Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngà
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HẢI
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI
BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG,
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH THỊ MAI
Phản biện 1: PGS.TS TRẦN VĂN ĐỘ
Phản biện 2: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăm lo đến con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động nhà nước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của
Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải
là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, trong việc đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Hải Dương là thành phố đang trên đà phát triển về các mặt chính trị văn hóa xã hội, nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập Kéo theo với điều đó là tình hình tội phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đối phức tạp Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân Trong công cuộc đấu tranh với tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ để quyền
và lợi ích của người bị tạm giữ không bị xâm hại, hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan và người THTT Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết VAHS trên địa bàn thành phố Hải Dương, tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền THTT xâm phạm đến các QCN đặc biệt
Trang 4là quyền của người bị tạm giữ vẫn còn xảy ra Những vi phạm đó xảy
ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, có trường hợp nhận thức người THTT còn khác nhau Do đó có thể nói nghiên cứu việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ có vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định trên thực tế, góp phần chung vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện nhiệm vụ xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương”
làm luận văn cao học luật là vấn đề mang tính cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả thực tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở phạm vi nghiên cứu về quyền con người và bảo đảm quyền con người nói chung trong tố tụng hình sự, cụ thể có nhiều công trình
đã công bố như: Sách chuyên khảo: “Quyền con người”, năm 2015
do GS,TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội Sách chuyên khảo: “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, năm
2011 do GS, TSVõ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội
Sách:“Bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự Việt Nam”, năm 2010, Nxb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh Sách: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam”,
của tác giả Trần Quang Tiệp (2004), “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của GS.TS Trần
Ngọc Đường; sách chuyên khảo “Quyền lực Nhà nước và quyền con người” của PGS.TS Đinh Văn Mậu;
Trang 5Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam (trên
cơ sở nghiên cứu thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương)” cần tiếp tục được nghiên cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn thành phố Hải Dương, mà còn có thể tham khảo áp dụng trên toàn quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu
lý luận chung về bảo đảm quyền con người nói chung và thực tiễn áp dụng đối với người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ
yếu sau: Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về quyền con
người, quyền của người bị tạm giữ, bảo đảm quyền con người đối với
người bị tạm giữ Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật về bảo đảm
quyền con người đối với người bị tạm giữ để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập
trong thực thi pháp luật liên quan Ba là, đề xuất các kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người đối với người bị tạm giữ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quyền con người, bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam, những
Trang 6hạn chế, bất cập khó khăn trong quy định của pháp luật, những khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người đối với người bị tạm giữ
- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng áp dụng việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện lý luận về bảo đảm quyền con người theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay Đề tài đã phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ trên địa
bàn thành phố Hải Dương
Trang 77 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người
bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ
Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng pháp luật
- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện
ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành
phần xuất thân
- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng
quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ
Trang 8thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống
- Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của
cộng đồng quốc tế, quyền con người không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả
các quyền con người có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện
tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia
Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm quyền con người, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là:
Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước
không được tùy tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các quyền con người
Nghĩa vụ bảo vê: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải
ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của các bên thứ ba
Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải
có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các quyền con người
Như vậy, có thể hiểu bảo đảm quyền con người chính là việc nhà nước, thông qua pháp luật, ghi nhận và quy định các biện pháp ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm các quyền con người bằng
bộ máy cưỡng chế của mình
Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực hiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các QCN vào trong pháp luật mỗi quốc gia
Tóm lại, khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm
giữ có thể được hiểu: “là việc tạo ra các điều kiện, yếu tố cần và đủ để
Trang 9quyền con người của người bị tạm giữ được ghi nhận và bảo đảm thực thi có hiệu quả trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong TTHS"
1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ
Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình
sự bao gồm: bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốn nhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ
Thứ nhất, là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang: Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã:
Thứ tư, là người phạm tội tự thú, đầu thú:
Thứ năm, là đối với họ phải có quyết định tạm giữ:
1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự
Nội dung đầu tiên là bảo đảm QCN của người bị tạm giữ
trong TTHS trước hết thể hiện trong việc phải bảo đảm các quyền
công dân chung của họ: Các quyền cơ bản của công dân đã được quy
định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như Luật bầu cử,
Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ… Là công dân, người bị bắt có quyền được tôn trọng và bảo đảm các quyền được pháp luật quy định, trừ các trường hợp BLTTHS quy định khác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ TTHS
Thứ hai, bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ
trong TTHS từ góc độ này là đảm bảo cho người bị tạm giữ có địa vị pháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc bị nghi thực hiện tội phạm, bị buộc tội và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định
Trang 10Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện
các nguyên tắc TTHS đặc biệt là các nguyên tắc có liên quan một cách mật thiết đến quyền của người bị tạm giữ trong TTHS vụ án
hình sự; Hai là, quy định hợp lý địa vị tố tụng của người bị bắt; quy
định cụ thể, rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của CQĐT trong trường
hợp áp dụng BPNC tạm giữ trong TTHS; Ba là, quy định đúng đắn
chứng cứ và quá trình chứng minh trong TTHS đặc biệt là chứng minh được các căn cứ áp dụng BPNC tạm giữ của các cơ quan có
thẩm quyền trong giai đoạn điều tra Bốn là, quy định cụ thể, hợp lý
điều kiện và thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nói chung, các BPNC nói riêng Đây là điều kiện tiên quyết và vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo QCN của người bị tạm giữ trong TTHS Bởi lẽ nếu các điều kiện và thủ tục tạm giữ người không được quy định chính xác và chặt chẽ rất khó có thể đảm bảo được QCN
của chủ thể bị áp dụng BPNC tạm giữ Năm là, quy định các thủ tục
tạm giữ người trong TTHS nói chung và trong giai đoạn điều tra nói
riêng cụ thể, dân chủ, công khai; Sáu là, quy định đầy đủ và chặt chẽ
hậu quả tố tụng, chế độ trách nhiệm đối với các quyết định oan, sai đối với người bị tạm giữ trong TTHS v.v…
* Như vậy, việc phân biệt bảo đảm quyền công dân và bảo
đảm quyền tố tụng của người bị tạm giữ trong TTHS chỉ là tương đối để phân tích về mặt lý luận
1.3 Các yếu tố đặc trưng và các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ
* Các yếu tố đặc trưng của bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ
- Yếu tố hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người trong TTHS
