1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực trạng và một số đề xuất nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường ĐHSP

14 154 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 26,14 KB
File đính kèm Chất lượng nghiệp vụ sư phạm.rar (23 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểm khác biệt giữa trường Đại học sư phạm với các trường đại học khác là hoạt động đào tạo nghiệp vụ sư phạm. Thông qua hoạt động này, tay nghề dạy học của sinh viên được hình thành và được rèn luyện thường xuyên. Đây là điều kiện “cần” để sinh viên bớt đi sự bỡ ngỡ khi xuống các trường phổ thông thực tập sư phạm. Hoạt động này cũng trang bị cho sinh viên các kĩ năng dạy học, kĩ năng giáo dục cần thiết, góp phần rút ngắn khoảng cách “tập sự” của giáo viên trẻ mới ra trường, giúp họ nhanh chóng làm quen, hòa nhập và có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học – giáo dục, đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông trung học. Xuất phát từ việc nghiên cứu thực trạng chất lượng đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong các trường đại học sư phạm.

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TS Trương Thị Bích

Viện Nghiên cứu Sư phạm – Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt Điểm khác biệt giữa trường Đại học sư phạm với các trường đại học

khác là hoạt động đào tạo nghiệp vụ sư phạm Thông qua hoạt động này, tay nghề dạy học của sinh viên được hình thành và được rèn luyện thường xuyên Đây là điều kiện “cần” để sinh viên bớt đi sự bỡ ngỡ khi xuống các trường phổ thông thực tập sư phạm Hoạt động này cũng trang bị cho sinh viên các kĩ năng dạy học, kĩ năng giáo dục cần thiết, góp phần rút ngắn khoảng cách “tập sự” của giáo viên trẻ mới ra trường, giúp họ nhanh chóng làm quen, hòa nhập và có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học – giáo dục, đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông trung học Xuất phát từ việc nghiên cứu thực trạng chất lượng đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên, bài viết đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong các trường đại học sư phạm

1 Đặt vấn đề

Trong trường sư phạm, hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên là hoạt động chuyên biệt và mang tính đặc thù Vì vậy, việc quan tâm đầu tư thích đáng cho hoạt động này là rất quan trọng Những thành tựu về đào tạo giáo viên của các cơ sở đào tạo đã được khẳng định Tuy nhiên, vẫn còn những câu hỏi đặt ra và chưa có câu trả lời thấu đáo : năng lực thích ứng nghề nghiệp của nhiều sinh viên sư phạm chưa cao Rất nhiều công trình khoa học đã đề cập đến vấn đề này Phạm Văn Chín trong “Thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” [3], Nguyễn Thành Thi trong “Từ “Học” đến “Hành” và “Tập” – Khoảng cách cần phải rút ngắn trong đào tạo giáo viên” [14] đã chỉ ra những bất cập trong công tác đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở các trường đại học sư phạm

Trang 2

Nguyễn Thành Thi cho rằng “chương trình, các quy cách dạy học các môn Giáo dục học, Tâm lý học còn nặng sách vở, kinh viện, giảng viên bộ môn phương pháp không thích dạy phương pháp mà chỉ thích “lấn sân” dạy lại kiến thức cơ bản, chuyên ngành Đinh Quang Báo [1], Vũ Thị Sơn [12], Trương Thị Bích [2], Phạm Xuân Hậu [4], Nguyễn Thu Tuấn [10] đã nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghiệp vụ sư phạm trong trường đại học sư phạm Phạm Trung Thanh trong “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên” [13] đã xây dựng được một quy trình đào tạo nghiệp vụ

sư phạm rất chặt chẽ Đây thực sự là tài liệu tham khảo có giá trị mặc dù được viết cho đối tượng sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã có, trong bài viết này, tác giả quan tâm đến hai vấn đề : Thứ nhất, tìm hiểu khái quát thực trạng chất lượng đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên; thứ hai, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong các trường đại học sư phạm Để có cơ sở cho việc khái quát bức tranh thực trạng, tác giả bài viết đã dựa trên kết quả nghiên cứu của Hội thảo

Khoa học Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường đại học sư phạm, tổ chức vào tháng 1 năm 2010 tại Hà Nội và căn cứ vào kết

quả khảo sát, điều tra của cán bộ nghiên cứu – Viện Nghiên cứu Sư phạm đối với cán bộ quản lý, giáo viên hướng dẫn sinh viên thực tập ở trường phổ thông, sinh viên thực tập năm thứ 4 của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm học 2011-2012

