Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng
Trang 1HỒ MINH KHÁNH
HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
Trang 2HỒ MINH KHÁNH
HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 60.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS BÙI NGUYÊN KHÁNH
HÀ NỘI, năm 2017
Trang 3giúp đỡ, ý kiến đóng góp và chỉ bảo nhiệt tình của thầy cô, gia đình và bạn bè
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn PGS.TS Bùi Nguyên Khánh là người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
làm luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Học viện Khoa Học
Xã Hội, thầy PGS.TS Luật Đinh Ngọc Vượng (Viện Từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam) đã hướng dẫn, cung cấp cũng như truyền tải những kiến thức chuyên ngành, giúp tôi có được cơ sở lý luận vững vàng và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đã luôn tạo điều kiện, động viên và ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Đà Nẵng, ngày 17 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Minh Khánh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi Các số liệu trích dẫn trong luận văn dựa trên số liệu bảo đảm độ tin cậy do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Đồng thời, Các kết quả này chưa từng được công
bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Đà Nẵng, ngày 17 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Minh Khánh
Trang 5Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT 9
1.1.Những vấn đề lý luận về chuyển giao công nghệ 9 1.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ 12 1.3 Tổng quan về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt 19 1.4 Kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt 29
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 31
2.1 Thực trạng pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay 31 2.2 Giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng 44
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 52
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay 52 3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay 59
KẾT LUẬN 67
Trang 6UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội
UNIDO Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
WIPO Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1 Các thành phần cấu tạo công nghệ 1 9 Bảng 2-1 Tiến độ thực hiện chuyển giao công nghệ tại Đà Nẵng 1 49
Trang 8Ở Việt Nam, sau gần 30 năm đổi mới, nền kinh tế đất nước đã phá vỡ được sự trì trệ, phát huy năng lực lao động, sáng tạo mạnh mẽ và dồi dào của con người Việt Nam Nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng góp phần làm cho thế và lực của đất nước không ngừng tăng lên Trong sự thành công đó, không thể không kể đến tầm quan trọng của khoa học công nghệ Nhận thức rõ vai trò này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI của Đảng đã xác định “khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển khoa học công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình
độ tiên tiến của thế giới” Cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020 cũng nhấn mạnh:
“Phát triển khoa học công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
Trên cơ sở những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, nền khoa học công nghệ nước nhà đã có những bước tiến tích cực, gắn bó hơn với sản xuất và đời sống Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ mới đã được ứng dụng, góp phần rất quan trọng vào việc nâng cao nǎng suất, chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiêp, y tế, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, xây dựng, nǎng lượng, dầu khí, xây dựng và củng cố quốc
Trang 9phòng - an ninh Lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ đã trưởng thành từng bước và có nhiều cố gắng thích nghi với cơ chế mới, có khả năng tiếp thu, làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trên một số ngành và lĩnh vực kinh tế góp phần tập hợp, có thêm điều kiện để phát huy khả nǎng và công hiến cho sự nghiệp chung
Tuy nhiên trong bối cảnh trái đất ngày càng nóng dần lên, không khí ngày càng ô nhiễm dẫn đến biến đổi khí hậu, một vấn đề khác cũng quan trọng không kém chính là nguồn nước tinh khiết ngày càng trở nên khan hiếm trên toàn cầu Và chắc hẳn, Việt Nam cũng rơi vào trường hợp tương tự, phần lớn dân cư sống ở vùng nông thôn đang trong tình trạng thiếu nước sạch Thực tế hiện nay cho thấy, trong số 80% dân số sống ở nông thôn thì chỉ có 60% hộ dân được sử dụng nước sạch Nước sử dụng cho sinh hoạt bao gồm: nước mặt (chiếm 70%) và nước ngầm (chiếm 30%), nhưng nguồn nước ngầm
và nước mặt nước ta phân bố không đồng đều và phụ thuộc vào lượng mưa hàng tháng nên đa phần khu vực miền núi, miền Trung thiếu nước, đặc biệt vào mùa khô Người dân được tiếp cận với nguồn nước sạch chỉ trên 28% Nhiều nguồn nước bị nhiễm phèn, nhiễm mặn không thể sử dụng để sinh hoạt được nữa, vì thế việc sử dụng công nghệ để lọc nước tạo ra nguồn nước sạch, tinh khiết trong sử dụng là vô cùng cần thiết Để làm được điều này, cần phải tuân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt trong quá trình lọc nước Theo cách truyền thống trước đây, nguồn nước vẫn chưa được lọc đi hẳn các tạp chất bẩn như phèn, sắt Do đó, với guồng quay phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, chúng ta cần phải áp dụng các công nghệ xử lý nước sinh hoạt tiên tiến trên thế giới để có thể tạo ra nguồn nước sạch cho xã hội Thực tế cho thấy, nền khoa học và công nghệ nước ta vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước phát triển, chưa tạo ra được những năng lực khoa học và công nghệ cần thiết để thực sự trở thành nền tảng và động lực cho tiến trình công nghiệp
Trang 10hóa, hiện đại hóa đất nước Trình độ công nghệ thấp, chậm đổi mới trong ngành, tình trạng nhập khẩu các thiết bị, máy móc lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả ảnh hưởng xấu đến nǎng xuất lao động Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ tuy tǎng về số lượng, nhưng tỷ lệ trên số dân còn thấp so với các nước trong khu vực, chất lượng chưa cao, còn thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ Quan trọng nhất, khoảng cách từ việc nghiên cứu đến ứng dụng trong thực tiễn còn lớn, việc tiếp nhận công nghệ tiên tiến của nước ngoài chưa có bước phát triển xứng tầm Trước bối cảnh đó, việc phát triển thị trường, dịch vụ chuyển giao công nghệ là một nhu cầu tất yếu và khách quan
Chuyển giao công nghệ là một khái niệm mới xuất hiện trong mấy thập niên gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự, được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế trên toàn cầu, đặc biệt là đối với những nước đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta Việc nghiên cứu, hoạch định chính sách, chiến lược làm như thế nào để nâng cao hiệu quả trong việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài vào sản xuất trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trong nước vào thực tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trong quy trình hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Nhưng hiện tại, tình trạng chuyển giao công nghệ và trang thiết bị xử lý nước sinh hoạt ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập Các dự án này còn quá ít, chính sách mở cửa đối với nhà đầu tư chưa thật thông thoáng và hấp dẫn, chiến lược kinh doanh cụ thể còn chưa thực sự chú trọng đến công tác chuyển giao công nghệ tiên tiến, các nhà doanh nghiệp chưa ý thức được đầy đủ vị trí, vai trò của công nghệ xử lý nước sinh hoạt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Nguyên nhân sâu xa của tình trạng
