1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

166 153 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Văn học Việt Nam là nền văn học gồm nhiều bộ phận, trong đó văn học dân tộc và miền núi là một bộ phận không thể thiếu. Văn học dân tộc và miền núi (gồm văn học dân gian và văn học viết) đã có những đóng góp quan trọng về nội dung, tƣ tƣởng và hình thức nghệ thuật vào tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc. Văn học miền núi còn là nơi lƣu giữ những giá trị về văn hóa tinh thần của các dân tộc anh em đa dạng và phong phú. Đây là nguồn tƣ liệu quí giá cho việc nghiên cứu về dân tộc học, văn hóa học. Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu phƣơng hƣớng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam. Một trong những phƣơng hƣớng quan trọng nhất là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo yêu cầu trên, việc nghiên cứu về văn học miền núi không chỉ có ý nghĩa đối với nền văn học Việt Nam mà ở mức độ, phạm vi nhất định còn có ý nghĩa chính trị, văn hóa, xã hội đối với quốc gia. 1.2. “Đổi mới” là một chƣơng trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội (chính trị, văn hóa, giáo dục…) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xƣớng vào thập niên 1980. Chính sách Đổi mới đƣợc thực hiện chính thức từ Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, năm 1986. Trong chƣơng trình Đổi mới về văn hóa, văn học nghệ thuật, giới văn nghệ sĩ đã đề ra mục tiêu đổi mới quan niệm nghệ thuật, tƣ duy sáng tác. Từ đó, khái niệm “thời kì Đổi mới” đƣợc dùng để chỉ thời kì văn học bƣớc vào cuộc cách tân. Đây là thời kì văn học Việt Nam nhập cuộc, chuyển mình mạnh mẽ và quyết liệt để hoàn thành sứ mạng phản chiếu thời đại mới trong đời sống dân tộc. Đây đƣợc coi là thời kỳ sôi nổi nhất của đời sống văn học ở Việt Nam. Trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện một đội ngũ hùng hậu các nhà văn mang một tinh thần thẩm mỹ mới, một quan điểm nghệ thuật mới. Trong bối cảnh đó, tiểu thuyết Việt Nam không những phát triển dồi dào về số lƣợng mà còn có những đổi mới cơ bản về cách tiếp cận hiện thực và cách viết. Trong những đổi mới của thể loại, sự mở rộng đề tài có ý nghĩa quan trọng. Đề tài miền núi ngày càng đƣợc quan tâm và trở thành “mảnh đất tƣơi tốt” của tiểu thuyết. Tiểu thuyết viết về đề tài miền núi từ sau Đổi mới đã đạt đƣợc những thành tựu đáng kể trên nhiều bình diện, về đội ngũ sáng tác, số lƣợng tác phẩm, về đề tài, tƣ tƣởng chủ đề, về nghệ thuật. Tiểu thuyết viết về miền núi thời kì này cũng có những bƣớc phát triển quan trọng trên cơ sở phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo. Trong tình hình đó, việc nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi sẽ giúp cho ngƣời đọc thấy đƣợc diện mạo, sự phát triển, vị trí quan trọng, những đóng góp có ý nghĩa của nó cho nền văn học dân tộc đƣơng đại. 1.3. Là ngƣời làm công tác giảng dạy văn học ở một tỉnh miền núi, việc nghiên cứu văn học miền núi nói chung, nghiên cứu tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng đối với tác giả luận án là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa. Đề tài luận án sẽ là một nguồn tƣ liệu quý giá phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu của giáo viên, học tập của sinh viên, giúp sinh viên nhận thức sâu sắc đƣợc vị trí và những thành tựu đáng tự hào của văn học miền núi trong dòng chảy của văn học dân tộc. Nhận thức đƣợc tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới, chúng tôi chọn thực hiện đề tài luận án: Tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐIÊU THỊ TÚ UYÊN

TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI

TỪ SAU ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 3

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án 3

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 5

7 Cơ cấu của luận án 5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về đổi mới tư duy tiểu thuyết ở Việt Nam thời kì Đổi mới .6

1.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới 13

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của luận án 23

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 TIỀN ĐỀ XÃ HỘI, VĂN HÓA, VÀ DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI TỪ SAU ĐỔI MỚI 27

2.1 Tiền đề xã hội, văn hóa 27

2.2 Diện mạo của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 3 CON NGƯỜI VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA, XÃ HỘI, THIÊN NHIÊN TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI TỪ SAU ĐỔI MỚI 54

3.1 Con người trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới 54

3.2 Đời sống xã hội, văn hóa trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới 79

3.3 Thiên nhiên trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới 92

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 106

CHƯƠNG 4 NHỮNG PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT CƠ BẢN TRONG TIỂU THUYẾT VIẾT VỀ MIỀN NÚI TỪ SAU ĐỔI MỚI 108

4.1 Nghệ thuật tổ chức kết cấu 108

4.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 126

4.3 Nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ 136

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 147

KẾT LUẬN 147

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Văn học Việt Nam là nền văn học gồm nhiều bộ phận, trong đó văn học

dân tộc và miền núi là một bộ phận không thể thiếu Văn học dân tộc và miền núi (gồm văn học dân gian và văn học viết) đã có những đóng góp quan trọng về nội dung, tư tưởng và hình thức nghệ thuật vào tiến trình phát triển chung của nền văn học dân tộc Văn học miền núi còn là nơi lưu giữ những giá trị về văn hóa tinh thần của các dân tộc anh em đa dạng và phong phú Đây là nguồn tư liệu quí giá cho việc nghiên cứu về dân tộc học, văn hóa học Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ V, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu phương hướng xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam Một trong những phương hướng quan trọng nhất là xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Theo yêu cầu trên, việc nghiên cứu về văn học miền núi không chỉ có ý nghĩa đối với nền văn học Việt Nam mà ở mức độ, phạm vi nhất định còn có ý nghĩa chính trị, văn hóa, xã hội đối với quốc gia

1.2 “Đổi mới” là một chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội

(chính trị, văn hóa, giáo dục…) do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng vào thập niên 1980 Chính sách Đổi mới được thực hiện chính thức từ Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, năm 1986 Trong chương trình Đổi mới về văn hóa, văn học nghệ thuật, giới văn nghệ sĩ đã đề ra mục tiêu đổi mới quan niệm nghệ thuật, tư duy sáng tác Từ đó, khái niệm “thời kì Đổi mới” được dùng để chỉ thời kì văn học bước vào cuộc cách tân Đây là thời kì văn học Việt Nam nhập cuộc, chuyển mình mạnh mẽ và quyết liệt để hoàn thành sứ mạng phản chiếu thời đại mới trong đời sống dân tộc Đây được coi là thời kỳ sôi nổi nhất của đời sống văn học ở Việt Nam Trên văn đàn Việt Nam đã xuất hiện một đội ngũ hùng hậu các nhà văn mang một tinh thần thẩm mỹ mới, một quan điểm nghệ thuật mới Trong bối cảnh

đó, tiểu thuyết Việt Nam không những phát triển dồi dào về số lượng mà còn có những đổi mới cơ bản về cách tiếp cận hiện thực và cách viết Trong những đổi mới của thể loại, sự mở rộng đề tài có ý nghĩa quan trọng Đề tài miền núi ngày càng

Trang 4

được quan tâm và trở thành “mảnh đất tươi tốt” của tiểu thuyết Tiểu thuyết viết về

đề tài miền núi từ sau Đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều bình diện, về đội ngũ sáng tác, số lượng tác phẩm, về đề tài, tư tưởng chủ đề, về nghệ thuật Tiểu thuyết viết về miền núi thời kì này cũng có những bước phát triển quan trọng trên cơ sở phát huy và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo Trong tình hình đó, việc nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi sẽ giúp cho người đọc thấy được diện mạo, sự phát triển, vị trí quan trọng, những đóng góp có ý nghĩa của nó cho nền văn học dân tộc đương đại

1.3 Là người làm công tác giảng dạy văn học ở một tỉnh miền núi, việc

nghiên cứu văn học miền núi nói chung, nghiên cứu tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng đối với tác giả luận án là một việc làm cần thiết và có ý nghĩa Đề tài luận án sẽ

là một nguồn tư liệu quý giá phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu của giáo viên, học tập của sinh viên, giúp sinh viên nhận thức sâu sắc được vị trí và những thành tựu đáng tự hào của văn học miền núi trong dòng chảy của văn học dân tộc

Nhận thức được tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới, chúng tôi chọn thực hiện đề tài luận

án: Tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Lựa chọn đề tài này, luận án đặt ra những mục đích nghiên cứu cơ bản sau:

- Làm nổi rõ diện mạo, sự phát triển và những đóng góp của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới đối với tiểu thuyết Việt Nam và đối với nền văn học dân tộc đương đại

- Làm nổi rõ tính bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo thể hiện trong nội dung và các phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:

- Trên cơ sở phân tích các tiền đề về xã hội, văn hóa ở miền núi Việt Nam sau năm 1986, luận án phác thảo diện mạo phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Trang 5

- Phân tích, đánh giá những phương diện con người và đời sống xã hội, văn hóa, thiên nhiên được thể hiện trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

- Phân tích, đánh giá những phương diện nghệ thuật cơ bản của tiểu thuyết viết

về miền núi từ sau Đổi mới: nghệ thuật tổ chức kết cấu, nghệ thuật miêu tả nhân vật

và nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới (từ sau năm 1986)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Luận án nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới Địa bàn sáng tác tiểu thuyết mà luận án khảo sát và nghiên cứu là toàn bộ sáng tác tiểu thuyết viết về miền núi Việt Nam (gồm miền núi ở phía Bắc, miền Trung và khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên) Tuy vậy, thực tiễn văn học cho thấy, thành tựu của tiểu thuyết viết về miền núi ở miền Bắc ưu trội hơn nên diện khảo sát của luận án chủ yếu tập trung vào khu vực này

- Luận án nghiên cứu sáng tác tiểu thuyết của cả nhà văn người Kinh và nhà văn người dân tộc thiểu số về miền núi từ sau Đổi mới Tuy vậy, luận án cũng chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu vào những tác phẩm tiêu biểu cho các khuynh hướng sáng tác của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được triển khai trên cơ sở cái nhìn của quan điểm lịch sử, có sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp xã hội học: phương pháp này được sử dụng nhằm nghiên cứu những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của miền núi thời kì Đổi mới

có tác động đến sự phát triển của tiểu thuyết

- Phương pháp so sánh: phương pháp này được sử dụng nhằm so sánh giữa tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới với tiểu thuyết viết về miền núi trước Đổi mới để thấy sự khác biệt về quan niệm nghệ thuật, tư duy sáng tác; so sánh giữa tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới và tiểu thuyết viết về miền xuôi từ sau

Trang 6

Đổi mới để thấy được sự khác biệt độc đáo về nội dung phản ánh và phương thức miêu tả

- Phương pháp loại hình: phương pháp này được sử dụng nhằm so sánh tiểu thuyết viết về miền núi với một số thể loại khác cùng viết về miền núi để thấy những nét đặc trưng của thể loại khi viết về đề tài miền núi

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: phương pháp này được sử dụng để cắt nghĩa sâu hơn những nguyên tắc nghệ thuật và những dấu hiệu mang tính cách tân của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

- Phương pháp liên ngành: sử dụng những tri thức về địa lý nhân văn, về dân tộc học, về nhân học văn hóa để soi tỏ những khía cạnh mang bản sắc văn hóa của miền núi được thể hiện trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án nghiên cứu, đánh giá, làm sáng tỏ bức tranh tổng thể về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới, trong đó có các vấn đề trọng tâm: diện mạo phát triển, những đóng góp quan trọng của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới cho tiểu thuyết, cho nền văn học dân tộc đương đại Luận án cũng làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo được thể hiện trong các phương diện nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới Từ đó, luận án đề cập đến những quy luật tiếp biến giữa văn hoá tộc người và văn học toàn dân tộc Đây là những vấn đề từ trước đến nay chưa được tập trung nghiên cứu một cách toàn diện

và có tính hệ thống Triển khai nghiên cứu những vấn đề trên, luận án đóng góp thêm một tiếng nói khoa học về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới vào hệ thống các công trình nghiên cứu về văn học miền núi đương đại, mở ra xu thế quan tâm mới cho các nhà nghiên cứu đối với tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng, văn học miền núi nói chung, dự báo xu thế phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi trong tương lai

Trang 7

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6.1 Ý nghĩa lý luận

Từ những vấn đề nghiên cứu cụ thể của tiểu thuyết miền núi sau Đổi mới, luận án rút ra những vấn đề thi pháp thể loại khi nghiên cứu chúng trong đặc điểm văn hóa vùng miền với những nét riêng mang tính đặc thù

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những vấn đề khoa học được nghiên cứu và trình bày trong luận án bổ sung thêm vào nguồn tư liệu về tiểu thuyết, về văn học miền núi đương đại nói riêng, văn học Việt Nam đương đại nói chung cho sinh viên ngành ngữ văn tại các trường cao đẳng, đại học và những người quan tâm

7 Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Tiền đề xã hội, văn hóa và diện mạo của tiểu thuyết viết về miền

núi sau Đổi mới

Chương 3: Con người và đời sống văn hóa, xã hội, thiên nhiên trong tiểu

thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Chương 4: Những phương diện nghệ thuật cơ bản của tiểu thuyết viết về

miền núi từ sau Đổi mới

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu về đổi mới tư duy tiểu thuyết ở Việt Nam thời

- Thể hiện cái nhìn đa chiều đối với sự đổi mới quan niệm về tiểu thuyết, tư duy nghệ thuật tiểu thuyết, khuynh hướng vận động, phát triển của tiểu thuyết thời

kì Đổi mới, những dấu hiệu cách tân về kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu… của thể loại trên hành trình của nó

- Bàn luận về việc có hay không xu hướng tiểu thuyết hậu hiện đại ở Việt Nam? Các tác phẩm được coi là tiểu thuyết hậu hiện đại có những đặc điểm nổi bật nào về phương thức tự sự?

