Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt) Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tt)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HỒ MINH KHÁNH
HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Luật Kinh Tế
Mã số: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Nguyên Khánh
Phản biện 1: TS Hồ Ngọc Hiển
Phản biện 2: TS Đặng Vũ Huân
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận
thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội 9 giờ 00 ngày 08
tháng 10 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trên cơ sở những chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước,
nền khoa học công nghệ nước nhà đã có những bước tiến tích cực, gắn
bó hơn với sản xuất và đời sống Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ
mới đã được ứng dụng, góp phần rất quan trọng vào việc nâng cao nǎng
suất, chất lượng và hiệu quả trong các ngành sản xuất nông nghiêp, y tế,
bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, xây dựng, nǎng lượng, dầu khí,
xây dựng và củng cố quốc phòng - an ninh Lực lượng cán bộ khoa học
và công nghệ đã trưởng thành từng bước và có nhiều cố gắng thích nghi
với cơ chế mới, có khả năng tiếp thu, làm chủ được tri thức, công nghệ
hiện đại trên một số ngành và lĩnh vực kinh tế góp phần tập hợp, có
thêm điều kiện để phát huy khả nǎng và công hiến cho sự nghiệp chung
Chuyển giao công nghệ là một khái niệm mới xuất hiện trong
mấy thập niên gần đây, nhưng đã nhanh chóng trở thành vấn đề thời sự,
được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, có ý nghĩa quan trọng đối với sự
phát triển kinh tế trên toàn cầu, đặc biệt là đối với những nước đang tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá như nước ta Việc nghiên cứu, hoạch
định chính sách, chiến lược làm như thế nào để nâng cao hiệu quả trong
việc tiếp nhận và ứng dụng công nghệ tiên tiến nước ngoài vào sản xuất
trong nước cũng như việc triển khai đưa công nghệ trong nước vào thực
tiễn sản xuất ở từng ngành, từng lĩnh vực và từng khâu trong quy trình
hoạt động sản xuất được coi là khâu then chốt bảo đảm sự phát triển
nhanh và bền vững của đất nước Nhưng hiện tại, tình trạng chuyển giao
công nghệ và trang thiết bị xử lý nước sinh hoạt ở nước ta vẫn còn nhiều
bất cập Các dự án này còn quá ít, chính sách mở cửa đối với nhà đầu tư
chưa thật thông thoáng và hấp dẫn, chiến lược kinh doanh cụ thể còn
chưa thực sự chú trọng đến công tác chuyển giao công nghệ tiên tiến,
các nhà doanh nghiệp chưa ý thức được đầy đủ vị trí, vai trò của công
nghệ xử lý nước sinh hoạt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong
quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Nguyên nhân
sâu xa của tình trạng này chủ yếu là do những hạn chế trong việc phát
triển thị trường khoa học công nghệ, mà một trong những thành phần cốt
Trang 4lõi của nó là dịch vụ chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt vẫn
còn rất sơ khai
Trong khuôn khổ của chương trình đào tạo cao học luật và tính
cấp thiết của các vấn đề như đã trình bày ở các phần trên, tác giả đã chọn
đề tài “Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực
tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến chuyển giao công nghệ nói chung, trong đó có các công trình
liên quan đến chuyển giao công nghệ trong xử lý nước sạch sinh hoạt
Có thể kể đến các công trình sau:Trần Văn Hải (2014) Báo cáo đề dẫn,
Tổ chức và hoạt động chuyển giao công nghệ tại một số quốc gia: kinh
nghiệm cho Việt Nam Kỷ yếu Hội thảo, Tổ chức và hoạt động chuyển
giao công nghệ: Kinh nghiệm của Australia và đề xuất cho Việt Nam
Hội thảo do Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn tổ chức tại
thành phố Hồ Chí Minh ngày 30/12/2014.; Nguyễn Quỳnh Mai, Nguyễn
Thúy Quỳnh Loan (2008) Bài giảng chuyển giao công nghệ Đại học
Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh.; Đỗ Thị Bích Ngọc (2014) Luật
Chuyển giao công nghệ và những vướng mắc cần sửa đổi Tạp chí Khoa
học và Công nghệ Việt Nam, số 22 năm 2014, ISSN 1859 – 4794; GS
Nguyễn Văn Quý, GS Nguyễn Thiện Thanh: Tính chất của cuộc cách
mạng khoa học – công nghệ đương đại, Nxb ĐH KHXH&NV TP.HCM,
2000, pp.29-35; Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Mạnh Hùng (2008) Xu
