Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn khu di tích phủ chủ tịch
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ NGA
CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ NGA
CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH
CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT TỪ THỰC TIỄN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn với đề tài “Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn Khu Di tích Phủ Chủ tịch” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tác giả, không trùng lặp với các đề tài khác cùng
lĩnh vực nghiên cứu và chưa được ai công bố trước đó
Các nội dung, số liệu, thông tin được trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, ghi rõ nguồn và tác giả
Hà Nội, ngày 30 tháng 8 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Nga
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của người hướng dẫn khoa học PGS.TS Trần Thị An và các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ tận tình cho tôi hoàn thành luận văn này
Cảm ơn Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Nga
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT……… 12
1.1 Tổng quan chính sách công 12
1.2 Khái niệm chính sách văn hóa 17
1.3 Đặc trưng của chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt 18
Kết luận Chương 1 23
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH PHỦ CHỦ TỊCH 48 NĂM QUA ……… ……24
2.1 Thực trạng ban hành chính sách văn hóa và chính sách bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa 24
2.2 Đánh giá kết quả đạt được của chính sách 26
2.3 Thực trạng ban hành và thực thi chính sách bảo tồn phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch 27
2.4 Một số vấn đề đặt ra trong bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế 59
Kết luận chương 2 61
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH 63
3.1 Quan điểm đổi mới về hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích quốc gia đặc biệt 63
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch 64
Kết luận Chương 3 74
KẾT LUẬN 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 CBVC Cán bộ viên chức
2 CNH Công nghiệp hóa
3 CNTT Công nghệ thông tin
5 HĐH Hiện đại hóa
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Di sản văn hoá, trong đó có các loại hình di tích là tài sản quý giá, có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam Các di tích đó là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng minh chứng cho lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của nhân dân, là nơi tham quan, tìm hiểu về cội nguồn dân tộc, tìm hiểu về truyền thống lịch sử, đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân; từ đó, hiểu được đặc trưng văn hoá và giáo dục các thế hệ tiếp bước truyền thống văn hóa và nhân văn của dân tộc
Từ ý nghĩa quan trọng trên, nhiều di tích văn hóa đã được Nhà nước chú
ý xếp hạng để phân cấp quản lý hiệu quả trong công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích Trong các di tích ở Việt Nam, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã được xếp hạng là di tích đặc biệt bởi ý nghĩa lịch sử, chính trị đặc biệt của mình Đây cũng là một trong các di tích lớn nhất, có ý nghĩa quan trọng nhất trong các di tích lịch sử - cách mạng của Việt Nam nói chung và hệ thống di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước nói riêng Với những giá trị tiêu biểu nổi bật về nhiều mặt, Khu Di tích Phủ Chủ tịch đã nhận được sự quan tâm của toàn thể nhân dân trong nước và khách quốc tế đến tham quan, tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh vị Lãnh tụ muôn vàn kính yêu
của nhân dân Việt Nam được vinh danh là “Anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới”
Để phát huy giá trị các di tích trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong thời gian qua, các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành các chính sách quan trọng trong công tác quản lý, bảo vệ và bảo tồn
di tích trên cả nước, đặc biệt là Khu Di tích Phủ Chủ tịch Tuy nhiên, trong thực tế bối cảnh mới của quốc tế, khu vực và trong nước, việc bảo tồn, phát huy giá trị Khu Di tích quốc gia đặc biệt này đã gặp không ít khó khăn nhất
Trang 8định trong thực tiễn quản lý, thực thi chính sách Xuất phát từ thực tế trên, tôi
chọn đề tài Luận văn: “Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt từ thực tiễn Khu Di tích Phủ Chủ tịch” làm nội dung
nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ chính sách công nhìn từ góc độ thực thi chính sách với mong muốn góp phần nhỏ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, Khu Di tích Phủ Chủ tịch
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong lĩnh vực nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa nói chung, bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch nói riêng, đã
có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu đƣợc thực hiện, trong đó đã đề cập đến thực trạng công tác và chính sách bảo tồn, phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch
Trong các công trình nghiên cứu về Khu Di tích Phủ Chủ tịch, có thể
nói, bài viết của Đặng Văn Bài “Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch từ góc nhìn bảo tồn và phát triển” đã có cái nhìn bao quát về Khu Di
tích từ góc nhìn quản lý văn hóa Trong bài viết này, tác giả đã khẳng định:
“Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch là một không gian văn hóa/vỏ vật chất có chức năng tích hợp, chuyển tải các giá trị văn hóa phi vật thể/tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho hôm nay và mai sau Cũng
có thể khẳng định, chính các giá trị văn hóa phi vật thể đó là “hạt nhân” cơ bản/điều kiện tiên quyết để khu di tích được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt hàng đầu của Việt Nam Theo quy luật tự nhiên, danh nhân dù vĩ đại đến đâu rồi cũng phải từ giã cõi đời này, dấu ấn vật chất gắn với danh nhân trước sau tự thân nó cũng bị hủy hoại, chúng ta chỉ có khả năng hạn chế các tác động của tự nhiên và xã hội để duy trì và kéo dài sự tồn tại cho các dấu ấn vật chất đó mà thôi Duy nhất chỉ có di sản tư tưởng vĩ đại của danh nhân là yếu tố bất biến Chính tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với
Trang 9xu thế phát triển của thời đại mới là yếu tố làm nên tính chất đặc biệt của Khu Di tích lưu niệm về Người” Từ đó, tác giả kiến nghị: “Cần nhìn nhận hoạt động bảo tồn di sản văn hóa nói chung và Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch nói riêng trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, đặc biệt là tình hình căng thẳng ở biển Đông thời gian qua để có thái độ ứng xử văn hóa đúng đắn với kho tàng di sản văn hóa dân tộc – loại “tài sản có giá trị đặc biệt” do các thế hệ cha ông truyền lại” [10]
Trong một bài viết khác, bài “Về vấn đề bảo vệ và phát huy giá trị của các di tích lưu niệm danh nhân”, tác giả Đặng Văn Bài đã đi từ việc xác định