- Đi sâu vào tìm hiểu về tiểu thuyết của một số tác giả có nhiều sáng tác trong thời kì Đổi mới hoặc có những sáng tác thu hút được sự quan tâm của dư luận; đánh giá về những thành tựu đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của các tác giả này Từ đó, nhận định về những đóng góp của họ trong hành trình làm mới nền tiểu thuyết đương đại của dân tộc

Trong khuôn khổ của luận án Tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới,

chúng tôi tập trung nghiên cứu các công trình luận bàn về sự đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết ở Việt Nam thời kì Đổi mới Chúng tôi cho rằng, sự đổi mới tư duy

Trang 9

tiểu thuyết là yếu tố quan trọng có tính chất quyết định tạo nên sự chuyển biến, cách tân lớn lao của thể loại, đem đến những đặc điểm và giá trị tiểu thuyết khác biệt so với thời kì trước Quan niệm đổi mới tư duy tiểu thuyết ở Việt Nam thời kì Đổi mới của các nhà văn, nhà nghiên cứu sẽ trở thành căn cứ lý luận quan trọng cho tác giả luận án soi vào, tìm hiểu và đánh giá về diện mạo phát triển, cơ chế vận hành, những khuynh hướng sáng tác, những phương thức nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết viết về miền núi Việt Nam từ sau Đổi mới Luận án căn cứ vào hai nguồn tư liệu chủ yếu để tìm hiểu: ý kiến phát biểu trực tiếp của các nhà văn; ý kiến của các nhà nghiên cứu Từ hai nguồn tư liệu trên, tác giả luận án nhận thấy sự đổi mới tư duy tiểu thuyết ở thời kì Đổi mới được biểu hiện ở cách quan niệm:

1.1.1 Tiểu thuyết là thể loại tự sự có khả năng tiếp cận và miêu tả hiện thực bằng cảm hứng đa chiều

“Tiểu thuyết là thể loại tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống

ở mọi giới hạn không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [110, tr.328] Từ đầu thế kỉ XX, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam xuất hiện và xác lập được vị trí quan trọng trong đời sống văn học dân tộc Tiểu thuyết được coi là một thể loại chủ đạo của nền văn học,

có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của con người Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “do vị trí trung tâm của nó, do những chức năng ngày càng to lớn của nó, tiểu thuyết ngày càng trở thành một thứ máy cái của văn học” [Dẫn theo 201, tr 260] Là “máy cái” của một nền văn học, tiểu thuyết bộc lộ một khả năng to lớn trong việc tiếp cận và miêu tả hiện thực bằng cảm hứng đa chiều

Ở thời kì Đổi mới, trong sự đổi mới tư duy nghệ thuật, tiểu thuyết vẫn tiếp

tục tiếp cận và miêu tả hiện thực với cảm hứng hướng ngoại Nhưng so với cảm

hứng hướng ngoại trong tiểu thuyết truyền thống (miêu tả một hiện thực được chứng kiến rõ ràng, có tầm vóc trong đời sống, trọn vẹn trong sự diễn tiến của nó) thì cảm hứng hướng ngoại của tiểu thuyết thời kì này đã có sự khác biệt Cái hiện

tại mà tiểu thuyết hướng tới là cái ngày hôm nay, “ngổn ngang bề bộn, bóng tối và

ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những bất ngờ” (Nguyễn Khải) Đặc biệt, nó

Trang 10

là cái hiện tại chưa hoàn kết Tác giả Mai Hải Oanh trong chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã khẳng định “sự đổi mới về

quan niệm nghệ thuật (trong tiểu thuyết từ sau năm 1986) là hướng về cái hiện tại chưa hoàn thành với tư cách là đối tượng ưu tiên của tiểu thuyết” [180, tr.17] Khác với quan niệm truyền thống, cho rằng: “công việc viết tiểu thuyết đòi hỏi nhà văn phải biết rõ, biết cặn kẽ, tỉ mỉ những cái mà mình miêu tả” (Nguyễn Đình Thi) [Dẫn theo 201, tr 268], theo tác giả Mai Hải Oanh “Hiện thực ấy không hề “dâng sẵn, đón chờ” mà đòi hỏi nghệ sĩ phải khám phá và sáng tạo, phải “tự cảm thấy” bằng sự nhạy bén của mình Hiện thực ấy không chỉ hiện lên ở tầng hữu thức mà còn chìm

ẩn trong cõi vô thức, tiềm thức” [180, tr.18] Nhà tiểu thuyết không thể hình dung

“hiện thực đời sống như một thứ thông suốt, biết hết” mà hình dung nó “như một đối tượng ẩn chứa biết bao sự phức tạp bên trong” [180, tr.18]

Bên cạnh cảm hứng hướng ngoại, tiểu thuyết thời kì Đổi mới chủ yếu tiếp cận

và miêu tả hiện thực bằng cảm hứng hướng nội Sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về

con người đã khiến các nhà văn quan tâm nhiều nhất đến đến nhân tố con người Nhà

văn Nguyên Ngọc trong bài Văn xuôi Việt Nam hôm nay cho rằng: Văn học cần phải

“quan tâm hơn đến con người với tư cách là một thế giới cá nhân phong phú, phức tạp, đa dạng, đa chiều, đa tầng trong nhiều mối quan hệ cũng hết sức phức tạp và đa

dạng với toàn xã hội và với chính mình” [162] Tác giả Nguyễn Bích Thu trong bài Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 cũng cho rằng: “Tiểu thuyết

những năm Đổi mới đã quan niệm con người cá nhân như “một nhân cách, một nhân cách kiểu mới”” [150, tr.232] Nhà văn Nguyễn Minh Châu yêu cầu tiểu thuyết hiện đại “mỗi ngày một đi sâu vào thế giới bên trong của con người” [Dẫn theo 201, tr.361] Các tác giả đã đi đến một quan niệm chung về hướng tiếp cận con người với

tư cách “là một thế giới cá nhân” Quan niệm này tạo nên khuynh hướng chủ đạo trong tiểu thuyết thời kì này là thế sự - đời tư Ở đó, các nhà tiểu thuyết đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người, cắt nghĩa, lý giải những bí mật, những biến động, ám ảnh, những tổn thương, những khát khao của tâm hồn người; biểu hiện một cái nhìn thấu triệt thế giới “bên trong – bí mật” của con người để nhận thấy tất cả sự phức tạp của nó, không loại trừ những mâu thuẫn, xung đột tự thân

Trang 11

Trên tinh thần dân chủ và sự trở lại mạnh mẽ của ý thức cá nhân, tiểu thuyết

thời kì Đổi mới còn có xu hướng tiếp cận và miêu tả hiện thực bằng cảm hứng trào lộng, giễu nhại Trước 1986, Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh yêu cầu về một hiện thực

mang tính nghiêm túc, lí tưởng trong tiểu thuyết: “… đối với tiểu thuyết thì tính lý tưởng cũng không thể thiếu được Mà chính cái tính lí tưởng ấy của tiểu thuyết lại là chỗ hấp dẫn của nó” [Dẫn theo 201, tr.279] Sau Đổi mới, nhiều tiểu thuyết lại có

xu hướng biến cái hiện thực nghiêm túc, hiện thực sử thi, lí tưởng ấy thành một hiện thực tầm thường để trào lộng Hiện thực được nhìn theo “lối u – mua màu đen kết hợp giữa hoang đường, khủng khiếp với hoạt kê… lập ý quái dị, tưởng tượng phong phú nhưng là nhằm vạch ra cái tính chất buồn cười trong những sự việc thường thấy, cười cợt một cách khôi hài chua chát” [151, tr.323] Tiếng cười trào lộng “xóa

bỏ nỗi sợ hãi và thái độ tôn kính trước khách thể” (M.Bakhtin) đã trở thành yếu tố

làm thay đổi quan niệm của nhà văn khi viết về hiện thực Trong cuốn Văn xuôi Việt Nam sau 1975, tác giả Nguyễn Thị Bình cho rằng: cảm hứng trào lộng đã thể hiện

“thái độ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật” [76, tr 96] của các nhà văn trong thời kì này Như vậy, “cười cợt một cách khôi hài chua chát” hay “thái độ dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật”, xét đến cùng cũng để bộc lộ thái độ phê phán đối với những tiêu cực ẩn nấp sâu bên trong đời sống, bên trong vỏ bọc tốt đẹp, chính thống quan phương Quan niệm tiếp cận và miêu tả hiện thực bằng cảm hứng trào lộng, giễu nhại ở nhiều nhà văn thời kì Đổi mới đã góp thêm một cách nhìn, một cách cắt nghĩa hiện thực đa chiều, phong phú

1.1.2 Tiểu thuyết hướng tới nguyên tắc tính “trò chơi”

Từ sau năm 1986, sự đổi mới tư duy tiểu thuyết đã làm thay đổi sâu sắc quan niệm về hình thức của thể loại Sự đổi mới quan niệm này thể hiện rõ nhất ở phương diện kết cấu Trước đây, kết cấu tiểu thuyết là sự “bày vẽ ra, đặt để ra, xếp các nhân vật, các tình tiết, cho có đầu đuôi, có sau trước, có manh mối, có ngành ngọn” [Dẫn theo 201, tr.12] Sự xác lập lại quan niệm về thực tại, cho thực tại là cái

“chưa hoàn thành”, là cái “động”, thực tại biểu hiện ở “sự bùng nổ thông tin”, “sự

nổ tung bên trong của ý nghĩ” [172, tr.61] đã làm thay đổi quan niệm về kết cấu

Tác giả Nguyễn Ngọc Thiện trong bài Tiểu thuyết hướng nội trong văn xuôi hiện

Trang 12

đại cho rằng: “không thể khuôn tiểu thuyết vào một số nguyên tắc nghệ thuật cứng

nhắc, bất biến, mà chính là phải mở ra những khả năng tiềm tàng vốn có của thể loại này” [205, tr 31] Tiểu thuyết từ chỗ được quan niệm như một “bách khoa toàn thư” về đời sống với kết cấu đầy đặn, lớp lang, trình tự nay trở thành một quá trình tạo nên mô hình thế giới theo quan niệm của nhà văn Đó là sự “mờ hóa” nhân vật,

sự “nới lỏng” hay “xóa bỏ” cốt truyện, sự “di chuyển liên tục điểm nhìn” và sự sáng tạo về “tổ chức cấu trúc ngôn ngữ”; đó là hiện tượng “phi không gian”, “không gian tâm linh”, “không gian huyền ảo”, hiện tượng “phi thời gian”, “xóa mờ” những đường viền lịch sử… Đầu thế kỉ XXI, nhiều nhà tiểu thuyết bắt đầu bước vào một

“cuộc chơi” mà kết cấu tiểu thuyết được coi như một “trò chơi” Trong bài Một trò chơi vô tăm tích, Phạm Thị Hoài khẳng định: “Văn học Việt Nam hiện đại đang bắt

đầu quy luật thị trường” với những nhu cầu “cải lương, phá bĩnh, tù mù và nhân văn” [126] Theo tác giả, văn chương thể hiện quy luật thị trường “để người đọc linh cảm thấy một điều gì đó rất mơ hồ và lớn lao đằng sau các hàng chữ” [126] Tác giả

Hoàng Cẩm Giang trong bài Tiểu thuyết đương đại là một thế giới trò chơi cũng nêu

quan niệm của các nhà tiểu thuyết thời kì này: “Tiểu thuyết như là trò chơi của kết cấu tự sự” [105] Nguyên tắc “trò chơi” đã tạo ra những kiểu kết cấu tiểu thuyết mới

mẻ như sự pha trộn và xóa nhòa ranh giới thể loại, đồng hiện, lắp ghép, phân mảnh Trong nhận thức của các nhà văn, những kiểu kết cấu này là một nỗ lực mạnh mẽ

“trong việc thể hiện những phần ẩn khuất, bất ổn trong đáy sâu tâm thức của con người; trong việc thể hiện sự tràn đầy, đa diện, biến ảo vô cùng của các “gương mặt” cuộc sống mà không một khuôn hình cố định nào có thể đổ vừa” [105]

Nguyên tắc tính “trò chơi” trong tiểu thuyết thời kì Đổi mới còn bộc lộ ở cách xây dựng nhân vật Nhân vật tiểu thuyết từ “con người nếm trải, tư duy, chịu khổ đau, dằn vặt trong cuộc đời… con người đang biến đổi trong hoàn cảnh, con người đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo” [110, tr.330] chuyển sang xu hướng

“trở thành những “cái bóng”, những kí hiệu hay biểu tượng hơn là những thực thể trọn vẹn vốn là hình chiếu của con người ngoài xã hội” [103]; hoặc trở thành nhân vật “phi tính cách, phi tâm lý, được làm cho “mỏng dẹt”, khó hiểu, phi logic thông thường và được giải mã theo nhiều cách khác nhau” [103] Quan niệm về vai trò

Trang 13

của nhân vật trong tác phẩm cũng thay đổi Theo tác giả Nguyễn Văn Trung, nhân vật tiểu thuyết là “nhân vật nhìn cuộc đời, nhìn mình”, “Nhân vật không còn là phương tiện, là vai trò đóng kịch… chỉ biết sống, cảm nghĩ, hành động mà không biết mình là nhân vật” mà trở thành “một ý thức nhìn cuộc đời chung quanh, tra hỏi

nó và tự tra hỏi từ cuộc đời trong một ý hướng nhận thức ý nghĩa cuộc đời” [201, tr.225] Do quan niệm thực tại “không chỉ hiện lên ở tầng hữu thức mà còn chìm ẩn trong cõi vô thức, tiềm thức” (Mai Hải Oanh), nhiều nhà tiểu thuyết đã đặt ra mục tiêu khám phá thế giới tiềm thức, vô thức, đời sống tâm linh của con người Quan niệm này đã qui định những phương thức mới trong miêu tả nhân vật tiểu thuyết