hướng phát triển ngành dịch vụ trên thế giới hiện nay và những vấn đề đặt
ra đối với sự phát triển của ngành dịch vụ Việt Nam.; Trần Tịnh (2011)
Sự phát triển của CGCN Trung Quốc và chính sách chung
Các công trình này đã nghiên cứu về hợp đồng chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt, đặc biệt là trong bối cảnh hội nguồn
nước sạch khan hiếm như hiện nay là một vấn đề khá cấp bách Tuy
nhiên, tính đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào đề
cập một cách toàn diện về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt theo các quy định mới và tình hình thực tiễn ở Đà Nẵng nói
riêng, Việt Nam nói chung Trên cơ sở định hướng nghiên cứu và tiếp
Trang 5tục kế thừa các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó, người viết
trình bày một số quan điểm khoa học của mình nhằm góp phần hệ thống
hóa các quan điểm khoa học về công nghệ xử lý nước sinh hoạt, phân
tích và làm rõ khái niệm và những đặc trưng cơ bản của hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt Từ đó có thể chỉ ra và phân
tích được những ưu điểm và thiếu sót trong các quy định pháp luật hiện
hành
Ở Việt Nam, nếu tính từ Quyết định số 175-CP ngày 29/04/1981
về ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và
triển khai kỹ thuật, đã có rất nhiều các văn bản pháp quy được ban hành
điều chỉnh các vấn đề về chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt,
đặc biệt là về hợp đồng chuyển giao công nghệ này, ví dụ, Pháp lệnh
Chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ nước ngoài vào Việt
Nam ngày 05/12/1981, Bộ luật Dân sự 1995, Nghị định 45/1998/NĐ-CP
ngày 01/07/1998, Nghị định 11/2005/NĐ-CP ngày 2/02/2005 v.v ,
bước đầu đã tạo ra được môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển
của hoạt động đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là luận giải những vấn đề lý luận về hợp
đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt; phân tích, đánh giá
thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt ở Việt Nam hiện nay; thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà
Nẵng; để từ đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của
luận văn được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thực hiện hợp đồng chuyển
Trang 6giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng;
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật
về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam
hiện nay
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các tư liệu về giao kết và
thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt
Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng Ngoài ra, đối tượng
nghiên cứu của luận văn còn có các văn kiện của Đảng, Nhà nước liên
quan đến chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam, các
báo cáo tổng kết hoạt động thực tiễn của các cơ quan chức năng có liên
quan đến chuyển giao công nghệ nói chung và đến chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn tập trung nghiên
cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về
giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta
trong sự nghiệp đổi mới, luận văn tập trung sử dụng một số phương
pháp chủ yếu: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đặc biệt là
phương pháp so sánh luật học Các phương pháp này được vận dụng
trong nhiều phần khác nhau của luận văn như phân tích làm rõ sự khác
biệt giữa hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt với các
hợp đồng chuyển giao công nghệ khác
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so
Trang 7sánh tính phổ biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về giao kết và thực
hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu và làm sáng tỏ bản chất các vấn đề liên quan đến
hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt - loại hợp đồng
có đối tượng rất đặc thù là công nghệ xử lý nước sinh hoạt dưới cả góc
độ pháp lý và thực tiễn sẽ góp phần làm sáng tỏ nội dung các quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt, đồng thời có những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn
các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, từ đó góp phần thúc