Trang 11+ Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ Các nguyên tắc cơ bản của TTHS nhằm bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ Trình tự giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ Quyền của người bị tạm giữ Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có thẩm quyền tạm giữ
Có thể nói, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS là yếu tố đầu tiên rất quan trọng để các bảo đảm QCN khác được thực hiện bởi
vì không có pháp luật thì không có quyền
- Yếu tố tổ chức hoạt động của các cơ quan, tổ chức liên quan tới hoạt động tạm giữ
Thứ nhất, đối với các cơ quan tiến hành TTHS:
Cơ quan điều tra: Điều tra là khâu đột phá, quyết định sự thành bại của toàn bộ tiến trình TTHS, CQĐT có nhiệm vụ áp dụng mọi quy định biện pháp do luật TTHS quy định nhằm xác định sự thật khách quan của VAHS, bảo vệ QCN Các biện pháp do CQĐT thực hiện theo quy định pháp luật rất đa dạng nhưng có điểm chung là đều ảnh hưởng trực tiếp tới các QCN Trên thực tế, CQĐT còn được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của riêng ngành mình nhằm giải quyết VAHS nên khả năng vi phạm QCN dễ xảy ra
Thứ hai, đối với các cơ quan, tổ chức khác tham gia vào
TTHS:
Tổ chức luật sư, tổ chức giám định trong TTHS: TTHS mang tính chất xã hội sâu sắc, nó không chỉ thể hiện chức năng bảo vệ mà còn bộc lộ chức năng xã hội của Nhà nước
- Yếu tố cơ chế phối hợp trong hoạt động tạm giữ trong TTHS là một quá trình liên tục bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau
Trang 12+ Mối quan hệ nội tại giữa các cơ quan tổ chức tham gia TTHS, chẳng hạn như mối quan hệ giữa CQĐT cùng ngạch, khác ngạch với nhau, quan hệ giữa đoàn luật sư với văn phòng luật sư, mối quan hệ giữa các tổ chức giám định, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS
+ Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS với tổ chức luật sư, tổ chức giám định Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS, tổ chức luật sư, tổ chức giám định với các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội tham gia vào quá trình giải quyết VAHS
+ Yếu tố giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tạm giữ
Để thực hiện tốt bảo đảm này, cần xác định rõ các vấn đề cơ bản như cơ chế về chủ thể, phương thức thực hiện, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động này có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống
+ Yếu tố xử lý vi phạm quyền con người trong hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam
Vi phạm quyền con người trong hoạt động tạm giữ cũng có thể nảy sinh trong nội bộ dân cư, có cơ sở khách quan từ những mâu thuẫn lợi ích Loại vi phạm này cũng rất dễ xảy ra khi các bảo đảm quyền con người khác không có hiệu quả như: Hệ thống pháp luật yếu kém, tổ chức hoạt động của các cơ quan tổ chức tham gia TTHS còn chồng chéo…
+ Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật trong tố tụng hình sự
Bắt, tạm giữ, tạm giam đòi hỏi một khối lượng cơ sở vật chất
kỹ thuật rất lớn Đó là trụ sở làm việc, công cụ phương tiện làm việc, trang thiết bị phục vụ cho công tác chuyên môn nghiệp vụ, tiền lương, tiền thù lao cho những người tham gia giải quyết VAHS
Trang 13Việc quyền con người, quyền công dân nói chung được ghi nhận và thực hiện phụ thuộc nhiều vào bản chất nhà nước, chế độ chính trị, trình độ dân chủ, cũng như phụ thuộc vào các vấn đề khác của cả hạ tầng cơ sở và thượng tầng xã hội trong từng xã hội cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể
*Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ
Việc QCN, quyền công dân nói chung được ghi nhận và thực hiện phụ thuộc nhiều vào bản chất nhà nước, chế độ chính trị, trình
độ dân chủ, cũng như phụ thuộc vào các vấn đề khác của cả hạ tầng
cơ sở và thượng tầng xã hội trong từng xã hội cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Như trên đã đề cập, QCN trong TTHS nói chung
và quyền của người bị tạm giữ nói riêng thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân trong việc giải quyết VAHS Việc quy định và bảo đảm thực hiện QCN của người bị tạm giữ trong TTHS cũng bị tác động bởi rất nhiều nhân tố, trong đó, yếu tố chính trị, tư tưởng, trình độ dân chủ đóng vai trò quyết định, tiếp đó là các vấn đề pháp lý với hình thức, mô hình TTHS và các quy định của cụ thể của pháp luật TTHS và các vấn đề liên quan khác
1.3.1 Các bảo đảm về chính trị
Vấn đề quyền con người được TTHS bảo vệ như thế nào cũng phản ánh trình độ dân chủ của Nhà nước và pháp luật, nó xuất phát từ các cơ sở: cơ sở chính trị - và cơ sở xã hội Cơ sở chính trị là vấn đề lợi ích nhà nước, lợi ích giai cấp, cơ sở xã hội của trách nhiệm này là vai trò của nhà nước đối với sự ổn định xã hội và trách nhiệm với dân tộc, với công dân
1.3.2 Bảo đảm về pháp lí
Mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm xác định rằng việc kiểm soát được tình hình, diễn biến của tội phạm, phát hiện và xử lý