Nguyên tắc tính “trò chơi” cũng chi phối cách sáng tạo ngôn ngữ tiểu thuyết Ngôn ngữ tiểu thuyết thời kì Đổi mới không chỉ bộc lộ một khả năng miêu tả đời sống

“đầy góc cạnh, cá tính…được ý thức bằng tư thế dân chủ, bình đẳng” [76, tr.109] Các tiểu thuyết gia cũng không chỉ tăng cường “Tính đối thoại nội tại”, coi đó là “một yếu

tố cơ bản trong ngôn ngữ tiểu thuyết” [150, tr 233] Tạ Duy Anh cho rằng ngôn ngữ tiểu thuyết còn phải “gắn với một chú ý sáng tạo đầy phức tạp, thậm chí bí ẩn” [68, tr.165] Còn Phạm Thị Hoài quan niệm “viết như một phép ứng xử” và “gia tăng tính khoa học, tốc độ và khả năng biểu đạt tư duy trừu tượng của nó” [125]

Tiểu thuyết là “một nghệ thuật khám phá đời sống” (Ma Văn Kháng) Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết thời kì Đổi mới là bước ngoặt quan trọng tạo nên toàn bộ cuộc cách tân mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc nền tiểu thuyết nước nhà Những quan niệm nổi bật của các nhà văn, nhà nghiên cứu trên đây về cơ bản đã thâu tóm và giúp độc giả nhận diện được một nền tiểu thuyết đang khởi sắc với những hệ giá trị hoàn toàn mới

Trên cơ sở nghiên cứu những quan niệm đổi mới tư duy tiểu thuyết, luận án hướng sự quan tâm đến những đổi mới trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn khi sáng tác tiểu thuyết về miền núi Tuy nhiên, do khởi nguồn văn học thành văn ở miền núi trong tình trạng thấp, các nhà văn dân tộc thiểu số khi viết tiểu thuyết chủ yếu học lấy kinh nghiệm viết của các nhà văn người Kinh nên trên thực tế chưa hình thành được những quan niệm mang tính lí luận về bản chất loại hình và phương thức tự sự của thể loại Các công trình nghiên cứu, vì những lí do khác nhau

Trang 14

cũng chưa khái quát lại những quan niệm lí luận về đổi mới tư duy tiểu thuyết khi thể hiện đề tài miền núi Trong quá trình khảo sát các tài liệu có liên quan đến đề tài, tác giả luận án chỉ tập hợp được một số quan niệm về sáng tác văn xuôi miền núi nói chung, có thể hiểu trong đó có tiểu thuyết Việc khảo sát các công trình khoa học có liên quan cho thấy, các nhà văn, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất đến vấn đề tiểu thuyết viết về miền núi cần đổi mới tư duy nghệ thuật trên tinh thần bảo tồn bản sắc văn hóa độc đáo

1.1.3 Tiểu thuyết viết về miền núi – đổi mới tư duy nghệ thuật trên tinh thần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo

Khái niệm Tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới được dùng trong luận

án chỉ các sáng tác tiểu thuyết (của cả nhà văn người Kinh và nhà văn người dân tộc thiểu số) về đề tài dân tộc và miền núi ở Việt Nam từ sau năm 1986

Tiểu thuyết viết về miền núi mới được hình thành và phát triển bắt đầu từ những năm 1930 của thế kỉ XX với các sáng tác của một số nhà văn người Kinh như Mạc Phi, Phượng Vũ Tác phẩm của họ được coi là điển hình cho quan niệm tiểu thuyết hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa Thời kì Đổi mới, trong xu thế đổi mới tư duy tiểu thuyết, các nhà nghiên cứu quan tâm đến tiểu thuyết viết về

miền núi bắt đầu nhận thấy người sáng tác phải đổi mới văn xuôi trên tinh thần bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo

Để văn xuôi miền núi đạt được mục tiêu đổi mới, nhà phê bình Lâm Tiến cho

rằng, trước hết cần phải đổi mới tư duy của người sáng tác Nhà văn “cần tìm “một chỗ đứng” để nhận thức, để nhìn lại dân tộc mình và dân tộc khác thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu của bản thân, về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội về văn học nghệ thuật” [215, tr.191] Theo tác giả Đào Thủy Nguyên, các nhà văn “một mặt phải bắt

rễ vào đời sống dân tộc với tinh thần hướng nội nhưng lại phải luôn luôn có ý thức hướng ngoại Hướng nội để hiểu tường tận đời sống văn hóa dân tộc mình Hướng ngoại để cái nhìn không bị bó hẹp trong cái riêng mà vẫn đủ khả năng hội nhập trong cái chung” [168] Nhà văn cần vượt khỏi sự ràng buộc của những công thức

cũ kĩ, sáo mòn trong tư duy sáng tác cũ để “triển khai kĩ lưỡng hơn ở sự phân tích sâu sắc cái khát vọng sống nằm tiềm ẩn trong con người”, và có “sự bứt phá ra khỏi

Trang 15

một mô thức đã trở nên quen quen” [140, tr.9] Tuy vậy, trong quá trình phát triển,

so với văn học đương đại Việt Nam, văn xuôi miền núi có những đặc điểm riêng

Đó là “sự chuyển biến trực tiếp từ văn học truyền miệng lên văn học thành văn” [175, tr.91]; “sự gắn bó chặt chẽ với văn hóa truyền thống của dân tộc…., sự biểu hiện hết sức sinh động và rõ nét bản sắc của dân tộc trong sáng tác” [135, tr.115]

Vì vậy, trong quan niệm của các nhà văn, sự đổi mới trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo vẫn là một trong những cách tốt nhất để tạo nên giá trị riêng

cho tiểu thuyết viết về miền núi Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Muốn thiên hạ hiểu được ta, chịu đọc ta, không ngoài con đường nào khác là hãy đi cho thấu cốt cách dân tộc Tiểu thuyết của ta phải trên cái nền vững chắc ấy mà đi đến tính hiện đại” [201, tr.364] Nhà thơ Hữu Thỉnh thì đặt ra yêu cầu: “Văn học với nhiệm vụ đưa văn hóa thấm sâu vào đời sống… muốn đưa văn hóa vào đời sống, văn học phải trở thành văn hóa” [86, tr.9] Khi viết về đề tài miền núi, nhiều tác giả đã bắt rễ vào truyền thống, vận dụng tối đa vốn văn hóa, văn học dân gian vào sáng tạo tác phẩm truyện hiện đại Những quan niệm của các nhà văn, nhà nghiên cứu cho thấy một thực tế Sự đổi mới tư duy tiểu thuyết ở khu vực sáng tác miền núi có nét đặc thù so với khu vực sáng tác ở miền xuôi

1.2 Tình hình nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Trong bối cảnh sôi động của đời sống phê bình, lí luận trong nước, văn xuôi miền núi từ sau Đổi mới, trong đó có tiểu thuyết ngày càng được quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều sách chuyên luận, phê bình, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án, bài đăng tạp chí, bài viết tại hội thảo tiến hành nghiên cứu về nó trên nhiều phương diện Sự xuất hiện ngày càng nhiều tư liệu nghiên cứu về văn xuôi miền núi, về tiểu thuyết cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của tiểu thuyết viết về miền núi trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc Các công trình này tập trung vào hai hướng nghiên cứu chính: nghiên cứu khái quát về tiểu thuyết viết về miền núi và nghiên cứu về một số gương mặt nhà văn tiêu biểu trong sáng tác tiểu thuyết về đề tài miền núi Chúng tôi khái quát lại những vấn đề nghiên cứu trong các công trình trên theo hai hướng này:

Trang 16

1.2.1 Những công trình nghiên cứu khái quát

Xét trên phương diện đội ngũ:

Đội ngũ sáng tác là yếu tố quyết định sự phát triển và những thành tựu của tiểu thuyết viết về miền núi Một số công trình nghiên cứu đã có sự quan tâm, đánh giá về tình hình đội ngũ sáng tác, chủ yếu ở sự nối tiếp và sự trưởng thành của các thế hệ nhà văn, nhất là các nhà văn dân tộc thiểu số Nói về sự kế tiếp đội ngũ sáng tác văn xuôi về miền núi, tác giả Đỗ Thị Thu Huyền cho rằng: “Văn xuôi miền núi gặp thuận lợi ở những bước phát triển đầu tiên nhờ những tác phẩm thành công của

Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng” [135, tr.115] Nhận xét của tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của các nhà văn người Kinh trong việc đặt những tiền đề nghệ thuật quan trọng cho các nhà văn dân tộc thiểu số trong sáng tác văn xuôi Nghiên cứu về thực trạng và sự phát triển của đội ngũ viết về đề tài miền núi, các tác giả Nguyễn Long, Huyền Duy quan tâm đến các nhà văn dân tộc

thiểu số Trong bài Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại: “ lực lượng

sáng tác văn học người dân tộc thiểu số phát triển mạnh hơn và dần dần đảm đương lấy nhiệm vụ viết về miền núi như tiếp nhận một sự bàn giao của các nhà văn người

Kinh trước đó” [147, tr.82] Trần Thị Việt Trung trong cuốn Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc điểm cũng khẳng định vai trò của các nhà văn

dân tộc thiểu số trong sáng tác tiểu thuyết thời kì Đổi mới: “những cây bút dân tộc thiểu số đã phần nào thực hiện được sứ mệnh cũng như khát khao cháy bỏng của những người con dân tộc thiểu số không quên nguồn cội – đó là nuôi giữ ngọn lửa văn chương nghệ thuật, nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc mình” [225, tr.82] Nguyên

Ngọc trong bài Mấy suy nghĩ về tình hình văn học các dân tộc thiểu số hiện nay nhận

định: “Đáng mừng mấy năm gần đây đã xuất hiện một số tác giả dân tộc thiểu số đặc sắc Thậm chí, một chừng mực nào đó có thể nói: có dấu hiệu trong lĩnh vực này đang bắt đầu một thời kì phát triển rất khác, có ảnh hưởng không chỉ đến sáng tác văn học các dân tộc thiểu số, mà cả sáng tác văn học nói chung” [163,tr.4]

Cao Thị Thu Hoài trong luận án Nửa thế kỉ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam quan tâm đến sự phát triển về trình độ lí luận

sáng tác, về sự chuyên nghiệp của các nhà văn dân tộc thiểu số: “được đào tạo bài

Trang 17

bản qua các trường lớp, được trang bị đầy đủ những điều kiện về tri thức, văn hóa Lớp nhà văn này đến với con đường văn chương không còn với tư cách những tác giả quần chúng, không chuyên nữa mà xuất hiện với tư cách những nhà văn chuyên nghiệp” [124, tr.45] Theo tác giả, với những nỗ lực phấn đấu không ngừng, cho đến nay, đội ngũ những nhà văn sáng tác tiểu thuyết về miền núi “đã và đang từng bước gặt hái được những thành tựu đáng kể, với nhiều tác phẩm được đánh giá cao

về chất lượng nghệ thuật” [124, tr.47]

Xét trên phương diện nội dung:

Sự mở rộng và phong phú của đề tài được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là thành tựu nổi bật nhất về phương diện nội dung của tiểu thuyết viết về miền núi từ

sau Đổi mới Đào Thủy Nguyên trong Văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại – Dòng riêng giữa nguồn chung cho rằng: “Đường biên hiện thực trong các tác

phẩm được nới rộng hơn” [168] Lâm Tiến đánh giá thành tựu nổi bật của tiểu thuyết viết về miền núi “trước hết là ở đề tài, được mở rộng hơn” [215, tr.226] Phạm Duy Nghĩa (2009) khẳng định: nét mới đầu tiên của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau năm 1986 “là sự mở rộng đề tài, chủ đề” [95, tr.39] Cũng theo Phạm Duy Nghĩa, “ngoài những vấn đề mang tính xã hội, một số tác phẩm đã đi vào các khía cạnh đời tư của con người” [158, tr.40]; “miêu tả con người cá nhân với những

éo le, mất mát, bất hạnh do nhiều nguyên nhân khác nhau” [158, tr.100] và khắc họa chân thực “hình tượng con người âm thầm khao khát tình yêu, hạnh phúc” [158,

tr.100] Tác giả Cao Thị Thu Hoài trong luận án Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc điểm (2015) tiếp tục khẳng định sự mở rộng đề

tài như là một thành tựu tiêu biểu về nội dung của tiểu thuyết viết về miền núi thời

kì sau năm 1986 Theo tác giả, “muôn mặt phải trái của đời sống xã hội miền núi đang trở thành tâm điểm để các nhà văn đi sâu khai thác và phản ánh Đặc biệt, những mảng tối văn học trước đây từng bị né tránh nay cũng đang được phơi bày” [124, tr.39]

Tác giả Trần Thị Việt Trung trong cuốn Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam thời kì hiện đại – một số đặc điểm đã điểm lại những nội dung cơ bản trong

tiểu thuyết viết về miền núi qua nội dung tác phẩm của một số tác giả tiêu biểu Theo tác giả, “trong sáng tác của Vi Hồng, cuộc sống của người dân tộc thiểu số

Trang 18

hiện lên khá sinh động qua một thế giới nhân vật được phân làm hai tuyến đối lập: thiện – ác ” [225, tr.93]; “Triều Ân cũng có nhiều sáng tác tái hiện bộ mặt xã hội

và con người miền núi phong phú, hấp dẫn” [225, tr.98]; còn “Hiện thực cuộc sống

mà Cao Duy Sơn đề cập đến trong tác phẩm của mình lại là những vấn đề muôn

thuở của cuộc đời” [225, tr.100-102]

Xét trên phương diện cách tân nghệ thuật:

Bàn về những đổi mới nghệ thuật trong tiểu thuyết viết về miền núi sau năm

1986, nhà phê bình văn học Lâm Tiến chủ yếu khẳng định thành tựu đổi mới nghệ

thuật tiểu thuyết của Cao Duy Sơn Theo tác giả, “Tiểu thuyết Người lang thang của

Cao Duy Sơn là một trong hai tác phẩm hay của năm 1992 phần nào đã thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại” [225, tr.257] Nó “đã miêu tả các nhân vật với một sự tự ý thức… tạo cho nhân vật có được cá tính riêng… ngôn ngữ ở đây mang chất văn xuôi hơn là cách nói ước lệ, ví von, so sánh của những nhân vật trong các tiểu thuyết trước đây Kết cấu truyện cũng phức tạp hơn” [225, tr.231-232] Tác giả Trần Thị Việt Trung đặc biệt quan tâm đến sự thay đổi

tư duy nghệ thuật của một số nhà văn dân tộc thiểu số: “trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình, các nhà văn người dân tộc thiểu số đã rất chú ý đến việc khắc họa về ngoại hình, tâm lý và hành động nhân vật” [225, tr.154] Phạm Duy Nghĩa chỉ ra những thành tựu nổi bật về nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ, bút pháp tiểu thuyết: “một số tác phẩm đã thể hiện rõ những đổi mới trong quan niệm về con người và hiện thực, trong tư duy nghệ thuật và bút pháp” [158, tr.39] Đáng chú ý, trong một số tiểu thuyết lịch sử “chất sử thi đã nhạt” [158, tr.39] để thêm vào hơi thở của cuộc sống bộn bề

Trong luận án Nửa thế kỉ phát triển văn xuôi các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc Việt Nam, Cao Thị Thu Hoài cũng nhắc đến những dấu hiệu mới trong

cách nhìn và tư duy nghệ thuật của một số tác giả như Vi Hồng, Triều Ân, Vương Trung, Cao Duy Sơn Theo tác giả, Triều Ân đã có đổi mới trong việc xây dựng

nhân vật: “Tiểu thuyết Dặm ngàn rong ruổi của Triều Ân đã xây dựng thành công

những nhân vật có sự chuyển hóa giữa các cực đối lập, khám phá vào từng cuộc đời, số phận với cái nhìn tỉnh táo, sâu sắc nhưng cũng đầy nhân ái… Trong khi đó,

ở tiểu thuyết Nơi ấy biên thùy, Triều Ân lại đi sâu vào những góc khuất, ẩn sâu

Trang 19

trong tâm hồn con người miền núi Nhân vật được đặt vào những xung đột, mâu thuẫn, phải lựa chọn giữa bổn phận xã hội và tình cảm cá nhân” [124, tr.35] Còn Vi

Hồng, “qua hai tác phẩm Người trong ống và Gã ngược đời lại tạo được những dấu

ấn riêng khi lần đầu tiên đề cập đến hình tượng người trí thức trong thời đại mới với

cả những nhân vật tích cực và tiêu cực” [124, tr.36] Cao Duy Sơn “được coi là cây bút tiếp cận rõ nét nhất phương pháp sáng tác hiện đại trong các tiểu thuyết” [124,

tr.41] Tiểu thuyết Người lang thang của Cao Duy Sơn “đã đạt đến độ chín khi tạo

cho nhân vật của mình những cá tính riêng đặc sắc trong cuộc đấu tranh giữa thiện

và ác, tốt và xấu” [124, tr.40]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã bước đầu hình thành một cái nhìn tương đối rõ nét về những phương diện trọng yếu làm nên diện mạo phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới Việc chỉ ra và sơ bộ đánh giá, nhận xét về tình hình đội ngũ sáng tác, sự mở rộng đề tài phản ánh và những dấu hiệu cách tân nghệ thuật của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới của các nhà nghiên cứu cho thấy tiểu thuyết là thể loại có những đặc điểm phát triển riêng trong

hệ thống văn xuôi viết về miền núi thời kì này Sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới nói trên là những gợi dẫn cần thiết cho chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu về thể loại này trong sự phát triển của nó ở một thời kì văn học

1.2.2 Những công trình nghiên cứu cụ thể về tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Trong quá trình khảo sát các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi nhận thấy, mối quan tâm của các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tác phẩm của một số nhà văn tiêu biểu:

Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng:

Ma Văn Kháng là nhà văn tiêu biểu viết về miền núi Hiện thực cuộc sống và con người miền núi đã đem đến cho sự nghiệp của Ma Văn Kháng những thành tựu

xuất sắc Trong thời kì Đổi mới, nhà văn viết Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Một mình một ngựa (2008), Chuyện của Lí (2013) Viết nhiều về đề tài này, ở những

thời điểm sáng tác khác nhau, nhưng mỗi một tiểu thuyết của Ma Văn Kháng đều mang một giá trị mới Theo Lã Nguyên, “câu chữ của Ma Văn Kháng giống như đất canh tác sẵn nguồn phù sa, nên không xơ xác bạc màu, mà vẫn ánh lên nhung tuyết,

Trang 20

hồn cốt” [169] Trước Đổi mới, sức hấp dẫn của tiểu thuyết viết về miền núi của Ma Văn Kháng chính là “những trang viết hay nhất về cái bạo liệt, dữ dội của miền biên ải”, là cảm hứng “nhức nhối, xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã mông muội của những kẻ chưa thành người và những người không được làm người” [169] Sau Đổi mới, tiểu thuyết của Ma Văn Kháng có thêm những giá trị mới Gặp gỡ ở La Pan Tẩn của Ma Văn Kháng là sự tiếp nối “đề tài dân tộc H’Mông có thể coi là cái

điểm được anh đầu tư nhiều suy nghĩ hoặc có ý thức đẩy mạnh “thâm canh”… Đây

mới là thế mạnh của anh” [220, tr…] Tác giả Đoàn Ánh Dương cho rằng, Gặp gỡ ở

La Pan Tẩn là tác phẩm “mang nặng tính luận đề” đã đặt ra một câu hỏi lớn: “Có

cách nào thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ cách mạng trên cơ sở kết hợp khoa học kỹ thuật của văn minh đô thị miền xuôi và sức mạnh nội sinh của một truyền thống văn hóa có nhiều dị biệt? Phải có định hướng bồi dưỡng và phát triển con

người nơi đây ra sao?” [137, tr.393] Phạm Duy Nghĩa thì cho rằng Gặp gỡ ở La Pan Tẩn là “một bước tiến dài về tư duy tiểu thuyết”, thể hiện qua sự hội tụ nhiều

thủ pháp nghệ thuật như “nhiều tầng nghĩa, nhiều thủ pháp ẩn dụ, giọng điệu phồn

tạp, đa thanh để ngỏ cho sự dân chủ tranh luận” [137, tr.11] Cuốn Một mình một ngựa là tiểu thuyết mang tính tự truyện đặc sắc của Ma Văn Kháng Đây là “cuốn

tiểu thuyết có cái nét ngậm ngùi rất khó lẫn Cái ngậm ngùi của người đã kinh qua sóng gió cuộc đời, cái ngậm ngùi của người biết quá rõ sự bất toàn của quá khứ và cũng là người hiểu thấu rằng đó chính là một phần không thể tách rời kí ức của mình” [141, tr.201] Thành công của tác phẩm còn được đánh giá ở phương diện xây dựng nhân vật Tác giả Nguyễn Long Khánh cho rằng: “Ma Văn Kháng đã xây dựng thành công chân dung sống trần trụi, đời thường nhưng mãnh liệt, mạnh mẽ về

lý tưởng, tính cách sống anh hùng, hấp dẫn đến mê hoặc về người cộng sản qua nhân vật bí thư tỉnh ủy Quyết Định, một điều mà tiểu thuyết đương đại Việt Nam ít người làm được” [143] Nhìn chung, theo ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu,

lấy bối cảnh miền núi, tiểu thuyết Một mình một ngựa là một thành công về nghệ

thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Nó đã có đóng góp quan trọng trong việc đa dạng hóa văn xuôi viết về miền núi thời kì Đổi mới Năm 2013, Ma Văn Kháng ra

mắt độc giả cuốn tiểu thuyết Chuyện của Lý Cũng khai thác mảng đề tài miền núi, nhưng tác phẩm này mang một màu sắc khác Trong bài Sự sống chẳng bao giờ

Trang 21

chán nản, Bùi Việt Thắng cho rằng khi viết cuốn tiểu thuyết này có lẽ “nhà văn

muốn trả ơn bạn đọc, trả ơn cuộc đời, dù cuộc đời không chỉ có những năm tháng ngọt ngào mà còn có cả những năm tháng đắng cay” [202] Thành công của tác phẩm có lẽ còn chờ vào dư luận đánh giá của độc giả ở phía trước, nhưng rõ ràng

“Chuyện của Lý không hẳn là chuyện của một người, mà là chuyện của nhiều

người Nghĩa là nỗi đau này cũng như niềm vui này khiến nhiều người soi vào đó

mà thấy được cái nỗi đời Nó tiêu biểu cho con đường đau khổ đi tìm chân lí và hạnh phúc của con người trên cõi trần gian này” [202] Nhìn chung, các bài viết chúng tôi khảo sát được đều tập trung nghiên cứu, đánh giá về thành công và đóng góp quan trọng của Ma Văn Kháng trong việc khám phá chiều sâu hiện thực và con người miền núi

Tiểu thuyết của Vi Hồng:

Vi Hồng là nhà văn người Tày, là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất cho các nhà văn dân tộc thiểu số thời kì Đổi mới Vừa là một nhà sưu tầm văn hóa dân gian, một nhà giáo vừa là người viết văn, Vi Hồng có nhiều điều kiện thuận lợi

để sáng tạo nghệ thuật trên một mảnh đất hiện thực dồi dào về chất liệu, phong phú, độc đáo về bản sắc Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền cho rằng: Vi Hồng “một hiện tượng độc đáo trong nền văn học Việt Nam hiện đại” [225, tr.346] Nhận định về sức phản ánh hiện thực dồi dào của ngòi bút tiểu thuyết Vi Hồng, tác giả Trần Thị Việt Trung khẳng định: “hiện thực và cuộc sống của người dân tộc thiểu số trong những năm Đổi mới hiện lên đa dạng, phong phú… một số tác phẩm còn mang tính thời sự nóng hổi” [225, tr.93] Nét độc đáo nhất trong tiểu thuyết về miền núi của

Vi Hồng là sự “vận dụng rất nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần của dân gian, chủ yếu là văn hóa, văn học dân gian Tày – Nùng như Then, Sli, Lượn, Puối Pác, Puối

Rọi” [225, tr 346] Phạm Duy Nghĩa trong bài Vi Hồng và hệ thống tác phẩm được dân gian hóa cũng khẳng định sự ảnh hưởng sâu sắc “của diễn ngôn dân gian” đến

văn phong tiểu thuyết Vi Hồng, với hình thức các nhân vật “nói với nhau theo đường ong bay hoa nở, theo lối nói trai thanh gái nụ mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Tày” [161] Điều này tạo thành phong cách nghệ thuật riêng của Vi Hồng trong suốt văn nghiệp của ông Qua đánh giá của nhiều tác giả nghiên cứu, có thể nhận thấy vị trí quan trọng của phong cách tiểu thuyết Vi Hồng trong quá trình phát huy

Trang 22

và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh:

Gắn bó sâu nặng với mảnh đất Tây Nguyên, Trung Trung Đỉnh là người viết nhiều tiểu thuyết về vùng miền núi Trường Sơn – Tây Nguyên nhất trong thời kì Đổi mới Tác giả Hồ Sĩ Bình nhận xét: “Sống chết với Tây Nguyên hết mình, chiến đấu với vùng đất đầy nắng gió này cũng hết mình, nhà văn đã xem mình là đứa con của cao Nguyên… Nổi trội nhất, để lại ấn tượng nhất vẫn là mảng đề tài Tây

Nguyên Những Lạc rừng, Ngược chiều cái chết, Lính trận là những tác phẩm để

lại nhiều dấu ấn trong mảng đề tài về chiến tranh, đặc biệt là Tây Nguyên” [77] Tác

giả Bùi Việt Thắng trong bài Sự trở lại của đề tài chiến tranh cách mạng khẳng

định: “Trung Trung Đỉnh dường như sinh ra để gắn bó với Tây Nguyên và chiến tranh, đã chung thủy với đề tài mình lựa chọn như một cái “nghiệp văn chương”” [203] Tác giả Lưu Khánh Thơ cũng khẳng định: “Sự gắn bó máu thịt với vùng đất Tây Nguyên của tác giả là yếu tố đầu tiên tạo nên sức cuốn hút cho những trang viết

của Trung Trung Đỉnh” [137, tr.513] Ngược chiều cái chết là cuốn tiểu thuyết đặt

ra một vấn đề riết róng: “sự phát triển kinh tế xã hội phải đi đôi với việc giữ gìn bản

sắc và làm cách nào thực hiện được điều đó” [137, tr.727] Lạc rừng (Giải A Cuộc

thi tiểu thuyết lần thứ nhất 1998 – 2000 của Hội Nhà văn Việt Nam) được Trung Trung Đỉnh “Viết ở tâm thế của cái “tôi” chủ thể” nên “có nhiều “đất” để tâm sự

giãi bày, để tự vấn và phán xét” [137, tr.513] Nét độc đáo của Lạc rừng, theo tác giả Hoàng Hoa chính là “sự hội ngộ lạ lùng của văn hóa” [121] Trong bài Một cách

lí giải về thực trạng tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn Hòa cũng chỉ ra ý nghĩa của cuộc cọ xát, giao thoa văn hóa này: “Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh… độc đáo