Trang 11này chủ yếu là do những hạn chế trong việc phát triển thị trường khoa học công nghệ, mà một trong những thành phần cốt lõi của nó là dịch vụ chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt vẫn còn rất sơ khai
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật và tính cấp thiết của các vấn đề như đã trình bày ở các phần trên, tác giả đã chọn đề tài
“Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành
phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chuyển giao công nghệ nói chung, trong đó có các công trình liên quan đến chuyển giao công nghệ trong xử lý nước sạch sinh hoạt Có thể kể đến các công trình sau:Trần Văn Hải (2014) Báo cáo đề dẫn, Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ tại một số quốc gia: kinh nghiệm cho Việt Nam
Kỷ yếu Hội thảo, Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ: Kinh nghiệm của Australia và đề xuất cho Việt Nam Hội thảo do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12/2014.; Nguyễn Quỳnh Mai, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2008) Bài giảng chuyển giao công nghệ Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh.; Đỗ Thị Bích Ngọc (2014) Luật Chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa đổi Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số 22 năm 2014, ISSN 1859 – 4794; GS Nguyễn Văn Quý, GS Nguyễn Thiện Thanh: Tính chất của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đương đại, Nxb ĐH KHXH&NV TP.HCM,
2000, pp.29-35; Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Mạnh Hùng (2008) Xu hướng phát triển ngành dịch vụ trên thế giới hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với
sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam.; Trần Tịnh (2011) Sự phát triển của CGCN Trung Quốc và chính sách chung
Các công trình này đã nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 12xử lý nước sinh hoạt, đặc biệt là trong bối cảnh hội nguồn nước sạch khan hiếm như hiện nay là một vấn đề khá cấp bách Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn diện về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt theo các quy định mới và tình hình thực tiễn ở Đà Nẵng nói riêng, Việt Nam nói chung Trên cơ sở định hướng nghiên cứu và tiếp tục kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, người viết trình bày một số quan điểm khoa học của mình nhằm góp phần hệ thống hóa các quan điểm khoa học về công nghệ xử lý nước sinh hoạt, phân tích và làm rõ khái niệm và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt Từ đó có thể chỉ ra và phân tích được những ưu điểm và thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện hành
Ở Việt Nam, nếu tính từ Quyết định số 175-CP ngày 29/04/1981 về ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, đã có rất nhiều các văn bản pháp quy được ban hành điều chỉnh các vấn
đề về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đặc biệt là về hợp đồng chuyển giao công nghệ này, ví dụ, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ nước ngoài vào Việt Nam ngày 05/12/1981, Bộ luật Dân sự
1995, Nghị định 45/1998/NĐ-CP ngày 01/07/1998, Nghị định
11/2005/NĐ-CP ngày 2/02/2005 v.v , bước đầu đã tạo ra được môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
Bên cạnh đó đã có những tài liệu hướng dẫn về chuyeenrgiao công nghệ: Trường Nghiệp vụ quản lý khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ (2007) Tài liệu tập huấn đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới công nghệ; Trường Nghiệp vụ quản lý khoa học và công nghệ, Bộ Khoa học
và Công nghệ (2008) Tài liệu tập huấn đổi mới công nghệ và quản lý đổi mới công nghệ.Các văn bản pháp luật trên, bên cạnh việc quy định điều chỉnh các
Trang 13vấn đề có tính nguyên tắc về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đều luôn dành những điều khoản điều chỉnh các vấn đề liên quan hợp đồng chuyển giao công nghệ nước sinh hoạt như nội dung hợp đồng, các vấn đề liên quan đến đăng ký, phê chuẩn hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt v.v , tạo cơ sở pháp lý bảo đảm các quyền và lợi ích của các bên có liên quan trong giao dịch Có thể khẳng định rằng, trong một thời gian dài, Luật Chuyển giao công nghệ được ban hành vào ngày 19/06/2006 đã định hình khung pháp lý cho chuyển giao công nghệ nói chung và chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
Tuy nhiên, do thực tiễn và yêu cầu vào thời điểm ban hành các văn bản pháp quy nói trên đã có nhiều thay đổi và không còn phù hợp với hiện tại Kế thừa và khắc phục các thiếu sót của các quy định pháp luật trước đó, Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 được ban hành ngày 19 tháng 06 năm 2017 đã đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu đặt ra từ thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là luận giải những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay; thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng; để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử
lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 14xử lý nước sinh hoạt;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tư liệu về giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam nói chung
và thành phố Đà Nẵng nói riêng Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của luận văn còn có các văn kiện của Đảng, Nhà nước liên quan đến chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam, các báo cáo tổng kết hoạt động thực tiễn của các cơ quan chức năng có liên quan đến chuyển giao công nghệ nói chung và đến chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới, luận văn tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đặc biệt là phương pháp so sánh luật học Các
Trang 15phương pháp này được vận dụng trong nhiều phần khác nhau của luận văn như phân tích làm rõ sự khác biệt giữa hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt với các hợp đồng chuyển giao công nghệ khác
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngoài ra, luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổ biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt - loại hợp đồng có đối tượng rất đặc thù là công nghệ xử lý nước sinh hoạt dưới cả góc độ pháp lý và thực tiễn
sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đồng thời có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được thực hiện theo cơ cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt và thực tiễn giao kết và thực hiện tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG
NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT 1.1 Khái niệm và đặc điêm của công nghệ
Khái niệm công nghệ (technology) bắt nguồn từ hai thuật ngữ Hy Lạp
