Tuy nhiên, việc xác định MĐKT sẽ do Hội đồng giám định y khoa thực hiện trong các trường hợp sau: - Hội đồng xác định MĐKT không đưa ra được kết luận về MĐKT.. Cũng trong thời hạn 30 ngà
Trang 1MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 1
NỘI DUNG 3
I/ Khái quát một số vấn đề về việc xác định đối tượng và mức độ khuyết tật. 3
1 Các mức độ khuyết tật 3
2 Thẩm quyền xác định đối tượng và mức độ khuyết tật 3
II/ Quy trình, thủ tục xác định đối tượng, mức độ khuyết tật. 3
1 Quy trình, thủ tục xác định đối tượng và mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện 3
2 Quy trình, thủ tục xác định đối tượng, mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định y khoa thực hiện 5
IV/ Đánh giá thực tiễn thực hiện quy trình, thủ tục xác định đối tượng và MĐKT. 7
1 Đánh giá tình hình thực tiễn thực hiện 7
a) Kết quả đạt được 7
b) Hạn chế còn tồn tại 7
2 Nguyên nhân và kiến nghị hoàn thiện 8
a) Nguyên nhân 8
b) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật 9
3 Một số ví dụ cụ thể và nhận xét 10
a) Ví dụ 1: 10
b) Ví dụ 2: 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
Trang 2BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Người khuyết tật là người mang trong mình một hoặc nhiều khiếm khuyết trên cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng, họ có thể gặp các rào cản do yếu tố xã hội, môi trường hoặc con người khi tham gia vào mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội Tuy nhiên, để xác nhận một người là người khuyết tật, cần làm thủ tục xác định người khuyết tật và Hội đồng xác định mức độ khuyết tật sẽ xác định mức độ khuyết tật của người đó, từ đó đưa ra kết luận về mức độ khuyết tật cũng như xác nhận có đủ tiêu chuẩn hay không
Chính vì vậy, để nghiên cứu, làm rõ hơn vấn đề này, nhóm em xin chọn đề tài: “Quy
trình, thủ tục xác định đối tượng và mức độ khuyết tật theo quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện Tìm một hoặc một số ví dụ thực tiễn phân tích và
đưa ra những nhận xét cụ thể?”
Do kiến thức và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên bài làm còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý, đánh giá từ thầy cô để bài làm được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG I/ Khái quát một số vấn đề về việc xác định đối tượng và mức độ khuyết tật.
1 Các mức độ khuyết tật.
Căn cứ khoản 2 Điều 3 Luật Người khuyết tật 2010, NKT được chia theo các mức
độ khuyết tật sau đây:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực
hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể thực hiện một số
việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hằng ngày
- Người khuyết tật nhẹ là NKT không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản này
2 Thẩm quyền xác định đối tượng và mức độ khuyết tật.
Trách nhiệm xác định MĐKT thuộc về Hội đồng xác định MĐKT Tuy nhiên, việc xác định MĐKT sẽ do Hội đồng giám định y khoa thực hiện trong các trường hợp sau:
- Hội đồng xác định MĐKT không đưa ra được kết luận về MĐKT
- NKT hoặc đại diện hợp pháp của NKT không đồng ý với kết luận của Hội đồng xác định MĐKT
- Có bằng chứng xác thực về việc xác định MĐKT của Hội đồng xác định MĐKT không khách quan, chính xác
II/ Quy trình, thủ tục xác định đối tượng, mức độ khuyết tật.
1 Quy trình, thủ tục xác định đối tượng và mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện.
- Bước 1: Nộp và tiếp nhận hồ sơ.
Khi có nhu cầu xác định MĐKT, xác định lại MĐKT, NKT hoặc người đại diện hợp pháp của NKT nộp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 37/2012/TTLT – BLĐTBXH – BYT – BTC – BGDĐT đến UBND cấp xã nơi NKT cư trú Khi nộp hồ sơ phải xuất trình sổ hộ khẩu hoặc chứng minh nhân dân để cán bộ tiếp nhận hồ sơ đối chiếu các thông tin kê khai trong đơn
- Bước 2: Triệu tập Hội đồng xác định MĐKT.