ở chỗ nhân vật Bình đã lạc vào, rồi phải tự giải quyết một bài toán khá phức tạp đối với chính anh là làm sao hòa nhập, cộng sinh, chiến đấu cũng một cộng đồng người Bana xa lạ với anh, đặc biệt là ở sự khác biệt văn hóa, cách biệt văn minh”, “Bằng sự

tương phản giữa hai số phận qua hai mối tương sinh hết sức con người, Lạc rừng đã

đề cập tới một vấn đề văn hóa có ý nghĩa nhân loại là sự lựa chọn văn hóa, là bi kịch của văn minh trong cuộc xung đột văn hóa đã và đang diễn ra” [149, tr.205-206]

Lính trận của Trung Trung Đỉnh là cuốn tiểu thuyết lạ Theo tác giả Phạm Phú

Trang 23

Phong, đặc sắc của tác phẩm là “quay cận cảnh sự ác liệt dữ dội của chiến tranh nhưng không chọn góc nhìn thoáng rộng của một cấp chỉ huy mà lại chọn góc hẹp của một người lính hậu cần”, khiến cho “những gì gian khổ, khốc liệt nhất của chiến tranh đã hiện ra một cách sinh động và chân thật” [182] Giọng điệu của Trung Trung Đỉnh trong cuốn tiểu thuyết là “giọng điệu trần thuật, giọng điệu miêu tả và giọng điệu nhân vật đều thể hiện hồn cốt của con người Tây Nguyên” [182] Trong tác phẩm, tác giả “không quá chú trọng vào không khí chiến trận, mà chủ yếu thể hiện những quy luật vận động nội tâm của con người trong chiến tranh một cách sinh động, chân thật… không quá chú trọng đến vẻ đẹp của người anh hùng theo phương thức huyền thoại hóa… mà chăm chú miêu tả vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của từng kiểu người theo phương thức phi huyền thoại hóa Gương mặt đất nước một thời và chân dung con người trong chiến tranh trở nên gần gũi, chân thật trong cảm nhận chủ quan của người đọc” [182] Là người viết hiếm hoi về Tây Nguyên ở thời

kì Đổi mới, 3 cuốn tiểu thuyết tiêu biểu của Trung Trung Đỉnh “đã sáng tạo ra một cách viết mới về Tây Nguyên, và do đó đã khám phá lại cho ta một lần nữa cái thế giới Tây Nguyên khiêm nhường, lẩn khuất mà tuyệt đẹp ấy” [186]

Tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam:

Đoàn Hữu Nam là một nhà văn tiêu biểu của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Lào Cai Tuy Đoàn Hữu Nam sáng tác nhiều tiểu thuyết viết về miền núi nhưng trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy các bài nghiên cứu chủ yếu tập trung bàn

luận về hai tác phẩm tiêu biểu của nhà văn là Trên đỉnh đèo dông bão và Thổ phỉ Trên đỉnh đèo dông bão là cuốn tiểu thuyết Đoàn Hữu Nam viết hưởng ứng cuộc

vận động sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng Theo Phạm Duy Nghĩa, đây là một cuốn sách đạt được nhiều thành công Nổi bật là “Việc vận dụng lạ hóa và tâm linh như một yếu tố thi pháp” [160] Tuy nhiên, Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng:

“Một điều làm giảm sức thuyết phục của Trên đỉnh đèo dông bão là các nhân vật

dân tộc ít người còn khá mờ nhạt về thành phần và bản sắc dân tộc” [160] Về tiểu

thuyết Thổ phỉ, Mã A Lềnh trong bài Từ thế giới thổ phỉ sang thế giới nghệ thuật

nhận xét: “Dựa vào những trang tư liệu có thật trong đời sống, tác giả đã chuyển hóa một cách hoạt giảo vào địa hạt văn chương, tạo cho hiện thực một sức sống”

[146, tr.143] Sự thành công của Đoàn Hữu Nam với tiểu thuyết Thổ phỉ cũng được

Trang 24

Sương Nguyệt Minh ví như “một người muốn dọn dẹp vứt bỏ tất cả những gì mình

đã có trước kia để đi con đường lớn, để xây ngôi đền văn chương mới của riêng

mình” [154] Trong Thổ phỉ, “Đoàn Hữu Nam vượt qua lối kể chuyện để thể

nghiệm lối viết vừa đậm tính triết luận vừa đầy chất phiêu bồng, trải những suy tư, nghiền ngẫm bằng cái nhìn đầy day dứt, dằn vặt về thân phận con người”; “hiếm thấy một không gian nghệ thuật đặc sắc trong văn chương như xã hội và con người

người Dao trong tiểu thuyết Thổ phỉ” [154] Cao Thị Hảo đi sâu khai thác yếu tố kì

ảo trong tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam và cho rằng: “Yếu tố kì ảo được sử

dụng rất thành công trong tác phẩm, góp phần quan trọng thể hiện rõ ý đồ nghệ thuật của nhà văn” [115] Các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam cho thấy vị trí đặc biệt quan trọng của nhà văn trong địa bàn sáng tác tiểu thuyết vùng Tây Bắc Qua các bài viết, phong cách tiểu thuyết của Đoàn Hữu Nam cũng được hình dung một cách khá rõ nét

Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn:

Cao Duy Sơn, người từng nói “cả đời tôi chỉ đeo đuổi đề tài về người miền núi” là người có số lượng tiểu thuyết viết về miền núi sau Đổi mới khá dồi dào Đó

là các tác phẩm Người lang thang (1992), Cực lạc (1995), Hoa mận đỏ (2000), Đàn trời (2006), Chòm ba nhà (2009) Trong bài Cao Duy Sơn, những chuyện ở Lũng

Cô Sầu, tác giả Hoài Nam cho rằng Cao Duy Sơn “Không mô tả miền núi… chỉ là

kể và ngẫm về những chuyện vẫn thường xảy ra trong “cõi người ta” phổ quát với những được và mất, vui và buồn, sướng và khổ, hy vọng và tuyệt vọng, yêu thương

và thù hận…” [157] Trong số các nhà văn dân tộc thiểu số, Cao Duy Sơn cũng được đánh giá là một nhà văn có thế mạnh về khám phá hiện thực miền núi Theo tác giả Trần Thị Việt Trung, con người miền núi trong tiểu thuyết của Cao Duy Sơn

“phần lớn đều xuất thân từ tầng lớp bình dân, thậm chí họ là những con người… nếm trải và đối diện với bao thử thách, bao éo le, ngang trái của kiếp người, nhưng luôn ẩn chứa một tâm hồn tươi sáng, một trái tim nhân hậu vượt qua bằng tất cả

sự hi sinh cao thượng và lòng chung thủy đến tận đáy cuộc đời” [225, tr.101-102] Hiện thực ấy “như muốn chuyển đến chúng ta một thông điệp: hãy lấy tâm hồn để hiểu tâm hồn, hãy lấy nhân nghĩa để ứng xử với nghĩa nhân” [224, tr.104] Tiểu thuyết của Cao Duy Sơn còn tiêu biểu cho thành tựu đổi mới về nghệ thuật của tiểu

Trang 25

thuyết viết về miền núi sau Đổi mới Nhà phê bình Lâm Tiến nhận xét Người lang thang là một tiểu thuyết “thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu thuyết hiện đại” [175, tr.258] Phạm Duy Nghĩa cũng cho rằng: Người lang thang “là tác phẩm văn xuôi

dân tộc thiểu số đầu tiên thể hiện rõ ý thức soi chiếu nhân vật góc độ đời tư với

ngôn ngữ đậm chất văn xuôi” [158, tr.41] Đàn trời của Cao Duy Sơn là một tiểu

thuyết mang tính luận đề về đề tài miền núi gây được sự chú ý đặc biệt trên văn đàn Việt Nam đương đại Đoàn Ánh Dương khẳng định: tác phẩm “không chỉ đem đến một tiếng nói lên án mà ẩn trong bề sâu là tiếng nói khẳng định phẩm cách làm người, niềm tin vào sự bất diệt của cái đẹp, cái thiện” [137, tr.300] Trong năm cuốn tiểu thuyết thời kì Đổi mới của Cao Duy Sơn, “những vấn đề nhân bản được đặt ra

và được giải quyết theo cái nhìn mới… Với ý nghĩa đó, tác phẩm của Cao Duy Sơn

là sự kiếm tìm, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề đang đặt ra cho văn xuôi các dân tộc thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam hiện đại nói chung” [215, tr.233] Những đánh giá trên không chỉ là sự nhận diện những thế mạnh nổi bật của Cao Duy Sơn trong sáng tác tiểu thuyết về miền núi thời kì Đổi mới mà còn là sự khẳng định đóng góp quan trọng của tác giả trên hành trình đổi mới tiểu thuyết viết về miền núi

1.3 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của luận án

1.3.1 Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu

Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi

từ sau năm 1986, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

- Thứ nhất, văn xuôi về miền núi nói chung, tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng từ sau năm 1986 ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Về

cơ bản, các công trình nghiên cứu đã tập trung nêu bật một số nét trong diện mạo phát triển của thể loại tiểu thuyết như: sự phát triển của đội ngũ sáng tác, sự mở rộng đề tài và ý thức khai phá những chiều sâu mới của đời sống, những dấu hiệu ban đầu của sự cách tân nghệ thuật Từ đó, các nhà nghiên cứu bước đầu khẳng định những thành tựu quan trọng của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau năm 1986 cũng như chỉ ra những hạn chế của nó trong việc thể hiện đề tài miền núi

Trang 26

- Thứ hai, ở những góc độ khác nhau, các bài viết, công trình nghiên cứu đã phân tích, bình luận và chỉ ra những nét nổi bật (như đề tài, tư tưởng sáng tác, nghệ thuật xây dựng nhân vật, sáng tạo ngôn ngữ) trong sáng tác tiểu thuyết của một số nhà văn tiêu biểu Trong những bài viết này, các ý kiến đánh giá thường nhấn mạnh tính bản sắc độc đáo trong sáng tác hoặc nỗ lực đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của nhà văn và coi đó là những đóng góp quan trọng của họ cho việc hình thành một diện mạo hoàn chỉnh của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Những nội dung nghiên cứu trên là tiền đề quan trọng để tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu sâu vào thể loại trong nhiệm vụ phản ánh đề tài miền núi Tuy nhiên, có thể

do mục đích, giới hạn nghiên cứu của các công trình trên nên chúng tôi nhận thấy:

- Các công trình mang tính chất khái quát đều đặt tiểu thuyết viết về miền núi

từ sau năm 1986 trong văn xuôi miền núi để nghiên cứu Chưa có công trình nào tìm hiểu riêng về tiểu thuyết Vì thế, sự nghiên cứu về thể loại trong việc thể hiện đề tài miền núi không tránh khỏi tình trạng còn sơ lược, chung chung

- Nhiều công trình tập trung nghiên cứu về văn xuôi dân tộc thiểu số (trong

đó, tiểu thuyết được nhìn nhận là thể loại chủ đạo) Các nhà nghiên cứu nêu các đặc điểm, thành công, hạn chế về nội dung, nghệ thuật của tiểu thuyết như một viện dẫn khoa học cho đặc điểm, thành công, hạn chế của văn xuôi dân tộc thiểu số Nên ở một mức độ nhất định, cái nhìn của nhiều nhà nghiên cứu vẫn thiên về bề rộng, còn thiếu cái nhìn bề sâu, thiếu sự thấu suốt cơ chế vận hành của thể loại và những đặc trưng nội dung, nghệ thuật của nó trong việc thể hiện đề tài miền núi Trong khi khẳng định ưu điểm mở rộng biên độ hiện thực của tiểu thuyết, các nhà nghiên cứu chủ yếu nhấn mạnh về sự phản ánh hiện thực bên ngoài hơn là hiện thực bên trong, hiện thực “tự cảm thấy” Hơn nữa, vì mục đích nghiên cứu tập trung vào sự phát triển của văn xuôi dân tộc thiểu số nên các nhà nghiên cứu chỉ quan tâm đến tình hình sáng tác tiểu thuyết của đội ngũ nhà văn dân tộc thiểu số Trong khi sự phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi thời kì Đổi mới có sự đóng góp của cả hai nguồn tác giả người Kinh và người dân tộc thiểu số

- Một số công trình nghiên cứu, trong quá trình nhận định về thành tựu và hạn chế của văn xuôi về miền núi, trong đó có tiểu thuyết, đôi khi đã nghiêng về chỉ

ra những hạn chế của tiểu thuyết trên phương diện nghệ thuật Ở những nhận định

Trang 27

này, các tác giả thường nhìn thấy sự chậm đổi mới về tư duy tiểu thuyết, về nghệ thuật tổ chức kết cấu, xây dựng nhân vật so với tiểu thuyết về đề tài miền xuôi cùng thời kì Thiết nghĩ, do đặc thù trong quá trình phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi, mục đích quan trọng nhất của việc nghiên cứu không phải xác định xem nó có tiến kịp tiểu thuyết viết về miền xuôi hay không mà là xác định xu hướng phát triển cùng những đặc trưng khác biệt về nội dung, nghệ thuật của nó trong dòng chảy chung của tiểu thuyết nước nhà Đồng thời, cần nhận thức sâu sắc đóng góp của tiểu thuyết viết về miền núi là ở sự thể hiện các nhân tố mới như hoàn cảnh thực tại, sự phát triển của lịch sử và cốt cách tinh thần cũng như tính chất đặc thù của văn hóa các dân tộc miền núi

- Các nghiên cứu về tiểu thuyết của các nhà văn tiêu biểu vẫn tồn tại riêng rẽ, chưa thành hệ thống để tạo được một cái nhìn tổng quát về tình hình sáng tác, về sự thay đổi tư duy tiểu thuyết và tính độc đáo trong sáng tác của họ về miền núi

1.3.2 Hướng triển khai của luận án

Từ việc phân tích, tìm ra những khoảng trống trong nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới, chúng tôi nhận thấy có 5 vấn đề cần làm sáng tỏ:

- Diện mạo phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới Cụ thể

là diện mạo của tiểu thuyết viết về miền núi ở cả ba khu vực miền Bắc, miền Trung, Trường Sơn – Tây Nguyên đặt trong cái nhìn vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt xuất phát từ địa văn hóa

- Đội ngũ sáng tác tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới với các vấn đề: quan điểm nghệ thuật, sự thay đổi tư duy nghệ thuật, sự kế thừa và sáng tạo giữa các thế hệ sáng tác

- Các bình diện được miêu tả trong tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới (mối quan hệ giữa con người với con người, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, mối quan hệ giữa con người với chính nó)

- Các phương thức nghệ thuật cơ bản của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới (về nghệ thuật tổ chức kết cấu, nghệ thuật miêu tả nhân vật, nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ); những dấu hiệu cách tân về nghệ thuật

Trang 28

- Vị trí của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới trong sự phát triển chung của thể loại tiểu thuyết Việt Nam đương đại, dòng riêng giữa nguồn chung và bản sắc dân tộc độc đáo của thể loại khi khai phá và thể hiện đề tài về miền núi

Trên cơ sở mục tiêu của đề tài, luận án cố gắng làm sáng tỏ 5 vấn đề trên, đặc biệt làm nổi bật những chuyển động, những cơ chế vận hành bên trong tạo ra sự

đổi mới của tiểu thuyết viết về đề tài miền núi

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Chương 1 hệ thống lại các quan điểm của giới phê bình và nghiên cứu về các vấn đề trọng tâm: quan điểm về sự đổi mới tư duy tiểu thuyết và tiểu thuyết viết về miền núi trong thời kì Đổi mới Đồng thời khảo sát và hệ thống lại các công trình khoa học khái quát và cụ thể nghiên cứu về tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới Đối với những công trình nghiên cứu khái quát, các tác giả đã nêu và có những phân tích sơ bộ về một số phương diện nội dung, nghệ thuật của tiểu thuyết viết về miền núi sau Đổi mới Trên cơ sở đó, các tác giả có những đánh giá về ưu điểm, hạn chế của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới, chủ yếu là các hạn chế trên một

số phương diện nghệ thuật: cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ Đối với những công trình nghiên cứu cụ thể, các tác giả tập trung tìm hiểu, đánh giá về một số tác giả đạt được thành tựu nổi bật khi sáng tác tiểu thuyết về miền núi như Ma Văn Kháng,

Vi Hồng, Trung Trung Đỉnh, Đoàn Hữu Nam, Cao Duy Sơn… Các bài đánh giá cơ bản đã chỉ ra một số nét nổi bật về tư duy nghệ thuật và phong cách sáng tác của các nhà văn này Đồng thời chỉ ra những giá trị đặc sắc trong một số tiểu thuyết tiêu biểu của họ viết về đề tài miền núi thời kì Đổi mới Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu nói trên là cơ sở khoa học của luận án nghiên cứu về tiểu

thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

Trang 29

CHƯƠNG 2 TIỀN ĐỀ XÃ HỘI, VĂN HÓA VÀ DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT VIẾT

VỀ MIỀN NÚI TỪ SAU ĐỔI MỚI

2.1 Tiền đề xã hội, văn hóa

2.1.1 Tiền đề xã hội, văn hóa

Miền núi nước ta chiếm 3/4 diện tích toàn quốc Theo Danh mục phân loại của Ủy ban Dân tộc và Miền núi (Kèm theo các Quyết định số: 21/UB-QĐ, 33/UB-

QĐ, 64/UB-QĐ, 21/1998/QĐ-UBDT&MN), Việt Nam có 10 tỉnh vùng cao là Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Bắc Cạn, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, 9 tỉnh miền núi là Lạng Sơn, Quảng Ninh, Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hòa Bình, Bắc Giang, Bình Phước Hiện nay, thống nhất cách gọi chung là miền núi Miền núi có diện tích khoảng 23 triệu héc ta, chiếm 3/4 diện tích đất đai trong cả nước Địa hình hiểm trở, chủ yếu là núi cao, giáp biên giới, được coi là “cửa ngõ”, “phên dậu” của Tổ quốc Do đặc điểm riêng về địa lý, miền núi có những nét đặc thù trong sự phát triển tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa Những nét đặc thù này có ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của văn học nghệ thuật miền núi nói chung, tiểu thuyết viết về miền núi nói riêng

Thứ nhất là sự đa dạng sinh thái tự nhiên, trong đó, rừng là nguồn tài

nguyên phong phú, đa dạng nhất cung cấp nguồn sống cho người miền núi, cũng là nhân tố gắn bó, chi phối mạnh mẽ đến đời sống văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân tộc thiểu số Môi trường sinh thái tự nhiên đa dạng, phong phú của miền núi đã trở thành nguồn chất liệu đặc biệt của tiểu thuyết những năm Đổi mới Vấn đề quan tâm của tác giả không chỉ ở sự phong phú, độc đáo của môi trường sinh thái tự nhiên ấy mà chủ yếu là mối quan hệ của nó với con người trong một chỉnh thể sinh thái Đây là cơ sở cho sự xuất hiện của khuynh hướng sinh thái trong tiểu thuyết

Thứ hai là tính đặc thù của địa bàn cư trú và phương thức sản xuất: Miền

núi có khoảng hơn 25 triệu người sinh sống Người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13,8% số dân sống ở miền núi, phân bố theo 3 khu vực địa bàn cư trú chính Ở khu vực miền núi phía Bắc: các dân tộc Thái, Mường, Tày, Nùng cư trú ở các vùng thấp, ven sông suối, trồng lúa nước; dân tộc Dao và một số dân tộc thuộc nhóm

Trang 30

ngôn ngữ Nam Á cư trú ở rẻo giữa, canh tác nương rẫy; dân tộc H’Mông cư trú trên núi cao, canh tác nương rẫy trên các triền núi đá, vẫn duy trì tập quán du mục Ở khu vực miền Trung là các dân tộc Thái, Thổ, Mường, Chứt… cư trú ở vùng đồi hoặc thung lũng, chủ yếu trồng lúa nước Ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên là các dân tộc Êđê, Mnông, Sêđăng, Jrai, Bahnar, Cơ Tu, Chơ Ro, Brâu… sống ở vùng núi và cao nguyên, canh tác nương rẫy và còn giữ tập quán săn bắt Địa hình vùng núi và địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số nhìn chung có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành phong cách, lối sống, tính cách tiêu biểu của họ ở từng khu vực cư trú Sống trên triền núi cao, điều kiện khắc nghiệt khiến cho người H’Mông sống khép kín với tính cách mạnh mẽ, sắt đá và có một ý chí quyết liệt Sống ở vùng thấp, thung lũng có sông suối rộng rãi, hiền hòa nên những người Thái, Mường, Tày, Nùng… sống cởi mở, ôn hòa, giao lưu cộng đồng rộng rãi Sống trên cao nguyên đầy nắng, gió, những người Êđê, Mnông, Sêđăng, Jrai, Bahnar mang một phong cách bộc trực, thẳng thắn và phóng khoáng… Sự tác động của điều kiện sống đến việc hình thành lối sống và những biểu hiện, những ứng xử văn hóa của người dân tộc thiểu số đã kích thích các nhà văn khám phá vào chiều sâu của những mạch ngầm, những vỉa tầng văn hóa phong phú, độc đáo của miền núi Phương thức sản xuất còn dấu vết của lối canh tác truyền thống của cư dân bản địa thể hiện tính đặc trưng độc đáo của vùng miền nhưng lại tác động mạnh mẽ tới sinh quyển Đây chính là thực tế khơi gợi ở nhiều nhà văn mối quan tâm đặc biệt về sinh thái tự nhiên như một ý thức

Thứ ba là sự đa dạng về dân cư: Trong khoảng hơn 25 triệu người sống ở

miền núi, có cả người dân tộc thiểu số bản địa và người Kinh ở vùng đồng bằng lên sinh sống Sự tiếp nhận dân cư từ vùng đồng bằng lên tác động không nhỏ đến cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật

và văn hóa được đưa từ miền xuôi lên góp phần quan trọng mở mang trình độ dân trí, học vấn, tạo những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa miền núi Nhưng mặt khác, sự du nhập của yếu tố văn hóa ngoại sinh cũng có những tác động, phần nào làm biến đổi bản sắc riêng biệt, độc đáo của cộng đồng người thiểu số Thực tế này đặt người dân miền núi trước nhiệm vụ phải giữ gìn, bảo tồn những nét văn hóa riêng độc đáo Sự di dân tự do giữa các khu vực của

Trang 31

miền núi cũng đang tạo ra những áp lực không nhỏ cho một bộ phận người dân tộc thiểu số về điều kiện kinh tế, xã hội Tuy nhiên, sự đa dạng về dân cư cũng lại là một nét đặc thù, khác biệt độc đáo của miền núi so với vùng đồng bằng, thành thị

Sự giao thoa văn hóa trở thành một trong những đặc điểm nổi bật của đa dạng dân

cư ở miền núi Vấn đề giao thoa, du nhập văn hóa, văn hóa cộng sinh, sinh thái tinh thần của tiểu thuyết viết về miền núi được mở ra từ đặc điểm cộng cư đa dạng, độc đáo này

Thứ tư là sự thống nhất và đa dạng văn hóa:

Sự thống nhất về văn hóa ở miền núi thể hiện trong những điểm chung về bản sắc văn hóa biểu hiện qua đời sống vật chất và tinh thần, tiếng nói, chữ viết, tri thức truyền thống, các thiết chế xã hội, chuẩn mực đạo đức, ứng xử, lối sống, tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số Đồng thời thể hiện trong sự giao thoa, chuyển hóa văn hóa tự nhiên giữa các tộc người tạo thành một bản sắc văn hóa chung độc đáo của khu vực miền núi

Sự đa dạng văn hóa ở miền núi thể hiện trong việc hình thành các “vùng văn

hóa” với những nét văn hóa đặc trưng Vùng văn hóa Tây Bắc với hơn hai mươi tộc

người cư trú Trong đó người Thái nổi lên như một sắc thái đại diện cho văn hóa Tây Bắc với những ngành nghệ thuật dân gian đặc sắc như xòe Thái, âm nhạc, thơ

ca Vùng văn hóa Việt Bắc với hơn mười tộc người cư trú, trong đó chủ yếu là

người Tày – Nùng Văn hóa Tày – Nùng giữ vai trò chủ thể, đặc sắc là văn hóa

cộng đồng (như lễ hội Lồng Tồng, văn hóa chợ) Vùng văn hóa Tây Nguyên với hơn

hai mươi tộc người sinh sống Đây là vùng còn bảo lưu khá nguyên vẹn văn hóa truyền thống dân gian Văn hóa cồng chiêng và văn hóa nhà mồ là những đặc trưng nổi bật của vùng văn hóa này Tính đa dạng văn hóa ở miền núi còn thể hiện ở sự phong phú và khác biệt về phong tục, tập quán của từng vùng, từng tộc người, có khi là từng dòng họ Những phong tục, tập quán, cấm kị riêng biểu hiện quan niệm của từng cộng đồng về đời sống, được đảm bảo bởi những nguyên tắc chặt chẽ, tính

kỉ luật và niềm tin tuyệt đối, linh thiêng của con người Đây là một “kho hiện thực” đầy ắp chất liệu cho nhà văn, nhất là sức hấp dẫn của những ứng xử văn hóa bản địa

đa dạng, mang giá trị nhân học văn hóa đặc sắc

Trang 32

Trong bối cảnh của thời kì Đổi mới, mối giao lưu văn hóa ở miền núi diễn ra ngày càng mạnh mẽ Không phải chỉ giao lưu văn hóa giữa các tộc người thiểu số với nhau, giữa các dân tộc thiểu số miền núi và dân tộc Kinh ở miền xuôi mà còn là

sự tiếp xúc và giao lưu văn hóa với thế giới Nhiệm vụ quan trọng đặt ra là làm thế nào để trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa, cộng đồng các dân tộc thiểu số vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa của cộng đồng khác vừa giữ gìn được những bản sắc văn hóa độc đáo của mình Trong Nghị quyết Trung ương V (Khóa VIII) của Đảng về xây dựng và phát triển “nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, vấn đề văn hóa truyền thống và đa dạng văn hóa, vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc cũng đã được nêu ra một cách hệ thống và rõ ràng Bản sắc văn hóa vừa là động lực, là nhân tố nội lực của sự phát triển vừa là mục đích của sự phát triển Đây cũng là mối quan tâm, trăn trở của không ít nhà văn Nhiều nhà văn khi sáng tác tiểu thuyết đã đặc biệt tập trung vào vấn đề bảo tồn văn hóa và phát triển đời sống

Nhìn chung, những đặc trưng về địa văn hóa của miền núi trong thời kì Đổi mới đã trở thành một tiền đề quan trọng để văn học nghệ thuật ngày càng phát triển mạnh mẽ Sự khác biệt mang tính đặc thù của miền núi chính là nhân tố thôi thúc người cầm bút khám phá những giá trị riêng của vùng đất Trước Đổi mới, các nhà văn mới chỉ chú ý đến việc phản ánh những biến động lịch sử, chính trị của miền núi, ca ngợi hình tượng con người miền núi anh dũng, bất khuất trong đấu tranh cách mạng, ca ngợi thành tựu của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội ở miền núi Sau Đổi mới, các nhà văn bắt đầu hướng đến việc đào sâu mảnh đất văn hóa của các dân tộc thiểu số, phát hiện những mạch ngầm văn hóa truyền thống còn lưu giữ được những nét nguyên sơ, thể hiện tinh thần dân tộc và cộng đồng độc đáo Nói cách khác, đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi không đơn thuần chỉ bộc lộ khuynh hướng chính trị mà đã thực sự trở lại với chính nó, mang những vẻ đẹp và giá trị riêng đặc sắc Nhà văn không chỉ khám phá văn hóa như là một yếu tố “lạ” mà đã thay đổi phương thức quan sát, phương thức biểu hiện, làm

rõ nội hàm của văn hóa lịch sử, giúp độc giả hiểu một cách thấu đáo, sâu sắc giá trị văn hóa dân tộc qua văn học Mặt khác, nhiều vấn đề nhân sinh có tính đặc thù của miền núi như: công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế và xây dựng cuộc sống mới, vấn

