1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

85 205 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 630,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI THANH HẢI

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI

BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ

HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số: 62.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nếu có điều gì sai sót,

tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Hải

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 7

1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 7 1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 19 1.3 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự 26

NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG 40

2.1 Tổng quan thực trạng bảo đảm quyền của người bị tạm giữ hình sự trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 40 2.2 Thực trạng thực hiện quyền con người của người bị tạm giữ hình sự trên địa bàn thành phố Hải Dương tỉnh Hải Dương 45 2.3 Thực trạng các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hải Dương 52

ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 61

3.1 Định hướng và quan điểm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 61 3.2 Giải pháp hoàn thiện và hướng dẫn áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 63 3.3 Giải pháp đối với thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 72

KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự BPNC : Biện pháp ngăn chặn CQĐT : Cơ quan điều tra ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên QCN : Quyền con người THTT : Tiến hành tố tụng TTHS : Tố tụng hình sự VAHS : Vụ án hình sự VKS : Viện kiểm sát

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số liệu giải quyết án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Dương 41 Bảng 2.2: Bảng thống kê tình hình bắt giữ và phân loại từ năm 2012 - 2016 43 Bảng 2.3: Bảng thống kê tình hình giải quyết người bị tạm giữ từnăm 2012 -

2016 44

Trang 6

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăm lo đến con người, tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện trong thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, trong các hoạt động nhà nước là những quan điểm cơ bản được thực hiện trong các văn bản của Đảng

Để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp, Đảng có những quan điểm chỉ đạo

về cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, đặc biệt tại Nghị quyết

số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02-6-2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp

đến năm 2020” khẳng định “Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư

pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm”[3]; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của

Đảng cũng tiếp tục đặt ra nhiệm: “Đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa, trong đó đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công

lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [12];

Hải Dương là thành phố đang trên đà phát triển về các mặt chính trị văn hóa xã hội, nơi giao thương kinh tế tương đối tấp nập Kéo theo với điều đó là tình hình tội phạm trên địa bàn trong những năm vừa qua đã diễn ra tương đối phức tạp Đấu tranh phòng, chống tội phạm là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân Trong công cuộc đấu tranh với tội phạm, một vấn đề không kém phần quan trọng là bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong đó có người bị tạm giữ để quyền và lợi ích của người bị tạm giữ không bị xâm hại, hạn chế những hành

vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan và người THTT Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết VAHS

Trang 7

2

trên địa bàn thành phố Hải Dương, tình trạng cơ quan, cá nhân có thẩm quyền THTT xâm phạm đến các QCN đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ vẫn còn xảy ra Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, có trường hợp nhận thức người THTT còn khác nhau Do đó có thể nói nghiên cứu việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ có vai trò rất quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định trên thực tế, góp phần chung vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước, thực hiện nhiệm vụ xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Bảo đảm quyền con

người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương” làm luận văn cao học luật

là vấn đề mang tính cấp bách, thiết thực không những về mặt lý luận mà cả thực tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế vấn đề QCN và bảo đảm QCN trong hoạt động tư pháp nói chung và trong hoạt động tố tụng nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu từ các mức độ và góc độ khác nhau Các công trình đó có thể tổng quan thành các nhóm sau đây:

Ở phạm vi nghiên cứu về QCN và bảo đảm QCN nói chung trong

TTHS, cụ thể có nhiều công trình đã công bố như: Sách chuyên khảo:“Quyền

con người”, năm 2015 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB Khoa học

xã hội [52]; sách chuyên khảo:“Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”,

năm 2011 do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội [51];

sách: “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt

Nam” của tác giả Trần Quang Tiệp (2004) [36]; “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam” của GS.TS Trần

Trang 8

3

Ngọc Đường [16]; sách chuyên khảo“Quyền lực Nhà nước và quyền con

người” của PGS.TS Đinh Văn Mậu [24]

Dưới góc độ chuyên ngành, cũng có nhiều công trình về bảo vệ QCN trong lĩnh vực tư pháp hoặc tư pháp hình sự được công bố Trong số các công

trình này có: Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Đại học Quốc gia “Bảo vệ

quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam” của GS.TSKH Lê Văn

Cảm [6]; báo cáo “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự trong điều

kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” tại Hội thảo về

Quyền con người trong tố tụng hình sự (do VKSND tối cao và Uỷ ban nhân quyền Australia tổ chức tháng 3/2010) của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc [30]; bài

báo khoa học “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình

sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” của PGS.TS Trần Văn Độ [14];

Các công trình trên các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề bảo đảm QCN trong tư pháp hình sự nói chung và trong TTHS nói riêng Bước đầu đã đặt nền móng cho việc đặt QCN lên hàng đầu Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn

đề bảo đảm QCN của người bị bắt theo pháp luật TTHS từ thực tiễn một địa bàn nghiên cứu, cụ thể là tại thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Tình hình nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề “Bảo đảm quyền con người

của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương)” cần tiếp tục được nghiên

cứu, để có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ không chỉ trên địa bàn thành phố Hải Dương, mà còn có thể tham khảo áp dụng trên toàn quốc

Trang 9

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về QCN, quyền của người

bị tạm giữ, bảo đảm QCN đối với người bị tạm giữ

Hai là, phân tích, đánh giá về pháp luật về bảo đảm QCN đối với

người bị tạm giữ để rút ra các vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành và nguyên nhân của những bất cập trong thực thi pháp luật liên quan

Ba là, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm

QCN đối với người bị tạm giữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến QCN, bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam, những hạn chế, bất cập, khó khăn trong quy định của pháp luật, những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Ngoài ra, luận văn còn nghiên cứu, phân tích thực tiễn bảo đảm QCN của người bị tạm giữ theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hải Dương làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Trang 10

5

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống, sâu sắc những khía cạnh pháp lý của một số quy định của pháp luật về bảo đảm QCN đối với người bị tạm giữ

- Về địa bàn khảo sát: Luận văn chỉ khảo sát thực trạng áp dụng việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

- Về thời gian khảo sát: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu luật học truyền thống như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa làm rõ hơn về phương diện

lý luận về bảo đảm QCN theo pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay Đề tài đã phân tích, đánh giá, tổng hợp thực tiễn việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Hải Dương Qua đó, tìm ra những ưu điểm, hạn chế, thiếu sót, khó khăn, vướng mắc khi thực hiện Đồng thời kiến nghị một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS về việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người bị tạm giữ

Trang 11

6

Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ sung lợi ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp luật mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS… trong quá trình giải quyết VAHS được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trang 12

7

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI

BỊ TẠM GIỮ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ

Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao quý nhất của nhân loại, song cũng là vấn đề rộng lớn, phức tạp, được nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu Có nhiều quan điểm, định nghĩa khác nhau về QCN, song quan điểm phổ biến cho rằng QCN là những đặc quyền bẩm sinh, vốn có của

mọi cá nhân: "Nhân quyền là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con

người, với tư cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế"[39] Một định nghĩa khác

của Văn phòng Cao ủy của Liên hợp quốc về quyền con người (OHCHR) cũng

thường trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu, trong đó cho rằng: “Quyền con người

là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [27]