Trang 5Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định MĐKT, Chủ tịch UBND cấp xã phải triệu tập các thành viên thuộc Hội đồng xác định MĐKT, gửi thông báo về thời gian và địa điểm xác định MĐKT cho NKT hoặc người đại diện hợp pháp của họ
- Bước 3: Thực hiện xác định MĐKT.
Cũng trong thời hạn 30 ngày kể trên, Hội đồng xác định MĐKT tổ chức đánh giá dạng khuyết tật và MĐKT đối với NKT theo phương thức và nội dung theo Điều 3 TTLT số 37/2012; lập hồ sơ, biên bản kết luận xác định MĐKT của người được đánh giá MĐKT
Riêng đối với trường hợp NKT đã có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa về khả năng tự phục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động trước ngày Nghị định số 28/2012/NĐ – CP có hiệu lực, Hội đồng xác định MĐKT căn cứ kết luận của Hội đồng Giám định y khoa để xác định MĐKT theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 28/2012/NĐ – CP
Việc thực hiện xác định MĐKT được tiến hành tại UBND cấp xã hoặc Trạm y tế Trường hợp NKT không thể đến được địa điểm quy định thì Hội đồng tiến hành xác định MĐKT tại nơi cư trú của NKT
Đối với những trường hợp theo quy định tại khoản 2, Điều 15 Luật Người khuyết tật
2010 thì Hội đồng cấp giấy giới thiệu và lập danh sách chuyển Hội đồng giám định y
khoa thực hiện (qua Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội)
- Bước 4: Cấp Giấy xác nhận khuyết tật.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có biên bản kết luận của Hội đồng về MĐKT của NKT, Chủ tịch UBND cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng tại trụ sở UBND cấp xã và cấp Giấy xác nhận khuyết tật Trường hợp có khiếu nại, tố cáo hoặc có ý kiến thắc mắc không đồng ý với kết luận của Hội đồng thì trong thời hạn 05 ngày, Hội đồng tiến hành xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể và trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại, tố cáo hoặc thắc mắc
Đối với trường hợp do Hội đồng giám định y khoa xác định, kết luận về dạng khuyết tật và MĐKT: Căn cứ kết luận của Hội đồng Giám định y khoa về dạng khuyết tật và MĐKT, Chủ tịch UBND cấp xã cấp Giấy xác nhận khuyết tật Trường hợp NKT không
đủ điều kiện để cấp Giấy xác nhận khuyết tật, Chủ tịch UBND xã có văn bản trả lời và nêu rõ lý do
Trang 62 Quy trình, thủ tục xác định đối tượng, mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định y khoa thực hiện.
- Bước 1: Hoàn thiện và nộp hồ sơ.
Trường hợp NKT hoặc đại diện hợp pháp của NKT không đồng ý với kết luận của Hội đồng xác định MĐKT, NKT hoặc đại diện hợp pháp của NKT có đơn gửi Chủ tịch Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã Hồ sơ khám giám định nộp tại UBND xã nơi NKT cư trú, bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 2 Điều 5 TTLT số 34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH
- Bước 2: Gửi hồ sơ đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội.
Đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 15 Luật Người khuyết tật 2010, Chủ tịch Hội đồng xác định MĐKT có trách nhiệm hoàn chỉnh 01 bộ hồ sơ theo đúng quy định tại Điều 5 TTLT số 34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH và chuyển hồ sơ đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội của huyện trong thời hạn 03 ngày làm việc Đối với trường hợp khám giám định phúc quyết, Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh có trách nhiệm hoàn chỉnh 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Điều 6 Thông tư liên tịch
số 34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH và chuyển cho Hội đồng Giám định y khoa Trung ương trong thời hạn 05 ngày làm việc
- Bước 3: Tiếp nhận, giải quyết hồ sơ khám giám định.