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Khái quát thực trạng hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong trường đại học sư phạm

Trường đại học sư phạm là cơ sở đào tạo giáo viên, là nơi cung cấp nguồn nhân lực – người dạy học cho các trường phổ thông Nói cách khác, trường sư phạm

là nơi “tạo ra sản phẩm”, còn các trường phổ thông là “khách hàng tiêu thụ sản phẩm” Thế nhưng, nơi đào tạo đã chưa quan tâm thực sự đến “đơn đặt hàng”

Trang 3

chuyên môn, nghèo kỹ năng sư phạm” Trong khi, chính nghiệp vụ sư phạm sẽ quyết định tay nghề giáo viên, làm nên bản lĩnh giáo viên Thiếu nghiệp vụ sư phạm, giáo viên không thể thực hiện tốt hoạt động dạy học của mình Sau đây

là một số những bất cập về chất lượng của hoạt động này trong các trường đại học sư phạm :

2.1.1 Chương trình đào tạo giáo viên trong các trường đại học sư phạm hiện

nay thiên về trang bị lí luận, xem nhẹ và thiếu biện pháp rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên

Quan tâm đến vấn đề này là tác giả Trần Quốc Tuấn – Đại học Quy Nhơn [9], Nguyễn Thu Tuấn – Đại học Sư phạm Hà Nội [10], Bùi Thị Mùi – Trường Đại học Cần Thơ [6], Nguyễn Thành Thi [14],… Trần Quốc Tuấn cho rằng : Các học phần Tâm lí học, Giáo dục học, Lý luận dạy học, Phương pháp dạy học bộ môn mới tập trung nhiều ở chỗ cung cấp tri thức lí luận về nghề nghiệp, chưa tập trung rèn luyện, hình thành cho sinh viên những kĩ năng dạy học cụ thể Nguyễn Thu Tuấn cũng khẳng định chương trình đào tạo còn mang tính hàn lâm, nặng về cung cấp lí luận về phương pháp dạy học và giáo dục, chưa gắn với thực tiễn giáo dục Bùi Thị Mùi đi sâu vào tìm hiểu hệ thống tài liệu phục

vụ giảng dạy các học phần về nghiệp vụ sư phạm Tác giả cho rằng từ sách, giáo trình, bài giảng, tài liệu hướng dẫn thực hành, thực tập sư phạm,… hiện nay vẫn mang tính lí thuyết, chưa đáp ứng được yêu cầu rèn nghề sư phạm Tỉ

lệ số tiết thực hành trên số tiết lí thuyết còn thấp Một số báo cáo khác cũng chia sẻ thực trạng này ở những mức độ khác nhau Hầu hết đều cho rằng các môn học cung cấp tri thức nghiệp vụ sư phạm như Tâm lí học, Giáo dục học,… chưa chú trọng đến việc trang bị cho sinh viên các tình huống xảy ra trong thực tiễn dạy học và giáo dục Như vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào tạo ra sự gắn kết giữa trang bị kiến thức lí luận với rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp hướng tới hình thành những kĩ năng mẫu, vừa đủ cho sinh viên trở thành một giáo viên sau khi tốt nghiệp và dần dần sẽ tiến tới dạy giỏi hơn nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục và dạy học ở trường phổ thông

Trang 4

Sinh viên năm thứ 4, Đại học Sư phạm Hà Nội trong đợt thực tập sư phạm tại các trường THPT Xuân Đỉnh (Hà Nội), Kinh Môn (Hải Dương), THPT Nguyễn Huệ (Hà Nội) khi được phỏng vấn đã có ý kiến như sau : Hầu hết SV cho rằng các môn học Tâm lí học, Giáo dục học chưa giúp được cho các em các kiến thức kĩ năng cần thiết trong dạy học và giáo dục Một số sinh viên cho rằng nên giảm thời lượng học hai môn này Hỏi về nguyên nhân, các em trả lời đó là do các môn học này được tổ chức học trước đó khá lâu nên sinh viên quên gần hết Hơn nữa, chương trình học thiên về lí thuyết, hàn lâm, các kiến thức xa rời thực

tế dạy học nên khó nhớ Mặt khác, thiếu các ví dụ cụ thể gắn với thực tế dạy học ở trường phổ thông, tính thực hành chưa được chú trọng SV khi học hai học phần này chỉ cốt để lấy điểm cho “đẹp” hồ sơ, còn tính ứng dụng, thực hành của môn học phục vụ cho nghề nghiệp tương lai không được chú ý