rõ nguyên tắc: “Nguyên tắc bảo tàng học đặt ra yêu cầu: Muốn bảo tồn và phát huy giá trị di tích, chúng ta phải nhận thức rõ đối tượng mà mình quản
lý về mặt định tính, định lượng cũng như những nét đặc thù tiêu biểu nhất
Và, tiếp sau đó, là áp dụng các biện pháp kỹ thuật bảo quản, tu bổ, tôn tạo di tích và sáng tạo các hình thức, nội dung hoạt động hấp dẫn để tuyên truyền, phổ biến các mặt giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của di tích cho rộng rãi công chúng trong toàn xã hội” Từ đó, ông chỉ ra các nhiệm vụ cần quán triệt trong việc bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch nhƣ sau: “Lý luận bảo tàng học hiện đại đặt ra yêu cầu phải thông qua việc nghiên cứu toàn diện các di tích vật thể trong Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (động sản và bất động sản, cảnh quan thiên nhiên, vườn cây, ao cá trong khuôn viên di tích) để xác định rõ các mặt giá trị văn hoá phi vật thể đang ẩn chứa trong từng kỷ vật gắn với đời sống thường nhật của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Chỉ khi nào nắm vững được các mặt giá trị phi vật thể (tức nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh còn ngưng đọng trong di tích) thì cán
bộ bảo tàng mới thực sự có những đóng góp xứng đáng vào việc giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng, hoài bão, nhân cách sống cho thế hệ trẻ, để họ tự giác học
Trang 10tập, công tác, phấn đấu, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức và lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh Tất nhiên, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch không thể phản ánh đầy đủ, toàn diện hệ thống tư tưởng của Bác Hồ, cho nên ở từng điểm di tích, từng kỷ vật cụ thể, chúng ta phải khai thác những khía cạnh đặc sắc nhất liên quan đến tư tưởng của Người Nhiệm vụ đặt ra là phải lựa chọn những nội dung tư tưởng gắn liền với những vấn đề có tính chất thực tiễn và cấp thiết của xã hội đương đại, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đó cũng là phương thức tốt nhất để chúng ta hiện thực hoá những ham muốn cuối cùng, ham muốn tột bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [9]
Trong bài viết “Nâng cao chất lượng nội dung trưng bày và tuyên truyền tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch”, đăng trên Kỷ yếu hội thảo 45 năm bảo tồn và
phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (1969
-2014), tác giả Đỗ Hoàng Linh viết: “Để bảo tồn và phát huy tác dụng di tích
về Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hòa Hồ Chí Minh thì chúng
ta cần phải tái hiện lại đầy đủ hoặc gần đầy đủ nhất những tài liệu hiện vật
mà sinh thời Người sống và làm việc để thông qua đó tuyên truyền sâu sắc hơn về tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sông khiêm tốn, giản dị, tinh thần cống hiến và tình yêu nhân dân, đất nước của Người biểu tượng nhân cách vĩ đại mãi mãi in sâu trong trái tim của các thế hệ người Việt Nam và bạn bè quốc tế, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh việc tiếp tục Học tập và làm theo tấm gương đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, góp phần phấn đấu đi theo con đường mà Người đã chọn vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh và hội nhập quốc tế” [15]
Trang 11Từ góc độ hạ tầng kỹ thuật của Khu Di tích Phủ Chủ tịch, Đỗ Đức
Huỳnh viết: “Hệ thống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu tối thiểu của di tích, nhiều hạng mục trong hạ tầng kỹ thuật cần phải được đầu tư để đáp ứng nhu cầu hoạt động của con người Đây chính là mâu thuẫn rất khó giải quyết giữa bảo tồn và phát triển, giữa nguyên tắc nguyên trạng và mục tiêu đáp ứng các yêu cầu cần thiết của khách tham quan Một vấn đề không kém phiền phức nữa chính là tốc độ đô thị hóa quá nhanh và những tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ luôn đòi hỏi phải được đưa vào cuộc sống, chính vì thế
nó càng mâu thuẫn với nguyên tắc, nguyên trạng và nguyên gốc của di tích, những vấn đề liên quan khác Đây cũng chính là những vấn đề bức xúc, thậm chí là “nóng” trong quá trình thực hiện bảo tồn di tích, thực hiện nhiệm vụ cải tạo phát triển hạ tầng kỹ thuật của di tích” Tác giả cũng đã đề xuất các
giải pháp để giải quyết hợp lý yêu cầu bảo tồn di tích với đòi hỏi cải tạo và
phát triển, xin tóm tắt như sau: - một là, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, điều kiện
nào cũng phải tuyệt đối tôn trọng các giá trị nguyên gốc hay tính nguyên trạng của di tích Tác giả cho rằng, để làm được việc đó cần thiết phải có một chương trình sưu tầm lại toàn bộ hồ sơ di tích qua các thời kỳ, từ khi còn là Phủ toàn quyền, đến khi là Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Chính phủ
và ngay cả biến động khu vực này khi trở thành Khu Di tích quốc gia đặc biệt
để nắm được các biến đổi của Khu Di tích qua các thời kỳ để thực hiện tốt
công tác quản lý Khu Di tích trong giai đoạn hiện nay Hai là, cần chấn chỉnh
và đưa vào nguyên tắc tất cả các hoạt động tu bổ, sửa chữa, cải tạo hoặc nâng cấp các hạng mục, các di tích hay Khu Di tích Vì hoạt động này dễ làm tổn thương đến di tích, dễ làm biến đổi, biến dạng hoặc mất đi tính nguyên trạng
hay các giá trị gốc của di tích Ba là, việc quy hoạch Khu Di tích hay mỗi di
tích cần được tính toán rất kỹ lượng để vừa đảm bảo nguyên tắc bảo tồn cho
di tích, nhưng đồng thời cũng phải có đủ các điều kiện cho di tích hoạt động
Trang 12Khu Di tích cần có vành đai an toàn, giãn cách để phục vụ cho sự phát triển các công trình mới phụ trợ cho hoạt động của di tích và toàn bộ Khu Di tích [14]
Bài viết “Bảo vệ và phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch xứng đáng là di tích quốc gia đặc biệt” đăng trên Kỷ yếu hội
thảo 45 năm bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (1969 -2014) của tác giả PGS.TS Đỗ Văn Trụ đã bàn về vấn đề Bảo vệ và Phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, tác giả đã có một số đề xuất, nhằm góp phần bảo vệ, bảo quản giá trị
Khu Di tích Ông cho rằng, “Khu Di tích cần tổng kết, đánh giá một cách toàn diện và cụ thể các mặt hoạt động trong 45 năm qua, để từ đó khẳng định những ưu điểm, chỉ ra những thiếu sót hạn chế, tìm ra nguyên nhân và rút ra những bài học kinh nghiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ và phát huy giá trị Khu Di tích trong thời gian tới Theo đó cần xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể cho 5-10 năm tới Cần thiết phải xem xét, đánh giá cụ thể thực trạng của Khu Di tích hiện nay so với hồ sơ Khu Di tích đã được xây dựng trước đây ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, từ đó đánh giá các thay đổi để nghiêm túc sửa chữa vì lợi ích chung của khoa học Tiếp tục nghiên cứu, khôi phục trưng bày nội thất các nhà di tích, đảm bảo phát huy giá trị một cách hệ thống, đồng bộ, toàn diện Khu Di tích Một mặt cần phải vận dụng các kết quả nghiên cứu qua các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp cơ sở được thực hiện và đánh giá nghiệm thu trong những năm qua vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn của Khu Di tích, mặt khác cần đẩy mạnh việc nghiên cứu, xác minh, tư liệu hóa các di tích, các hiện vật gắn liền với từng di tích, thực hiện việc tin học hóa, nhằm làm sáng tỏ hơn các giá trị của di tích