đẩy sự phát triển của thị trường chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được thực hiện theo cơ cấu 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt và thực tiễn giao kết và thực hiện tại thành
phố Đà Nẵng
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp
đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC SINH HOẠT
1.1.Những vấn đề lý luận về chuyển giao công nghệ
1.1.1 Khái niệm công nghệ và chuyển giao công nghệ
Khái niệm công nghệ (technology) bắt nguồn từ hai thuật ngữ
Hy Lạp cổ: techne + logos, trong đó: techne là kỹ năng hoặc cách thức
cần thiết để làm một cái gì đó, logos mang ý nghĩa khoa học, kiến thức
hay sự nghiên cứu về một điều gì đó
Như vậy, công nghệ có thể được hiểu là việc ứng dụng những kỹ
năng có được từ sự nghiên cứu, khám phá
Trang 8Hiện nay khái niệm công nghệ đã được rất nhiều nhà khoa học,
học giả tiếp cận theo các cách khác nhau Theo Ủy ban kinh tế xã hội
châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (Economic and Social
Commision for Asia anh the Pacific - ESCAP) định nghĩa như sau:
“Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình kỹ thuật dùng để chế biến
vật liệu và thông tin (bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và
phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo, dịch vụ, quản lý và thông
tin)” (Nguyễn Đức Bình, 2003)
Ngoài ra, thuật ngữ này cũng được định nghĩa theo nhiều hướng
khác nhau bởi Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới (WIPO), Tổ chức phát
triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) và cả các nhà khoa học Việt
Nam Dưới giác độ pháp lý, công nghệ được đề cập đến trong Bộ luật
Dân sự 2005 thông qua việc đưa ra những đối tượng của hoạt động
chuyển giao công nghệ tại Điều 755 Bộ luật Dân sự Theo đó, đối tượng
chuyển giao công nghệ bao gồm: bí quyết kỹ thuật, kiến thức kỹ thuật về
công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, các giải pháp kỹ thuật, công
thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính,
thông tin dữ liệu được chuyển giao, giải pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi
mới công nghệ, cấp phép đặc quyền kinh doanh và các đối tượng khác
do pháp luật về chuyển giao công nghệ quy định Đây là một khái niệm
tuy ngắn gọn, súc tích nhưng rất đầy đủ Từ khái niệm công nghệ nêu
trên, có thể rút ra một số nhận định mang tính lý luận về các đặc trưng
cơ bản của công nghệ, cụ thể:
Tính hệ thống của công nghệ
Tính ứng dụng của công nghệ
Tính trao đổi của công nghệ
Tính giới hạn của công nghệ
Từ việc xem xét, phân tích những đặc trưng trên của công nghệ,
có thể nhận thấy rằng, việc đưa ra khái niệm mẫu mực về công nghệ là
một thách thức không đơn giản Mỗi một cách tiếp cận khái niệm công
nghệ đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, phù hợp với mục tiêu
của việc sử dụng khái niệm ấy mà thôi
Trang 91.2 Khái niệm chuyển giao công nghệ
Trong cuộc sống, chúng ta vẫn hay nhầm lẫn giữa: chuyển giao
công nghệ và chuyển nhượng thương mại Do đó, ở bài này tác giả sẽ
nêu ra các lý luận giúp phân biệt hai khái niệm này
Nhượng quyền thương mại (franchising) được các tổ chức quốc
tế và pháp luật nhiều quốc gia (trong đó có Việt Nam) coi là một hình
thức chuyển giao công nghệ, nhưng thường không được quy định trong
các luật về chuyển giao công nghệ mà thường quy định trong luật
thương mại Đối tượng của nhượng quyền thương mại là quyền thương
mại, tức là quyền tiền hành kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo cách thức
của bên nhượng quyền quy định, cùng với đó là việc sử dụng nhãn hiệu
hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
quảng cáo của bên nhượng quyền Như vậy, phạm vi đối tượng chủ yếu
chung của cả nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là
các đối tượng sở hữu công nghiệp
Tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển giao công nghệ
Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các vấn đề có liên quan trong
nước, trên thế giới và tình hình chuyển giao công nghệ tại Việt Nam
hiện nay đề tài đã đưa ra 5 nhóm tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt
động chuyển giao công nghệ như sau:
Tài sản trong chuyển giao công nghệ phải là tài sản trí tuệ:
Cần xác định được li – xăng công nghệ thuộc loại nào:
Xác định này giúp đánh giá chi tiết hiệu quả của hoạt động chuyển
