nghiên cứu so sánh Nhật Bản và Mông Cổ về việc bảo hộ nhãn
hiệu theo Nghị định thư Madrid nhằm cải thiện việc bảo hộ nhãn hiệu trong tương
Trang 23lai tại Mông Cổ (A comparative study on trademark protection between Japan and Mongolia under the Madrit Protocol for future development of Trademark Protection in Mongolia) [66] của tác giả Badarch Oyuntsetsen so sánh hệ thống quy
phạm pháp luật điều chỉnh việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu giữa Nhật Bản và Mông
Cổ theo Nghị định thư Madrid, quy trình nộp đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có nguồn gốc Nhật Bản và Mông Cổ, quá trình thẩm định đơn có chỉ định Nhật Bản và Mông Cổ, những sửa đổi trong luật pháp quốc gia để phù hợp với các qui định của Nghị định Thư Vấn đề sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu không
được đề cập tại tài liệu này Tài liệu “Các lựa chọn về chính sách nộp đơn nhãn
hiệu liên quan tới Nghị định thư Madrid, Liên minh châu Âu và các Văn phòng đăng ký quốc gia” (Alternative trademark filing strategies regarding the Madrid Protocol, the European Union and National Offices) [102] cung cấp các thông tin
về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Nghị định thư trong sự so sánh với việc đăng ký nhãn hiệu cộng đồng (CTM) Tài liệu [66], [102] chỉ đề cập tới việc đăng ký quốc tế theo Nghị định thư Madrid và cũng chưa đề cập đến các yếu tố bảo đảm việc sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế theo Nghị định thư
Tài liệu “Các khía cạnh pháp lý và kỹ thuật của việc gia nhập Nghị định thư
Madrid của Nhật Bản và Philipin” (The legal and technical implications of Japanese and Philipine Accession to the Madrid Protocol) [94] của tác giả Maricris
Jan Tobias đề cập tới một số các khía cạnh pháp lý và kỹ thuật của Thỏa ước Madrid đối với người sử dụng tại Nhật Bản và Philipin, so sánh ưu điểm và nhược điểm của điều ước này, quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, quá trình gia nhập
và sửa đổi luật quốc gia của Nhật Bản khi gia nhập Thỏa ước và những chuẩn bị cần thiết về mặt pháp lý và kỹ thuật đối với Philipin khi trở thành thành viên của điều ước này Tài liệu [94] chưa làm rõ các vấn đề pháp lý, những nhược điểm cần khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid
Trong nghiên cứu “Đăng ký quốc tế Nhãn hiệu theo Nghị định thư Madrid và
Thỏa ước Madrid: Tiếp cận của Việt Nam trong sự đối chiếu với kinh nghiệm của Nhật Bản” (International Registration of Trademark under Madrid Protocol &
Trang 24Madrid Agreement: Vietnam’s Approach in reference to the Japanese Experience)
[69], tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật của hệ thống Madrid, những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống, so sánh và phân tích sự khác biệt giữa Thỏa ước
và Nghị định thư, quy trình chung đối với đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu, việc xét nghiệm đơn tại Văn phòng quốc tế, xử lý đơn tại Cơ quan đăng ký quốc gia tại Nhật Bản và Việt Nam, các yêu cầu đối với đơn đăng ký quốc tế nói chung và đơn đăng
ký quốc tế có xuất xứ Việt Nam
Nghiên cứu các công trình, tài liệu, bài viết đã công bố, ở khía cạnh nghiên cứu lý luận, có thể thấy rằng, về mặt số lượng, các công trình nghiên cứu tương đối nhiều, đề cập đến hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu ở các góc độ và ở những mức
độ khác nhau Tuy nhiên, một số những vấn đề lý luận, một số khái niệm cơ bản về đăng ký quốc tế cần được phân tích và hoàn chỉnh, các nguyên tắc và quy trình cơ bản cần được hệ thống hóa, các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống cần được đánh giá khách quan từ góc độ của các đối tượng sử dụng, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực tiễn và hiệu quả sử dụng hệ thống đăng
ký quốc tế nhãn hiệu tại một số Thành viên
Ở nước ngoài, việc nghiên cứu thực tiễn và hiệu quả sử dụng hệ thống đăng
ký quốc tế nhãn hiệu phần lớn chỉ được thể hiện dưới các bài viết trên tạp chí, trang web, trong các hội thảo, hội nghị và chủ yếu chỉ cung cấp các thông tin ngắn gọn, xúc tích về các công việc mà các Thành viên của hệ thống đã tiến hành để thực thi điều ước quốc tế, những thuận lợi và khó khăn của người sử dụng, những kết quả đạt được và một số thách thức của thành viên khi đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư
Dưới đây là một số nghiên cứu đề cập tới thực tiễn và hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu ở các Thành viên
Tài liệu “Báo cáo thường niên – Đăng ký quốc tế Nhãn hiệu” (Madrid
Yearly Review – International registration of Mark) [141] của WIPO là tài liệu