và hiện vật, tạo cơ sở cho công tác nghiên cứu khoa học và tuyên truyền giáo dục” [17]
Trang 13Bên cạnh đó, còn có một số đề tài nghiên cứu về Khu Di tích Phủ Chủ tịch của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Khu Di tích Phủ Chủ tịch thực hiện nhƣ sau:
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu và xác định khoa học Khu Di tích lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (khu A)";
- Đề tài cấp Bộ: "Xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp
để bảo vệ và tôn tạo cho vườn cây di tích trong Khu Di tích lịch sử Chủ tịch
- Đề tài cấp Bộ: "Hệ thống hoá tư liệu về hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch giai đoạn 1954-1969";
- Đề tài cấp Bộ: "Nghiên cứu tư liệu hoá tài liệu, hiện vật tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch";
- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu thực trạng môi trường sinh thái Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch” Kết quả được Hội đồng nghiệm thu Bộ Văn hóa thông tin đánh giá xuất sắc;
- Đề tài cấp cơ sở: "Bước đầu khảo sát và xây dựng quy trình bảo quản đàn cá và ổn định môi trường nước di tích ao cá Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch”;
- Đề tài cấp cơ sở: “Hệ thống hoá tư liệu về hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch” giai đoạn 1954-1969";
- Đề tài cấp cơ sở: "Kết quả điều tra hiện trạng cây xanh Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch";
Trang 14- Đề tài cấp cơ sở: "Nghiên cứu, xác định, xây dựng hồ sơ khoa học các
hiện vật đồ giấy tại di tích nhà sàn";
- Đề tài cấp cơ sở: "Nghiên cứu thực trạng, lựa chọn giải pháp bảo tồn
để nâng cấp vườn quả Khu Di tích Phủ Chủ tịch";
- Đề tài cấp cơ sở: “Hệ thống hoá tư liệu và xây dựng đề cương thuyết
minh theo 5 chuyên đề: Bác Hồ với thiếu niên nhi đồng, Bác Hồ với thanh
niên, Bác Hồ với phụ nữ, Bác Hồ với thương binh-liệt sỹ, Bác Hồ với giáo dục”;
- Đề tài cấp cơ sở: "Sưu tầm, hệ thống hoá ảnh tư liệu về những hoạt
động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1954-1969;
- Đề tài cấp cơ sở: "Nghiên cứu, đánh giá kết quả việc ứng dụng công
nghệ khí khô trong công tác bảo quản tài liệu, hiện vật tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch";
- Đề tài khoa học cấp cơ sở "Số liệu hoá hồ sơ, tài liệu hiện vật trong
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch";
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Hệ thống hoá tư liệu Bác Hồ về thăm các
địa phương giai đoạn 1941-1969”;
- Đề tài cấp cơ sở “Hệ thống hóa tư liệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với 13
địa phương (giai đoạn 1941-1969)”;
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu, chỉnh lý, bổ sung số kiểm kê
cho các di tích, tài liệu, hiện vật trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch;
- Đề tài khoa học cấp cơ sở “Nghiên cứu, chỉnh lý hệ thống hóa hoạt
động của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1954-1958”;
- Đề tài khoa học cấp cơ sở "Xây dựng nội dung giáo dục tuyên truyền tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch đối với học sinh,
sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp”;
Ngoài ra, còn có các buổi Hội thảo, Tọa đàm khoa học nhƣ: Hội thảo 45
năm bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại
Trang 15Phủ Chủ tịch (1969 - 2014); Tọa đàm “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tu bổ, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong Khu Di tích Phủ Chủ tịch diễn ra vào ngày 22 tháng 7 năm 2016 tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch” Các buổi tọa đàm cũng nhận được nhiều nghiên cứu, nhận định, đánh
giá về nghiệp vụ bảo tồn di tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác bảo tồn, phát huy giá trị Khu Di tích, đặc biệt công tác tuyên truyền giáo dục ý nghĩa tư tưởng, đạo đức phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch
Các nghiên cứu trên đã nêu rõ thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch, và đưa ra nhiều giải pháp có giá trị nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo quản, trưng bày trong giai đoạn mới Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào một số khía cạnh, nội dung riêng biệt của công tác bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch mà chưa có một nghiên cứu tổng thể toàn bộ quá trình ban hành và thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch phù hợp với giai đoạn hiện nay Từ thực tế đó, đề tài luận văn mong muốn nghiên cứu, đánh giá các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch và thực hiện nghiên cứu bổ sung thêm quá trình ban hành và thực thi chính sách nhằm đưa ra các giải pháp đổi mới hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch Các nghiên cứu được đề cập đến ở trên sẽ
là tài liệu tham khảo tốt để thực hiện đề tài Luận văn này
Trang 163 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục địch nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng việc ban hành, thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản Khu Di tích Phủ Chủ tịch; đề xuất giải pháp đổi mới hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản Khu Di tích này
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, lý thuyết về bảo tồn di tích đặc biệt quốc gia
- Nghiên cứu thực trạng và các giải pháp, công cụ của chính sách phát triển các di tích lưu niện hiện nay từ thực tế tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch
- Đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới việc xây dựng và thực hiện, đánh giá chính sách phát triển các Khu Di tích lưu niệm phù hợp với điều kiện thực tế tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích đặc biệt
Phương pháp nghiên cứu:
Trang 17- Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp được sử dụng nhất quán trong luận văn Các tài liệu được phân tích bao gồm các Văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ ngành ở Trung ương
và địa phương; các kết quả, số liệu của công trình nghiên cứu được sử dụng
kế thừa trong luận văn gồm các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề Chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích cấp quốc gia đặc biệt ở nước ta nói chung và thực tế Khu Di tích Phủ Chủ tịch nói riêng
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Luận văn sẽ áp dụng phương pháp này vào việc phỏng vấn sâu một số cán bộ làm việc tại Khu Di tích Phủ Chủ tịch
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích cấp quốc gia đặc biệt
Chương 2: Thực trạng ban hành và thực hiện Chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch 48 năm qua
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện chính sách
Trang 18Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI TÍCH CẤP QUỐC GIA ĐẶC BIỆT