giao công nghệ Li – xăng có thể chia thành ba loại phổ biến sau:
Li-xăng công nghệ thuần túy
Li-xăng sản phẩm công nghệ
Li-xăng các tiêu chuẩn công nghệ
Li-xăng được cấp cho các quyền sở hữu trí tuệ cần thiết
để sản xuất và đưa ra thị trường một sản phẩm có tiêu chuẩn hoặc đặc điểm kỹ thuật nhất định
Hợp đồng chuyển giao công nghệ có ba đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, hợp đồng chuyển giao công nghệ là có đối tượng là
công nghệ, với tư cách là một loại "tài sản" đặc thù Thứ hai, hợp đồng
Trang 10chuyển giao công nghệ phải được lập dưới hình thức văn bản Thứ ba,
hợp đồng chuyển giao công nghệ gắn với một số hạn chế liên quan đến
các thủ tục đăng ký hoặc cấp phép
Như vậy, trong hợp đồng chuyển giao công nghệ có hai bên là
bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao
Bên chuyển giao công nghệ là tổ chức hoặc cá nhân có quyền
chuyển giao công nghệ Những điều kiện đối với bên chuyển giao công
nghệ là những ràng buộc pháp lý mà bên chuyển giao công nghệ phải
tuân thủ nhằm đảm bảo tính có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công
nghệ
Bên nhận chuyển giao công nghệ là những tổ chức, cá nhân tiếp
nhận công nghệ được chuyển giao Xét về mặt lý luận, bên nhận chuyển
giao không bị đặt ra nhiều điều kiện như bên chuyển giao, nhưng phải
đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thỏa mãn một số điều kiện nhất định
nếu pháp luật có yêu cầu Bên cạnh đó, bên nhận chuyển giao cũng phải
chịu trách nhiệm pháp lý nếu tiếp nhận những công nghệ bị cấm chuyển
giao theo quy định của pháp luật
1.3 Tổng quan về hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý
nước sinh hoạt
1.3.1 Khái niệm hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt
Công nghệ xử lý nước sinh hoạt chính là các hoạt động xử lý
nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm để có đảm bảo nguồn nước đầu ra
đạt tiêu chuẩn an toàn phục vụ nhu cầu sử dụng của xã hội
Tương tự với khái niệm chuyển giao công nghệ, chuyển giao
công nghệ xử lý nước sinh tại Việt Nam là hoạt động tiếp nhận công
nghệ xử lý nước sinh hoạt nước ngoài và là quá trình vật lý, trí tuệ, một
quá trình đi tìm kiếm với việc huấn luyện toàn diện của nước ta về sự
hiểu biết học hỏi của một bên khác
1.3.2 Chủ thể của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt
Chủ thể của hợp đồng là công nghệ xử lý nước sinh hoạt, có thể
được chuyển giao dưới nhiều hình thức khác nhau Theo quy định tại
Trang 11Điều 7 Luật Chuyển giao công nghệ, đối tượng công nghệ được chuyển
giao là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sau đây:
1.3.3 Giao kết và hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ
xử lý nước sinh hoạt
Giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ
Xét dưới khía cạnh pháp lý, giao kết hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt là hành vi của các bên nhằm xác lập quan hệ
hợp đồng Theo đó, ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt là việc các bên bằng hành vi thể hiện sự ràng buộc của mình
đối với những nội dung đã thương lượng Ký kết hợp đồng có thể được
thực hiện dưới hình thức ký kết trực tiếp hoặc ký kết gián tiếp Ký kết
trực tiếp là việc ký kết được thực hiện "mặt đối mặt", bên này ký vào
văn bản hợp đồng rồi trao cho bên kia
Hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt
Pháp luật hiện hành quy định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng do các bên thỏa thuận theo các nguyên tắc:
Nguyên tắc đảm bảo tính bí mật của công nghệ (Non-disclosure
and confidentiality)
Nguyên tắc thông tin đầy đủ
Đây là một điều khoản rất phù hợp với thực tế đã được Luật
Chuyển giao công nghệ ghi nhận và quy định, góp phần tạo sự linh hoạt
cho các bên khi tham gia đàm phán ký kết hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước thải
1.3.4 Nội dung cơ bản của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử
lý nước sinh hoạt
Nội dung của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh
hoạt thể hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp
đồng Tuy nhiên, nếu trong nội dung của hợp đồng không ghi nhận, thì
những quyền và nghĩa vụ vẫn được thực hiện theo quy định của pháp
luật Hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt là một hợp