Quyền con người là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người, tuy nhiên

nó chỉ thực sự có ý nghĩa và trở thành hiện thực khi nó được bảo đảm bằng pháp

luật Học thuyết Nhân quyền tự nhiên cho rằng: “Con người có những quyền cố

hữu do tạo hóa ban tặng như quyền sống, quyền tự do, quyền tự do, quyền sở hữu; quyền con người là thiêng liêng, cao quý và phải được sắp xếp cao hơn pháp luật nhà nước; nhân quyền trao cho nhà nước vì vậy quyền lực nhà nước là có giới hạn và nhà nước co nghĩa vụ đối với nhân dân”[30] Theo lý luận chung đã

Trang 13

8

được thừa nhận ở đa số các quốc gia trên thế giới thì QCN có những thuộc tính cơ bản sau đây:

- Tính phổ biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ

quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có

sự phân biệt đối xử vì bất kì lý do gì [44, tr.25]

- Tính đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng QCN nhưng

mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Nhận thức được đặc điểm này cũng rất quan trọng đối với việc chúng ta có cái nhìn khách quan về vấn đề nhân quyền ở mỗi quốc gia

- Tính không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng

quốc tế, QCN không thể tùy tiện bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các cơ quan và quan chức nhà nước Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có

những chủ thể đặc biệt mới có thể hạn chế QCN

- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Tất cả các QCN

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh

hưởng đến các quyền khác

Quyền con người được xác định theo các lĩnh vực chủ yếu sau đây:

- Nhóm các quyền dân sự, chính trị: Đây là các quyền quan trọng của con người, có liên quan đến sự tồn tại tự nhiên, tất yếu của con người trong xã hội, liên quan đến mối quan hệ tự nhiên giữa con người với một thể chế chính trị của xã hội đó, ví dụ như quyền sống, quyền tự do, quyền bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở,

bí mật thư tín, điện tín Các quyền này theo quan điểm của các học giả tư sản được coi là quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất của con người

Trang 14

9

- Nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa: Đây là nhóm quyền theo quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa được coi là quan trọng nhất và nhóm các quyền này luôn gắn liền với một nhà nước cụ thể, được đảm bảo bởi nhà nước Các quyền này bao gồm: quyền lao động, quyền học tập, quyền an sinh xã hội, các quyền về văn hoá, sáng tạo và hưởng thụ các thành tựu của khoa học kỹ thuật…

Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, để bảo đảm QCN, nhà nước có ba nghĩa vụ cụ thể đó là:

Nghĩa vụ tôn trọng: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước không được tùy

tiện tước bỏ, hạn chế hay can thiệp, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, vào việc thụ hưởng các QCN

Nghĩa vụ bảo vệ: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải ngăn chặn sự

vi phạm QCN của các bên thứ ba

Nghĩa vụ thực hiện: Nghĩa vụ này đòi hỏi các nhà nước phải có những

biện pháp nhằm hỗ trợ công dân trong việc thực hiện các QCN [10]

Để thực hiện các nghĩa vụ về nhân quyền, các Nhà nước phải sử dụng pháp luật Là một phạm trù đa diện, xong QCN có mối liên hệ gần gũi hơn cả với pháp luật Điều này trước hết là bởi cho dù QCN là bẩm sinh, vốn có song việc thực hiện các quyền vẫn cần có nhà nước và pháp luật Hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà còn trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả các chủ thể trong xã hội

Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng Pháp luật ghi nhận các quyền của con người được xã hội thừa nhận Thông qua pháp luật, QCN được ghi nhận và bảo vệ Để bảo vệ QCN, pháp luật đưa ra những điều cấm và những

Trang 15

10

hành vi bắt buộc phải làm nhằm ngăn ngừa và chống lại các hành vi vi phạm QCN Quyền con người được pháp luật xác lập sẽ không thể bị tước bỏ, hạn chế một cách tuỳ tiện vì được bảo vệ bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của xã hội, Nhà nước Pháp luật là công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước để bảo vệ thực hiện QCN Với những đặc điểm riêng của mình, pháp luật

có tính bắt buộc cứng rắn bằng cách xác lập những điều cấm mà bất cứ ai cũng không được vi phạm Đồng thời, pháp luật được bảo vệ thi hành bằng bộ máy Nhà nước cùng với sức mạnh xã hội Vì thế, các quy định của pháp luật về QCN còn được bảo vệ bằng sự cưỡng chế của Nhà nước tránh mọi hành vi xâm hại Trên cơ sở của pháp luật, mọi hành vi vi phạm QCN, quyền công dân đều phải được xử lý nghiêm minh

Quyền con người và bảo đảm QCN luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền con người làm nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm Và trong lĩnh vực TTHS cũng vậy, việc giải quyết VAHS không thể tách rời vấn đề bảo đảm QCN, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu TNHS đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục

mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thời đảm bảo không làm oan người vô tội

Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực hiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các QCN vào trong pháp luật mỗi quốc gia Không thể bảo đảm QCN nếu chỉ dựa vào quyền tự nhiên của con người, bởi tự thân những quyền tự nhiên không thể tự mình vận hành trong một xã hội rộng lớn ở phạm vi quốc tế và phạm vi quốc gia Phải thông qua Nhà nước, thì những cam kết quốc tế về QCN mới hình thành nên những địa vị pháp lý của con người, đồng thời QCN chỉ được bảo đảm khi được quy định bằng pháp luật và có cơ chế bảo đảm, vận hành bởi pháp luật Do đó,

Trang 16

11

bảo đảm QCN là sự kết hợp địa vị pháp lý và địa vị thực tế của con người trong xã hội, là một trong những biểu hiện tự do xã hội, trách nhiệm và tính tích cực công dân Các quyền kinh tế, chính trị, xã hội chưa phải là cơ sở để thực hiện quyền và tự do của con người Chúng chỉ trở thành những bảo đảm QCN qua hình thức pháp lý và những nỗ lực tổ chức bảo đảm thực hiện của Nhà nước Bảo đảm QCN của người bị buộc tội là đảm bảo cho những người

đó có địa vị pháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc bị nghi thực hiện tội phạm, bị buộc tội và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định

Tuy nhiên, bảo đảm QCN trong TTHS không chỉ là sự ghi nhận về mặt pháp lý các QCN trong TTHS, bảo vệ và bảo đảm thực thi các quyền đó trong quá trình giải quyết các VAHS Bảo đảm QCN của người phải là sự bảo đảm cho các chủ thể mang quyền được thực hiện đầy đủ và hợp pháp các quyền được đề cập trong các quy định của pháp luật

Quyền con người của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong TTHS được thể hiện cụ thể trong các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ được pháp luật TTHS ghi nhận và bảo đảm thực hiện

Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ cũng là bảo đảm QCN trong TTHS và là một lĩnh vực có tính chất đặc thù của bảo đảm QCN nói chung Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ là việc ghi nhận các QCN và thực thi trong hoạt động tạm giữ trong TTHS Thực hiện tốt việc bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ là đóng góp có hiệu quả cho việc bảo đảm QCN trong TTHS và bảo đảm QCN nói chung

Bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ là nhiệm vụ của Nhà nước Nhà nước trong điều kiện kinh tế - xã hội, pháp lý của mình cần có cơ chế phù hợp

để ghi nhận và bảo đảm thực thi QCN Các quy phạm pháp luật về QCN, quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị tạm giữ chưa phải là cơ sở để các

Trang 17

- Xây dựng được hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ trên cơ sở các tiêu chí quốc tế về QCN và phù hợp với yêu cầu bảo đảm QCN ở Việt Nam;

- Có các giải pháp thực thi có hiệu qủa các QCN được quy định trong

hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tạm giữ;

- Hình thành cơ chế giám sát bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ Tóm lại, khái niệm bảo đảm QCN của người bị tạm giữ có thể được hiểu:

“là việc tạo ra các điều kiện, yếu tố cần và đủ để quyền con người của người bị

tạm giữ được ghi nhận và bảo đảm thực thi có hiệu quả trong quá trình áp dụng các biện pháp ngăn chặn tạm giữ trong TTHS"

1.1.2 Khái niệm người bị tạm giữ

Trong TTHS Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án BLTTHS năm 2015 đưa ra

khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị bắt

trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [34] Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình sự, đó

là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trường hợp phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Mặc dù, họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ họ Họ bị hạn chế một số quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra

Trang 18

Hay nói cách khác, người bị tạm giữ là người bị nghi đã thực hiện tội phạm và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền Để trở thành người bị tạm giữ cần có đủ hai điều kiện:

+ Điều kiện về nội dung: khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn

bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy

và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người

tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm

+ Điều kiện về hình thức: đối với người đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS Theo quy định của Điều

117 và Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp, người chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển là những người có thẩm quyền ra quyết định tạm

giữ [34]

Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái

niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt

trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định

Trang 19

14

truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật

Thứ nhất, là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:

Là khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi người đó thực hiện tội phạm rồi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Người bị tạm giữ trong trường hợp này là người chưa bị khởi tố về hình sự Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của người thực hiện tội phạm và được áp dụng trong những trường hợp cấp bách Từ đó, tạo điều kiện cho CQĐT có thẩm quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người bị tạm giữ Đồng thời để đảm bảo các quyền tự do cá nhân của con người, Điều 110 BLTTHS năm 2015 đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể các trường hợp giữ khẩn cấp như sau:

+ Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm

được thực hiện Việc bắt người này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là,

có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện

tội phạm Hai là, tội phạm đang chuẩn bị được thực hiện là tội phạm rất

nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chuẩn bị thực hiện tội phạm, còn một khoảng thời gian nhất định với việc thực hiện tội phạm, nên không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần phải truy cứu

Trang 20

15

TNHS Người bị giữ trong trường hợp này, thường phải bị tạm giữ vì khi quyết định giữ khẩn cấp CQĐT đã có căn cứ để xác định rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng

+ Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Nếu CQĐT xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai điều

kiện: Một là, phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông

thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định, chứ không thể “hình như”, hoặc “nhìn giống

như” người đã thực hiện tội phạm Hai là, xét thấy cần ngăn chặn ngay việc

người đó trốn

+ Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thực hiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì người đó bị bắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau: Một là, khi thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm chỉ được coi là một điều kiện để

bắt khẩn cấp Hai là, cần ngăn chặn ngay việc người bị nghi thực hiện tội

phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Khi có căn cứ cho rằng người bị nghi thực

Trang 21

16

hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp

Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:

Khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải điều tra, xác minh Điều 111 BLTTHS năm 2015 quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:

+ Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện Đây là trường hợp tội phạm đã bắt đầu được thực hiện, đang diễn ra và chưa kết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ Việc người đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùy thuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khả năng, kiến thức, vị trí công tác của người phát giác sự kiện phạm tội

+ Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì

bị phát hiện Đây là trường hợp người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu tang vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị người khác phát hiện Vì vậy, khi bắt người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra không gián đoạn về mặt thời gian

+ Trường hợp thứ ba: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và

bị đuổi bắt Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm người không thực hiện tội phạm Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thời gian so với hành

vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp

Trang 22

17

Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã:

Trước đây, Sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957 quy định, người đang

bị truy nã là một trường hợp phạm pháp quả tang mà người công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất vì có quan niệm không chính xác khi cho rằng: người đang bị truy nã là người phạm tội quả tang Trong BLTTHS năm 2015, người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã được phân biệt rõ ràng Bởi vì, người đang bị truy nã là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đã bị cơ quan Công an ra quyết định (hoặc lệnh) truy

nã Theo quy định tại quy chế về công tác truy nã của Bộ Công an thì những người thuộc diện cơ quan Công an phải ra lệnh truy nã gồm: Bị can bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Phạm nhân trốn trại

Thứ tư, là người phạm tội tự thú, đầu thú:

Tự thú là việc một người sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện, hoặc người thực hiện hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện Nhưng sau một thời gian, có thể do bị lương tâm cắn rứt, do hối hận

về hành vi của mình người đó đã tự ra trước cơ quan chức năng trình diện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình hoặc hành vi phạm tội của mình và đồng bọn

Thứ năm, là đối với họ phải có quyết định tạm giữ:

Bên cạnh điều kiện cần là một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,

bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ Nếu một người bị bắt trong các trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyết định tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ Do đó điều kiện đủ này điều kiện quan trọng và quyết định một người có phải là người bị tạm giữ hay không trong quá trình tham gia TTHS Khi họ đã có quyết định tạm giữ và

Trang 23

cứ, làm giả chứng cứ, thông cung giữa những người phạm tội hoặc với người làm chứng, bảo đảm sự có mặt của bị can, bị án khi có yêu cầu của cơ quan THTT Đối tượng bị áp dụng các BPNC là bị can, người phạm tội quả tang hoặc người mà cơ quan THTT có tài liệu, chứng cứ nghi là họ phạm tội Khi

áp dụng BPNC các cơ quan có thẩm quyền chỉ được tiến hành trong phạm vi, giới hạn cũng như thủ tục mà Luật TTHS qui định Ngoài các đối tượng kể trên không ai có thể bị áp dụng các BPNC, mọi hành vi áp dụng BPNC không đúng đối tượng, thẩm quyền, căn cứ cũng như thủ tục đều bị coi là vi phạm pháp luật, người có hành vi vi phạm tuỳ theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý

kỷ luật hoặc truy cứu TNHS Thẩm quyền áp dụng BPNC là những người THTT có thẩm quyền của các CQĐT, VKS hoặc những người có chức vụ trong các cơ quan khác được giao thực hiện một số hoạt động tố tụng, công dân tham gia vào việc bắt người phạm tội quả tang, bắt người theo lệnh truy

nã Tuỳ theo tính chất, đặc điểm của từng giai đoạn tố tụng, chức năng nhiệm

vụ của các cơ quan, Luật TTHS qui định cho cơ quan đó được áp dụng tất cả hay một số các BPNC và trong phạm vi, giới hạn cũng như theo thủ tục của Luật TTHS