1.1 Tổng quan chính sách công
1.1.1 Khái niệm chính sách công
Khoa học chính sách ra đời muộn hơn các ngành khoa học khác và thực
sự phát triển rộng rãi ở các nước trên thế giới sau những năm 50 của thế kỷ trước Người đầu tiên sáng lập khoa học chính sách là Harold Lasswell và các học giả khác ở Mỹ và Anh Sau này khoa học chính sách dần dần thay thế các nghiên cứu chính trị truyền thống, đặc biệt là hợp nhất giữa lý thuyết và thực tiễn hoạt động chính trị Chính vì sự phong phú của các phương diện hoạt động chính trị nên các học giả đã đề cập đến khái niệm về chính sách công dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Cho dù nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng khái niệm đều thống nhất cho rằng chính sách công bắt nguồn từ
những “quyết định” của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung
vì lợi ích của đời sống cộng đồng Có thể tìm thấy nhiều khái niệm, định nghĩa về chính sách công của các tác giả trong nước và quốc tế, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả chỉ nêu một số định nghĩa tiêu biểu như sau:
Thomas Dye định nghĩa chính sách công như sau: “bất kỳ những gì mà nhà nước chọn làm hoặc không làm” [20] Khái niệm về chính sách công của
William Jenkins đưa ra cụ thể hơn định nghĩa trên Theo ông, chính sách công
là “một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau được ban hành bởi một nhà hoạt động chính trị hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống cụ thể thuộc phạm vi thẩm quyền của họ” [21] Còn James Anderson đưa ra một định nghĩa chung hơn, mô tả chính sách công như là “một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một nhà hoạt động hoặc một
Trang 19nhóm các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm” [19]
Giáo trình “Hoạch định và phân tích chính sách công” của Học viện
Hành chính Quốc gia xuất bản năm 2013 đưa ra định nghĩa chính sách công
như sau: “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [18] Tác giả Đỗ Phú Hải định nghĩa: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”
[11]
Trên cơ sở tham khảo các cách tiếp cận khác nhau về chính sách công,
có thể đi đến một khái niệm: Chính sách công là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng, mục tiêu chính sách đã đưa ra
1.1.2 Vai trò của chính sách công trong quản lý nhà nước
Nhà nước sử dụng chính sách công làm công cụ chính để điều hành, giải quyết những vấn đề công nhằm thúc đẩy và định hướng phát triển của mọi mặt của xã hội, vai trò của của chính sách công được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
- Vai trò định hướng cho các chủ thể trong xã hội
Mục tiêu của chính sách công là định hướng xã hội vận động phù hợp với những mục tiêu của nhà nước Phản ánh ý chí của nhà nước trong mối quan hệ với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các quá trình kinh tế - xã hội hoạt động theo mục tiêu chính sách đề ra cũng có nghĩa là đạt được mục tiêu phát triển chung và nhận được những ưu đãi của nhà nước và
Trang 20xã hội Cách thức tác động của nhà nước phù hợp với cơ chế tác động của chính sách công vừa nhanh chóng đạt được mục tiêu quản lý, vừa tạo ra tính đồng bộ trong hệ thống quản lý nhà nước
- Chính sách tạo động lực cho các chủ thể trong xã hội
Muốn đạt được các mục tiêu trong quản lý, nhà nước phải ban hành nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp mang tính khuyến khích, tạo động lực tốt nhất cho các chủ thể trong xã hội hưởng ứng tham gia nhằm đạt được mục tiêu quản lý của nhà nước
- Điều chỉnh các hoạt động trong đời sống xã hội
Tạo lập các cân đối trong phát triển cũng là một vai trò điều chỉnh của chính sách công Cách thức tạo lập được thực hiện từ nhiều vai trò khác của chính sách công như khuyến khích các tiềm năng trong tương lai của những ngành, lĩnh vực và vùng kém phát triển để nhanh chóng cân bằng với các ngành hay vùng khác ví dụ sử dụng chính sách công để điều chỉnh quy mô dân số cho phù hợp với tăng trưởng kinh tế để cải thiện mức thu nhập bình quân của xã hội; điều chỉnh các ngành sản xuất cho cân đối với nhu cầu tiêu dùng của dân cư, điều chỉnh các hoạt động văn hóa, và nhiều hoạt động khác trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
- Vai trò kiểm soát và phân phối nguồn lực trong xã hội
Kiểm soát và phân phối nguồn lực cho phát triển là một vai trò quan trọng của chính sách công, nhà nước luôn luôn quan tâm đến việc quản lý, sử dụng các nguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bao gồm cả lượng và chất trong hiện tại và tương lai, nên tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia trở thành vấn đề trung tâm trong quản lý của các nhà nước Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng ổn định, bền vững, nhà nước dùng các chính sách để khuyến khích và điều tiết các quá trình khai thác sử dụng nguồn lực, tài nguyên
Trang 21- Tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế -xã hội
Qua chính sách công, nhà nước tạo ra những điều kiện cần thiết nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho các chủ thể hoạt động về cả chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội
- Hỗ trợ các chủ thể vận động phát triển theo định hướng
Từ mục tiêu, định hướng lựa chọn, nhà nước mong muốn đối tượng cũng vận động hướng tới mục tiêu đề ra bằng cách ban hành chính sách phát triển chung Trong quá trình vận động phát triển, có bộ phận vận động nhanh, bộ phận vận động chậm nên nhà nước ban hành chính sách công để khuyến khích kịp thời các bộ phận vận động chậm đạt mục tiêu đặt ra
- Vai trò tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa các cấp chính quyền thực hiện mục tiêu đặt ra
Phối hợp hoạt động của các chủ thể sẽ tạo nên tính hệ thống chặt chẽ trong quá trình vận động của các thực thể Kết quả đạt được của thực thể do nhiều loại hoạt động tạo thành theo một trình tự nhất định Nếu trình tự này bị đảo lộn sẽ làm biến dạng kết quả hoặc chuyển thành những kết quả không mong muốn Bởi vậy, các chủ thể phải đề ra mục tiêu chính sách thống nhất
để mọi thành phần đều hướng tới mục tiêu chung trên cơ sở thực hiện tốt những mục tiêu bộ phận
1.1.3 Chu trình chính sách công
Theo khoa học chính sách công, chu trình chính sách trải qua các bước thực hiện cơ bản như sau: thu thập thông tin; đề xuất nội dung chính sách; ra quyết định; hướng dẫn; áp dụng chính sách; kết thúc; đánh giá chính sách Ở Việt Nam, giai đoạn hình thành chính sách và ra quyết định chính sách là thống nhất và diễn ra trong khu vực Nhà nước, do các cơ quan công quyền thực hiện, vì vậy hai giai đoạn trên được ghép lại thành giai đoạn hoạch định chính sách Như vậy chu trình chính sách qua các bước hoạch định chính
Trang 22sách; thực thi chính sách; đánh giá chính sách Chu trình chính sách công được thể hiện theo hình dưới đây:
Theo chu trình như trên giai đoạn đầu tiên là hoạch định chính sách, giai đoạn hình thành phương án chính sách và ra quyết nghị chính sách Để hoàn thành giai đoạn này, các cơ quan Nhà nước tiến hành các hoạt động phân tích thực trạng để xác định vấn đề chính sách và đưa các vấn đề cần giải quyết vào chương trình để ban hành chính sách Hoạt động xác định vấn đề chính sách không chỉ do các cơ quan Nhà nước thực hiện mà còn có sự tham gia rộng rãi của xã hội Nội dung quan trọng là việc xác định mục tiêu chính sách và các giải pháp đạt được mục tiêu đó Tiếp theo là giai đoạn thực thi chính sách trong đời sống xã hội, đây là giai đoạn tổ chức thực hiện các giải pháp chính sách đã được lựa chọn và kiểm chứng hiệu quả của chính sách khi triển khai thực tế Có thể coi đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một chính sách Cuối cùng là đánh giá chính sách công Giai đoạn này đo lường kết quả thực hiện chính sách và các tác động thực tế của chính sách
Hoạch định chính sách
Thực thi chính sách
Đánh giá
chính sách
Phân tích chính sách
Trang 23trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách, từ đó xác định hiệu quả của một chính sách trong thực tế để đưa ra các điều chỉnh cho phù hợp từng thời điểm hoặc loại bỏ khi thực thi không hiệu quả hoặc không phù hợp với mục tiêu chính sách tại thời điểm thực hiện
1.2 Khái niệm chính sách văn hóa
1.2.1 Khái niệm
Theo UNESCO, chính sách văn hóa được định nghĩa như sau “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sở cho hoạt động văn hóa” [9, tr.19] Tại Việt Nam, chính sách văn hóa được định nghĩa như sau: “Chính sách văn hóa là một hệ thống các nguyên tắc, các thực hành của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa nhằm phát triển và quản lý thực tiễn của đời sống văn hóa theo những quan điểm phát triển và cách thức quản lý riêng, đáp ứng nhu cầu phát triển đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên cơ sở vận dụng các điều kiện vật chất và tinh thần sẵn có của xã hội” [9, tr.20, 21]
Là một bộ phận của nền văn hóa, di tích nằm trong phạm vi tác động của chính sách văn hóa nói chung Ở Việt Nam, di tích được phân thành 4 loại: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ và danh lam thắng cảnh; trong Di tích lịch sử có hai tiểu loại là Di tích lưu niệm sự kiện và Di
tích lưu niệm danh nhân (Điều 11 Nghị định 98/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Di sản văn hóa và Luật Di sản văn hóa sửa đổi 2009)
Khu Di tích Phủ Chủ tịch là một di tích lưu niệm danh nhân, với tầm vóc
ý nghĩa của mình, Khu Di tích này đã được xếp hạng “quốc gia đặc biệt”
Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di tích lưu niệm là phần nằm trong tổng thể chung của chính sách văn hóa, được xây dựng và ban hành
Trang 24nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ để giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm danh nhân
1.2.2 Vai trò của chính sách văn hóa
Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nói chung và bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm nói riêng nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá, di tích lưu niệm
Chính sách nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hoá Chủ sở hữu di sản văn hoá có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Chính sách đưa ra mục tiêu đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hoá
Chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu
di sản văn hoá nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
1.3 Đặc trưng của chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di
tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt
- Đặc điểm của Di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt
Di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt gắn liền với danh nhân, một nhân vật kiệt xuất, nổi tiếng, có đóng góp to lớn, xuất sắc trong một hoặc
nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội (chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, khoa học…), có tác dụng thúc đẩy và tạo nên những chuyển biến lớn trong
từng giai đoạn lịch sử của đất nước, có đạo đức cao đẹp, được lịch sử và nhân dân thừa nhận, suy tôn là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo, di tích được
Trang 25Nhà nước xếp hạng và ban hành các chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích để gìn giữ, phục vụ nhân dân tưởng nhớ, học tập nghiên cứu và tham quan
- Đặc điểm chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt
Chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt cơ bản trải qua các bước theo khoa học chính sách công Do đặc trưng của đối tượng ban hành chính sách là Di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt gắn liền với danh nhân và di sản văn hóa do danh nhân để lại nên chu trình chính sách có những đặc trưng chính như sau: + Chu trình chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt liên quan đến di sản văn hóa, cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Di sản văn hóa vật thể gắn liền với động sản và bất động sản, di vật, cảnh quan, môi trường xung quanh, nơi danh nhân sống và làm việc khi sinh thời Di sản phi vật thể gắn liền với tư tưởng, đạo đức phong cách sống của danh nhân đóng góp cho cộng đồng, cho nhân loại tồn tại lâu dài với thời gian, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác có tính định hướng xã hội đi theo Khi hoạch định chính sách phải nghiên cứu kỹ đến yếu
tố giữ nguyên trạng của di tích, phát huy giá trị di sản văn hoá vì lợi ích của toàn xã hội, phát huy truyền thống tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp phần sáng tạo những giá trị văn hoá mới, làm giàu kho tàng di sản văn hoá và mở rộng giao lưu văn hoá quốc tế và phát triển xã hội
+ Chu trình chính sách gắn liền với mỗi di tích được Nhà nước xếp hạng + Chu trình chính sách ban hành vừa phục vụ tham quan, nghiên cứu di sản văn hoá vừa bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
Trang 26- Các đối tượng tác động đến thực thi chính sách:
Trong giai đoạn thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt có nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến quá trình này Trong đó có yếu tố liên quan đến Nhà nước
có yếu tố liên quan đến đối tượng của chính sách và các yếu tố kinh tế, xã hội khác
Thứ nhất, do đặc điểm của di tích Di tích thường đóng vai trò vừa phải
bảo quản giữ gìn nguyên trạng vừa phục vụ khách đến tham quan, học tập và
Thứ ba, công tác vận động tuyên truyền chính sách Chính sách bảo tồn
và phát huy giá trị di tích cần được tuyên truyền rộng rãi đến tất cả tầng lớp trong xã hội Tuyên truyền làm lan tỏa các mục tiêu chính sách để nâng cao nhận thức của nhân dân
Thứ tư, quy hoạch vị trí Khu Di tích Chính sách chịu tác động bởi yếu tố
vị trí, quy hoạch, ví dụ như, khi nằm ở các vị trí trung tâm chính trị sẽ chịu ảnh hưởng của khu vực vừa đảm bảo an ninh chính trị, vừa phục vụ tham quan, du lịch
Thứ năm, điều kiện kinh tế - xã hội, nguồn lực xã hội Để bảo tồn tốt nhất
di tích lưu niệm danh nhân cần nhiều nguồn lực tham gia trong công tác tu bổ, bảo quản, đảm bảo an ninh Với điều kiện kinh tế hiện nay, mặc dù nhà nước