đồng song vụ, nên nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền của bên
kia Luật Chuyển giao công nghệ đã có những quy định rất rõ ràng về
Trang 12quyền và nghĩa vụ của bên giao và bên nhận công nghệ xử lý nước sinh
hoạt
Đối với phạm vi công nghệ được chuyển giao:
Trong hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt,
các bên thông thường có các thỏa thuận về phạm vi công nghệ xử lý
nước sinh hoạt nhằm xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của từng bên
Việc chuyển giao có thể thỏa thuận là chuyển giao quyền sở hữu công
nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ Chuyển giao quyền sở
hữu công nghệ là việc bên chuyển giao - chủ sở hữu công nghệ chuyển
giao toàn bộ quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt công
nghệ cho bên nhận chuyển giao là tổ chức, cá nhân
Lĩnh vực sử dụng công nghệ Các bên có thể thỏa thuận việc áp
dụng công nghệ chỉ giới hạn trong một lĩnh vực nhất định, không được
áp dụng sang lĩnh vực khác, nếu không có sự đồng ý của bên chuyển
giao Ví dụ, nếu đã thỏa thuận rằng công nghệ được áp dụng trong lĩnh
vực sản xuất thuốc chữa bệnh thì bên nhận chuyển giao không được áp
dụng cho việc sản xuất mỹ phẩm
Đối với vấn đề nghĩa vụ tài chính:
Bên nhận công nghệ có nghĩa vụ và bên giao công nghệ được
quyền nhận thanh toán đầy đủ theo quy định của hợp đồng và hưởng
quyền, lợi ích khác theo thỏa thuận trong hợp đồng; hưởng ưu đãi theo
quy định của pháp luật Nghĩa vụ thanh toán là một trong những nghĩa
vụ quan trọng nhất của bên nhận công nghệ để đổi lại quyền được nhận
công nghệ từ bên giao Bên cạnh đó, trong hợp đồng chuyển giao công
nghệ thường có thỏa thuận rõ ràng về thuế đánh trên các khoản thu từ
chuyển giao công nghệ
Đối tượng của hợp đồng chuyển giao công nghệ xử lý nước
sinh hoạt
Các phương thức chuyển giao công nghệ trong hợp đồng chuyển
giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
Đây là điều khoản rất quan trọng của hợp đồng chuyển giao
công nghệ, nhằm xác định các vấn đề về nội dung, tiến độ và kết quả cụ
thể của quá trình chuyển giao công nghệ Luật Chuyển giao công nghệ
Trang 13đã có những quy định rất cụ thể về phương thức chuyển giao
Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận: Đây là
quy định mở của luật, nhằm khuyến khích sự thỏa thuận của các bên về
phương thức chuyển giao, qua đó có tác dụng trợ giúp và định hướng
cho các bên đàm phán, thỏa thuận và thức hiện thành công hợp đồng
chuyển giao công nghệ xử lý nước sinh hoạt
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về hợp đồng chuyển giao công
nghệ xử lý nước sinh hoạt
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng chuyển giao công nghệ là
một loại giao dịch dân sự đặc thù, do đó trong những trường hợp cần
thiết cần có sự can thiệp của cơ quan nhà nước Việc can thiệp này có
thể vì lợi ích của cộng đồng, hoặc vì lợi ích của chính bản thân các bên
tham gia hợp đồng chuyển giao công nghệ Pháp luật nhiều quốc gia
cũng có các quy định yêu cầu hợp đồng chuyển giao công nghệ trong
một số trường hợp phải đăng ký với các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền Pháp luật Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ đều quy định, với các
hợp đồng chuyển giao công nghệ có hỗ trợ kinh phí của nhà nước đều
phải đăng ký với cơ quan nhà nước quản lý về công nghệ Luật thúc đẩy
công nghệ của Hàn Quốc quy định, cơ quan nghiên cứu khi chuyển giao
thành quả nghiên cứu phải đăng ký nội dung công nghệ đang sở hữu với
Trung tâm Chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp là bí mật quốc gia
Theo pháp luật Trung Quốc, các hợp đồng xuất, nhập khẩu công nghệ
phải được đăng ký tại Bộ ngoại thương và hợp tác kinh tế, nếu đó là dự
án trọng điểm, các trường hợp còn lại phải đăng ký tại cơ quan quản lý
ngoại thương cấp tỉnh [20] Với chính sách thu hút công nghệ để công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhằm phát triển thị trường công
nghệ trong chiến lược phát triển đồng bộ các loại thị trường, Luật
Chuyển giao công nghệ có quy định về việc các bên tham gia giao kết
hợp đồng chuyển giao công nghệ có quyền đăng ký hợp đồng chuyển
giao công nghệ tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ
có thẩm quyền làm cơ sở để được hưởng các ưu đãi theo quy định của
pháp luật