Trang 24

19

1.2 Nội dung bảo đảm quyền của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự

Nội dung đầu tiên là bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS

trước hết thể hiện trong việc phải bảo đảm các quyền công dân chung của họ:

Các quyền cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác như Luật bầu cử, Bộ luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ… Là công dân, người bị bắt có quyền được tôn trọng và bảo đảm các quyền được pháp luật quy định, trừ các trường hợp BLTTHS quy định khác nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ TTHS Phải nói rằng, trong khoa học luật TTHS nói chung

và trong giai đoạn điều tra nói riêng, vấn đề bảo đảm quyền công dân của người tham gia tố tụng chưa được chú ý nhiều Trong nghiên cứu về “Bị can

và bảo đảm quyền của bị can trong BLTTHS 2003, thực trạng và định hướng

hoàn thiện”, vấn đề này đã được TS Nguyễn Duy Hưng phát hiện: “Những

quy định của pháp luật TTHS hiện hành chưa đề cập nhiều đến khía cạnh các quyền công dân của một người đang bị truy cứu TNHS với tư cách bị can”

[21, tr.201] Các quyền của bị can được quy định trong pháp luật TTHS phần lớn được đề cập trên phương diện quyền tố tụng và ít được đề cập trên phương diện quyền công dân Tuy nhiên, với tư cách là đối tượng của khoa học luật TTHS, việc nghiên cứu bảo đảm quyền công dân của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can cần được đặt trong bối cảnh các hoạt động TTHS được thực hiện để giải quyết vụ án

Tố tụng hình sự là cách thức, trình tự tiến hành các hoạt động của cơ quan THTT, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của các cơ quan Nhà nước khác và các tổ chức xã hội để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật TTHS Hay nói cách khác, TTHS là hoạt động khởi tố, điều tra VAHS của CQĐT, hoạt động truy tố người phạm tội ra trước tòa án của VKS, hoạt động xét xử VAHS của Tòa án và hoạt động thi hành bản án, quyết định bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án [53, tr.786] Trong giai

Trang 25

20

đoạn điều tra, việc áp dụng các BPNC trong đó có biện pháp tạm giữ là rất cần thiết để phục vụ cho việc chứng minh VAHS Vì vậy, để đạt được mục đích của tố TTHS, pháp luật TTHS của bất kỳ một quốc gia nào cũng có quy định về những biện pháp cưỡng chế tố tụng, các hành vi, quyết định tố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân Hay nói cách khác, cưỡng chế TTHS, khả năng ảnh hưởng của hoạt động TTHS tới các QCN của công dân

là tất yếu

Để bảo đảm QCN trong TTHS nói chung, QCN của người bị tạm giữ trong TTHS nói riêng dưới góc độ quyền công dân, thể hiện chủ yếu thông qua các nguyên tắc TTHS trong đó có các nguyên tắc ảnh hưởng trực tiếp tới BPNC bắt người trong giai đoạn điều tra Trong khoa học luật TTHS, các nguyên tắc TTHS được phân chia thành các nhóm khác nhau để nghiên cứu, bao gồm: 1/ Các nguyên tắc bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng; 2/ Các nguyên tắc liên quan đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án; 3/ Các nguyên tắc thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tố tụng và 4/ Các nguyên tắc bảo đảm QCN của người tham gia tố tụng

Trong số các nguyên tắc TTHS cơ bản được quy định trong BLTTHS, các nguyên tắc thuộc nhóm thứ tư thể hiện rõ nhất quan điểm của người làm luật liên quan đến bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị bắt trong TTHS nói chung và đặc biệt là trong giai đoạn điều tra Mặc dù họ là những đối tượng hoặc có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất

là TNHS nhưng những quyền cơ bản, thân thiết nhất như: quyền được tôn trọng về nhân phẩm, quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị chấp hành án phạt tù và những quyền tư pháp để được xét xử công bằng, để được điều tra khách quan trong quá trình tố tụng vẫn phải được tôn trọng và bảo đảm [8, tr.25] Cụ thể đó là: nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (điều 5), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm

Trang 26

21

phạm về thân thể của công dân (điều 6), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (điều 7), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (điều 8), nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản

án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (điều 9), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điều 11, nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (điều 29) và nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành TTHS gây

ra (điều 30) ,

Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác, góc độ này hay góc độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc bảo đảm QCN của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ nói riêng trong giai đoạn điều tra

Thứ hai, bảo đảm QCN trong TTHS đối với người bị tạm giữ là bảo

đảm cho những người đó có địa vị pháp lý phù hợp để bảo vệ mình trước việc

bị nghi thực hiện tội phạm và những điều kiện pháp lý cũng như thực tế để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định [41, tr44] Là người bị nghi thực hiện tội phạm (người bị tạm giữ), bị truy cứu TNHS (trong trường hợp đã bị khởi tố về hình sự), người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm, quyết định trong toàn bộ quá trình TTHS Mọi hoạt động TTHS đều tập trung vào việc xác định tội phạm và người thực hiện tội phạm để trên

cơ sở đó có quyết định xử lý phù hợp với quy định pháp luật Vì vậy, có thể nói, các quy định của BLTTHS, các hoạt động TTHS của cơ quan, người THTT, người tham gia tố tụng đều trực tiếp hay gián tiếp, ít hay nhiều liên quan đến người bị tạm giữ hoặc các chủ thể tham gia tố tụng khác

Bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS từ góc độ này là xây dựng cơ sở pháp lý và tạo điều kiện trên thực tế để: 1/ Những người bị tạm

Trang 27

22

giữ có khả năng chứng minh bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội từ phía CQĐT, bác

bỏ sự buộc tội của CQĐT và làm giảm nhẹ TNHS đối với tội phạm mà người

đó thực hiện; 2/ CQĐT xác định chính xác, khách quan tội phạm, người phạm tội và áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án Và như vậy, theo chúng tôi, bảo đảm quyền tố tụng của người bị tạm giữ trong TTHS tập trung vào những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện các nguyên

tắc TTHS đặc biệt là các nguyên tắc có liên quan một cách mật thiết đến quyền của người bị tạm giữ trong VAHS;

Hai là, quy định hợp lý địa vị tố tụng của người bị bắt; quy định cụ thể,

rõ ràng quyền hạn, trách nhiệm của CQĐT trong trường hợp áp dụng BPNC tạm giữ trong TTHS;

Ba là, quy định đúng đắn chứng cứ và quá trình chứng minh trong

TTHS đặc biệt là chứng minh được các căn cứ áp dụng BPNC tạm giữ của các cơ quan có thẩm quyền trong giai đoạn điều tra Điều này nhằm tránh tình trạng tác động tới quyền cá nhân của người bị tạm giữ;