Trang 33

đề an sinh xã hội, vấn đề an ninh, quốc phòng, vấn đề tôn giáo, vấn đề sinh thái cũng đã trở thành những vấn đề bức thiết khơi gợi ý thức trách nhiệm của những người cầm bút trước sự tồn tại và phát triển của một miền núi trong tương lai

2.1.2 Tiền đề văn học nghệ thuật

Văn học nghệ thuật miền núi là một nền văn học nghệ thuật thống nhất, đứng trước những yêu cầu đổi mới và phát triển Là một phần không thể tách rời trong

nền văn học nghệ thuật Việt Nam, sự phát triển của văn học nghệ thuật ở miền núi

từ sau Đổi mới minh chứng cho sức sống, cho tính thống nhất trong đa dạng của nền văn học nghệ thuật dân tộc Sau Đổi mới, tình hình phát triển văn học nghệ

thuật ở các tỉnh miền núi được quan tâm trên nhiều phương diện Các nhà văn đã nhận thức được nhiệm vụ quan trọng là làm cho văn học miền núi phát triển xứng

tầm trên văn đàn Việt Nam đương đại Trong bối cảnh văn học nghệ thuật đương đại đã và đang khai thác hiện thực của đời sống ở tầng sâu, khám phá con người ở phương diện bản thể, tạo nên các giá trị mới, khác biệt với văn học nghệ thuật truyền thống, thì văn học nghệ thuật miền núi cũng không thể ru mãi điệu cũ Nó cần phải đổi mới cách khám phá hiện thực Ở đó, miền núi và dân tộc không đơn giản chỉ là đối tượng tái hiện, miêu tả, minh họa mà phải trở thành đối tượng bản thể được khám phá từ những vỉa tầng sâu nhất của văn hóa, của nhân văn, trở thành đối tượng quy định phương thức miêu tả của ngòi bút nghệ sĩ Từ nhận thức quan

trọng đó, các hoạt động hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật đã được chú trọng Hội

Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam đã tổ chức nhiều hình thức hỗ trợ sáng tạo văn học nghệ thuật ở miền núi như: tăng cường công tác bồi dưỡng đội ngũ, nhất là tác giả người dân tộc thiểu số; tổ chức đi thực tế sáng tác để mở rộng sự giao lưu về văn học; tăng cường vai trò nòng cốt của các Hội văn học nghệ thuật ở các tỉnh miền núi; tổ chức các hội thảo về văn học nghệ thuật dân tộc và miền núi Những năm qua, nhiều hội thảo về văn học nghệ thuật dân tộc và miền núi đã được

tổ chức ở các quy mô khác nhau Có thể nhắc đến Hội thảo về đề tài dân tộc và miền núi (năm 2009); Hội thảo văn học các dân tộc thiểu số khu vực trung du, miền núi phía Bắc (năm 2011); Hội thảo Văn học các dân tộc thiểu số với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thời kì Đổi mới (năm 2011) Hoặc các hội thảo về

các nhà văn dân tộc thiểu số có vị trí quan trọng trong nền văn học dân tộc và miền

Trang 34

núi như Hội thảo về nhà văn Vi Hồng (năm 2006); Hội thảo về nhà văn Hoàng Triều Ân (2007); Hội thảo nhà văn Ma Trường Nguyên – tác giả, tác phẩm (2009)

Các hội thảo này đã trở thành những diễn đàn văn học nghệ thuật quan trọng để thay đổi nhận thức, quan điểm của giới văn nghệ sĩ ở miền núi về sáng tạo nghệ thuật, tạo điều kiện để họ nhìn nhận những bước đi, đánh giá những thành tựu, đặt

ra những yêu cầu, tiêu chuẩn mới cho văn học miền núi thời kì Đổi mới Đồng thời, việc tổ chức các hội thảo bàn về văn học nghệ thuật dân tộc và miền núi cũng cho thấy sự quan tâm kịp thời và sâu sắc hơn của các cơ quan chức năng cũng như dư luận xã hội, đông đảo công chúng đến sự sống còn, sự phát triển của nền văn học nghệ thuật miền núi; cho thấy vị trí quan trọng của văn học nghệ thuật miền núi trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam Đây là nguồn động lực quan trọng cho các nhà văn, nhất là các nhà văn dân tộc thiểu số nhận thức được ý nghĩa của việc đóng góp nghệ thuật cho sự phát triển của một nền văn học miền núi Cùng với việc tổ

chức các hội thảo văn học nghệ thuật, nhiều giải thưởng nghệ thuật đã được trao

cho các tác giả, tác phẩm nhằm ghi nhận những thành tựu sáng tác, khích lệ tinh thần sáng tạo nghệ thuật của văn nghệ sĩ Các nhà văn người Kinh như Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Trung Trung Đỉnh, Đoàn Hữu Nam đều nhận được những giải thưởng quan trọng cho các tác phẩm viết về dân tộc và miền núi Tô Hoài nhận Giải nhất

của Hội Văn nghệ Việt Nam (1956) cho tập Truyện Tây Bắc; Giải thưởng Hội Nhà văn Á – Phi (1970) cho tác phẩm Miền Tây; được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí

Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 (1996) cho các tác phẩm tiểu thuyết và truyện

ngắn trong đó có Núi cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Họ Giàng ở Phìn Sa Nhà văn

Ma Văn Kháng được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

(2012) cho một số tác phẩm trong đó có Gặp gỡ ở La Pan Tẩn Nhà văn Trung Trung Đỉnh nhận Giải thưởng Nhà nước (2007) cho tác phẩm Lạc rừng Nhà văn

Đoàn Hữu Nam nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2010) cho tiểu thuyết

Thổ Phỉ Đáng chú ý là một số nhà văn dân tộc thiểu số cũng đã đạt được nhiều

giải thưởng cao quý về văn học nghệ thuật cho sự nghiệp sáng tác về miền núi Vi Hồng, Triều Ân đều được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

(2012) Bên cạnh đó, công tác phê bình, nghiên cứu văn học nghệ thuật miền núi và dân tộc cũng được quan tâm hơn Một số nhà phê bình đã dành nhiều tâm huyết

Trang 35

nghiên cứu, đánh giá về diện mạo, quá trình phát triển, thành tựu về tác giả, tác phẩm văn học nghệ thuật miền núi Trong lĩnh vực văn học, có tác giả vừa sáng tác vừa viết phê bình như Nông Quốc Chấn, Mã A Lềnh, Vi Hồng, Dương Thuấn…; có người chuyên viết phê bình Năm 1996, lần đầu tiên Hội Nhà văn Việt Nam trao

giải thưởng cho nhà phê bình văn học Lâm Tiến với cuốn Văn học các dân tộc thiểu

số Việt Nam hiện đại Dù lĩnh vực lí luận phê bình ở miền núi chưa phát triển mạnh,

nhưng những nỗ lực của các nhà văn, các nhà nghiên cứu đã tạo thêm điều kiện để

văn học nghệ thuật miền núi có cơ sở lí luận để phát triển và đổi mới Hoạt động giới thiệu tác phẩm, sách nghiên cứu đến công chúng cũng được quan tâm và tiến

hành một cách chuyên nghiệp hơn Nhiều tác phẩm đã có mặt trong các tuyển tập, hợp tuyển văn học hoặc được giới thiệu tại các thư viện địa phương và quốc gia Điều đó cho thấy trình độ thưởng thức văn học nghệ thuật của đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao đã được nâng lên Đội ngũ trí thức miền núi ngày càng trở thành lực lượng độc giả ưu tú, đòi hỏi được thưởng thức các tác phẩm văn học nghệ thuật hay Các nhà phê bình và bạn đọc cả nước cũng mong mỏi cơ hội được nghiên cứu

về những giá trị độc đáo của văn học nghệ thuật về miền núi

Văn học nghệ thuật miền núi còn là một nền văn học nghệ thuật đa dạng với chủ trương phát huy và bảo tồn bản sắc Sự đa dạng của văn học nghệ thuật miền

núi trước hết thể hiện trong mối quan hệ qua lại hữu cơ giữa văn học nghệ thuật dân gian và văn học nghệ thuật hiện đại Văn học nghệ thuật hiện đại miền núi phát triển trên nền một kho tàng văn học nghệ thuật dân gian hết sức đồ sộ, phong phú và có nhiều tinh hoa Sự chuyển tiếp trực tiếp từ văn học nghệ thuật dân gian sang văn học nghệ thuật hiện đại đã ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm, tư duy sáng tác của nghệ sĩ Các nghệ sĩ hiện đại hấp thụ những yếu tố văn học nghệ thuật dân gian vào trong tác phẩm một cách tự nhiên hầu như không có một trở ngại nào Một tác phẩm thơ hiện đại vẫn thấm đượm phong vị của cách nói vần, của những làn điệu dân ca

như khắp, lượn…; một truyện ngắn hay một tiểu thuyết hiện đại vẫn có cốt truyện

nhân quả gần gũi với cốt truyện nhân quả quen thuộc của truyện cổ dân gian; một

tác phẩm âm nhạc hiện đại nhưng giai điệu vẫn mang hơi hướng của điệu khèn, điệu tính… Thực tế này tạo nên một sự giao thoa, mối quan hệ qua lại đặc biệt giữa văn

học nghệ thuật dân gian và hiện đại Các tác phẩm văn học nghệ thuật hiện đại về

Trang 36

miền núi phát triển trên tinh thần kế thừa, phát huy những tinh hoa của văn học

nghệ thuật dân gian ở nhiều phương diện Ngược lại, hiện tượng Hiện đại hóa dân gian (Phạm Duy Nghĩa) cũng trở thành nét độc đáo của nhiều tác phẩm văn học

nghệ thuật hiện đại

Ở một góc độ khác, tình trạng cộng cư, sống xen kẽ giữa các dân tộc thiểu số cũng tạo ra sự giao thoa văn học nghệ thuật giữa các tộc người ở cùng một vùng văn hóa Tuy giữ gìn tính bản sắc riêng nhưng vẫn có sự chuyển hóa một cách tự nhiên trong đời sống văn học nghệ thuật của các tộc người Ở đây, sự chuyển hóa chủ yếu diễn ra ở các tộc người có số dân cư đông đúc, cư trú trên một địa bàn rộng lớn, có những truyền thống, sắc thái văn hóa nổi bật, có tính đại diện cho vùng Ví

dụ sự giống nhau giữa dân tộc Tày và dân tộc Nùng trong âm nhạc Lề lối hát lượn của người Tày và sli của người Nùng là đại diện tiêu biểu cho âm nhạc dân gian

vùng Đông Bắc Hoặc hình thức kể khan là hình thức kể sử thi diễn ra trong đời sống văn học nghệ thuật của nhiều tộc người ở Tây Nguyên Tuy cách gọi khác

nhau (người Êđê gọi là khan, người Giarai gọi là Hri, người Sê đăng gọi là Hơmoan, người Bahnar gọi là H’Amon…) nhưng thực chất đều là cách kể về truyền

thống cha ông, về phong tục, tập quán, về chiến công của người thủ lĩnh anh hùng

Sự giao thoa về văn học nghệ thuật giữa các dân tộc thiểu số và văn học nghệ thuật của người Kinh sống ở miền núi cũng góp phần tạo nên tính đa dạng của nền văn học nghệ thuật miền núi Nhà phê bình Lâm Tiến nhận xét: “Trong sự phát triển đó, văn học các dân tộc thiểu số không thể không tiếp nhận những giá trị mới, những giá trị của văn học Kinh” [215, tr.73] Sự tiếp nhận, học tập những giá trị riêng của nền văn học nghệ thuật miền xuôi làm cho văn học nghệ thuật miền núi vừa phong phú vừa tăng cường tính hiện đại Nhiều nghệ sĩ dân tộc thiểu số đạt được thành tựu trong các sáng tác nghệ thuật hiện đại là nhờ vào việc được tiếp cận, học hỏi kinh nghiệm lí luận, kinh nghiệm sáng tác từ các tác giả người Kinh Ngược lại, nhiều nghệ sĩ dân tộc Kinh cũng học được từ nguồn văn học nghệ thuật thấm đẫm chất dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số những cách biểu hiện độc đáo Trường hợp này bộc lộ khá rõ nét trong sáng tác văn học Theo Nông Quốc Chấn, “các hoạt động đó đã tác động mạnh tới tính chung, tính phổ biến trong văn hóa, văn học, nghệ thuật” [215, tr.18] Sự đa dạng về văn học nghệ thuật ở miền núi tạo nên một

Trang 37

bức tranh nhiều màu sắc, sinh động và chứa đựng trong nó những ý nghĩa, những giá trị văn hóa sâu sắc, độc đáo hối thúc người nghệ sĩ khám phá, sáng tạo Đồng thời đặt người nghệ sĩ trước nhiệm vụ thông qua sáng tác nghệ thuật đóng góp tiếng nói vào việc giải quyết hài hòa, tốt đẹp mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, thống nhất và đa dạng

Đại hội toàn quốc lần thứ V, Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam (nhiệm kỳ 2014 - 2019) diễn ra vào ngày 01 – 02/12/2014 đã đề ra mục tiêu quan trọng: “Gắn bó đất nước, quê hương miền núi và dân tộc Phát triển văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, độc đáo về bản sắc, thống nhất trong