Ngay sau khi nhận hồ sơ, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ khám giám định do Hội đồng xác định MĐKT chuyển đến
Hồ sơ đã hoàn chỉnh theo quy định tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 34/2012/TTLT-BYT-BLĐTBXH thì cấp cho người nộp hồ sơ phiếu tiếp nhận hồ sơ theo quy định Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ghi trên phiếu tiếp nhận hồ sơ, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội chuyển hồ sơ khám giám định đến Hội đồng Giám định Y khoa cấp tỉnh
Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ và chưa hợp lệ, trong thời gian 02 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có văn bản gửi Chủ tịch Hội đồng xác định MĐKT để hoàn chỉnh hồ sơ theo đúng quy định
- Bước 4: Tiếp nhận hồ sơ khám giám định tại Hội đồng giám định y khoa
Căn cứ hồ sơ do Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội chuyển đến, Hội đồng Giám định Y khoa tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ và trong thời gian 30 ngày làm việc, Hội
Trang 7đồng giám định y khoa có trách nhiệm tổ chức khám giám định, kết luận dạng tật và MĐKT
- Bước 5: Thực hiện khám giám định y khoa.
+ Quy trình khám giám định được thực hiện theo quy định hiện hành về giám định y khoa
+ Quy trình khám giám định phúc quyết được thực hiện như sau:
Cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức hoặc đại diện hợp pháp của NKT không đồng ý với kết luận của Hội đồng Giám định y khoa thì làm đơn đề nghị khám giám đinh phúc quyết gửi đến Hội đồng Giám định y khoa đã ban hành biên bản khám giám định (giải quyết lần 01)
Trong thời gian 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Hội đồng Giám định y khoa đã ban hành Biên bản giám định có trách nhiệm giải quyết (giải quyết lần 02) Nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đề nghị vẫn chưa đồng ý với giải quyết của Hội đồng Giám định y khoa, chậm nhất sau 15 ngày làm việc kể từ ngày ban hành Biên bản giải quyết lần 02, phải có kiến nghị bằng văn bản gửi Hội đồng Giám định y khoa
Sau 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, Hội đồng Giám định y khoa
bị kiến nghị hoàn chỉnh hồ sơ giám định theo quy định và gửi đến Hội đồng Giám định y khoa cấp trên
Các trường hợp kiến nghị về kết quả giám định của Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh thì Hội đồng Giám định y khoa Trung ương, Phân Hội đồng Giám định y khoa Trung ương I hoặc Phân Hội đồng Giám định y khoa Trung ương II khám phúc quyết theo quy định
Trường hợp đã khám giám định phúc quyết tại Hội đồng Giám định y khoa Trung ương, Phân Hội đồng Giám định y khoa Trung ương I hoặc Phân Hội đồng Giám định y khoa Trung ương II nhưng vẫn còn kiến nghị hoặc khiếu nại, tố cáo, Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập Hội đồng Giám định y khoa khám phúc quyết lần cuối và kết luận của Hội đồng này là kết luận cuối cùng
Sau khi có kết quả khám phúc quyết lần cuối, nếu đối tượng vẫn còn kiến nghị, thì các cơ quan có thẩm quyền giải quyết kiến nghị hoặc khiếu nại, tố cáo theo đúng quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo
Trang 8- Bước 6: Trả biên bản khám giám định MĐKT cho đối tượng.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ khi có kết luận của Hội đồng, Hội đồng giám định y khoa có trách nhiệm gửi biên bản khám giám định MĐKT về Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện 01 bản, Hội đồng xác định MĐKT cấp xã nơi đối tượng
cư trú 01 bản và NKT hoặc đại diện hợp pháp của NKT 01 bản
IV/ Đánh giá thực tiễn thực hiện quy trình, thủ tục xác định đối tượng và mức độ khuyết tật.
1 Đánh giá tình hình thực tiễn thực hiện.
a) Kết quả đạt được.