Bốn là, quy định cụ thể, hợp lý điều kiện và thủ tục áp dụng các biện

pháp cưỡng chế tố tụng nói chung, các BPNC nói riêng Đây là điều kiện tiên quyết và vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo QCN của người bị tạm giữ trong TTHS Bởi lẽ nếu các điều kiện và thủ tục tạm giữ người không được quy định chính xác và chặt chẽ rất khó có thể đảm bảo được QCN của chủ thể

bị áp dụng BPNC tạm giữ

Năm là, quy định các thủ tục tạm giữ người trong TTHS nói chung và

trong giai đoạn điều tra nói riêng cụ thể, dân chủ, công khai;

Sáu là, quy định đầy đủ và chặt chẽ hậu quả tố tụng, chế độ trách nhiệm đối

với các quyết định oan, sai đối với người bị tạm giữ trong TTHS v.v…

* Như vậy, việc phân biệt bảo đảm quyền công dân và bảo đảm quyền

tố tụng của người bị tạm giữ trong TTHS chỉ là tương đối để phân tích về mặt

Trang 28

23

lý luận Thực ra, hai vấn đề này liên quan rất mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau và có tác động qua lại rất lớn với nhau Quyền công dân, quyền tố tụng đều là các nội dung của QCN của người bị tạm giữ trong TTHS Người bị tạm giữ chỉ có thể thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình nếu quyền công dân của họ được tôn trọng và bảo đảm; và ngược lại, không thể nói đến quyền công dân nếu các quyền tố tụng quan trọng của người bị tạm giữ không được bảo đảm thực hiện Vì vậy, việc nghiên cứu cũng như thực hiện việc bảo đảm quyền công dân chung, quyền tố tụng của người bị tạm giữ cần đồng thời được tiến hành Có như vậy, QCN của người bị tạm giữ trong TTHS mới được bảo đảm một cách hiệu quả, góp phần không chỉ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, mà còn lợi ích Nhà nước, cộng đồng và nhiệm vụ tố tụng đặt ra Vì vậy, theo chúng tôi, khi nghiên cứu vấn đề bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS

là cần tập trung phân tích các quy định của BLTTHS và thực hiện các quy định đó trên thực tế các nội dung cơ bản sau đây

- Nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản TTHS liên quan đến bảo đảm QCN trong TTHS nhất là trong giai đoạn điều tra như tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (điều 4), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (điều 6), nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (điều 7), nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (điều 8), nguyên tắc suy đoán không có tội (điều 9), nguyên tắc xác định sự thật của vụ án (điều 10), nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điều 11), nguyên tắc trách nhiệm của cơ quan THTT, người tiến hành tố tụng (điều 12), nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (điều 29), nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại

do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành TTHS gây ra (điều 30) và

Trang 29

24

nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (điều 31)… Nguyên tắc TTHS là tư tưởng chỉ đạo được quy định trong BLTTHS cần được tuân thủ trong quá trình tố tụng trong đó có giai đoạn điều tra Tuân thủ các tư tưởng chỉ đạo liên quan đến việc bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân, đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ

- Nghiên cứu địa vị tố tụng của người tiến hành tố tụng và người bị tạm giữ trong TTHS Đặc biệt, cần tập trung vào việc nghiên cứu trách nhiệm của CQĐT trong mối quan hệ với người bị tạm giữ và quyền tố tụng của người bị tạm giữ trong trong TTHS Bởi vì tôn trọng quyền công dân, nâng cao trách nhiệm của Nhà nước, của cơ quan Nhà nước đối với công dân là một trong những đặc điểm của Nhà nước pháp quyền Quan hệ giữa Nhà nước với công dân, mà cụ thể hơn là quan hệ giữa cơ quan, người tiến THTT với người tham gia tố tụng nói chung, người bị tạm giữ nói riêng là thể hiện rõ nhất tính chất dân chủ trong xã hội, trong quá trình TTHS Tăng cường trách nhiệm của cơ quan, người THTT trong đó có CQĐT, quyền của người tham gia tố tụng là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo QCN của người bị tạm giữ trong trong TTHS;

- Nghiên cứu về chứng cứ và quá trình chứng minh trong điều tra VAHS

để đảm bảo tính chính xác, khách quan của quá trình tố tụng Quy định một cách chặt chẽ về chứng cứ, các đặc điểm của chứng cứ và thủ tục chứng minh (thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ) có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc đảm bảo cho việc xử lý chính xác, khách quan vụ án; từ đó là việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS

- Nghiên cứu các BPNC đặc biệt là trong giai đoạn điều tra Trong đó, chú trọng đến thẩm quyền (áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp), căn cứ áp dụng, thời hạn áp dụng các BPNC BPNC là biện pháp cưỡng chế tố tụng được người

có thẩm quyền áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can khi có

đủ căn cứ luật định nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa

Trang 30

25

họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Là những biện pháp cưỡng chế, việc áp dụng các BPNC có liên quan rất lớn đến QCN của người bị tạm giữ; đặc biệt là các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, các quyền tự do dân chủ khác Bởi vì, trong TTHS, chỉ có người bị tạm giữ là những đối tượng duy nhất bị áp dụng BPNC Quy định và áp dụng BPNC đúng thẩm quyền, đúng căn cứ, đúng thủ tục và đúng thời hạn…là những đảm bảo quan trọng cho việc bảo đảm QCN của người bị tạm giữ trong TTHS

- Nghiên cứu các thủ tục trong giai đoạn điều tra từ góc độ để các thủ tục đó không xâm phạm quyền công dân cũng như bảo đảm cho người bị tạm giữ thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án dân chủ, công khai, khách quan Là cách thức, trình tự thực hiện hoạt động điều tra một mặt bảo đảm cho hoạt động điều tra tiến hành được chính xác, khách quan; mặt khác để các hoạt động điều tra đó không hạn chế quyền tố tụng của người tham gia tố tụng nói chung, của người bị tạm giữ nói riêng Bởi vì, ngay trong các hoạt động tố tụng (như lấy lời khai, khám xét, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật…) đã chứa đựng yếu tố cưỡng chế Quy định thủ tục tố tụng đặc biệt trong giai đoạn điều tra chặt chẽ tức là đã hạn chế để CQĐT thực hiện những hành vi tố tụng được BLTTHS quy định vi phạm các quyền của người bị tạm giữ

- Nghiên cứu các quy định về khiếu nại, tố cáo trong điều tra VAHS Bảo đảm cho người bị tạm giữ quyền khiếu nại, tố cáo đối với hành vi của CQĐT vi phạm pháp luật nói chung, xâm phạm QCN nói riêng và trình tự, thủ tục giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo đó là một trong những biện pháp quan trọng để bảo vệ QCN của họ trong điều tra hình sự Trong giai đoạn điều tra, các vi phạm QCN thường bị khiếu nại như lạm dụng áp dụng BPNC, vi phạm thủ tục tố tụng trong khám xét, kê biên, hỏi cung, lấy lời khai v.v… Khiếu nại, tố cáo là một trong những nguồn thông tin báo về việc xâm

Trang 31

1.3 Các yếu tố đặc trưng và các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ

- Các yếu tố đặc trưng của bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ

Yếu tố hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người trong TTHS

Theo nghĩa chung nhất, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức, thực hiện QCN trong quá trình giải quyết VAHS Như vậy,

về mặt hình thức, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS có thể được giới hạn theo phạm vi nghiên cứu rộng và hẹp Theo phạm vi rộng, pháp luật bảo đảm quyền con người trong TTHS liên quan đến quy định của toàn bộ hệ thống pháp luật Có thể hiểu như trên vì bảo đảm QCN trong TTHS phụ thuộc vào chất lượng của toàn bộ hệ thống pháp luật Theo phạm vi hẹp, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS bao gồm những quy định của luật hình sự, luật TTHS nhằm bảo đảm QCN, bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

+ Quy định về tội phạm và hình phạt với việc bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ

+ Các nguyên tắc cơ bản của TTHS nhằm bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ

+ Trình tự giải quyết vụ án hình sự nhằm bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ

+ Quyền của người bị tạm giữ

+ Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của người có thẩm quyền tạm giữ

Trang 32

27

Có thể hiểu theo phạm vi này, bởi vì luật hình sự, luật TTHS có mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Luật hình sự quy định về tội phạm, hình phạt, Luật TTHS quy định về trình tự xác định tội phạm, trình tự áp dụng hình phạt, mức hình phạt, thi hành hình phạt Quy định của luật hình sự sẽ không thể áp dụng được nếu không có quy định của luật TTHS và ngược lại Nghiên cứu những nội dung cơ bản thể hiện rõ nét nhất việc bảo đảm QCN trong TTHS theo phạm vi hẹp đòi hỏi phải tìm hiểu luật hình sự, luật TTHS Theo quy định tại điều 1 BLHS năm 2015, luật hình sự có hai nhiệm vụ chính là bảo vệ và giáo dục Nhằm thực hiện các nhiệm vụ này, quy định của luật hình

sự về tội phạm phải chính xác cụ thể, hệ thống hình phạt phải đa dạng, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Mục đích của luật TTHS về bản chất nhằm xác định sự thật khách quan của VAHS, phòng ngừa ngăn chặn tội phạm và giáo dục ý thức pháp luật Để thực hiện được mục đích đó, nội dung các văn bản quy phạm pháp luật với tính chất là nguồn của luật TTHS phải không được trái với các nguyên tắc cơ bản của luật TTHS nhằm bảo đảm quyền con người Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật này quy định cụ thể rõ ràng về trình tự, thủ tục giải quyết VAHS, xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể TTHS Các quy định của luật TTHS cũng không được mâu thuẫn với nhau, dễ thực hiện để thông qua đó mọi cá nhân đều có thể sử dụng pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tóm lại, hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm QCN trong TTHS phải

có các thuộc tính là toàn diện, đồng bộ, khả thi và minh bạch

Pháp luật bảo đảm QCN trong hoạt động áp dụng BPNC nói chung và BPNC tạm giam nói riêng cũng phải thường xuyên hệ thống hoá, pháp điển hoá nhằm sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn, loại bỏ những văn bản pháp luật đã lạc hậu Từ đó, kịp thời ban hành các văn bản pháp luật mới điều chỉnh những vấn đề bức xúc liên quan tới QCN trong hoạt động tạm giữ trong TTHS

Trang 33

28

Có thể nói, pháp luật bảo đảm QCN trong TTHS là yếu tố đầu tiên rất quan trọng để các bảo đảm QCN khác được thực hiện bởi vì không có pháp luật thì không có quyền

Yếu tố tổ chức hoạt động của các cơ quan, tổ chức liên quan tới hoạt động tạm giữ

Hoạt động của bộ máy Nhà nước có liên quan trực tiếp tới các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thực chất đây là hoạt động bảo vệ QCN Chính

vì vậy, để QCN trong hoạt động tạm giữ trong TTHS được thực hiện thì cần phải đổi mới bộ tạm giữ

Xét về mặt lý luận, mọi cơ quan tổ chức có liên quan tới VAHS đều có trách nhiệm giải quyết VAHS Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động TTHS, trách nhiệm giải quyết VAHS chủ yếu thuộc về các cơ quan THTT hình sự gồm CQĐT, VKS, Tòa án và các cơ quan tổ chức khác như tổ chức luật sư, tổ chức giám định

Thứ nhất, đối với các cơ quan tiến hành TTHS:

Cơ quan điều tra: Điều tra là khâu đột phá, quyết định sự thành bại của toàn bộ tiến trình TTHS, CQĐT có nhiệm vụ áp dụng mọi quy định biện pháp

do luật TTHS quy định nhằm xác định sự thật khách quan của VAHS, bảo vệ QCN Các biện pháp do CQĐT thực hiện theo quy định pháp luật rất đa dạng nhưng có điểm chung là đều ảnh hưởng trực tiếp tới các QCN Trên thực tế, CQĐT còn được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ của riêng ngành mình nhằm giải quyết VAHS nên khả năng vi phạm QCN dễ xảy ra Vì vậy, tổ chức hoạt động của CQĐT phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ được quy định, bảo đảm tính cơ động linh hoạt, đội ngũ ĐTV phải có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu được giao

Viện kiểm sát: VKS có chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố trong TTHS Trong TTHS, VKS có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp do luật định để loại trừ sự vi phạm pháp luật của bất cứ cá

Trang 34

29

nhân, tổ chức nào VKS cũng đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền buộc tội người bị tình nghi theo quy định của luật TTHS Hoạt động của VKS chính là việc thực hiện QCN

Đổi mới tổ chức, hoạt động của VKS được thực hiện theo nguyên tắc tập trung thống nhất trong ngành, thực hiện tốt chế độ giám sát, báo cáo giữa VKS cấp dưới với VKS cấp trên Yêu cầu cụ thể là tổ chức, hoạt động của VKS phải sát hợp với nhiệm vụ, chức năng của cơ quan này, các KSV cũng phải đạt những tiêu chuẩn về chính trị, chuyên môn Ở Việt Nam hiện nay, đổi mới tổ chức, hoạt động của VKS được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho VKS thực hiện tốt việc kiểm sát hoạt động tư pháp, tập trung vào chức năng thực hành quyền công tố

Thứ hai, đối với các cơ quan, tổ chức khác tham gia vào TTHS:

Tổ chức luật sư, tổ chức giám định trong TTHS: TTHS mang tính chất

xã hội sâu sắc, nó không chỉ thể hiện chức năng bảo vệ mà còn bộc lộ chức năng xã hội của Nhà nước Chính vì vậy, đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ QCN là trách nhiệm chung của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức, công dân, trong đó có tổ chức luật sư, tổ chức giám định Điều này đặc biệt nổi bật

rõ ở các Nhà nước xác định con người là động lực, mục tiêu cho hoạt động của mình