cổ: techne + logos, trong đó: techne là kỹ năng hoặc cách thức cần thiết để làm một cái gì đó, logos mang ý nghĩa khoa học, kiến thức hay sự nghiên cứu
về một điều gì đó
Như vậy, công nghệ có thể được hiểu là việc ứng dụng những kỹ năng
có được từ sự nghiên cứu, khám phá
Hiện nay khái niệm công nghệ đã được rất nhiều nhà khoa học, học giả tiếp cận theo các cách khác nhau Theo Ủy ban kinh tế xã hội châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (Economic and Social Commision for Asia anh the Pacific - ESCAP) định nghĩa như sau: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin (bao gồm tất
cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông tin)” (Nguyễn Đức Bình, 2003) Trong đó, công nghệ bao gồm bốn thành phần:
Bảng 1-1 Các thành phần cấu tạo công nghệ 1
Kỹ thuật
(Techno)
Máy móc, thiết bị, công cụ và phương tiện kỹ thuật
Là thành phần cốt lõi của công nghệ, nó giúp con người tăng được cả sức mạnh cơ bắp và trí tuệ trong hoạt động sản xuất
Con người Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng nhờ học hỏi, tích
Trang 17(Human) lũy được từ đời sống, bao gồm cả khả năng sáng tạo, sự
khôn ngoan, khả năng phối hợp, đạo đức, kỷ luật của người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất
Thông tin
(Info)
Dữ liệu về kỹ thuật, con người và tổ chức; các thông
số về đặc tính của thiết bị, số liệu về vận hành thiết bị để duy trì và bảo dưỡng, dữ liệu để nâng cao và dữ liệu để thiết kế các bộ phận của phần kỹ thuật Đây là tổng hợp tất
cả các tri thức trong công nghệ
Tổ chức
(Orga)
Hoạt động tổ chức và quản lý sản xuất, là nhân tố kết nối các thành phần khác của công nghệ lại với nhau
(Nguồn: Nguyễn Văn Quý, 2000)
Ngoài ra, thuật ngữ này cũng được định nghĩa theo nhiều hướng khác nhau bởi Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO), Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) và cả các nhà khoa học Việt Nam Dưới giác
độ pháp lý, công nghệ được đề cập đến trong Bộ luật Dân sự 2005 thông qua việc đưa ra những đối tượng của hoạt động chuyển giao công nghệ tại Điều
755 Bộ luật Dân sự Theo đó, đối tượng chuyển giao công nghệ bao gồm: bí quyết kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu được chuyển giao, giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ, cấp phép đặc quyền kinh doanh và các đối tượng khác do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định Chính vì vậy, khái niệm công nghệ chỉ được đề cập cụ thể trong những văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động chuyển giao công nghệ Theo Luật Chuyển giao công nghệ 2006, khái niệm công nghệ được xác định một cách
cụ thể, rõ ràng tại khoản 2, Điều 3 của Luật này như sau: Công nghệ là giải
Trang 18pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm Nội dung này cũng được khẳng định trong Điều 2, khoản 2, Luật chuyển giao công nghệ 2017
Đây là một khái niệm tuy ngắn gọn, súc tích nhưng rất đầy đủ Từ khái niệm công nghệ nêu trên, có thể rút ra một số nhận định mang tính lý luận về các đặc trưng cơ bản của công nghệ, cụ thể:
Hệ thống được hiểu là sự liên kết chặt chẽ của nhiều thành tố để đạt được kết quả nhất định Không thể nhìn nhận công nghệ như những thành tố riêng rẽ, bởi công nghệ chỉ phát huy tác dụng của nó nếu có sự phối hợp và liên hệ chặt chẽ giữa các thành tố khác nhau của công nghệ
Trên thực tế, việc chuyển giao từng thành tố của công nghệ không phủ nhận bản chất của công nghệ phải là tập hợp cần và đủ các thành tố tương ứng tạo nên Kinh nghiệm cho thấy không ít trường hợp, sự tách rời của từng thành tố công nghệ vẫn có thể được chấp nhận nếu như bên ứng dụng công nghệ có khả năng tự mình đáp ứng được những thành tố còn lại
Công nghệ phải có tính ứng dụng trên thực tế nhằm giải quyết những vấn đề nhất định nhằm phục vụ lợi ích của con người, thể hiện ở chỗ: việc tuân theo công nghệ sẽ làm cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao hơn như tăng năng suất, giảm chi phí, gia tăng tính năng của sản phẩm hoặc để phát triển những công nghệ mới, sản phẩm mới Khả năng ứng dụng của công nghệ là động lực để phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ và hình thành thị trường công nghệ
Đặc trưng này cho thấy bản thân công nghệ có thể được tiếp nhận, dịch chuyển từ nơi này sang nơi khác và giữa các cá nhân, tổ chức khác nhau Sự
Trang 19trao đổi công nghệ là vô cùng quan trọng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm Tính trao đổi của công nghệ là thuộc tính gắn liền với tính ứng dụng của công nghệ Công nghệ có khả năng ứng dụng thì mới nảy sinh nhu cầu tiếp nhận cũng như chuyển giao Việc trao đổi công nghệ sẽ cho phép bên chuyển giao có thể tiếp tục phát triển công nghệ mới, còn bên nhận chuyển giao sẽ được ứng dụng công nghệ tiên tiến với chi phí thấp hơn
Tính giới hạn của công nghệ được hiểu là bản thân công nghệ đang áp dụng hoặc chưa áp dụng cũng có thể sẽ nhanh chóng bị lạc hậu và được thay thế bởi những công nghệ mới tiên tiến hơn Tính giới hạn của công nghệ đòi hỏi công nghệ phải luôn được đổi mới, bắt kịp sự đòi hỏi của nền kinh tế xã hội Chính vì công nghệ có tính giới hạn, mà việc triển khai áp dụng nhanh công nghệ và phổ biến rộng rãi công nghệ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh
tế, tăng cường khả năng ứng dụng của công nghệ trong cuộc sống, đồng thời đảm bảo lợi ích cho chủ sở hữu công nghệ Điều này đòi hỏi cần có những chính sách và pháp luật phù hợp để có thể khuyến khích nghiên cứu, phát triển hoặc tiếp nhận những công nghệ mới và nhanh chóng ứng dụng công nghệ để tạo ra những sản phẩm hàng hóa có giá trị cao
Từ việc xem xét, phân tích những đặc trưng trên của công nghệ, có thể nhận thấy rằng, việc đưa ra khái niệm mẫu mực về công nghệ là một thách thức không đơn giản Mỗi một cách tiếp cận khái niệm công nghệ đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, phù hợp với mục tiêu của việc sử dụng khái niệm ấy mà thôi
1.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Trong cuộc sống, chúng ta vẫn hay nhầm lẫn giữa: chuyển giao công nghệ và chuyển nhượng thương mại
Trang 20Nhượng quyền thương mại (franchising) được các tổ chức quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) coi là một hình thức chuyển giao công nghệ, nhưng thường không được quy định trong các luật về chuyển giao công nghệ mà thường quy định trong luật thương mại Đối tượng của nhượng quyền thương mại là quyền thương mại, tức là quyền tiền hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc sử dụng nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền Như vậy, phạm vi đối tượng chủ yếu chung của cả nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là các đối tượng sở hữu công nghiệp
Tuy nhiên, nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ lại có những điểm khác biệt:
Thứ nhất, nhượng quyền thương mại là phương thức mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh thông qua việc cho phép một doanh nghiệp khác được sản xuất kinh doanh trên cơ sở uy tín, tên thương mại, công nghệ của bên nhượng quyền (ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy nhượng quyền thương mại
đã được thực hiện rất thành công tại việc kinh doanh cafe Trung Nguyên và Phở 24) Trong khi đó, chuyển giao công nghệ đơn thuần là việc chuyển giao các công nghệ để ứng dụng vào quá trình sản xuất