Trang 25chính thức, cập nhật và đầy đủ nhất về tình hình đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid Việc sử dụng hệ thống Madrid được thống kê dưới các góc độ khác nhau: đăng ký quốc tế theo nước xuất xứ, theo quốc gia được chỉ định, theo nhóm sản phẩm và dịch vụ; từ chối đăng ký quốc tế theo quốc gia được chỉ định; gia hạn, chuyển nhượng; lệ phí và phân bổ cho các quốc gia; lượng đơn đăng ký của thành viên; số lượng thành viên của hệ thống Những thay đổi về thành viên, qui định pháp luật của hệ thống và các chủ đề thảo luận của Nhóm làm việc về các vấn đề pháp lý của hệ thống trong thời gian tiếp theo cũng được đề cập trong tài liệu này Tuy nhiên, tài liệu [141] không phân tích những khó khăn, cản trở
mà người sử dụng hệ thống gặp phải, những nhược điểm của hệ thống cần khắc phục, giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống
Tài liệu “Nghiên cứu về việc gia nhập hệ thống Madrid về Đăng ký quốc tế
Nhãn hiệu” ( Study on Accession to the Madrid System for the International Registration of Marks) [68] của tác giả Barbara Bennett đề cập tới việc gia nhập và
áp dụng hệ thống Madrid tại một số quốc gia: Mông Cổ, Hàn Quốc, Singapo, Thổ Nhĩ Kỳ và Việt Nam, những thách thức và ràng buộc khi gia nhập hệ thống, các công việc chủ yếu mà Cơ quan đăng ký quốc gia tiến hành trước và sau khi trở thành thành viên, những tác động khi áp dụng hệ thống Madrid tới từng quốc gia thành viên và nhóm người sử dụng hệ thống, các biện pháp thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả hệ thống Tài liệu [68] đề cập tới tình hình thực tế ở một số thành viên, song chưa phản ánh đầy đủ và khách quan việc sử dụng hệ thống tại các thành viên
do mỗi thành viên chỉ có 1 đại diện, phần lớn từ Cơ quan đăng ký, trả lời phiếu hỏi
Tài liệu “Kinh nghiệm của Nhật Bản khi gia nhập và sử dụng hệ thống
Madrid” (Japan’s experience in joing and using Madrid system) [138] của WIPO
đề cập kinh nghiệm của Nhật Bản, những thuận lợi và khó khăn khi gia nhập Nghị định thư, tác động tích cực của việc hài hòa luật pháp quốc gia với điều ước quốc tế nhằm tạo thuận lợi cho việc sử dụng hệ thống Madrid Tuy nhiên, những giải pháp được đề cập trong tài liệu [138] chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nâng cao hiệu
Trang 26quả sử dụng hệ thống Madrid, và chỉ thích hợp cho Nhật Bản và một số quốc gia chỉ
là thành viên của Nghị định thư
Tài liệu “Cách nhìn từ chủ sở hữu nhãn hiệu về hệ thống Madrid: kinh
nghiệm thực tiễn và cơ sở lý luận”( Trademark owners perspective on the Madrid system: practical experiences and theoretical underpinnings) [107] của tác giả
Roya Ghafele đánh giá ưu điểm và nhược điểm từ góc nhìn của người sử dụng là các doanh nghiệp, nhu cầu về việc cải thiện hệ thống, tăng thêm thành viên, nâng cao hiểu biết và cải thiện cơ sở kỹ thuật đi đôi với nguồn nhân lực tại các cơ quan đăng ký nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng Tài liệu cũng chỉ ra rằng: cần có sự phân tích sâu thêm, một cách tổng thể về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu cũng như cần thiết cải thiện hệ thống này theo hướng được vận hành vì người sử dụng, song không có một giải pháp cụ thể nào được đề xuất trong tài liệu này
Tài liệu “Những vấn đề cơ bản về Thực thi Nghị định thư
Madrid”(Essentials of Madrit Protocol Practice)của tác giả Nadine H Jacobson,
Partner, Fross Zelnick Lehrman & Zissu, 2006 [97] phân tích thực trạng đăng ký quốc tế nhãn hiệu, song vẫn chỉ đề cập tới Nghị định thư mà không nói tới Thỏa ước Công trình “Sử dụng Nghị định thư Madrid sau khi Hoa kỳ gia nhập”(Using
the Madrid Protocol after US Accession)của hai tác giả Hines, P Jay và Weinstein,
Jordan S., , 93 TMR 1003, 1023 [79] phản ánh thực trạng sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Hoa Kỳ theo Nghị định thư, các qui định liên quan tới Thỏa
ước không được đề cập Công trình “Hệ thống Madrid và Quy trình Đăng ký nhãn
hiệu trên thế giới” (The Madrit System and a Streamlined Process for Registering trademark Around the World) của các tác giả Kelly, Christopher và Faunce,
Marissa, 2006 [89] và tài liệu“Thực tiễn đăng ký quốc tế nhãn hiệu dành cho các
chuyên gia pháp lý” (International Trademark Practice for Paralegals)của tác giả
Kevin R Casey, Timothy D Pecsenye, Andrew L Ney & John J O’Malley; Haffmoon LLC 2003 [90] đưa ra những hướng dẫn chuyên môn cho người sử dụng, chủ yếu là các luật sư hành nghề và/hoặc đã có hiểu biết nhất định về luật pháp Hoa
Trang 27Kỳ, do đó khó có thể áp dụng cho các đối tượng khác, ví dụ như người nộp đơn trực tiếp, cũng như những người sử dụng ngoài địa bàn Hoa Kỳ
Tài liệu “Những thách thức đối với người sử dụng Nhật Bản khi sử dụng Hệ
thống Madrid” (Problems facing Japanese users in Using the Madrit System) của
tác giả Mituhisa ANDA, IIP Bulleting 2007 [96] chỉ ra được những cản trở mà người sử dụng hệ thống Madrid tại Nhật Bản thường gặp phải, song những cản trở này còn bị giới hạn trong khuôn khổ quốc gia, với những đặc điểm rất riêng biệt của người sử dụng tại Nhật Bản
Công trình “Nghị định thư Madrid: Cảnh báo vắn tắt cho chủ sở hữu nhãn
hiệu Hoa Kỳ” (The Madrit Protocol: A brief primer for U.S trademark holders) của