đã chú trọng đầu tư, thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị di tích, nhưng chưa
Trang 27thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu rất lớn về vốn, về nguồn lực để đảm bảo di tích không xuống cấp theo thời gian và tác động của thời tiết, môi trường, cần có chính sách rõ ràng, hiệu quả kêu gọi xã hội hóa chung tay thực hiện đảm bảo quy định
1.4 Những yếu tố tác động đến chính sách bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt
Chính sách thường tồn tại và diễn ra trong thời gian dài và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân, vì thế kết quả tổ chức thi hành chính sách cũng sẽ
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cụ thể như sau:
Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị gồm các yếu tố về văn hóa chính trị, hiến pháp, thể chế chính trị Hệ thống chính trị chi phối trực tiếp và gián tiếp đến chu trình chính sách công
+ Văn hóa chính trị
Văn hóa chính trị của mỗi quốc gia được nhìn nhận là một cấu trúc phức tạp bao gồm đa dạng tri thức về các lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội; sự định hướng tư tưởng, tình cảm, niềm tin và thái độ, hành vi chính trị Việc nhận thức, xác định đúng đắn các thể chế văn hóa và thể chế chính trị, việc giải quyết mối quan hệ hài hòa, tuân theo các quy luật khách quan giữa các thể chế đó có vai trò quan trọng trong quá trình quản trị quốc gia Việc đổi mới, hoàn thiện thể chế nói chung, thể chế văn hóa, chính trị nói riêng, cũng như xây dựng văn hóa chính trị của mỗi quốc gia luôn là yêu cầu cần thiết, nhằm vừa bảo đảm đầy đủ các bộ phận chức năng, hoạt động hoàn hảo của thể chế văn hóa, thể chế chính trị, vừa nâng cao văn hóa chính trị đáp ứng yêu cầu về quản trị quốc gia, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững
Trang 28+ Hiến pháp
Hiến pháp nước ta quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất trong hệ thống pháp luật của Việt Nam Mọi chính sách công bắt buộc phải
tuân theo Hiến pháp Tại khoản 1 Điều 60 của Hiến pháp quy định “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”
+ Thể chế chính trị
Thể chế chính trị được hiểu là nội dung phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị quốc gia Thể chế chính trị được cấu thành bởi sự kết hợp các yếu tố: chính trị - kinh tế - xã hội, tư tưởng văn hóa, pháp luật Thể chế chính trị được hiểu rõ nét nhất trong mô hình tổ chức nhà nước; trong hiến pháp của mỗi nhà nước quy định về nguồn gốc và tính chất của quyền lực, sự phân bổ và tổ chức các cơ quan quyền lực và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực, về những quan hệ của nhà nước với công dân, các tổ chức xã hội Chính sách bảo tồn và phát huy giá tri di tích được xây dựng, phục vụ thể chế chính trị Việt Nam, vì mục tiêu phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như Hiến pháp quy định
Lịch sử
Mỗi di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt đều có lịch sử hình thành, tồn tại gắn liền với cuộc đời của danh nhân khi sinh thời, gắn liền với đời sống trong thời đại của mình Khi ban hành chính sách phải dựa trên cơ sở các tư liệu, tài liệu lịch sử đảm bảo tính nguyên vẹn của Di tích, phát huy hết giá trị lịch sử của di tích
Trang 29Văn hóa
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam luôn gắn chặt với đạo lý uống nước nhớ nguồn, tôn vinh những danh nhân văn hóa, anh hùng giải phóng dân tộc, nhân vật lịch sử có công với dân với nước Do đó, văn hóa tín ngưỡng tác động lớn đến chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt Chính sách ban hành phải phù hợp và được nhân dân ủng
hộ để được thực thi đúng mục tiêu của chính sách
Kết luận Chương 1
Chương 1, đã phân tích chung, làm rõ về lý luận chính sách công, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa di tích lưu niệm, đặc trưng chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích lưu niệm danh nhân cấp quốc gia đặc biệt
Từ việc đưa ra một số khái niệm cơ bản, là công cụ để thực hiện phân tích và tổng hợp làm cơ sở hoàn thiện các chương tiếp theo của luận văn Cũng từ phân tích nêu trên, có thể nhận thấy trong suốt thời gian qua, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di tích luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, đã thể chế hóa bằng nhiều chủ trương, chính sách và được thực thi có hiệu lực, hiệu quả trong đời sống xã hội, được nhân dân quan tâm, ủng hộ nâng cao được ý thức cộng đồng trong việc bảo vệ các Di tích Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích ở Việt Nam cần được quan tâm hơn nữa để theo kịp với những thay đổi từng thời điểm Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn những tồn tại, khó khăn và thách thức trong việc hoạch định, ban hành và thực thi chính sách, để đánh giá và đưa ra những giải pháp, công cụ chính sách phù hợp hơn nữa trong công tác bản tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt
Trang 30Chương 2
THỰC TRẠNG BAN HÀNH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ KHU DI TÍCH
PHỦ CHỦ TỊCH 48 NĂM QUA 2.1 Thực trạng ban hành chính sách văn hóa và chính sách bảo tồn
phát huy giá trị di sản văn hóa
Từ Đề cương văn hóa năm 1943 của Đảng, Sắc lệnh số 65/SL ngày
23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam đến Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta luôn thể hiện sự quan tâm đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị Di sản văn hóa
Văn bản có ý nghĩa định hướng chiến lược phát triển văn hóa hiện nay là
Nghị quyết Trung ương V khóa VIII đã nêu rõ: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hành động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mỗi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người” và “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [1]
Trên tinh thần đó, hàng loạt giải pháp xây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân đã ra đời Chính phủ cũng đã tiến hành đầu tư qua Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị di sản, nhờ đó, huy động được sự quan tâm của cộng đồng đối với các di sản văn hóa
Trang 31Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa X (năm 2001), Luật Di sản văn hóa
được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 tiếp tục đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn Di sản văn hóa Từ đó đến nay,
Luật Di sản văn hóa đã được bổ sung để điều chỉnh các vấn đề đặt ra trong thực tiễn Luật Di sản văn hóa của Việt Nam đã xác định “di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Tại khoản 3, Điều 32 Luật Di sản văn hóa có liên quan trực tiếp đến
công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa “3 Khu vực bảo vệ I phải được bảo vệ nguyên trạng về mặt bằng và không gian Trường hợp đặc biệt
có yêu cầu xây dựng công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, việc xây dựng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có thẩm quyền xếp hạng di tích đó” [6]
Việc xây dựng công trình bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở khu vực bảo