2.1.2 Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ giảng dạy các học phần Tâm lí

học, Giáo dục học, Lý luận dạy học bộ môn trong việc xây dựng chương trình nghiệp vụ sư phạm thống nhất trong nhà trường Vì vậy mà chương trình nghiệp vụ sư phạm của các trường thiếu tính hệ thống [9], [5]

2.1.3 Đội ngũ giảng viên dạy nghiệp vụ sư phạm chưa được đào tạo bài bản,

chủ yếu là theo kinh nghiệm công tác Các năng lực phát triển nghề nghiệp cũng còn rất khiêm tốn [11] Giảng viên cung cấp được cho sinh viên các tri thức về nghiệp vụ sư phạm nhưng không phải ai cũng có thể dạy mẫu được cho sinh viên Điều này không khó hiểu bởi theo Nguyễn Thu Tuấn [10], có tới 90

% giảng viên các trường sư phạm hầu như chưa tham gia dạy học tại các trường phổ thông nên họ thiếu kinh nghiệm thực tế phổ thông, không nắm vững môi trường sư phạm ở trường phổ thông và những đổi mới giáo dục phổ thông, do vậy kiến thức kĩ năng để trang bị cho sinh viên chưa tương ứng

2.1.4 Các trường sư phạm chưa thực sự gắn kết chặt chẽ thường xuyên với các

trường phổ thông ; các trường phổ thông chưa coi nhiệm vụ hướng dẫn, giúp

đỡ giáo sinh là nhiệm vụ bắt buộc của mình [4]

Trang 5

2.1.5 Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ chú trọng tập trung vào những năm

cuối, trong khi để có năng lực nghiệp vụ sư phạm, sinh viên phải được rèn luyện ngay từ khi vào trường, lại rất ít được quan tâm [4]

2.1.6 Các trường còn quá chú trọng đến khoa học cơ bản và chuyên ngành mà

ít tập trung cho nghiệp vụ sư phạm [4], [8]

2.1.7 Sinh viên trong học tập nghiệp vụ sư phạm còn tỏ ra nhút nhát, thụ động,

giao tiếp kém, kĩ năng sống yếu và thiếu, chưa sáng tạo trong tiếp thu những kiến thức nghiệp vụ sư phạm, thiếu kĩ năng quan sát, kĩ năng biểu đạt ngôn ngữ [7],…

Khi được phỏng vấn về những điểm còn non, yếu của bản thân khi xuống trường PT thực tập, Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội đã cho biết : Điểm yếu nhất của các em là :

- Trình bày bảng xấu, chưa khoa học

- Việc phối kết hợp giữa nói và viết bảng khó

- Xử lí tình huống kém

- Không tạo được hứng thú cỏho học sinh học tập, học sinh không ủng hộ giáo viên

- Kĩ năng quản lí lớp kém

- Còn tham kiến thức, chưa biết nhấn mạnh, khắc sâu vào nội dung trọng tâm của bào dạy

Kết quả phỏng vấn giáo viên phổ thông thu được như sau :

- Sinh viên dạy trên lớp còn tham kiến thức, nói hơi nhiều

- Sinh viên chưa xác định được kiến thức trọng tâm khi soạn giáo án Cách đặt câu hỏi chưa khắc sâu vào kiến thức cơ bản; trình bày bảng yếu, chữ viết xấu Cách xưng hô còn “trẻ” (gọi học sinh là bạn xưng “tôi”); còn lệ thuộc vào giáo án

Trang 6

- Sinh viên chưa phân bố hợp lí thời gian, chưa dành thời gian thích hợp cho kiến thức trọng tâm, tổ chức hoạt động nhóm chưa tốt

- Điểm lúng túng nhất của sinh viên là cách đánh giá, cho điểm học sinh, phương pháp giảng dạy kém

- Việc vận dụng sách tham khảo, liên hệ thực tế kém

- Còn căng thẳng, chưa tạo được hứng thú cho học sinh học tập

- Trường sư phạm chưa dạy sinh viên các kĩ năng quản lí lớp

- Chưa xử lí đúng học sinh mắc lỗi

- Chưa biết làm công tác chủ nhiệm là gì

- Chưa biết lên kế hoạch công tác chủ nhiệm

- Công tác chủ nhiệm mới chỉ đáp ứng khoảng 20 %

- Chưa hiểu gì về hồ sơ sổ sách của một giáo viên

2.2 Một số nguyên nhân của những bất cập trên

2.2.1 Nguyên nhân khách quan

- Một số trường cao đẳng sư phạm được nâng cấp thành trường đại học đa ngành, một số trường đại học khoa học kỹ thuật cũng được phép đào tạo giáo viên nhưng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nhất là đội ngũ giảng dạy nghiệp vụ sư phạm còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng [9]