tác giả Albert Tramposch Burns, Doane, Swecker & Mathis L.L.P., 2003 [64] đề cập tới những tác động của việc gia nhập Nghị định thư đối với luật pháp quốc gia, một số bất cập khi sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế, ví dụ: danh mục sản phẩm của đơn quốc gia tại Hoa Kỳ thường rất cụ thể và giới hạn, do đó hạn chế việc bảo hộ nhãn hiệu của người nộp đơn Hoa Kỳ ở nước ngoài khi đăng ký quốc tế nhãn hiệu
thông qua hệ thống Madrid Tài liệu “Nghị định thư Madrid” (The Madrid
Protocol) của Norman Rich, Informa, 2007 [99] và nghiên cứu “Nghị định thư Madrid: Người khổng lồ ngủ say cũng đã thức dậy” (The Madrid Protocol: A slumbering giant awakens at last) củaJerome Gilson & Anne Gilson Lalonde,
Matthew Bender, 2006 [88] đề cập tới những tác động và hiệu quả của Nghị định thư Madrid đối với việc đăng ký quốc tế nhãn hiệu, song các nhược điểm và tồn tại của điều ước này chưa được đề cập tới một cách đầy đủ, do đó, chưa thấy được nhu cầu hoàn thiện hệ thống cũng như các giải pháp khuyến khích nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống
Công trình “Phân tích tác động của Nghị định thư Madrid đối với nền kinh tế
của các nước đang phát triển” (Analysis on the impact of Madrit Protocol for the economies of developing countries)của Chaudhry Asfand Ali, IPO – Pakistan, 2008
[70] phân tích tác động của Nghị định thư Madrid đối với nền kinh tế của các nước
Trang 28đang phát triển, song những khó khăn, bất cập trong việc sử dụng hệ thống tại các quốc gia này cũng như nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid đã
không được đề cập trong nghiên cứu Tài liệu “Nghị định thư Madrid tại các nền
kinh tế mới nổi” (The Madrid Protocol in BRICS Countries: A Comparative Analysis) của Vikrant Rana and Rupin Chopra [126] đề cập tới việc áp dụng đăng
ký quốc tế theo Nghị định thư Madrid tại các nền kinh tế mới nổi: Nga, Trung Quốc, Ấn Độ; thực tiễn công tác chuẩn bị gia nhập Nghị định thư Madrid ở Brazil
và Nam Phi; một số các khác biệt cơ bản trong quy định pháp luật của các quốc gia này về cơ sở nộp đơn đăng ký quốc tế, thời gian áp dụng điều khoản về hủy bỏ nhãn hiệu trên cơ sở không sử dụng Tài liệu này chưa chỉ ra được những rào cản và khó khan khi sử dụng hệ thống, chưa đưa ra những đề xuất để nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống cho người sử dụng
Tài liệu “Hiệu quả và hiệu lực thực thi hệ thống Madrid tại châu Phi” (The effectiveness and efficiency of the Madrid System in Africa” [80] đánh giá về hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid tại một số quốc gia châu Phi, trong đó chỉ ra vấn đề
về hài hoà pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là yếu tố bảo đảm tính hiệu quả của việc sử dụng hệ thống Madrid tại các quốc gia châu Phi Tài liệu này cũng chỉ
ra rằng việc nâng cao nhận thức của người sử dụng, đào tạo nhân lực cho các cơ quan đăng ký quốc gia và nỗ lực từ phía chính phủ thay đổi luật pháp quốc gia là cần thiết nhằm sử dụng và hài hoà hệ thống Madrid tại thành viên này
Chưa có một công trình nào trong số các ấn phẩm đề cập trên đây phân tích một cách sâu sắc và toàn diện những vấn đề lý luận và thực trạng sử dụng và việc sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid, nghiên cứu so sánh và đánh giá về tình hình sử dụng hệ thống Madrid tại nhiều thành viên cũng như đề cập tới các yếu tố bảo đảm
và tiêu chí đánh giá việc sử dụng hiệu quả hệ thống này
Tại Việt Nam, việc sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư còn khá khiêm tốn, cả về lý luận và thực tiễn Việc nghiên cứu về thực trạng sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu hầu như chưa có
Trang 29Chưa có một nghiên cứu về hiệu quả sử dụng hệ thống, những khó khăn và cản trở đối với người sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid từ phía Văn phòng quốc tế, các cơ quan đăng ký quốc gia và từ phía người sử dụng, từ đó có những đề xuất, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng hệ thống Cho đến nay, mới chỉ có một số bài viết trên báo, tạp chí, hội thảo về vấn đề này
Tài liệu Áp dụng hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu ở Việt Nam
của Trần Hữu Nam [40] đề cập tới quá trình tham gia hệ thống Madrid của Việt Nam, các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến đăng ký quốc tế, thực tế áp dụng hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế tại Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chỉ nêu một số điểm khái quát về quy trình xử lý đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Việt Nam, chưa phân tích về những khó khăn khi sử dụng hệ thống, chưa chỉ ra được những khó khăn của người sử dụng, từ đó đề xuất cải thiện hệ thống, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid
Một số các bài viết trên các trang web của Cục sở hữu trí tuệ [8], Đại học Huế [18], Sở khoa học và công nghệ ĐakNong [50] đưa ra một số hướng dẫn về việc sử dụng hệ thống Madrid tại Việt Nam, cụ thể là các hướng dẫn về quyền đăng