vệ II đối với di tích cấp tỉnh phải được sự đồng ý bằng văn bản của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt phải được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch [6]
Việc xây dựng công trình quy định tại khoản này không được làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan thiên nhiên và môi trường – sinh thái của di tích” [7] (Luật Di sản văn hóa 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.51)
Trong nhiều năm qua việc thực hiện Luật Di sản văn hóa đã cơ bản đạt
được các mục tiêu, yêu cầu đặt ra, góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ và các tầng lớp nhân dân về quyền lợi, trách nhiệm trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tương thích với luật pháp quốc tế; tạo điều kiện và cơ hội
Trang 32thuận lợi cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở nước
ta, đồng thời thu hút được sự tham gia tích cực của toàn xã hội, tranh thủ được sự ủng hộ có hiệu quả của cộng đồng quốc tế
Để có cơ sở cho các hoạt động đầu tư, tu bổ, nâng cấp, khai thác, phát huy giá trị Di tích cần thiết phải lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Khu
Di tích Chính phủ ban hành Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày 18/9/2012 về việc quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
2.2 Đánh giá kết quả đạt được của chính sách
Từ những góc nhìn lý luận và thực tiễn, có thể thấy thành tựu của công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa vừa qua được thể hiện qua một số mặt sau đây:
Bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều di tích có giá trị tiêu biểu
về lịch sử, văn hóa và khoa học đã được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật Tổng số vốn đầu tư hàng năm cho hoạt động bảo tồn, tu bổ và tôn tạo di tích liên tục được tăng lên theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn, đồng thời
ưu tiên tập trung đầu tư cho các di tích quốc gia đặc biệt và di tích lịch sử cách mạng Như thế, chương trình mục tiêu quốc gia tu bổ tôn tạo di tích ngày càng có hiệu quả, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo tồn bảo tàng Nhờ có nguồn ngân sách đầu tư kịp thời của Nhà nước và cộng đồng xã hội mà nhiều di tích lịch sử cách mạng đã được trùng tu kịp thời, thoát khỏi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng
Quá trình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo di tích đã tạo ra những sản phẩm văn hóa đặc thù, có sức hút mới làm tăng đáng kể số lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đến thăm Trên thực tế, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong thời gian qua đã có tác dụng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, ngăn
Trang 33chặn tình trạng xuống cấp của di tích lịch sử - văn hóa, tác động mạnh mẽ đến
sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực phát triển ngành du lịch, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu hội nhập quốc tế
Hệ thống tổ chức về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được củng
cố, từng bước mở rộng và hoàn thiện: Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia được thành lập để tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ những vấn đề quan trọng liên quan đến việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Hội Di sản văn hóa Việt Nam được thành lập với Liên Chi hội, Chi hội cơ sở và hơn 3.000 hội viên ở khắp các địa phương trong cả nước
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chính sách văn hóa cũng bộc lộ
những hạn chế, bất cập thực tiễn; một số quy định còn chưa rõ ràng, gây ra nhiều cách hiểu khác nhau do đó việc thực thi còn kém hiệu quả; còn thiếu quy định để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có dấu hiệu là di tích, danh thắng đã được kiểm kê nhưng chưa được xếp hạng; còn có một số quy định chưa tương thích với các luật khác Những hạn chế đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát huy giá trị di tích văn hóa trong giai đoạn hiện nay
2.3 Thực trạng ban hành và thực thi chính sách bảo tồn phát huy giá trị Khu Di tích Phủ Chủ tịch
2.3.1 Khái quát về Khu Di tích Phủ Chủ tịch
- Sơ lược lịch sử các di tích:
Khu Di tích Phủ Chủ tịch được xếp hạng di tích Quốc gia ngày 5 tháng 5 năm 1975 theo Quyết định số 38b/VHQĐ của Bộ trưởng Bộ Văn hóa; Ngày
12 tháng 8 năm 2009 Thủ tướng Chính Phủ ra Quyết định số 1272/QĐ-TTg xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt ngay đợt đầu Khu Di tích Phủ Chủ tịch là
Trang 34nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc lâu nhất, trong 15 năm, từ ngày
19 tháng 12 năm 1954 sau khi từ Chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội, đến ngày 02 tháng 9 năm 1969 khi Người trút hơi thở cuối cùng vĩnh biệt đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế
Khu Di tích Phủ Chủ tịch nằm ở trung tâm chính trị Ba Đình, có khuôn viên rộng 14,7 ha, gồm 3 khu A, B và C, trong đó có các di tích vật thể và di tích phi vật thể, tài liệu hiện vật gốc và môi trường cảnh quan Trong khuôn viên Khu Di tích có Phủ Chủ tịch, Nhà Sàn và các tòa nhà di tích khác như nhà 54, nhà H67 là những công trình có ý nghĩa đặc biệt, gắn liền với cuộc sống đời thường và làm việc cống hiến cho sự nghiệp Cách mạng, giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Phủ Chủ tịch (vốn là dinh Toàn quyền Đông Dương trước đây) là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh thường chủ trì các phiên họp của Hội đồng Chính phủ, tiếp các đoàn khách quốc tế và gặp gỡ các đoàn đại biểu, các tầng lớp nhân dân Toà nhà đồ sộ, bề thế, sang trọng cao bốn tầng nhìn ra đường Hùng Vương là điểm di tích đầu tiên trong hành trình tham quan Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Trong thời gian thực dân Pháp cai trị, toà nhà này được gọi là Phủ Toàn quyền Đông Dương Công trình mang phong cách thời Phục Hưng do kiến trúc sư người Pháp gốc Đức Lich-ten Fen-đơ thiết kế, được xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XX (1900 - 1906) Quy mô và phong cách kiến trúc của toà nhà dường như muốn thể hiện quyền uy và sức mạnh của nước Pháp ở Đông Dương Diện tích sử dụng của toà nhà gần 1300 mét vuông Toàn bộ toà nhà có trên 30 phòng, mỗi phòng được trang trí theo một phong cách riêng Mỗi khi có một viên Toàn quyền lên thay thế, toà nhà lại được trang trí, sửa chữa lại theo ý thích của người chủ mới Từ khi toà nhà được hoàn thành đến ngày cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đã có 29 đời Toàn quyền và
Trang 35Quyền Toàn quyền Pháp đến ở và làm việc tại đây Pôn-Bô (Paul Beau) là Toàn quyền đầu tiên, còn Toàn quyền cuối cùng là Đờ - Cu (Decoux), sau đó ông ta giữ luôn chức Cao uỷ ở Đông Dương và Thái Bình Dương