- Cơ sở vật chất còn thiếu : Phòng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chưa đảm bảo tiêu chuẩn (diện tích nhỏ, thiếu ánh sáng, thiếu trang thiết bị,…) ; sinh viên không có điều kiện thường xuyên xuống trường phổ thông thực hành,… sinh viên còn phải tập giảng ở phòng ở, ở hành lang kí túc xá

- Chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên bị cắt giảm, thời gian thực hành ít, sinh viên quá đông nên không thể tổ chức đều cho hầu hết sinh viên, nhiều sinh viên chưa được tham gia thực hành các kĩ năng nghiệp vụ

sư phạm

Trang 7

- Bộ môn Phương pháp dạy học còn bị “coi thường”, còn bị cho là không cần học sinh viên vẫn dạy được

2.2.2 Nguyên nhân chủ quan

- Chương trình học các học phần nghiệp vụ sư phạm còn quá nặng về lí thuyết

- Khâu kiểm tra, đánh giá sinh viên còn lỏng lẻo

- Chưa chú trọng vào các kĩ năng giáo dục

- Việc rèn luyện chưa đồng bộ, nhiều sinh viên không tham gia hoặc tham gia đối phó

- Một số giảng viên chưa tích cực, chưa tạo được sự hấp dẫn của môn học để thu hút SV, chưa nhiều kinh nghiệm về thực tiễn dạy học ở trường phổ thông

để xử lí các tình huống sư phạm

- Sinh viên chưa tích cực, tự giác trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, chủ yếu mới tập trung ở một số em khá, giỏi

2.3 Một số đề xuất nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm trong trường đại học sư phạm

2.3.1 Tinh thần của đổi mới phương pháp dạy học phải được triển khai và thực hiện ngay từ chính người thầy dạy đại học

Người thầy ở đây là các giảng viên đại học, bao gồm tất cả các giảng viên của các môn giáo dục đại cương (Ngoại ngữ, Giáo dục quốc phòng, các môn khoa học Mác – Lê-nin,…) ; giáo dục chuyên ngành và nghiệp vụ sư phạm (Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp giảng dạy bộ môn) Rèn kỹ năng là một quá trình Người thầy không thể chỉ ngồi nghiên cứu tài liệu Đông, Tây, kim cổ, tìm

ra biết bao phương pháp mới, so sánh, đối chiếu phát hiện ra những ưu điểm so với phương pháp truyền thống để rồi truyền tải những kiến thức rất mới này cho SV bằng phương pháp… truyền thống Rõ ràng đây là những “tấm gương”

cho SV về cách dạy, cách học Dạy học hướng vào người học là luận điểm

then chốt của lý luận dạy học hiện đại, là bản chất của đổi mới phương pháp dạy – học Người thầy trong trường đại học chưa quán triệt và triển khai tinh

Trang 8

thần này trong các bài giảng của mình tới SV Tức là chưa ý thức được việc dạy cho SV cách tư duy, cách học sáng tạo Người thầy chưa phải là cố vấn, huấn luyện viên, người quản lý, điều khiển quá trình học tập của SV SV vẫn là những “bình chứa” thụ động để ông thầy chủ động “rót” kiến thức Đây là một

trong những nguyên nhân quan trọng góp phần “đào tạo” ra những SV ngơ ngác, non, yếu,… khi đi kiến tập, thực tập tại các trường PT Thiết nghĩ,

việc đổi mới cách dạy, cách học trong các trường đại học, nhất là các trường đại học Sư phạm chính là cái gốc, là căn cốt để SV – người giáo viên tương lai

học cách dạy sáng tạo, học cách học sáng tạo và cũng chính là rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp

2.3.2 Phải tạo được sự thống nhất giữa việc trang bị tri thức và kĩ năng nghề dạy học cho sinh viên

- Về tri thức nghề, trường sư phạm phải trang bị cho sinh viên một vốn tri thức khoa học cơ bản và khoa học giáo dục, không nên xem nhẹ loại tri thức nào Vấn đề đặt ra cần chú ý là ở trường sư phạm việc trang bị tri thức khoa học

cơ bản phải được tổ chức dạy và học theo hướng đáp ứng yêu cầu của việc đào tạo nghề