Thứ hai, trong nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được sử
dụng các công nghệ mà mình nhận được để sản xuất, cung ứng các loại dịch
vụ có cùng chất lượng, hình thức và dưới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại của bên nhượng quyền Bên cạnh đó, bên nhận quyền còn phải tuân theo sự bày trí cửa hàng, cung cách phục vụ khách hàng, phương pháp xúc tiến Trong khi đó, một đơn vị nhận chuyển giao công nghệ có quyền ứng dụng công nghệ đó để sản xuất ra sản phẩm dưới bất kỳ thương hiệu, kiểu dáng, tên thương mại mà họ mong muốn, trừ khi các bên có thỏa thuận khác
Trang 21Thứ ba, nhượng quyền thương mại có phạm vi đối tượng không chỉ tập
trung tại quy trình sản xuất (như trong chuyển giao công nghệ) mà còn cả các quy trình sau sản xuất nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, quy trình quản lý - không chỉ giới hạn ở cơ cấu tổ chức kinh doanh, kiểm toán, nhân sự, thậm chí cả tiêu chuẩn thiết kế, trang trí cửa hàng, nhà xưởng
Thứ tư, trong nhượng quyền thương mại, sự hỗ trợ kiểm soát của bên
nhượng quyền đối với bên nhạn quyền là một nội dung không thể thiếu nhằm đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống nhượng quyền Trong khi đó, sau khi chuyển giao công nghệ xong, bên chuyển giao thông thường không hỗ trợ cũng như không thực hiện quyền kiểm soát đối với bên nhận chuyển giao
Theo quy định tại khoản 8, điều 3 của Luật CGCN năm 2006 cũng đã quy định chuyển giao công nghệ là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ Nội dung này cũng được khẳng định trong Điều 2, khoản 7, Luật chuyển giao công nghệ 2017
Do đó chuyển giao công nghệ có thể hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là việc đưa công nghệ từ nơi có công nghệ đến nơi có nhu cầu nhận công nghệ,
từ nơi có trình độ công nghệ cao đến nơi có trình độ công nghệ thấp hơn một cách hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia hoặc là sự dịch chuyển toàn bộ hoặc một phần công nghệ từ nhóm người này sang nhóm người khác Đến nay, việc chuyển giao công nghệ hết sức phát triển và phổ biến, được thực hiện trong tất cả các ngành sản xuất vật chất Chuyển giao công nghệ không còn diễn ra một chiều, từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển mà ngược lại, các nước đang phát triển cũng hoàn toàn có khả năng chuyển giao công nghệ cho các nước phát triển ở một số lĩnh vực có thế mạnh Hiểu theo nghĩa rộng, chuyển giao công nghệ xảy ra khi một hoặc nhiều thành tố của công nghệ được mở rộng phạm vi áp dụng (chuyển dịch về
Trang 22địa lý hoặc chủ thể sở hữu, sử dụng…) Theo nghĩa hẹp, chuyển giao công nghệ được hiểu là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (một phần hoặc toàn bộ) công nghệ từ bên có quyền giao công nghệ sang bên nhận công nghệ Xét dưới khía cạnh pháp lý, chuyển giao công nghệ là một giao dịch dân sự, và do tính đặc thù của nó, nên Bộ luật Dân sự 2005 đã có hẳn một phần riêng để điều chỉnh giao dịch này (Bộ luật Dân sự 2015 đã không còn phần riêng để quy định về giao dịch này)
Chuyển giao công nghệ được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận và được xác lập thông qua cơ chế hợp đồng, gọi là hợp đồng chuyển giao công nghệ Như vậy, một cách khái quát, khái niệm chuyển giao công nghệ được hiểu như sau: Chuyển giao công nghệ là một giao dịch dân sự, được thực hiện qua cơ chế hợp đồng mà theo đó, bên có quyền chuyển giao công nghệ sẽ chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ cho bên tiếp nhận theo phương thức và các điều kiện do các bên thỏa thuận
Ở phần này, tác giả sẽ đề cập đến thêm một khái niệm mới liên quan đến chuyển giao công nghệ - li xăng Li xăng chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN (Li-xăng): là việc tổ chức, cá nhân nắm độc quyền sử dụng một đối tượng sở hữu công nghiệp (Bên chuyển quyền sử dụng - thường được gọi
là bên giao) cho phép tổ chức cá nhân tổ chức khác (Bên nhận quyền sử dụng
- thường được gọi là Bên nhận) sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề có liên quan trong nước, trên thế giới và tình hình chuyển giao công nghệ tại Việt Nam hiện nay đề tài
đã đưa ra 5 nhóm tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ như sau:
Li - xăng công nghệ chỉ diễn ra khi một trong các bên sở hữu những tài
Trang 23sản vô hình có giá trị, đó là tài sản trí tuệ Đây là một khái niệm rộng bao gồm nhiều tài sản vô hình khác nhau như bằng độc quyền sáng chế, quyền tác giả (các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả như: tài liệu hướng dẫn ký thuật, phần mềm máy tính, bản mô tả kỹ thuật, công thức, sơ đồ hoặc tư liệu,…), bí quyết (kỹ năng, kỹ xảo của thợ thủ công, năng lực đào tạo, sự hiểu biết cách thức vận hành đối tượng nào đó), bí mật thương mại (công thức hoặc phương pháp được bảo hộ, danh sách khách hàng hoặc thông tin kỹ thuật không được tiết lộ,…), nhãn hiệu (logo, tên gọi, thương hiệu), kiểu dáng công nghiệp (cách thức trang trí độc đáo của sản phẩm, hình dáng máy tính),…
Cần xác định được li - xăng công nghệ thuộc loại nào:
Xác định này giúp đánh giá chi tiết hiệu quả của hoạt động chuyển giao công nghệ Li - xăng có thể chia thành ba loại phổ biến sau:
Li-xăng công nghệ thuần túy
Li-xăng sản phẩm công nghệ
Li-xăng các tiêu chuẩn công nghệ
Li-xăng được cấp cho các quyền sở hữu trí tuệ cần thiết để sản xuất và đưa ra thị trường một sản phẩm có tiêu chuẩn hoặc đặc điểm kỹ thuật nhất định
Các điều khoản trong hợp đồng li-xăng công nghệ được quy định rõ ràng và chi tiết:
Các quy định phải phù hợp trong khuôn khổ quan hệ kinh doanh của doanh nghiệp Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau, sự thay đổi của quy định này sẽ ảnh hưởng đến những quy định kế tiếp Chẳng hạn, một hợp đồng phát triển sản phẩm, nhưng không nêu rõ nội dung ai sẽ được cấp li-xăng để sản xuất cũng như bên phải trả với mức giá bao nhiêu cho việc mua sản phẩm, điều này có thể sẽ làm nảy sinh những bất cập trong quá trình kinh doanh
Các nhà đàm phán trong li-xăng công nghệ hiểu rõ những lợi ích mà cả
Trang 24hai bên đạt được:
Việc đàm phán về li-xăng công nghệ, giống như mọi cuộc đàm phán khác, liên quan đến lợi ích khác nhau của các bên, nhưng trong chưng mực nào đó những lợi ích này phải trùng nhau Khó có thể đàm phán thành công một li-xăng nếu bạn muốn nhận được quyền sử dụng công nghệ nhưng các được mang ra để đánh đổi lại là quá ít Một cách lý tưởng là cả hai bên tham gia đàm phán đều đưa ra những yếu tố có giá trị khác nhau, bao gồm, chẳng hạn nhân viên có kỹ năng, thị trường có thể khai khác với quy mô thương mại, bí quyết kỹ thuật, các cơ sở và hoạt động nghiên cứu và một số đối tượng quyền sở hữu trí tuệ khác Cơ sở để đánh giá một li-xăng công nghệ hiệu quả
là tìm ra được sự cân bằng lợi ích thỏa đáng để cả hai bên cùng có lợi
Các điều khoản trong hợp đồng được giữ nguyên đến mức nào:
Một li-xăng công nghệ thành công khi đạt được hợp đồng về một loạt các điều khoản hoàn chỉnh mà mỗi điều khoản trong đó đều có một số giải phát nhất định
Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong hợp đồng chuyển giao công nghệ Hợp đồng chuyển giao công nghệ có ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hợp đồng chuyển giao công nghệ là có đối tượng là công nghệ,