Trong TTHS, hoạt động của các tổ chức này có vai trò quan trọng TTHS là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp gắn liền với đời sống vật chất, tinh thần của con người Để xác định đúng quyền, nghĩa vụ của các chủ thể TTHS thì phải có sự phối hợp của các tổ chức này Mặt khác, tổ chức luật sư, tổ chức giám định bao gồm các cá nhân cụ thể nên hoạt động của loại tổ chức này cũng tác động tới nhận thức về quyền con người của họ, thông qua đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về QCN Từ những lý do trên, đổi mới

tổ chức, hoạt động của các tổ chức trên là một yếu tố quan trọng của bảo đảm QCN trong TTHS Nội dung đổi mới phải gắn với việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ thẩm quyền của các tổ chức này, xác định cụ thể tiêu chuẩn chức

Trang 35

Đặc trưng nổi bật của cơ chế phối hợp này là sự phối hợp, chế ước lẫn nhau Trong đó, sự phối hợp là cơ sở để giải quyết các sự việc thuận lợi, đúng pháp luật Sự chế ước được đặt ra nhằm giúp các chủ thể này phát hiện ra những thiếu sót, vi phạm pháp luật của nhau, yêu cầu chủ thể vi phạm tự khắc phục hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết Thông qua

đó, hạn chế được sự lạm quyền, lộng quyền trong quá trình giải quyết VAHS

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức tham gia TTHS được thể hiện thông qua các mối quan hệ đa dạng nhiều chiều giữa các chủ thể này dựa trên

cơ sở quy định của luật TTHS, thực tế hoạt động giải quyết VAHS Các mối quan hệ đó bao gồm:

+ Mối quan hệ nội tại giữa các cơ quan tổ chức tham gia TTHS, chẳng hạn như mối quan hệ giữa CQĐT cùng ngạch, khác ngạch với nhau, quan hệ giữa đoàn luật sư với văn phòng luật sư, mối quan hệ giữa các tổ chức giám định, mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS

+ Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS với tổ chức luật sư, tổ chức giám định

Trang 36

31

+ Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành TTHS, tổ chức luật sư, tổ chức giám định với các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội tham gia vào quá trình giải quyết VAHS

Hoàn thiện cơ chế phối hợp các chủ thể này được tiến hành thông qua việc xác định về mặt pháp lý các mối quan hệ Trong đó, xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể Đây chính là cơ sở để xác định trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động tạm giữ, hạn chế sự xâm hại tới QCN trong hoạt động tạm giữ

Yếu tố giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tạm giữ

Bảo đảm QCN nói chung, QCN trong hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam nói riêng là trách nhiệm của mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân Trong hoạt động tạm giữ, QCN luôn có nguy cơ bị xâm hại rất cao vì các cơ quan Nhà nước tham gia vào hoạt động này trực tiếp ảnh hưởng tới các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân được pháp luật quy định Có thể nói, bảo đảm QCN trong lĩnh vực này là hoạt động rất phức tạp nhạy cảm Chính

vì vậy, bảo đảm cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo trong TTHS, là một yêu cầu thường xuyên, cấp bách nhằm hiện thực hoá QCN Suy cho cùng, sự vận hành của cơ chế này nhằm hạn chế sự lạm dụng quyền lực của các cơ quan tư pháp trong thực thi quyền lực

Để thực hiện tốt bảo đảm này, cần xác định rõ các vấn đề cơ bản như

cơ chế về chủ thể, phương thức thực hiện, các biện pháp bảo đảm cho hoạt động này có hiệu lực trong thực tiễn cuộc sống

Yếu tố xử lý vi phạm quyền con người trong hoạt động bắt, tạm giữ, tạm giam

Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong hoạt động tạm giữ

là bảo đảm QCN Để bảo đảm QCN trong TTHS Nhà nước phải ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Chính vì vậy, sự vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm QCN trong hoạt động tạm giữ chính là sự vi phạm QCN

Trang 37

32

Vi phạm QCN trong hoạt động áp dụng BPNC nói chung và BPNC tạm giữ nói riêng bao gồm nhiều loại khác nhau Có loại từ phía các cơ quan tổ chức tiến hành TTHS, do nhân viên ở các cơ quan tổ chức đó thực hiện Những vi phạm loại này nảy sinh do những khuyết tật của các cơ quan tổ chức đó, nó đặc biệt phát triển khi cơ chế tổ chức, trách nhiệm pháp lý của các cơ quan tổ chức cũng như của nhân viên không được quy định rõ ràng Điều đó dẫn tới sự vi phạm cố ý hoặc vô ý tới QCN

Vi phạm QCN trong hoạt động tạm giữ cũng có thể nảy sinh trong nội

bộ dân cư, có cơ sở khách quan từ những mâu thuẫn lợi ích Loại vi phạm này cũng rất dễ xảy ra khi các bảo đảm QCN khác không có hiệu quả như: Hệ thống pháp luật yếu kém, tổ chức hoạt động của các cơ quan tổ chức tham gia TTHS còn chồng chéo…

Vi phạm QCN trong hoạt động tạm giữ có thể do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau Thế nhưng, đã có vi phạm QCN thì phải xử

lý nghiêm minh theo nguyên tắc công bằng, đúng pháp luật Ý nghĩa của việc

xử lý vi phạm QCN thể hiện ở chỗ: Nó bảo vệ được QCN của người bị vi phạm, giáo dục người vi phạm và những người khác biết tôn trọng QCN Nói cách khác, đây chính là một cơ chế bảo đảm QCN

Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật trong TTHS

Tố tụng hình sự là quá trình giải quyết vụ VAHS phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đến mức phải bị truy cứu TNHS Hoạt động này chỉ được vận hành hiệu quả trên một nền cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đặt ra

Những người có thẩm quyền trong khi giải quyết VAHS lại thường phải tiếp xúc với những cám dỗ vật chất bên ngoài Do vậy, bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật trong TTHS là một yêu cầu khách quan Thực hiện tốt điều này không chỉ có ý nghĩa làm cho cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền giải quyết VAHS thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ được giao, giải

Trang 38

- Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ

Việc QCN, quyền công dân nói chung được ghi nhận và thực hiện phụ thuộc nhiều vào bản chất nhà nước, chế độ chính trị, trình độ dân chủ, cũng như phụ thuộc vào các vấn đề khác của cả hạ tầng cơ sở và thượng tầng xã hội trong từng xã hội cụ thể, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Như trên đã đề cập, QCN trong TTHS nói chung và quyền của người bị tạm giữ nói riêng thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân trong việc giải quyết VAHS Việc quy định và bảo đảm thực hiện QCN của người bị tạm giữ trong TTHS cũng bị tác động bởi rất nhiều nhân tố, trong đó, yếu tố chính trị, tư tưởng, trình độ dân chủ đóng vai trò quyết định, tiếp đó là các vấn đề pháp lý với hình thức, mô hình TTHS và các quy định của cụ thể của pháp luật TTHS

Trang 39

34

thực sự vận động của xã hội, mối quan hệ giữa nhà nước và công dân cũng như phản ánh những giá trị nhân văn và tự do của một xã hội cụ thể, một nhà nước cụ thể