Đối với khoa học giáo dục, cần cung cấp cho sinh viên những tri thức như : tri thức chung về nghề sư phạm, tri thức về đặc điểm tâm sinh lí học sinh, tri thức

về phương pháp – kỹ thuật tổ chức hoạt động học tập – giáo dục cho học sinh

và tri thức tạo tiềm lực cho người học,… Những tri thức này, sinh viên được học tập, nghiên cứu, tiếp thu qua các môn học Tâm lí học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn

- Kỹ năng nghề của sinh viên sư phạm được hình thành trên cơ sở các tri thức nghề, đặc biệt là hệ thống các tri thức về khoa học giáo dục Kĩ năng nghề sư phạm, bao gồm nhiều loại khác nhau tạo thành một hệ thống kỹ năng hoàn chỉnh, trong đó có ba nhóm kĩ năng chủ yếu : kĩ năng dạy học, kĩ năng tổ chức

và kĩ năng giao tiếp

Trang 9

Các môn Tâm lý học, Giáo dục học, Phương pháp dạy học bộ môn được xem là những môn học cung cấp tri thức sư phạm cho sinh viên Điều đó có nghĩa là chúng có mối quan hệ mật thiết với việc hình thành các kỹ năng sư phạm (qua các hoạt động thực hành sư phạm, các đợt kiến tập, thực tập sư phạm) Sinh viên sẽ vận dụng các kiến thức sư phạm này để xử lý các tình huống giáo dục cụ thể Từ đó sẽ làm giàu thêm vốn liếng nghiệp vụ sư phạm của mình Muốn thực hiện được nhiệm vụ này, nội dung của các môn học phải rất sát với thực tiễn dạy học – giáo dục ở phổ thông Điều quan trọng cần làm để khắc phục tình trạng này là :

- Thứ nhất, giảng viên các bộ môn Tâm lý học, Giáo dục học cần theo sát

nhiệm vụ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên để đổi mới nội dung và phương pháp dạy học cho thiết thực và hiệu quả

- Thứ hai, các nhà đào tạo, các nhà nghiên cứu xây dựng khung chương trình

đào tạo và phát triển giáo viên trong trường sư phạm phải sắp xếp thời gian cũng như thời lượng giảng dạy của các môn học này sao cho phù hợp và hiệu quả với các hoạt động rèn luyện kỹ năng sư phạm (về dung lượng kiến thức, về thời điểm triển khai)

- Thứ ba, bộ môn Phương pháp dạy học phải căn cứ vào thực tiễn dạy học ở

trường PT, để xây dựng các chuyên đề mang tính thiết thực rèn luyện nghiệp vụ

sư phạm cho sinh viên Ví dụ : tham khảo mẫu soạn giáo án của giáo viên phổ thông, trình tự lên lớp, cách hướng dẫn học sinh học bài, thu thập các tình huống giáo dục từ giáo viên chủ nhiệm để hướng dẫn sinh viên tập xử lý,… Nên tăng cường các chuyên đề mang tính thực hành, bớt các chuyên đề nặng tính lý thuyết, hàn lâm

Giảng viên bộ môn Phương pháp dạy học nên trực tiếp dự giờ giáo viên phổ thông, và tốt hơn nữa nếu giảng viên có tham gia giảng dạy tại trường phổ thông

2.3.3 Thay đổi, chỉnh lý chương trình đào tạo cho thích hợp với mô h́nh người giáo viên mà thực tiễn đòi hỏi

Trang 10

Các trường đại học sư phạm cần phải xác định cấu trúc chương trình và quy cách đào tạo phải khác với cấu trúc chương trình và quy cách đào tạo của các

cơ sở giáo dục đại học khác Cụ thể :

- Tăng cường tính chất thực tiễn của chương trình cũng như hiệu quả của đào tạo Áp sát hơn nữa chương trình đào tạo ở đại học sư phạm với chương trình đào tạo ở trường phổ thông

- Hoàn chỉnh chương trình đào tạo trên tinh thần xác định đúng mối quan hệ giữa dạy chữ với dạy nghề, đồng thời với việc kết hợp mục tiêu dạy chữ với mục tiêu dạy nghề, giải quyết tốt mối quan hệ giữa học với hành