ký, đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam, cơ quan nhận đơn Các bài viết trên trang web của một số văn phòng luật sư, đại diện sở hữu trí tuệ [32], [38] đề cập tới quy trình nộp đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam và/hoặc quy trình thẩm định đơn Các bài viết này không phân tích thực trạng sử dụng hệ thống Madrid tại Việt Nam cũng như không đề cập tới các khó khăn, cản trở đối với người sử dụng hệ thống, từ đó
đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chưa có một công trình nào đề cập đến các yếu tố bảo đảm và đánh giá hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid Chỉ có một số công trình liên quan tới các yếu tố bảo đảm và đánh giá hiệu quả của quá trình áp dụng pháp luật nói chung:
“Hiệu quả pháp luật - những vấn đề lý luận và thực tiễn” [21], Áp dụng pháp luật ở
Trang 30Việt Nam hiện nay [35], hoặc trong lĩnh vực tố tụng dân sự: “Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Toà án nhân dân” [34] trong đó đề cập tới các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình áp dụng pháp luật
bao gồm: hệ thống pháp luật, ý thức và trình độ văn hoá pháp lý của người áp dụng, hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng pháp luật, điều kiện cơ sở vật chất - kỹ thuật Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật và chất lượng hoạt động và năng lực của cơ quan thực thi được đề cập như các tiêu chí để đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật
1.2 Đánh giá về tình hình nghiên cứu và các vấn đề cần nghiên cứu tiếp
Nghiên cứu các công trình, tài liệu, bài viết đã công bố, có thể thấy rằng, về mặt số lượng, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung, vấn đề nhãn hiệu nói riêng tương đối nhiều, đề cập đến đăng ký nhãn hiệu ở các góc độ và
ở những mức độ khác nhau Tuy nhiên, do mục đích, đối tượng và thời điểm nghiên cứu khác nhau nên kết quả nghiên cứu của các công trình này thường dừng lại ở mức độ khái quát, chưa đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện và đầy đủ những vấn
đề lý luận và thực trạng pháp luật quốc tế, thực tiễn áp dụng hệ thống về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống, những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng Một vài khía cạnh liên quan tới hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid tại Việt Nam và một số quốc gia đã được đề cập, song chưa có một tài liệu nào nghiên cứu sâu và đề cập một cách thấu đáo các khó khăn, cản trở từ phía người sử dụng hệ thống Madrid với tư cách là người nộp đơn, thẩm định viên và/hoặc cơ quan đăng ký quốc gia/quốc tế hoặc các khó khăn, cản trở từ các quy định của hệ thống Madrid để từ đó đề xuất các khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế
Cùng với sự phát triển của kinh tế toàn cầu, sự tham gia sâu rộng của nhiều
tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và các tập đoàn vào thị trường liên quốc gia, nhu cầu đăng ký quốc tế nhãn hiệu ngày càng gia tăng Đặc biệt, trong điều kiện các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế tự do thương mại song phương và đa phương,
Trang 31việc các quốc gia thành viên gia nhập hệ thống Madrid là một yêu cầu bắt buộc [192, điều 18.7], đồng thời với việc cam kết không những chỉ nâng cao hiệu quả việc thực thi các qui định hiện hành về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có việc đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu, điều mà còn đặt ra các yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao hơn so với các quy định trong các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ trước đó Chẳng hạn, Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) đòi hỏi các bên tham gia ký kết bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và không được từ chối đăng ký nhãn hiệu đối với các dấu hiệu không nhìn thấy được bằng mắt [192, điều 18.18], hệ thống phân loại nhãn hiệu phù hợp với Thỏa ước Nice [192, điều 18.25], thiết lập hệ thống quản lý nhãn hiệu điện tử [192, điều 18.24] Hiệp định thương mại tự do EU – Việt Nam [177] cũng yêu cầu các bên tham gia ký kết tái khẳng định các nghĩa vụ về đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid [177, điều 5.1],
sử dụng phiên bản cập nhật nhất của hệ thống phân loại theo Thỏa ước Nice [191]
và đơn giản hóa thủ tục đăng ký nhãn hiệu [177, điều 5.1] Việc nghiên cứu, hệ thống hóa lý luận về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid; thực tiễn tình hình sử dụng hệ thống Madrid tại một số quốc gia để khái quát được những khó khăn, cản trở, thách thức trong quá trình gia nhập và áp dụng
hệ thống Madrid; đồng thời đề xuất các khuyến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid, tạo thuận lợi cho người sử dụng, bao gồm cơ quan đăng ký quốc tế,
cơ quan đăng ký quốc gia và chủ sở hữu nhãn hiệu, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của quá trình hội nhập và thực thi các cam kết quốc tế, đặc biệt là các điều ước tự
do thương mại như Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương [192], Hiệp định thương mại tự do EU – Việt Nam [177] là vô cùng cần thiết