với tư cách là một loại "tài sản" đặc thù Tài sản đặc thù này đã được đề cập đến phần trên Do đặc trưng của công nghệ là tính hệ thống, nên việc hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng phải có những nội dung để đảm bảo tính hệ thống của công nghệ được chuyển giao, theo đó, mục tiêu cao nhất là đảm bảo bên tiếp nhận công nghệ phải có được những lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ (có khả năng tiếp nhận, làm chủ công nghệ), nhưng đồng thời phải đảm bảo những quyền lợi hợp pháp cho bên chuyển giao công nghệ theo thỏa thuận
Thứ hai, hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập dưới hình thức
văn bản Trong điều kiện hiện nay, khái niệm "văn bản" được hiểu khá rộng,
Trang 25nghĩa là ngoài văn bản truyền thống (bản giấy, bản khắc…), những dạng thức khác của quá trình ghi chép ký tự cũng được coi là văn bản như điện báo, telex, fax, hoặc các thông điệp dữ liệu khác Hợp đồng chuyển giao công nghệ bằng văn bản là công cụ pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên nếu xảy ra tranh chấp
Thứ ba, hợp đồng chuyển giao công nghệ gắn với một số hạn chế liên
quan đến các thủ tục đăng ký hoặc cấp phép Với vai trò to lớn của công nghệ, hầu hết các quốc gia đều phải đối mặt với một vấn đề: làm thế nào để khuyến khích phát triển công nghệ thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ, nhưng không thể trở thành một "bãi rác công nghệ" Chính vì vậy, các quốc gia thường có những chính sách nhằm khuyến khích chuyển giao hoặc nhận chuyển giao một số dạng công nghệ, đồng thời hạn chế và ngăn cấm một số công nghệ khác thông qua những quy định về đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ, cấp phép chuyển giao công nghệ
Từ những phân tích trên đây, có thể xây dựng khái niệm hợp đồng chuyển giao công nghệ như sau: Hợp đồng chuyển giao công nghệ là sự thỏa thuận bằng văn bản phù hợp với những thủ tục do pháp luật quy định giữa bên
có quyền chuyển giao công nghệ và bên tiếp nhận công nghệ mà theo đó, bên chuyển giao có nghĩa vụ chuyển giao một phần hoặc toàn bộ công nghệ, gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp cho bên tiếp nhận, bên tiếp nhận phải thực hiện các cam kết tương ứng với quyền nhận công nghệ
Như vậy, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ có hai bên là bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao
Bên chuyển giao công nghệ là tổ chức hoặc cá nhân có quyền chuyển giao công nghệ Những điều kiện đối với bên chuyển giao công nghệ là những ràng buộc pháp lý mà bên chuyển giao công nghệ phải tuân thủ nhằm đảm bảo tính có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ
Trang 26Xét một cách chung nhất, bên chuyển giao công nghệ (sau đây gọi là bên chuyển giao) phải thỏa mãn những điều kiện sau đây: Thứ nhất, bên chuyển giao phải có đủ năng lực hành vi dân sự Thứ hai, bên chuyển giao phải có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ và có khả năng chuyển giao công nghệ là đối tượng chuyển giao hoặc được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao Thứ ba, bên chuyển giao được pháp luật cho phép chuyển giao công nghệ
Bên nhận chuyển giao công nghệ là những tổ chức, cá nhân tiếp nhận công nghệ được chuyển giao Xét về mặt lý luận, bên nhận chuyển giao không bị đặt ra nhiều điều kiện như bên chuyển giao, nhưng phải đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thỏa mãn một số điều kiện nhất định nếu pháp luật có yêu cầu Bên cạnh đó, bên nhận chuyển giao cũng phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu tiếp nhận những công nghệ bị cấm chuyển giao theo quy định của pháp luật
1.3 Tổng quan về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
1.3.1 Đối tượng hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Nước được coi là tài nguyên vô cùng quan trọng và quý giá, dùng trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dân dụng, giải trí và môi trường Hầu hết tất cả các hoạt động đều cần nước ngọt Trên trái đất có 97%
là nước biển, chỉ có 3% là nước ngọt được lấy từ 2 nguồn nước chính:
Nước mặt: Là các nguồn nước tự nhiên như sông ngòi, ao hồ,…
Nước ngầm (nước dưới đất): Là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích,…
Tuy nhiên lượng nước này đang ngày càng suy giảm do sự gia tăng dân
số và ô nhiễm môi trường Gắn liền với nhu cầu sử dụng nước tăng cao, công nghệ sản xuất nước sạch phục vụ cho sinh hoạt của con người ngày càng được quan tâm và coi trọng
Trang 27Như vậy, công nghệ xử lý nước sinh hoạt chính là các hoạt động xử lý nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm để có đảm bảo nguồn nước đầu ra đạt tiêu chuẩn an toàn phục vụ nhu cầu sử dụng của xã hội
1.3.2 Chủ thể của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Chủ thể của hợp đồng là công nghệ xử lý nước sinh hoạt, có thể được chuyển giao dưới nhiều hình thức khác nhau Theo quy định tại Điều 7 Luật Chuyển giao công nghệ, đối tượng công nghệ được chuyển giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sau đây:
Bí quyết kỹ thuật: là những thông tin được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ xử lý nước sinh hoạt có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ
Kiến thức kỹ thuật về công nghệ xử lý nước sinh hoạt được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu
Giải pháp đổi mới công nghệ xử lý nước sinh hoạt: là những phương án hoặc kỹ năng được xây dựng từ nền tảng công nghệ xử lý nước sinh hoạt đang được áp dụng, nhằm giảm bớt chi phí hoặc gia tăng năng suất, chất lượng nước sinh hoạt
1.3.3 Giao kết và hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ
Xét dưới khía cạnh pháp lý, giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt là hành vi của các bên nhằm xác lập quan hệ hợp đồng Quá trình giao kết thường được chia thành hai giai đoạn cơ bản là thương lượng và ký kết Thương lượng là quá trình các bên bày tỏ ý chí của mình,
Trang 28trên cơ sở bình đẳng và tự do thỏa thuận Thực chất, quá trình thương lượng
có mục đích "thu hẹp" những yêu cầu của bên này đối với bên kia, dần dần tiến đến sự thống nhất Thương lượng có thể được tiến hành một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thương lượng trực tiếp là việc các bên trực tiếp gặp mặt nhau hoặc trực tiếp trao đổi thông qua các phương tiện kỹ thuật truyền thông như điện thoại, internet… Bản chất của thương lượng trực tiếp là ở chỗ, hầu như ngay lập tức bên này có thể biết được ý kiến của bên kia Thương lượng gián tiếp là việc các bên đưa ra các đề nghị thông qua những phương tiện ghi nhận thông tin như giấy tờ, fax, telex, thư điện tử hoặc các hình thức khác Bản chất của thương lượng gián tiếp là các bên không ngay lập tức nhận thông tin mà cần phải có một khoảng thời gian nhất định Thương lượng thành công là việc các bên thống nhất về nội dung của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt Thương lượng thành công sẽ dẫn đến việc ký kết hợp đồng
Theo đó, ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