đa dạng” (Kỷ yếu Đại hội V, 2016) Để đặt được mục tiêu đó, văn học nghệ thuật miền núi đứng trước những nhiệm vụ quan trọng: xây dựng một nền văn học nghệ thuật miền núi thống nhất trong đa dạng, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo, đổi mới để phát triển Đây chính là một tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tiểu thuyết viết về miền núi

2.2 Diện mạo của tiểu thuyết viết về miền núi từ sau Đổi mới

2.2.1 Đội ngũ sáng tác

Thời kì từ sau Đổi mới là thời kì phát triển mạnh mẽ và đa dạng của đội ngũ sáng tác tiểu thuyết về miền núi

Trước năm 1986, do điều kiện lịch sử, xã hội, đội ngũ nhà văn viết tiểu

thuyết về đề tài miền núi còn rất mỏng Chủ yếu là một số nhà văn người Kinh từng đến thực tế sáng tác hoặc từng công tác, sinh sống thời gian dài ở miền núi như Tô Hoài, Phượng Vũ, Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Ma Văn Kháng Tiểu thuyết của các nhà văn này là sự khai thác tương đối rộng hiện thực miền núi và số phận của người lao động miền núi; xây dựng được những điển hình về số phận con người dưới chế độ cũ; chỉ ra con đường vận động về tư tưởng của người dân miền núi từ bóng tối ra ánh sáng Nghệ thuật viết tiểu thuyết của Tô Hoài, Phượng Vũ, Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Ma Văn Kháng có thể coi là mẫu mực của bút pháp sáng tác hiện thực mang tính sử thi Những năm 60 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhà văn dân tộc thiểu số sáng tác tiểu thuyết về đề tài miền núi Người tiên phong là Nông Minh Châu, sau đó là

Vi Hồng, Y Điêng Mặc dù tiểu thuyết mới chỉ là những thể nghiệm bước đầu của các nhà văn này nhưng nó đã mở ra một hướng phát triển mới đầy tiềm năng cho

Trang 38

thể loại trong việc khám phá đời sống và con người miền núi bằng cái nhìn của người trong cuộc Đây cũng là tiền đề cho sự phát triển của lực lượng sáng tác là người dân tộc thiểu số trong thời kì tiếp theo

Từ năm 1986 trở lại đây, sau hơn 30 năm phát triển và đổi mới, đội ngũ sáng

tác tiểu thuyết ngày càng phát triển mạnh mẽ So với trước năm 1986, lực lượng viết tiểu thuyết gồm cả các nhà văn người Kinh và các nhà văn là người dân tộc thiểu số đều tăng về số lượng và đạt được thành công khác nhau trong sáng tác

Đối với các nhà văn người Kinh sáng tác tiểu thuyết về miền núi: Ở những năm đầu thập kỉ 80 – 90, Tô Hoài, Ma Văn Kháng vẫn tiếp tục sáng tác về đề tài miền núi Tô Hoài hoàn thành tác phẩm Đà Bắc, Mai Châu ngày ấy (Sau đổi tên thành Nhớ Mai Châu ) năm 1987 Với “bút pháp điêu luyện, sự tinh nhạy, hiểu biết

và từng trải vốn có” về đời sống và con người miền núi, Tô Hoài đã cung cấp thêm cho độc giả “những tư liệu mới về lịch sử kháng chiến, về con người và phong tục,

về thiên nhiên đầy màu sắc của vùng núi Tây Bắc” [137, tr.792] Tác phẩm là sự hoàn chỉnh, mẫu mực về bút pháp tiểu thuyết đậm chất sử thi và có ý nghĩa như một

sự tổng kết của Tô Hoài về mảng đề tài miền núi Trong khi đó, Ma Văn Kháng vẫn

tiếp tục viết về miền núi cho đến những năm gần đây Ba tác phẩm: Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1993), Một mình một ngựa (2008), Chuyện của Lý (2013) cho thấy đề tài miền núi vẫn có sức hấp dẫn riêng với ngòi bút tiểu thuyết của Ma Văn Kháng Từ thập kỉ 90 trở đi, xuất hiện một thế hệ mới sáng tác tiểu thuyết về miền núi như

Trung Trung Đỉnh, Đoàn Hữu Nam, Trần Cao Đàm, Hoàng Thế Sinh, Thu Loan,

Đỗ Tiến Thụy, Đỗ Bích Thuý… Họ đóng góp một khối lượng khá lớn tiểu thuyết cho văn xuôi miền núi Trong số đó, Trung Trung Đỉnh, Đoàn Hữu Nam, Hoàng Thế Sinh, Đỗ Bích Thúy là những người có sức viết dồi dào nhất Là cây bút hiếm hoi còn sáng tác về miền núi Tây Nguyên sau Đổi mới, Trung Trung Đỉnh có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của tiểu thuyết ở khu vực này Các tiểu thuyết

Ngược chiều cái chết (1986), Lạc rừng (1999), Lính trận (2012) của Trung Trung

Đỉnh đặt ra vấn đề bức thiết của đời sống miền núi Đó là nhu cầu và khả năng hội nhập về văn hóa giữa các cộng đồng khác nhau; là sự hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và sự bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đặc thù của miền núi trong thời kì Đổi mới Đoàn Hữu Nam viết về miền núi Lào Cai như một đam

Trang 39

mê Bốn cuốn tiểu thuyết: Tình rừng (2000), Dốc người (2001), Trên đỉnh đèo dông bão (2004), Thổ phỉ (2010) của tác giả là sự khám phá và tái hiện đời sống và con

người miền núi theo hai khuynh hướng nổi bật: khuynh hướng lịch sử và khuynh hướng thế sự - đời tư Hoàng Thế Sinh cũng là nhà văn có đóng góp đặc biệt cho

tiểu thuyết viết về miền núi với 4 tác phẩm: Bụi hồ (1992), Xứ mưa (2000), Rừng thiêng (2006), Ma tiền (2016), đề cập đến vấn đề nhân tính, vấn đề sinh thái tự

nhiên đang ngày càng trở nên bức thiết ở miền núi Đỗ Bích Thúy tuy là tác giả trẻ nhưng đã có những thành công bước đầu rất đáng ghi nhận trong nỗ lực làm mới

những câu chuyện lịch sử đã lùi xa vào quá khứ của miền núi Hà Giang Bóng của cây sồi (2005), Cánh chim kiêu hãnh (2013), Chúa đất (2016) là thành tựu tiểu

thuyết nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy Ngoài ra, nhiều sáng tác thể nghiệm của một số nhà văn quan tâm tới đề tài miền núi bước đầu để lại ấn

tượng sâu sắc với độc giả Thu Loan có Giữa cõi âm dương (2004); Đỗ Tiến Thụy

có Màu rừng ruộng (2006); Trần Cao Đàm có Đất mường thời dông lũ (2014) Tiểu

thuyết của các nhà văn người Kinh viết về miền núi khắc họa chân thực, sinh động hiện thực cuộc sống và con người miền núi qua các thời kì lịch sử Đồng thời, thể hiện tinh thần đổi mới tiểu thuyết trên nhiều phương diện nghệ thuật: kết cấu, nhân vật, giọng điệu, ngôn ngữ…

Đối với các nhà văn dân tộc thiểu số viết tiểu thuyết về miền núi: thời kì Đổi

mới ghi nhận sự nối tiếp và trưởng thành vượt bậc của nhiều thế hệ tác giả tâm

huyết với đề tài miền núi Những năm 90 là giai đoạn thành công của thế hệ thứ

nhất như Vi Hồng, Triều Ân, Ma Trường Nguyên, Địch Ngọc Lân, Hà Trung Nghĩa, Vương Trung… Trước Đổi mới, Vi Hồng đã thành công với một số truyện ngắn Những cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông cũng bắt đầu được chú ý Sau Đổi

mới, Vi Hồng tiếp tục phong độ sáng tác bằng hàng loạt tiểu thuyết: Vào hang (1990), Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Ái tình và kẻ hành khất (1993), Tháng năm biết nói (1993), Chồng thật vợ giả (1994), Phụ tình (1994), Đi tìm giàu sang (1995), Mùa hoa Boóc Loỏng (1995), Đọa đày (1997) Trong số các

nhà văn dân tộc thiểu số, chưa ai vượt được Vi Hồng về khối lượng tiểu thuyết Vi Hồng là một tấm gương về sức lao động nghệ thuật dồi dào Tiểu thuyết của vi Hồng thể hiện những hiểu biết sâu sắc về con người, phong tục tập quán, thiên

Trang 40

nhiên miền núi mang đậm sắc thái Tày Giải thưởng Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật năm 1993 – 1994 là một sự ghi nhận xứng đáng cho những cống hiến của nhà văn người dân tộc thiểu số này Ma Trường Nguyên, “người của xứ mây” (Lâm Tiến) là nhà văn đóng góp một số lượng tiểu thuyết về miền núi chỉ sau Vi Hồng

Các tiểu thuyết Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992), Tình xứ mây (1992), Trăng yêu (1993), Bến đời (1995), Rễ người dài (1996), Mùa hoa hải đường (1998)

đều tập trung phản ánh công cuộc xây dựng đời sống mới ở miền núi Đông Bắc; chỉ

ra những thách thức, những nguy cơ về sinh thái tự nhiên, sinh thái tinh thần ở miền núi trước sự tác động của cơ chế thị trường và lối sống tiêu dùng Sự tâm huyết và những thành tựu đạt được về đề tài miền núi đã khẳng định vị trí và vai trò của Ma Trường Nguyên trong nền văn học về miền núi từ sau Đổi mới Triều Ân bắt đầu con đường văn học của mình bằng sáng tác thơ Ông từng nhận được giải thưởng về thơ Nhưng Triều Ân cũng gặt hái được những thành công nhất định trong văn xuôi

Với các tiểu thuyết Nắng vàng bản Dao (1992), Nơi ấy biên thùy (1994), Dặm ngàn rong ruổi (2000), nhà văn có dịp thể hiện những am hiểu sâu sắc về cuộc sống, con

người, thiên nhiên miền núi Đông Bắc Tổ quốc Triều Ân còn đóng góp cho tiểu

thuyết về miền núi một bộ tiểu thuyết lịch sử gồm: phần I – Trên vùng mây trắng; phần II – Cuộc chiến vì ngày mai; phần III – Trên đỉnh núi Phượng Hoàng Bộ tiểu

thuyết thể hiện sự tâm huyết với lịch sử quê hương và những nỗ lực tìm tòi, thể nghiệm nghệ thuật viết tiểu thuyết lịch sử của Triều Ân trong thời kì Đổi mới Một

số nhà văn bước đầu cũng có những thể nghiệm đáng chú ý về tiểu thuyết như

Vương Trung với Mối tình Mường Sinh (1994), Địch Ngọc Lân với Ngôi đình bản Chang (1999), Hà Trung Nghĩa với Lửa trong rừng sa mu (1995), Hoàng Thị Cành với Làm dâu (1992)

Từ những năm 2000 trở lại đây, ngoài các nhà văn của thế hệ trước vẫn tiếp tục sáng tác như Vương Trung với Đất bản quê cha (2007), Địch Ngọc Lân với Mùa dứa (2003), Hoa Mí rừng (2001), Hà Trung Nghĩa với Gió bụi nhân gian (2001) còn xuất hiện thêm thế hệ nhà văn mới như Hà Đức Toàn với Tiếng hổ gầm (2000), Hoàng Hữu Sang với Cửa rừng (2000), Mã Anh Lâm với Đối mặt phía nửa đêm (2006), Kim Nhất với Luật của rừng (2008), Hữu Tiến với Dòng đời (2006), Hữu hạn (2012) Trong thế hệ nhà văn này, Cao Duy Sơn là một gương mặt nổi bật

Ngày đăng: 13/11/2017, 18:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Triều Ân (2013), Cuộc chiến vì ngày mai, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc chiến vì ngày mai
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2013
2. Triều Ân (2009), Tiểu thuyết Triều Ân, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Triều Ân
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2009
3. Triều Ân (2013), Trên đỉnh núi Phượng Hoàng, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đỉnh núi Phượng Hoàng
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2013
4. Hoàng Thị Cành (1992), Làm dâu, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm dâu
Tác giả: Hoàng Thị Cành
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1992
5. Nguyễn Văn Cự (2001), Đất thiêng, Nxb Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất thiêng
Tác giả: Nguyễn Văn Cự
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
6. Trần Cao Đàm (2014), Đất mường thời dông lũ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất mường thời dông lũ
Tác giả: Trần Cao Đàm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2014
7. Trung Trung Đỉnh (2002), Lạc rừng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạc rừng
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2002
8. Trung Trung Đỉnh (2013), Lính trận, Nxb Hồng Bàng, Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lính trận
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hồng Bàng
Năm: 2013
9. Trung Trung Đỉnh (2014), Ngược chiều cái chết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngược chiều cái chết
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2014
10. Tô Hoài (1999), Miền Tây, Tập 2, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền Tây
Tác giả: Tô Hoài
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
11. Vi Hồng (1990), Người trong ống, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người trong ống
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1990
12. Vi Hồng (1990), Vào hang, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vào hang
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1990
13. Vi Hồng (1990), Gã ngược đời, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gã ngược đời
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1990
14. Vi Hồng (1992), Ái tình và kẻ hành khất, Nxb Hội văn học nghệ thuật Bắc Thái Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ái tình và kẻ hành khất
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Hội văn học nghệ thuật Bắc Thái
Năm: 1992
15. Vi Hồng (1993), Tháng năm biết nói, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháng năm biết nói
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1993
16. Vi Hồng (1994), Chồng thật vợ giả, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chồng thật vợ giả
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1994
17. Vi Hồng (1994), Phụ tình, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ tình
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
18. Vi Hồng (1995), Đi tìm giàu sang, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm giàu sang
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 1995
19. Vi Hồng (2005), Mùa hoa Boóc Loỏng, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa hoa Boóc Loỏng
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2005
20. Vi Hồng (2007), Đọa đày, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọa đày
Tác giả: Vi Hồng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w