Trên cơ sở phân tích những nội dung đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu về đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid, tác giả nhận thấy rằng các nội dung sau đây cần được tiếp tục nghiên cứu để góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid:
- Về lý luận, phân tích và hệ thống hóa những đặc điểm điều chỉnh pháp lý
về hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu: khái niệm đăng ký quốc tế, đặc điểm và
Trang 32hiệu lực của đăng ký quốc tế, các quy định pháp luật quốc tế và quốc gia về đăng ký quốc tế nhãn hiệu; mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế; vai trò
và tác động của hệ thống Madrid đối với người sử dụng; các yếu tố đảm bảo việc sử dụng hiệu quả hệ thống; và xu hướng phát triển của hệ thống Madrid
- Về thực tiễn, phân tích và so sánh việc sử dụng hệ thống Madrid tại Việt Nam và một số thành viên khác như: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v
- Phân tích và khái quát những thuận lợi và khó khăn trong quá trình vận hành hệ thống Madrit từ phía người sử dụng, bao gồm văn phòng quốc tế, các cơ quan đăng ký quốc gia và chủ sở hữu quyền/đại diện của chủ sở hữu quyền;
- Phân tích và làm rõ nhu cầu hoàn thiện pháp luật quốc tế và quốc gia cũng như nhu cầu sử dụng hiệu quả hệ thống Madrid; và trên cơ sở đó,đề xuất/khuyến nghị, phương hướng hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid
Với những nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu, tác giả đặt ra một số giả thuyết nghiên cứu sau đây: các thành viên gia nhập hệ thống Madrid theo một xu hướng nhất định và việc sử dụng hệ thống này có nhiều điểm tương đồng, mặc dù vẫn có những khác biệt; có nhiều yếu tố tác động tới việc sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu và việc nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống này cần có những biện pháp thích hợp cho từng yếu tố tác động đó Câu hỏi cần đặt ra ở đây là: Khái niệm về đăng ký quốc tế nhãn hiệu là gì, có những điểm giống nhau và khác nhau như thế nào đối với khái niệm đăng ký nhãn hiệu, đăng ký quốc gia, đăng ký khu vực? Những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu là gì? Các quy định pháp luật về đăng ký quốc tế nhãn hiệu có đặc điểm gì? Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu mang lại những hiệu quả gì cho người sử dụng? Các quy định hiện hành theo pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia đã tạo điều kiện việc sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu hay chưa? Mức độ sử dụng hệ thống tại các quốc gia/vùng lãnh thổ có khác nhau hay không? Những yếu tố nào
Trang 33tác động tới việc sử dụng hiệu quả và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu là gì?
Kết luận chương 1
Cùng với nhu cầu đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài ngày càng gia tăng nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế-xã hội và xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, việc sử dụng hệ thống Madrid để đăng ký quốc tế nhãn hiệu ngày càng được các doanh nghiệp lựa chọn như một phương thức tiết kiệm nhất, hiệu quả nhất để bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ, nâng cao vị trí cạnh tranh trên thị trường Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật quốc tế về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong việc sử dụng hệ thống Madrid để đăng ký quốc tế nhãn hiệu là một đòi hỏi tất yếu và cần thiết
Hệ thống Madrid ngày càng được mở rộng với sự tham gia của nhiều thành viên là quốc gia và tổ chức liên chính phủ, việc tìm hiểu thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid của các thành viên để xác định những vấn đề pháp lý đặt ra, những thách thức và đòi hỏi nâng cao hiệu quả hệ thống từ các thành viên là các quốc gia và/hoặc các tổ chức liên chính phủ là vô cùng thiết thực nhằm kịp thời đề xuất những giải pháp thích hợp hoàn thiện các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, bảo đảm cho hệ thống ngày càng được vận hành hiệu quả nhất, thu hút thêm nhiều thành viên tham gia hệ thống, đồng thời hài hòa và thích ứng các yêu cầu ngày càng cao về việc bảo hộ nhãn hiệu theo tiến trình phát triển kinh tế và các yêu cầu được đề cập trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương
Vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid phục vụ đăng ký quốc tế nhãn hiệu là mong muốn của những người sử dụng hệ thống này, cụ thể là, người nộp đơn/chủ sở hữu, đại diện sở hữu công nghiệp, các thẩm định viên tại văn phòng quốc tế và văn phòng quốc gia, các chuyên gia, học giả và những người hoạt động trong lĩnh vực SHTT, v.v
Việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công của các cơ quan thực thi, đặc biệt là các
Trang 34cơ quan đăng ký, khuyến khích người nộp đơn sử dụng hệ thống Madrid, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước
và Nghị định thư Madrid, đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết trong các điều ước quốc tế, trong đó có các hiệp định thương mại song phương và đa phương như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA), thực sự là một đề tài mang tính thời sự đòi hỏi cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát các công trình nghiên cứu về đăng ký quốc tế nhãn hiệu, nghiên cứu sinh nhận thấy rằng các nội dung sau đây còn bỏ ngỏ: một số vấn đề lý luận cơ bản về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và thực tiễn sử dụng hệ thống Madrid của các Thành viên; các yếu tố bảo đảm và tiêu chí đánh giá việc sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu, nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid; từ đó đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện pháp luật quốc tế, hài hòa thủ tục
và hoàn thiện pháp luật quốc gia cũng như đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công của các cơ quan thực thi; khuyến khích người nộp đơn chủ động sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký này, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và đáp ứng các yêu cầu được đề cập trong các hiệp định thương mại song phương và đa phương, như TPP và EVFTA
Các vấn đề mà luận án dự kiến nghiên cứu, cụ thể là: một số vấn đề lý luận
cơ bản về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và sử dụng hiệu quả hệ thống đăng ký quốc tế; thực tiễn sử dụng hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế và một
số thành viên như: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam; sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống Madrid, v.v là cần thiết và hữu ích để từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo Thỏa ước và Nghị định thư Madrid, trong
đó có các khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
Trang 35Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU
2.1 Khái niệm về đăng ký quốc tế nhãn hiệu và hệ thống Madrid
2.1.1 Khái niệm về đăng ký nhãn hiệu
Cho đến nay, trong các công trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn và
cả trong các văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đều không đưa ra định nghĩa về “đăng ký nhãn hiệu“, mặc
dù khái niệm này được sử dụng rất rộng rãi Tuy nhiên, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, cần nghiên cứu để làm rõ bản chất, đặc điểm và vai trò của khái niệm đăng ký nhãn hiệu
Theo quy định của các điều ước quốc tế cũng như của pháp luật các quốc gia/vùng lãnh thổ, quyền sở hữu đối với nhãn hiệu được xác lập trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc trên cơ sở sử dụng thực tế trong thương mại Tại hầu hết quốc gia/vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam, việc xác lập quyền đối với nhãn hiệu trên cơ sở Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cơ quan có thẩm quyền cấp là cách thức chủ yếu để chủ sở hữu đạt được quyền đối với nhãn hiệu của mình
Về mặt lý luận cũng như trên thực tế và cả theo quy định của pháp luật, việc đăng ký nhãn hiệu được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở yêu cầu của các cá nhân hay tổ chức có nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp nhằm xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu đó
Đối tượng đăng ký nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ cùng loại của chủ thể khác Pháp luật quốc gia/vùng lãnh thổ có những quy định cụ thể về khái niệm «nhãn hiệu », dấu hiệu có khả năng phân biệt và các trường hợp loại trừ không được đăng
ký nhãn hiệu
Để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, cá nhân, tổ chức phải nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Tuỳ
Trang 36theo pháp luật quốc gia/vùng lãnh thổ, đơn đăng ký nhãn hiệu thường bao gồm tờ khai đăng ký theo mẫu; mẫu nhãn hiệu/tài liệu thể hiện đối tượng xin đăng ký; giấy
uỷ quyền (nếu đơn nộp thông qua đại diện); tài liệu chứng minh quyền đăng ký (nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền đó của người khác); tài liệu chứng minh quyền ưu tiên (nếu có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên); phí và lệ phí đăng ký
Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thẩm định đơn theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chỉ tiến hành đăng ký và cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu, nếu nhãn hiệu đáp ứng các điều kiện và hồ sơ xin đăng ký được thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật Nhãn hiệu được ghi vào sổ đăng bạ nhãn hiệu với một
mã số đăng ký và những thông tin về chủ sở hữu, mẫu nhãn hiệu, ngày ưu tiên, sản phẩm/dịch vụ đăng ký được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ cấp mã số đăng ký
Đăng ký nhãn hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu, là cơ sở để chủ sở hữu nhãn hiệu yêu cầu các cơ quan thực thi xử lý các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Hầu hết các quốc gia/vùng lãnh thổ đều tuân theo nguyên tắc nộp đơn đầu tiên «first-to-file», có nghĩa là nếu