Hiện nay, các chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc các quy định đối tượng và MĐKT từng bước đi vào đời sống và đã đạt được những kết quả nhất định như sau: Đến nay, 100% các xã, phường, thị trấn trong cả nước đã thành lập Hội đồng xác định MĐKT cấp xã theo đúng quy định Tính đến năm 2015 đã có 1.311.332 NKT được cấp giấy xác nhận khuyết tật (chiếm khoảng 18,7% NKT), đa số là các trường hợp NKT nặng, đặc biệt nặng Về cơ bản, việc xác định đối tượng và MĐKT tại cấp xã triển khai thuận lợi, đúng quy trình, thủ tục hợp lý, tạo điều kiện cho NKT tiếp cận kịp thời các
Việc đánh giá NKT trên thực chứng và làm ngay tại xã/phường đã tạo điều kiện đi lại gần gũi cho NKT và ít tốn kém hơn, trong việc lấy được giấy chứng nhận khuyết tật cũng như xác định MĐKT
Một số trường hợp, NKT được giới thiệu lên giám định tại Hội đồng giám định y khoa của tỉnh, đảm bảo đầy đủ các quyền lợi Trạm y tế các xã, phường khám chữa bệnh định kỳ, phát hiện các trường hợp dị tật bẩm sinh trong bào thai và cấp phát thuốc miễn phí một số chương trình cho NKT, lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NKT tại nơi cư trú…
b) Hạn chế còn tồn tại.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xác định MĐKT cho NKT vẫn còn những tồn tại cần được quan tâm khắc phục, cụ thể:
Trong một số trường hợp, Hội đồng cấp xã khi lập hồ sơ và kết luận MĐKT chưa chính xác với tình hình bệnh tật , không đánh giá đầy đủ tình trạng bệnh tật của đối
Trang 9tượng trong hồ sơ gửi lên Hội đồng giám định y khoa (kết luận của Hội đồng giám định
y khoa là đánh giá tình trạng bệnh tật, tỷ lệ % tổn thương cơ thể và khả năng tự chăm sóc bản thân của NKT) Chính vì vậy trên thực tế đã xảy ra tình trạng có một số trường hợp được Hội đồng giám định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể như nhau nhưng mức độ có thể khác nhau nên đã dẫn đến những thắc mắc không đáng có
Ở một số địa phương, Hội đồng giám định cấp giấy xác nhận khuyết tật chưa đúng đối tượng, dạng tật, MĐKT Việc đánh giá sai MĐKT sẽ rất nhạy cảm, vì MĐKT có liên quan đến chế độ trợ cấp Đồng thời việc có nhiều quan điểm khác nhau giữa các thành viên về MĐKT gây khó khăn cho Chủ tịch Hội đồng khi đưa ra kết luận
Thực tế, rất ít người tự làm hồ sơ đề nghị xác định khuyết tật mà thường do trưởng thôn/ấp, tổ trưởng tổ dân phố xác định và giới thiệu cho Hội đồng xác định khuyết tật xã Phần lớn những người này được xác định là khuyết tật mức độ nặng và đặc biệt nặng, được nhận trợ cấp xã hội Bước sàng lọc không chính thức này có xu hướng chọn lọc những NKT nặng và các dạng khuyết tật quen thuộc, vì vậy dẫn đến tình trạng tỷ lệ người được hưởng lợi thấp
Bên cạnh đó, vai trò của Hội đồng xác định khuyết tật xã thực chất chỉ còn việc xác định dạng tật và MĐKT Đặc biệt, việc xác định dạng khuyết tật tâm thần, trí tuệ, khuyết tật khác và trẻ em khuyết tật là gặp nhiều vấn đề nhất Bộ công cụ để xác định dạng và MĐKT còn nhiều hạn chế, bao gồm nhiều câu hỏi không phù hợp với trình độ chuyên môn của Hội đồng xác định khuyết tật xã (phần lớn là những người không có kiến thức chuyên môn về y khoa) Bởi nếu như hội đồng xác định MĐKT căn cứ vào những bộ câu hỏi theo quy định (dành cho trẻ dưới 6 tuổi và người 6 tuổi trở lên) kết hợp với quan sát, phỏng vấn đánh giá thì có vẻ chỉ khả quan và dễ với những thể khuyết tật vận động Nhưng đối với thể về tâm thần, thần kinh thì có nhiều trường hợp cảm tính, khó phát hiện Chẳng hạn đối với dạng tâm thần phân liệt có thể lúc bình thường khó có thể đánh giá là ở mức nào, có phải dạng tật không so với khi họ lên cơn bệnh Không chỉ thể , có thể nói thêm như những bệnh về tự kỷ cũng thuộc dạng khuyết tật trí tuệ nhưng nhìn bề
2
http://thanhnien.vn/gioi-tre/khong-chuyen-mon-cung-xac-dinh-khuyet-tat-cho-tre-khi-hoi-dong-bo-tay-611099.html ông Phạm Minh Trí, nguyên Phó chủ tịch UBND P.12, Q.8 (hiện là Phó phòng Nội vụ UBND Q.8), cũng cho hay: “Với những dạng khuyết tật về thần kinh, tâm thần, trí tuệ mà đặc biệt là những trường hợp không có
gì rõ ràng như các cháu bị tự kỷ chẳng hạn, chúng tôi xác định theo bảng câu hỏi thì nó không ra” cho hay: Tính đến nay, tại P.12, Q.8 có 276 người đã được xác định MĐKT ở tất cả các dạng tật Trong đó, có đến 108 người
Trang 102 Nguyên nhân và kiến nghị hoàn thiện.
a) Nguyên nhân.
Nguyên nhân trước hết xuất phát từ tình trạng nhiều cán bộ ở cấp cơ sở không am hiểu pháp luật, do đó dẫn đến nhiều hạn chế trong việc kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện xác định đối tượng và MĐKT Trên thực tế, việc tập huấn không quy định cụ thể và thiếu tính hệ thống giữa các vùng, chỉ bao gồm những người trực tiếp tham gia vào công việc xác định khuyết tật Trong hầu hết các trường hợp, vì ngân sách còn hạn chế nên chỉ
có duy nhất một người trong Hội đồng xác định khuyết tật xã được tham gia tập huấn Chi phí cho công tác xác định khuyết tật và trợ cấp xã hội cho NKT được lấy từ ngân sách hàng năm của xã Có trường hợp báo cáo ngân sách không đủ để thanh toán chi phí tới tận nhà NKT thì Hội đồng khuyết tật xã chỉ cử một đến hai người đi, điều này cũng gây ảnh hưởng đến chất lượng của công tác xác định đối tượng và MĐKT
Đồng thời quy trình, thủ tục xác định đối tượng khuyết tật và MĐKT nhiều cơ sở vẫn còn khá lúng túng dẫn đến quá trình kéo dài, không chính xác Nhiều trường hợp quyền lợi của NKT không được đảm bảo Thực tế, nhiều phụ huynh phản ánh khi họ đưa con em có dấu hiệu bị tự kỷ, tâm thần, thần kinh đến các phường, xã để xác định MĐKT thì những Hội đồng ở địa phương tỏ ra rất lúng túng, khó đưa ra quyết định chính
b) Kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Để khắc phục những tồn tại làm ảnh hưởng đến quyền lợi NKT cần thực hiện một số giải pháp sau:
- Để giải quyết tình trạng xác định không chính xác MĐKT do không có chuyên
môn y khoa, đối với những trường hợp Hội đồng giám định y khoa của địa phương không xác định được bằng mắt (ví dụ như khuyết tật nghe, khuyết tật trí tuệ, thần kinh…) thì không cần thông qua Hội đồng ở cấp phường, xã mà có thể giới thiệu người dân lên thẳng cơ quan cấp cao hơn, có chức năng y khoa rõ ràng hơn để xác định MĐKT cho NKT có nhu cầu Giải pháp này vừa tránh được rắc rối cho người dân khi phải đi lại nhiều và cán bộ địa phương cũng không phải băn khoăn, lúng túng khi không biết đưa ra quyết định như thế nào đối với tình trạng của người khuyết tật mình quản lý