là việc các bên bằng hành vi thể hiện sự ràng buộc của mình đối với những nội dung đã thương lượng Ký kết hợp đồng có thể được thực hiện dưới hình thức ký kết trực tiếp hoặc ký kết gián tiếp Ký kết trực tiếp là việc ký kết được thực hiện "mặt đối mặt", bên này ký vào văn bản hợp đồng rồi trao cho bên kia Ký kết gián tiếp là việc ký kết không được thực hiện một cách trực tiếp
mà thông thường, một bên xác nhận trước, một bên xác nhận sau Việc ký kết trực tiếp hay gián tiếp không có nhiều ý nghĩa về mặt pháp lý Hiệu lực của hợp đồng chỉ được phát sinh sau khi cả hai bên đã ký vào văn bản hợp đồng, nếu các bên không có thỏa thuận về thời điểm phát sinh hiệu lực sau thời điểm bên sau cùng ký vào hợp đồng
Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Pháp luật hiện hành quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng do
Trang 29các bên thỏa thuận theo các nguyên tắc:
- Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật của công nghệ (Non-disclosure and confidentiality)
- Nguyên tắc thông tin đầy đủ
Đây là một điều khoản rất phù hợp với thực tế đã được Luật Chuyển giao công nghệ ghi nhận và quy định, góp phần tạo sự linh hoạt cho các bên khi tham gia đàm phán ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước thải
1.3.4 Nội dung cơ bản của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Nội dung của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt thể hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng Tuy nhiên, nếu trong nội dung của hợp đồng không ghi nhận, thì những quyền và nghĩa vụ vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt là một hợp đồng song vụ, nên nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền của bên kia Luật Chuyển giao công nghệ
đã có những quy định rất rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của bên giao và bên nhận công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Về bản chất, nội dung của hợp đồng là những thỏa thuận được ghi nhận trong các điều khoản của hợp đồng, nên khi nói đến nội dung của hợp đồng, người ta thường cho rằng đó chính là những điều khoản của hợp đồng ấy Nội dung của hợp đồng bao gồm ba nhóm điều khoản là điều khoản chủ yếu, điều khoản thông thường và điều khoản tùy nghi:
Điều khoản chủ yếu là những thỏa thuận không thể thiếu của hợp đồng, thiếu nó thì hợp đồng được coi là chưa giao kết Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt có các điều khoản chủ yếu như: thỏa thuận về tên công nghệ xử lý nước sinh hoạt được chuyển giao hay nói cách khác là những thỏa thuận về phương thức chuyển giao, giá cả cũng phương thức thanh toán,
Trang 30quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng…
Điều khoản thông thường là những thỏa thuận mà các bên có thể ghi nhận hoặc không ghi nhận vào hợp đồng, nhưng vẫn được thực hiện theo quy định của pháp luật Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt có các điều khoản thông thường như: Thời điểm, thời hạn có hiệu lực của hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Điều khoản tùy nghi là điều khoản phải thoả thuận vì tính chất của hợp đồng và những điều khoản mà pháp luật đã quy định trước Khi tiến hành giao kết hợp đồng các bên còn có thể thoả thuận để cụ thể thêm một số điều khoản tùy nghi khác nhằm làm cho nội dung của hợp đồng được đầy đủ, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng
Nội dung công nghệ được chuyển giao và các điều kiện về bảo hành và thời hạn bảo hành:
Bên chuyển giao phải tuân thủ các cam kết nghĩa vụ về nội dung công nghệ được chuyển giao cho bên nhận chuyển giao Bên chuyển giao phải bảo đảm quyền chuyển giao công nghệ là hợp pháp, đúng theo các các điều kiện
đã được thỏa thuận và không bị bên thứ ba hạn chế, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác Trong trường hợp bên chuyển giao vi phạm nghĩa vụ này thì bên nhận chuyển giao có quyền yêu cầu bên chuyển giao phải thực hiện đúng các cam kết, nghĩa vụ đã được thỏa thuận trong hợp đồng Đồng thời, bên nhận chuyển giao phải tuân thủ các điều kiện (nếu có thỏa thuận) để nhận chuyển giao thành công công nghệ Thông thường, điều kiện tiếp nhận được thỏa thuận là các yêu cầu nhất định về trình độ chuyên môn kỹ thuật đối với nhân công, kỹ sư vận hành công nghệ, điều kiện về nhà xưởng Đây là các điều khoản rất quan trọng, nhằm ràng buộc trách nhiệm của bên giao và bên nhận để đảm bảo chuyển giao công nghệ được thực hiện thành công Bên nhận công nghệ có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
Trang 31vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến công nghệ được chuyển giao Pháp luật hiện hành cũng có những quy định về nghĩa vụ của bên giao để đảm bảo được chất lượng công nghệ chuyển giao Bên giao phải thông báo cho bên nhận công nghệ và áp dụng các biện pháp thích hợp khi phát hiện có khó khăn
về kỹ thuật làm cho kết quả chuyển giao công nghệ không đạt yêu cầu quy định Theo điều khoản này, trong trường hợp có bất kỳ sự cố, hỏng hóc hoặc khó khăn nào dẫn tới khả năng làm sai lệch kết quả chuyển giao, bên chuyển giao phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm, bảo hành của mình Bên nhận có quyền yêu cầu bên giao thực hiện nghĩa vụ này khi tự mình phát hiện thấy sự cố, hỏng hóc hoặc khó khăn nói trên
Trên thực tế, các bên thường thỏa thuận nghĩa vụ bảo đảm, bảo hành này trong một khoảng thời gian từ khi áp dụng công nghệ đến khi kết thúc một khoảng thời gian chạy thử, vận hành công nghệ để sản xuất sản phẩm
Đối với phạm vi công nghệ được chuyển giao:
Trong hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt, các bên thông thường có các thỏa thuận về phạm vi công nghệ xử lý nước sinh hoạt nhằm xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của từng bên Việc chuyển giao có thể thỏa thuận là chuyển giao quyền sở hữu công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ Chuyển giao quyền sở hữu công nghệ là việc bên chuyển giao - chủ sở hữu công nghệ chuyển giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công nghệ cho bên nhận chuyển giao là tổ chức, cá nhân Việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ bao gồm một hoặc nhiều phương thức chuyển giao Trường hợp công nghệ là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thì việc chuyển giao quyền sở hữu công nghệ phải được thực hiện cùng với việc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chuyển giao quyền sử dụng công nghệ là việc bên chuyển giao là tổ chức, cá nhân có quyền chuyển
Trang 32giao công nghệ (chủ sở hữu công nghệ hoặc tổ chức, cá nhân được chủ sở hữu công nghệ cho phép chuyển giao quyền sử dụng công nghệ; hoặc tổ chức, cá nhân có công nghệ là đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng đã hết thời hạn bảo
hộ hoặc không được bảo hộ tại Việt Nam có quyền chuyển giao quyền sử dụng công nghệ đó) cho phép bên nhận chuyển giao là tổ chức, cá nhân khác sử dụng công nghệ Phạm vi chuyển giao trong chuyển giao quyền sử dụng công nghệ hẹp hơn so với chuyển giao quyền sở hữu công nghệ Theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ, phạm vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ
do các bên thỏa thuận, có thể bao gồm một hoặc các nội dung sau đây:
Độc quyền hoặc không độc quyền sử dụng công nghệ :
Các bên có thể thỏa thuận việc bên nhận chuyển giao được độc quyền