có hai nhãn hiệu trùng hoặc tương tự nhau cùng nộp đơn đăng ký, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp cho người có đơn nộp sớm hơn Bên cạnh đó, việc
sử dụng nhãn hiệu, không đăng ký còn làm hạn chế cơ hội sở hữu và sử dụng hợp pháp nhãn hiệu trong các trường hợp nhãn hiệu bị người khác nộp đơn trước
Như vậy, khái niệm “đăng ký nhãn hiệu” được hiểu là sự ghi nhận/công nhận của cơ quan có thẩm quyền đối với nhãn hiệu của cá nhân, tổ chức cho hàng hóa, dịch vụ cụ thể theo quy định pháp luật Đăng ký nhãn hiệu có thể tiến hành và có hiệu lực tại từng quốc gia, khu vực hoặc tại văn phòng quốc tế theo pháp luật quốc gia, khu vực hoặc điều ước quốc tế Dưới đây đề cập tới ba hình thức đăng ký nhãn hiệu: đăng ký quốc gia, đăng ký khu vực và đăng ký quốc tế
2.1.2 Đăng ký quốc gia
Xuất phát từ nguyên tắc lãnh thổ của quyền sở hữu trí tuệ, quyền đối với nhãn hiệu chỉ có hiệu lực tại quốc gia xác lập quyền và quyền này là độc lập với các quyền nhãn hiệu đồng tồn tại tại các quốc gia khác Nghĩa là, đăng ký nhãn hiệu tại
Trang 37Việt Nam sẽ chỉ có hiệu lực tại Việt nam mà không có hiệu lực tại Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên minh châu Âu hay bất kỳ quốc gia/vùng lãnh thổ nào khác Việc đăng
ký nhãn hiệu tại từng quốc gia được thực hiện theo các trình tự và thủ tục do pháp luật quốc gia quy định, tại cơ quan có thẩm quyền của quốc gia Nội dung và phạm
vi quyền nhãn hiệu theo Đăng ký quốc gia được điều chỉnh bởi luật pháp của quốc gia đó
Theo nguyên tắc đối xử quốc gia và quyền ưu tiên quy định tại Công ước Paris, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể tiến hành và được cấp Đăng ký quốc gia tại các thành viên của Công ước Paris và được hưởng sự bảo hộ đối với nhãn hiệu của mình như công dân của quốc gia sở tại mà không có sự phân biệt đối xử [185, Điều 2] Trong vòng 6 tháng kể từ ngày Đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp tại Cơ quan đăng ký quốc gia, nơi họ là công dân hoặc có cơ sở kinh doanh, chủ sở hữu nhãn hiệu có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình tại bất kỳ thành viên nào của Công ước Paris và các đơn nộp sau sẽ được xem là nộp cùng ngày tại cơ quan đăng ký quốc gia [185, Điều 4] Có nghĩa là, chủ nhãn hiệu không nhất thiết phải tiến hành nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại tất cả các quốc gia mà họ mong muốn bảo
hộ nhãn hiệu vào cùng một thời điểm mà chỉ cần tiến hành thủ tục này, lần đầu tiên, tại Cơ quan đăng ký quốc gia nơi người nộp đơn là công dân, có địa chỉ thường trú hoặc có cơ sở kinh doanh và có cơ hội quyết định tiến hành nộp đơn theo thủ tục đăng ký quốc gia tại các thị trường mà mình quan tâm trong thời hạn 6 tháng Việc này có thể thực hiện được khi quốc gia nơi chủ sở hữu nhãn hiệu là công dân hoặc
có cơ sở kinh doanh và quốc gia nơi chủ sở hữu nhãn hiệu muốn bảo hộ là thành viên của Công ước Paris Tính đến ngày 15/1/2016, số lượng thành viên của Công ước Paris là 176 [143]
Trong trường hợp đăng ký nhãn hiệu trực tiếp tại từng quốc gia, các đơn đăng ký riêng biệt theo quy định pháp luật quốc gia được nộp tại cơ quan đăng ký của nước sở tại, ví dụ: tại Việt Nam là Cục Sở hữu trí tuệ Thông thường, việc này được tiến hành thông qua luật sư/đại diện sở hữu trí tuệ của quốc gia sở tại hoặc văn phòng đại diện của chủ sở hữu nhãn hiệu tại quốc gia đó Sau khi thẩm định, nếu
Trang 38nhãn hiệu đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ theo pháp luật quốc gia, đăng ký quốc gia
sẽ được cấp Các đăng ký quốc gia riêng rẽ được cấp bởi các quốc gia khác nhau có phạm vi và thời hạn bảo hộ, ngày gia hạn hiệu lực khác nhau Quy trình đăng ký nhãn hiệu quốc gia được tác giả khái quát tại Phụ lục 1
Như vậy, đăng ký quốc gia là đăng ký nhãn hiệu do cơ quan đăng ký quốc gia cấp trên cơ sở một đơn đăng ký nhãn hiệu nộp trực tiếp tại Cơ quan đăng ký quốc gia đối với nhãn hiệu đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ theo luật pháp quốc gia, có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia đó
2.1.3 Đăng ký khu vực
Một số quốc gia tại châu Âu, châu Phi thiết lập một hệ thống đăng ký khu vực, có giá trị tương đương hoặc thay thế đăng ký quốc gia, tuân theo các nguyên tắc cơ bản của Công ước Paris, trong đó có nguyên tắc về “quyền ưu tiên” nhằm tạo điều kiện cho các chủ sở hữu nhãn hiệu tiến hành đăng ký nhãn hiệu của mình vào các quốc gia thuộc khu vực một cách thuận lợi, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí
Tại châu Âu, đó là hệ thống nhãn hiệu cộng đồng châu Âu (viết tắt là EUTM
và trước đây, tính tới ngày 23/3/2016 được gọi là Nhãn hiệu cộng đồng - Community Trademark, viết tắt là CTM) có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ 28 quốc gia thành viên [74] của Liên minh châu Âu Ở khu vực Tây Âu, đó là hệ thống nhãn hiệu Benelux, có hiệu lực trên lãnh thổ 3 quốc gia thành viên là Bỉ, Hà Lan và Luxembourg, được quản lý bởi Văn phòng sở hữu trí tuệ Benelux (BOIP) Ở châu Phi, đó là hệ thống nhãn hiệu khu vực, có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ của 17 quốc gia thành viên [101] của Tổ chức sở hữu trí tuệ châu Phi (tên tiếng Pháp là