Tố tụng tố cáo là hình thức tố tụng sơ khai mà đặc trưng điển hình của hình thức tố tụng này là vụ án do người bị hại khởi tố Tính chất dân chủ rơi rớt lại từ thời kỳ thị tộc tan rã đã tạo ra một cơ chế mà về hình thức, là đặc biệt dân chủ: người nào bị tội phạm xâm hại thì người đó có quyền khởi tố, buộc tội để người bị buộc tội bị đưa ra xét xử, để công lý được thực thi theo

công thức: Memo judex sine action - không có người tố cáo thì không có quan

tòa Theo nguyên tắc này, việc khởi tố là quyền của người bị hại, không khởi

tố cũng là quyền của người bị hại, quyết định xử lý hay không tiếp tục tố tụng thuộc quyền của người bị hại Nhà nước coi đây là vấn đề giữa hai bên và nhà nước sẽ chỉ thực hiện chức năng xét xử Tuy nhiên, trải qua thời gian, tố tụng

tố cáo với việc buông xuôi trách nhiệm khởi tố hay dành quyền khởi tố cho người bị hại đã lộ ra những điểm hạn chế nghiêm trọng đối với việc đảm bảo công lý cho cả bên tố cáo và bên bị tố cáo, đối với việc thiết lập một trật tự xã hội ổn định, đối với việc duy trì quyền lực của nhà nước Tố tụng tố cáo tưởng như dân chủ khi người bị hại được quyền khởi tố vụ án để nhà nước trừng phạt người có tội nhưng thực chất, lại là phản dân chủ khi đặt trong bối cảnh một xã hội, nhà nước và pháp luật có sự phân định đẳng cấp quá rõ nét Người bị hại nếu thuộc tầng lớp nô lệ, nông nô chiếm đa số trong xã hội, sẽ không dám thực hiện quyền khởi tố một khi họ ở vị thế bất bình đẳng với người phạm tội ở giai tầng trên Việc tìm kiếm những hình thức tố tụng khác

là điều tất yếu xảy ra, nhưng những lý do nêu trên chưa phải là nguyên nhân chính thúc đẩy sự hạn chế phạm vi quyền khởi tố của người bị hại Khác với dân luật, hình luật là lĩnh vực mà nhà nước thể hiện rõ nét nhất ý chí, quyền lực và lợi ích của mình Do đó, nếu nhà nước chỉ can thiệp vào quá trình xét

xử - nghĩa là tự tước bỏ một nửa quyền lực khi dành quyền khởi tố cho người

Trang 40

35

bị hại (mất đi quyền kiểm soát nguồn đầu vào của TTHS về tay người dân, về

lý thuyết, nếu người bị hại không khởi tố thì nhà nước không có án để xét xử,

để thể hiện ý chí của mình) Do đó, xuất phát từ lợi ích của nhà nước, từ tính giai cấp của nhà nước, pháp luật tố tụng phải dần chuyển quyền khởi tố từ người bị hại sang nhà nước, từ tư tố sang công tố

Như vậy, vấn đề QCN được TTHS bảo vệ như thế nào cũng phản ánh trình độ dân chủ của Nhà nước và pháp luật, nó xuất phát từ các cơ sở: cơ sở chính trị - và cơ sở xã hội Cơ sở chính trị là vấn đề lợi ích nhà nước, lợi ích giai cấp, cơ sở xã hội của trách nhiệm này là vai trò của nhà nước đối với sự

ổn định xã hội và trách nhiệm với dân tộc, với công dân Tuy nhiên, dù xuất phát từ lợi ích chính trị hay lợi ích cộng đồng, việc ghi nhận và thực thi trách nhiệm của nhà nước đối với các bên liên quan đến tội phạm cũng cho thấy một bước tiến của xã hội và nhà nước đã đạt tới một trình độ văn minh hơn, trong đó người bị tội phạm xâm hại và người thực hiện hành vi phạm tội đều được Nhà nước thụ lý giải quyết, không còn là cuộc chiến giữa hai bên mà Nhà nước đứng ngoài không can thiệp

1.3.2 Bảo đảm về pháp lí

Quyền con người trong TTHS hiện đại có thể được ghi nhận và thực hiện theo những phương cách khác nhau phụ thuộc vào các hình thức và mô hình TTHS Lịch sử pháp luật TTHS trên thế giới đều thừa nhận các quốc gia

dù với những quy định khác nhau về trình tự tố tụng nhưng về bản chất, các trình tự tố tụng đó đều thuộc về một trong hai mô hình TTHS, đó là mô hình TTHS công bằng và mô hình TTHS kiểm soát tội phạm Mô hình TTHS kiểm soát tội phạm nhấn mạnh đến yêu cầu kiểm soát tội phạm so với mô hình TTHS công bằng nhấn mạnh đến yêu cầu điều chỉnh hành vi của những người

có thẩm quyền khi THTT Theo một cách diễn đạt khác, mô hình TTHS kiểm

soát tội phạm nhấn mạnh đến tính hiệu quả, đến mục đích của hoạt động tố

Ngày đăng: 14/11/2017, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Hòa Bình (2016), Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2016
4. C.Mác – Ph.Ăng ghen (1998), Về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quyền con người
Tác giả: C.Mác – Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Đặng Công Cường (2013), Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Công Cường
Năm: 2013
8. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
10. Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1985), "Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh)", Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về hoạt động tư pháp đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh)
Tác giả: Đại hội đồng Liên Hợp Quốc
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 1985
11. Nguyễn Đăng Dung- Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2011), Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung- Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
12. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
13. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam, Tạp chí khoa học pháp lý số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Năm: 2006
14. Trần Văn Độ “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, bài báo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”
16. Trần Ngọc Đường (2004), Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. Đoàn Thị Ngọc Hải (2015) Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần trao đổi, Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề cần trao đổi
18. Phạm Hồng Hải (2012), “Bàn về sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra”, Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bàn về sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra”
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2012
19. Phan Trung Hoài (2016), Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia – Sự thật
Năm: 2016
20. Nguyễn Như Hiển (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ, trường đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Hiển
Năm: 2014
21. Nguyễn Duy Hưng (2006), “Bị can và bảo đảm quyền của bị can trong BLTTHS 2003, thực trạng và định hướng hoàn thiện”, Tài liệu hội thảo đề tài khoa học cấp bộ Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bị can và bảo đảm quyền của bị can trong BLTTHS 2003, thực trạng và định hướng hoàn thiện
Tác giả: Nguyễn Duy Hưng
Năm: 2006
22. Nguyễn Huy Hoàng, Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay
24. Đinh Văn Mậu, “Quyền lực Nhà nước và quyền con người”, sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quyền lực Nhà nước và quyền con người”
25. Đắc Minh (2014), Công dân có quyền im lặng khi bị bắt, TANDTC- Công lý số 86, thứ 6 ngày 24/10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công dân có quyền im lặng khi bị bắt
Tác giả: Đắc Minh
Năm: 2014
27. OHCHR (2006), Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva
Tác giả: OHCHR
Năm: 2006
28. Phạm Hồng Phong (2014), Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự, Tạp chí Lý luận chính trị số 10- 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình s
Tác giả: Phạm Hồng Phong
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w