sử dụng công nghệ hoặc không Nếu không được độc quyền sử dụng công nghệ, thì bên chuyển giao có thể tiếp tục sử dụng công nghệ hoặc chuyển giao cho chủ thể khác mà không vi phạm hợp đồng
Được chuyển giao lại hoặc không được chuyển giao lại quyền sử dụng công nghệ cho bên thứ ba :
Các bên có thể thỏa thuận việc bên chuyển giao có thể chuyển giao công nghệ cho một chủ thể thứ ba hay không Nếu không có thỏa thuận này, theo quy định của Điều 8 Luật Chuyển giao công nghệ, bên chuyển giao không được chuyển giao công nghệ cho chủ thể thứ ba
Quyền được cải tiến công nghệ, quyền được nhận thông tin cải tiến
Trang 33công nghệ Các bên có quyền thỏa thuận việc bên chuyển giao có quyền cải tiến công nghệ hay không Nếu không có thỏa thuận này, theo quy định của pháp luật, bên nhận chuyển giao có quyền cải tiến công nghệ Bên nhận chuyển giao cũng có quyền nhận thông tin về cải tiến công nghệ, mặc dù có thể không đưa nội dung này vào trong hợp đồng
Các quyền khác liên quan đến công nghệ xử lý nước sinh hoạt được chuyển giao
Đối với các cam kết, thỏa thuận về bảo mật thông tin:
Pháp luật hiện hành quy định cả bên giao công nghệ và bên nhận công nghệ phải tuân thủ nghĩa vụ giữ bí mật thông tin trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt Nghĩa vụ bảo mật thông tin công nghệ cũng có thể là một yêu cầu của bên giao đối với bên nhận Theo đó, bên nhận công nghệ có nghĩa vụ giữ bí mật về tất cả các thông tin là nội dung công nghệ hoặc các vấn đề liên quan đến công nghệ được chuyển giao trong một khoảng thời hạn nhất định Thời hạn này có thể chỉ là trong khoảng thời hạn hiệu lực của hợp đồng, hoặc cũng có thể dài hơn thời hạn của hợp đồng Bên cạnh đó, các bên cũng có thể thỏa thuận những trường hợp ngoại lệ cho phép bên nhận công nghệ được tiết lộ công nghệ như thông tin được phổ biến rộng rãi trong công chúng, không phải do lỗi của Bên nhận; thông tin được Bên nhận phát triển độc lập và hợp pháp; hoặc thông tin trở thành một phần của công luận Xét về các đặc trưng của hợp đồng chuyển giao công nghệ với đối tượng là công nghệ, nghĩa vụ bảo mật thông tin có thể được coi là một trong những nghĩa vụ đặc thù
Đối với vấn đề nghĩa vụ tài chính:
Bên nhận công nghệ có nghĩa vụ và bên giao công nghệ được quyền nhận thanh toán đầy đủ theo quy định của hợp đồng và hưởng quyền, lợi ích khác theo thỏa thuận trong hợp đồng; hưởng ưu đãi theo quy định của pháp
Trang 34luật Nghĩa vụ thanh toán là một trong những nghĩa vụ quan trọng nhất của bên nhận công nghệ để đổi lại quyền được nhận công nghệ từ bên giao Bên cạnh đó, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ thường có thỏa thuận rõ ràng
về thuế đánh trên các khoản thu từ chuyển giao công nghệ Trong trường hợp không có thỏa thuận thì khoản thuế này sẽ do bên giao chịu trách nhiệm chi trả do đây là khoản thuế trực thu tính trên thu nhập của bên giao công nghệ Đối với các hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt được ký kết giữa bên chuyển giao là bên nước ngoài và bên nhận là tổ chức, cá nhân ở Việt Nam, theo quy định của Thông tư 05/2005/TT-BTC ngày 11/01/2005, mức thuế suất 10% tính trên phí chuyển giao công nghệ sẽ được áp dụng Đối với các hợp đồng chuyển giao công nghệ được ký kết giữa các tổ chức cá nhân trong nước, thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ được áp dụng trên khoản tiền phí chuyển giao công nghệ mà bên giao được nhận
Các phương thức chuyển giao công nghệ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Đây là điều khoản rất quan trọng của hợp đồng chuyển giao công nghệ, nhằm xác định các vấn đề về nội dung, tiến độ và kết quả cụ thể của quá trình chuyển giao công nghệ Luật Chuyển giao công nghệ đã có những quy định rất cụ thể về phương thức chuyển giao Theo quy định tại điều 18 Luật Chuyển giao công nghệ, các bên có thể lựa chọn một hoặc các phương thức chuyển giao công nghệ sau đây:
Chuyển giao tài liệu về công nghệ: Theo phương thức này, bên chuyển giao sẽ chuyển giao cho bên nhận các tài liệu dưới các hình thức khác nhau như tài liệu hướng dẫn, bản vẽ, phần mềm có chứa đựng các nội dung về đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ để bên nhận có thể tiếp thu được các nội dung của công nghệ xử lý nước sinh hoạt được chuyển giao Phạm vi chuyển
Trang 35giao tài liệu có thể được các bên thỏa thuận cụ thể về số lượng, thời gian để tạo điều kiện tốt nhất cho quá trình chuyển giao và tiếp nhận công nghệ
Đào tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ: theo thời hạn quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ Theo đó, bên giao
sẽ trực tiếp đào tạo cho bên nhận một số lượng nhất định các nhân viên kỹ thuật có đủ kiến thức và kỹ năng để vận hành, làm chủ công nghệ được chuyển giao Việc đào tạo có thể thông qua việc cử chuyên gia của bên giao tập huấn cho bên nhận hoặc cũng có thể là tiếp nhận các nhận viên của bên nhận đến đào tạo tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh của bên giao Theo phương thức này, các bên thường có thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm thanh toán kinh phí đào tạo, chi phí cho chuyên gia
Cử chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ: đưa công nghệ vào sản xuất với chất lượng công nghệ và chất lượng nguồn nước đầu ra đạt các chỉ tiêu và tiến độ quy định trong hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt Đây là sự hỗ trợ, giúp đỡ rất quan trọng của bên giao đối với bên nhận, nhằm đảm bảo rằng việc chuyển giao công nghệ sẽ được thực hiện thành công Theo đó, bên giao sẽ cung cấp cho bên nhận sự hỗ trợ kỹ thuật, các kỹ năng và chuyên môn cần thiết khác để sản xuất, tạo ra sản phẩm đạt chất lượng tiêu chuẩn và có giá cả cạnh tranh, hoặc cung cấp các ý kiến tư vấn
và cung cấp các hỗ trợ cần thiết khác có liên quan tới các quá trình tạo ra sản phẩm Phương thức này có thể được thực hiện trong tất cả các khâu của quá trình chuyển giao như chuẩn bị, chảy thử và sản xuất chính
Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận: Đây là quy định
mở của luật, nhằm khuyến khích sự thỏa thuận của các bên về phương thức chuyển giao, qua đó có tác dụng trợ giúp và định hướng cho các bên đàm phán, thỏa thuận và thức hiện thành công hợp đồng chuyển giao công nghệ xử
lý nước sinh hoạt
Trang 361.4 Kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng chuyển giao công nghệ là một loại giao dịch dân sự đặc thù, do đó trong những trường hợp cần thiết cần có sự can thiệp của cơ quan nhà nước Việc can thiệp này có thể vì lợi ích của cộng đồng, hoặc vì lợi ích của chính bản thân các bên tham gia hợp đồng chuyển giao công nghệ
Pháp luật nhiều quốc gia cũng có các quy định yêu cầu hợp đồng chuyển giao công nghệ trong một số trường hợp phải đăng ký với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Pháp luật Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đều quy định, với các hợp đồng chuyển giao công nghệ có hỗ trợ kinh phí của nhà nước đều phải đăng ký với cơ quan nhà nước quản lý về công nghệ Luật thúc đẩy công nghệ của Hàn Quốc quy định, cơ quan nghiên cứu khi chuyển giao thành quả nghiên cứu phải đăng ký nội dung công nghệ đang sở hữu với Trung tâm Chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp là bí mật quốc gia Theo pháp luật Trung Quốc, các hợp đồng xuất, nhập khẩu công nghệ phải được đăng ký tại Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế, nếu đó là dự án trọng điểm, các trường hợp còn lại phải đăng ký tại cơ quan quản lý ngoại thương cấp tỉnh