2.3.4 Cho sinh viên xuống các trường phổ thông ngay từ năm thứ nhất

Vào năm thứ nhất, cần bố trí cho sinh viên có từ 1 đến 2 tuần tiếp xúc với giáo dục phổ thông Mục đích là để sinh viên làm quen với với giáo dục phổ thông với tư cách người giáo viên Có thể không cần phải tổ chức quy mô như các đợt kiến tập, thực tập mà định hướng cho các khoa, từ các khoa triển khai cho các lớp cụ thể về việc đăng ký kết nghĩa với các trường phổ thông gần trường sư phạm ; làm việc với Ban Giám hiệu các trường phổ thông cho sinh viên về trường tham gia làm công tác chủ nhiệm, tham gia dự giờ, sinh hoạt với nhóm,

tổ chuyên môn ; tất nhiên là chưa cho sinh viên tham gia dạy thử trên đối tượng học sinh ; không đặt ra vấn đề có giáo viên hướng dẫn Các hoạt động này không cần phải nhận xét, đánh giá, cho điểm, chỉ cần sinh viên báo cáo diễn biến và kết quả công việc hoặc đưa ra các tình huống giáo dục mà mình gặp để nhóm, tổ sinh viên cùng tham gia xử lý, rút kinh nghiệm Tất cả các hoạt động này để các nhóm sinh viên chủ động sắp xếp thời gian, làm sao để không ảnh hưởng đến việc học các môn học khác Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được vì sinh viên thông thường chỉ phải lên lớp một buổi trong ngày Các đợt

đi xuống các trường phổ thông như thế có thể không cần quy định ngày kết thúc Ngày kết thúc phụ thuộc vào ý định của nhóm sinh viên, phụ thuộc vào

Ngày đăng: 13/11/2017, 17:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo, Các giải pháp nâng cao năng lực của hệ thống cơ sở đào tạo giáo viên, Đặc san Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, tháng 10/2011, tr. 9 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao năng lực của hệ thống cơ sở đàotạo giáo viên
2. Trương Thị Bích, Về sự gắn kết giữa trường đại học sư phạm với trường phổ thông trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, 6/2010, tr. 29 – 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự gắn kết giữa trường đại học sư phạm với trường phổthông trong đào tạo và bồi dưỡng giáo viên
3. Phạm Văn Chín, Thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội , Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượngnghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội
4. Phạm Xuân Hậu, Vài nét về nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường sư phạm trong thời kì hội nhập, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 116 - 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm chosinh viên các trường sư phạm trong thời kì hội nhập
5. Phạm Minh Hùng, Đổi mới công tác đào tạo nghiệp vụ cho sinh viên sư phạm, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 95 - 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác đào tạo nghiệp vụ cho sinh viênsư phạm
6. Nguyễn Thị Mùi, Từ chuẩn nghề nghiệp giáo viên đến chương trình đào tạo nghiệp vụ sư phạm giáo viên Trung học phổ thông, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chuẩn nghề nghiệp giáo viên đến chương trình đào tạonghiệp vụ sư phạm giáo viên Trung học phổ thông
7. Biền Văn Minh, Thực trạng và giải pháp đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở các trường đại học sư phạm hiện nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 36 - 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở cáctrường đại học sư phạm hiện nay trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa
8. Phan Trọng Luận, Còn đó nỗi lo chung, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 22 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Còn đó nỗi lo chung
9. Trần Quốc Tuấn, Rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm ở các trường đại học nước ta – Thực trạng, định hướng và giải pháp. Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 59 - 65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên sư phạm ở cáctrường đại học nước ta – Thực trạng, định hướng và giải pháp
10. Nguyễn Thu Tuấn, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ cho sinh viên các trường đại học sư phạm, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 121-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạonghiệp vụ cho sinh viên các trường đại học sư phạm
11. Lê Quang Tân, Một số giải pháp đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở Trường Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa, Kỉ yếu hội thảo khoa học Trường ĐHSP Hà Nội. Tháng 1/ 2010. Tr. 278 - 281 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở Trường Caođẳng Sư phạm Đồng Nai trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa
12. Vũ Thị Sơn, Liên kết giữa cơ sở dào tạo giáo viên với trường phổ thông trong đào tạo giáo viên, Đặc san Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, tháng 10/2011, tr. 181 – 189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết giữa cơ sở dào tạo giáo viên với trường phổ thôngtrong đào tạo giáo viên
13. Phạm Trung Thanh, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, NXB Đại học Sư phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
Nhà XB: NXB Đạihọc Sư phạm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w