“Organisation Africane de la Propriété Intellectuelle”, viết tắt là OAPI)
Ưu điểm của hệ thống đăng ký nhãn hiệu khu vực, ví dụ EUTM, là bằng một đơn duy nhất nộp tại cơ quan đăng ký khu vực, chẳng hạn tại châu Âu là Cơ quan
sở hữu trí tuệ Liên minh châu Âu – EUIPO, khi được chấp nhận đăng ký, nhãn hiệu
sẽ được bảo hộ trên toàn bộ lãnh thổ của các quốc gia thành viên Ngoài ra, đối với ĐKKV, cụ thể là EUTM, nếu chủ sở hữu đã được cấp một ĐKQG hoặc đăng ký quốc tế có hiệu lực tại một thành viên EU và nhãn hiệu này trùng với đăng ký khu
Trang 39vực (trùng về nhãn hiệu và sản phẩm, dịch vụ), họ có thể yêu cầu hưởng quyền thâm niên của nhãn hiệu này [174, Điều 34]
Tuy nhiên, xuất phát từ đặc tính không phân chia của nhãn hiệu khu vực, nếu nhãn hiệu không đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ của một thành viên, đăng ký khu vực (ĐKKV) sẽ không được cấp Một ĐKKV chỉ có thể được chuyển giao trong toàn bộ lãnh thổ của tất cả thành viên Nếu nhãn hiệu bị hủy bỏ hoặc mất hiệu lực ở một quốc gia thành viên trong khu vực thì ĐKKV đương nhiên bị mất hiệu lực trong cả cộng đồng [173, Điều 1, Điều 52], [166, Điều 18] Trong khi căn cứ để một nhãn hiệu bị hủy bỏ hoặc mất hiệu lực tại một quốc gia thành viên có thể là việc không sử dụng nhãn hiệu trong 5 năm liên tục [173, Điều 51], [166, Điều 23], việc duy trì nhãn hiệu được bảo hộ theo hệ thống ĐKKV là một thách thức không nhỏ đối với chủ sở hữu nhãn hiệu Bên cạnh đó, để có thể sở hữu ĐKKV, nếu không phải là công dân của quốc gia thành viên hoặc không có cơ sở kinh doanh tại quốc gia thành viên, chủ sở hữu nhãn hiệu phải tiến hành nộp đơn thông qua đại diện pháp lý địa phương [173, Điều 92, Điều 93], [166, Điều 6] Quy trình đăng ký nhãn hiệu khu vực theo hệ thống EUTM được tác giả khái quát tại Phụ lục 1
Như vậy, ĐKKV là đăng ký nhãn hiệu do cơ quan đăng ký của vùng lãnh thổ của các quốc gia thành viên cấp trên cơ sở một đơn ĐKKV đối với nhãn hiệu đáp ứng tiêu chuẩn bảo hộ của tất cả các quốc gia thành viên của vùng lãnh thổ đó, có hiệu lực trên lãnh thổ của tất cả các quốc gia thành viên
2.1.4 Đăng ký quốc tế nhãn hiệu theo hệ thống Madrid
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu tại nhiều quốc gia/vùng lãnh thổ theo một cách thức hiệu quả nhất: đơn giản về thủ tục, tiết kiệm về thời gian và hợp lý về chi phí
Hệ thống đăng ký quốc tế nhãn hiệu được điều chỉnh bởi hai điều ước quốc
tế - Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu được ký kết năm 1891, gọi tắt là Thoả ước Madrid [184] và Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid được ký kết năm 1989, gọi tắt là Nghị định thư [190], do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quản lý, được gọi là hệ thống Madrid
Trang 40Hệ thống Madrid là một hệ thống quản lý tập trung, cung cấp cho các tổ chức, cá nhân ở Thành viên một quy trình đơn giản và hiệu quả để đăng ký và quản
lý nhãn hiệu của mình tại một số hoặc toàn bộ Thành viên của hệ thống Madrid Trên cơ sở một đơn hoặc một đăng ký quốc gia (ĐKQG) hoặc đăng ký khu vực (ĐKKV), với một đơn quốc tế được nộp cho Văn phòng quốc tế (VPQT), thông qua Văn phòng xuất xứ (VPXX), với một khoản lệ phí, người nộp đơn có thể sở hữu một đăng ký quốc tế (ĐKQT) với các chỉ định Thành viên, theo lựa chọn, tới 114 quốc gia của hệ thống Quy trình đăng ký quốc tế theo hệ thống Madrid được tác giả khái quát tại Phụ lục 1
Tuy nhiên, hệ thống Madrid không tạo nên một Đăng ký quốc tế có hiệu lực, ngay tại thời điểm đăng ký quốc tế, đối với tất cả các thành viên được chỉ định mà chỉ là cho phép chủ sở hữu nhãn hiệu sử dụng đăng ký quốc tế này để thực hiện việc đăng ký nhãn hiệu tại các Thành viên
Đơn quốc tế được chuyển tới VPQT thông qua VPXX để tiến hành thẩm định, cấp ĐKQT và ghi nhận vào đăng bạ quốc tế, sau đó được thông báo tới các Thành viên được chỉ định Việc thẩm định tại VPQT chỉ bao gồm thẩm định hình thức đơn, liên quan tới các quy định về người nộp đơn, đơn quốc tế, mẫu nhãn hiệu, danh mục sản phẩm/dịch vụ Việc thẩm định nội dung, đánh giá các tiêu chuẩn bảo
hộ nhãn hiệu được thực hiện tại Văn phòng đăng ký (VPĐK) của Thành viên của hệ thống Madrid theo quy định pháp luật của Thành viên được chỉ định
Như vậy, ĐKQT, cần được hiểu rằng, chỉ bao gồm các quyền đăng ký nhãn hiệu tại Thành viên, tức là tương đương với các đơn quốc gia/khu vực, nộp trực tiếp tại VPĐK của thành viên Tại thời điểm cấp ĐKQT, quyền đối với nhãn hiệu theo ĐKQT tại các Thành viên được chỉ định chưa được phát sinh, nhãn hiệu theo ĐKQT chưa được chấp nhận đăng ký tại Thành viên, do đó ĐKQT chưa có hiệu lực như ĐKQT tại Thành viên được chỉ định
Quyền đăng ký này vẫn tồn tại ngay cả khi một hoặc một số Thành viên được chỉ định, sau quá trình thẩm định nội dung theo pháp luật quốc gia/vùng lãnh thổ, từ chối đăng ký nhãn hiệu Ví dụ, trong trường hợp ĐKQT có chỉ định Trung