[20] Với chính sách thu hút công nghệ để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và nhằm phát triển thị trường công nghệ trong chiến lược phát triển đồng bộ các loại thị trường, Luật Chuyển giao công nghệ có quy định về việc các bên tham gia giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ có quyền đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học
và công nghệ có thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật Hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ bao gồm:
- Đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ Đơn đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ thường được lập theo mẫu với những thông tin
Trang 37cần thiết về hợp đồng chuyển giao công nghệ dự định được đăng ký
- Bản gốc hoặc bản sao hợp đồng chuyển giao công nghệ Trong trường hợp nộp bản sao, thì bản sao phải có công chứng của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền xem xét, quyết định cấp Giấy chứng nhận đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ Bên cạnh những trường hợp đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ để được hưởng những ưu đãi, pháp luật cũng có những đòi hỏi về thủ tục cấp phép trước khi tiến hành chuyển giao công nghệ nhằm đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT VÀ THỰC TIỄN GIAO KẾT VÀ THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng pháp luật hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
Kể từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ chế
độ kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì vấn đề xây dựng hành lang pháp lý cho mọi mặt của đời sống kinh tế luôn được quan tâm, trong đó có lĩnh vực chuyển giao công nghệ, với mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh Nhằm thể chế hóa những chủ trương của Đảng, kể từ năm 1990 đến nay, hệ thống văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ nói chung và hợp đồng chuyển giao công nghệ nói riêng lần lượt được ra đời, được bổ sung, thay thế nhằm đảm bảo điều chỉnh sát và phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng giai đoạn cụ thể Các văn bản pháp lý này có nhiều mức độ hiệu lực khác nhau, từ văn bản luật đến các văn bản dưới luật Giai đoạn đầu tiên, từ những năm đầu đổi mới, Nhà nước ta đã chủ trương sẽ nhập công nghệ là chủ yếu, bên cạnh
đó khuyến khích phát triển công nghệ trong nước Trong giai đoạn này, một
số văn bản luật và dưới luật đã ra đời để cụ thể hóa chủ trương đó Chẳng hạn, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành ngày 29/12/1987, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào Việt Nam ngày 10/12/1988, Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ngày 28/1/1989… Các văn bản pháp luật này, mà chủ yếu là Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ nước ngoài vào Việt Nam đã tạo khuôn khổ pháp lý bước đầu, nhưng
Trang 39mới chỉ điều chỉnh một dòng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt duy nhất là từ nước ngoài vào Việt Nam, với hình thức chuyển giao chủ yếu là thông qua hoạt động đầu tư nước ngoài Với sự điều chỉnh này, nước ta đã thu hút được ngày càng nhiều hơn nguồn vốn đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao năng lực công nghệ và tăng cường khả năng cạnh tranh cho các nguồn nước sạch tại Việt Nam Mặc dù vậy, các văn bản pháp luật trong giai đoạn này vẫn thiếu những quy phạm điều chỉnh hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt trong nước và hợp đồng ra nước ngoài Đồng thời, chúng cũng bộc lộ nhiều bất cập như: Khái niệm về công nghệ và chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt chưa rõ ràng và chưa đầy đủ; các điều khoản của hợp đồng quy định quá chi tiết làm giảm khả năng linh hoạt trong thương lượng giao kết hợp đồng; thủ tục phê duyệt hoặc đăng ký hợp đồng còn rườm
rà, phức tạp, tốn nhiều thời gian
Một dấu mốc quan trọng của hệ thống văn bản pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ là Bộ luật Dân sự năm 1995, tại phần 6, chương III về chuyển giao công nghệ đã quy định các vấn đề rất cơ bản như: đối tượng chuyển giao công nghệ, nội dung chuyển giao công nghệ, quyền chuyển giao công nghệ, công nghệ không được chuyển giao và các vấn đề về hợp đồng chuyển giao công nghệ Đến ngày 01/7/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định 45/1998/NĐ-CP quy định rất chi tiết tất cả những cụm vấn đề về chuyển giao công nghệ và hợp đồng chuyển giao công nghệ như: điều kiện chuyển giao công nghệ, nội dung chuyển giao công nghệ, các công nghệ không được chuyển giao, hợp đồng chuyển giao công nghệ và quản lý nhà nước về lĩnh vực chuyển giao công nghệ Bên cạnh đó, một số văn bản điều chỉnh về sở hữu công nghiệp đã góp phần bổ sung cho các quy định về chuyển giao công nghệ liên quan đến các đối tượng sở hữu công nghiệp như Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996, Nghị định 06/2001/NĐ- CP ngày 01/2/2001 sửa đổi, bổ
Trang 40sung Nghị định 63/CP…
Mặc dù còn một số bất cập nhưng những quy định trong những văn bản này đã tạo hành lang pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho hoạt động chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt trong giai đoạn này và có nhiều bước phát triển đáng kể so với giai đoạn trước đó Sau một thời gian áp dụng các văn bản nêu trên, nhiều quy định không còn phù hợp nên ngày 2/2/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 11/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 11/2005/NĐ-CP, tạo một hành lang pháp lý thông thoáng và hiệu quả hơn trong hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo "bước đệm" cho việc ra đời của Luật Chuyển giao công nghệ Song song với những quy định trên, ngày 10/5/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2000/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ
Trong hệ thống các quy định về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt thời gian này, các vấn đề sau của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt đã được tập trung giải quyết:
Thứ nhất, Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt được yêu cầu ký kết dưới dạng văn bản Thời hạn hợp đồng chuyển giao trong nước
bị hạn chế là là 7 năm, nếu gia hạn thì không quá 3 năm Đối với hợp đồng chuyển giao từ nước ngoài, thời hạn được xác định theo thời hạn đầu tư Việc thanh toán trong hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt do các bên thỏa thuận theo các phương thức sau đây: góp vốn liên doanh, trả theo kỳ
vụ, trả gọn một lần hoặc nhiều lần Thời điểm tính giá thanh toán và kết thúc tính giá thanh toán do các bên thỏa thuận, có thể trùng hoặc không trùng với thời hạn của hợp đồng Tuy nhiên, việc thanh toán chỉ được thực hiện sau khi hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt có hiệu lực Giá chuyển giao do các bên thỏa thuận Bên được chuyển giao có quyền chuyển giao lại công nghệ xử lý nước sinh hoạt nếu được bên chuyển giao đồng ý