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, Hà Nội được giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ, Trung ương Đảng từ chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô sau chín năm kháng chiến anh dũng và gian khổ Với lòng kính yêu lãnh tụ, với mong muốn đảm bảo điều kiện làm việc tốt nhất cho Chủ tịch Hồ Chí Minh và đáp ứng được những nghi lễ ngoại giao khi Người đón tiếp khách trong nước và quốc tế, các đồng chí trong Trung ương Đảng, Chính phủ đã mời Người về ở và làm việc tại Phủ Toàn quyền cũ, nhưng Người đã khước từ Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trước kia đây là Phủ Toàn quyền, nhưng việc xây dựng nên công trình kiến trúc này là bàn tay của những người thợ Việt Nam Bây giờ nhân dân được tự do, đất nước được độc lập, quyền làm chủ toà nhà phải thuộc về nhân dân Người đề nghị sử dụng toà nhà làm nơi làm việc và tiếp khách của Chính phủ và Nhà nước Việt Nam Từ đó toà nhà được gọi là Phủ Chủ tịch
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (ngày 2 tháng 9 năm 1969), Phủ Chủ tịch trở thành một trong những di tích lưu niệm về Người Song, cũng từ
đó đến nay toà nhà này vẫn là nơi làm việc của Chủ tịch và Phó Chủ tịch nước, những hoạt động có ý nghĩa quan trọng của Đảng và Nhà nước ta vẫn được tiến hành trọng thể ở đây
- Di tích nhà 54, sau khi dành Phủ Toàn quyền cũ để Nhà nước làm việc
và tiếp khách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn một ngôi nhà nhỏ gần bờ ao để
ở và làm việc Ngôi nhà này vốn là nơi ở của những người thợ điện Pháp, là khu vực nằm trong khu dành cho các nhân viên phục vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc tại ngôi nhà này từ tháng 12 năm 1954, vì vậy ngôi nhà được gọi là Nhà 54
Trang 36Tại phòng ăn nhà 54 có treo một chiếc nhiệt kế để Chủ tịch Hồ Chí Minh tiện theo dõi thời tiết hàng ngày Khi thấy nhiệt độ xuống dưới 100C, Người không quên nhắc đồng chí Bộ trưởng Bộ giáo dục cho học sinh cấp I nghỉ học
để đảm bảo sức khoẻ cho các cháu Với tầm nhìn chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chăm lo đến việc xây dựng một đội ngũ trí thức mới, đủ năng lực đảm đương và gánh vác sự nghiệp phát triển đất nước lâu dài
Hiện nay, tại nhà 54 còn lưu giữ nhiều hiện vật là những món quà của bè bạn quốc tế tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh như: chiếc bàn tròn của Chủ tịch Cu
Ba Phiđen Cat-xtơ-rô, bức tượng nhà thơ Khuất Nguyên của nhân dân Trung Quốc; Phù điêu của Lênin, mô hình tháp Krem-lin của Liên Xô, Búp bê truyền thống của Hội hữu nghị Nhật - Việt, mô hình thùng đựng rượu của Bun-ga-ri…
- Phía bên trái ngôi nhà 54 có một gara nhỏ, nơi trưng bày hai chiếc xe ô tô: Pô-bê-đa và Pơ-giô 404 Đây là những chiếc xe đã dùng phục vụ Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong thời gian Người sống và làm việc ở khu Phủ Chủ tịch
- Nằm ở vị trí trung tâm, nhà Sàn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc trong 11 năm từ năm 1958 đến năm 1969 Ngôi nhà Sàn được khởi công xây dựng vào ngày 15 tháng 4 năm 1958 Anh em cán bộ, chiến sĩ đã làm việc khẩn trương để hoàn thành công việc trong thời gian ngắn nhất, kịp mừng sinh nhật lần thứ 68 của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngày 17 tháng 5 năm 1958, ngôi nhà được khánh thành Nhân dịp này Người tổ chức một buổi liên hoan nhỏ để cảm ơn kiến trúc sư và anh em thi công, sau đó Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển về ở và làm việc tại nhà Sàn
Trong những năm tháng đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc - Việt Nam ác liệt (1964 - 1968), Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn ở và làm việc tại nhà Sàn Người đã cùng Bộ Chính trị, Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp
Trang 37chỉ đạo cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại miền Bắc - một phần trong chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Tại nhà sàn, tháng 5 năm 1965, vào dịp sinh nhật lần thứ 75 của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt bút viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc
Từ đó hàng năm, Người dành một thời gian nhất định từ ngày 10 đến ngày 20 tháng 5, để sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh bản Di chúc và Người đã sửa chữa lần cuối bản Di chúc lịch sử này vào tháng 5 năm 1969 Bản Di chúc khẳng định niền tin tuyệt đối của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thắng lợi của sự nghiệp
đấu tranh thống nhất đất nước của dân tộc: "Dù khó khăn gian khổ đến mấy nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà "
Hiện nay, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- Di tích nhà 67, vào những năm 1966 - 1967, cuộc phiêu lưu mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của đế quốc Mỹ ngày càng trở nên ác liệt, những kẻ cầm đầu nhà Trắng tuyên bố: phải huỷ diệt các thành phố lớn, phải đưa miền Bắc Việt Nam quay về thời kỳ đồ đá, vì vậy Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác cùng các khu công nghiệp
bị bắn phá ngày đêm
Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị
đã quyết định xây dựng ở phía sau nhà Sàn một ngôi nhà kiên cố đề phòng tình huống bất ngờ xảy ra Ngày 1 tháng 5 năm 1967, nhân dịp Chủ tịch Hồ
Chí Minh đi công tác nước ngoài, ngôi nhà được khởi công xây dựng Ngôi
nhà được đặt tên theo năm xây dựng: nhà H67 Ngày 30 tháng 6 năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Hà Nội sau chuyến đi công tác dài ngày, thấy ngôi nhà mới, Người tỏ ý không vui Các đồng chí trong Bộ Chính trị báo cáo
Trang 38với Người về sự cần thiết phải xây dựng ngôi nhà này Đồng chí Phạm Hùng, Phó Thủ tướng, uỷ viên Bộ Chính trị thưa với Người, việc xây dựng ngôi nhà
là nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, đặc biệt là của đồng bào chiến sĩ miền Nam Mặc dù vậy, Người vẫn không nhận cho riêng mình mà đề nghị sử dụng ngôi nhà làm nơi họp Bộ Chính trị, nơi làm việc với các đồng chí Trung ương và các cán bộ phụ trách đầu ngành
Sức khoẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một yếu Theo lời đề nghị của bác sĩ, ngày 18/8/1969 Người chuyển hẳn xuống ở nhà 67 Từ ngày 25 tháng
8 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh lâm bệnh nặng Sức khoẻ của Người diễn biến ngày càng xấu và phức tạp Ngôi nhà H67 trở thành nơi điều trị bệnh cho Chủ tịch Hồ Chí Minh Bệnh tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày một trầm trọng, nhịp tim rối loạn thất thường, nhưng khi tỉnh lại giữa hai cơn đau Người vẫn hỏi về tin chiến sự ở miền Nam, về tình hình lũ lụt ở miền Bắc Người nhắc nhở các đồng chí Trung ương phải quyết tâm giữ vững đê, bảo vệ dân, bảo vệ sản xuất Biết tin Trung ương muốn mời Người lên khu vực Ba Vì
(Sơn Tây) để tránh lũ lụt, Người nói: "Bác đi chỉ được mình Bác, còn dân thì sao" Người vẫn quyết định ở lại cùng đồng bào Vì tuổi cao, sức yếu Chủ
tịch Hồ Chí Minh không vượt qua được cơn bệnh hiểm nghèo, Người đã vĩnh biệt chúng ta để lại muôn vàn thương tiếc cho đồng bào, chiến sĩ cả nước và bạn bè quốc tế Chiếc đồng hồ đặt trên tủ cạnh giường và cuốn lịch treo tường dừng lại ở thời khắc Người ra đi: 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về cõi vĩnh hằng, nhưng ngôi nhà 67 cùng với những hiện vật liên quan đến cuộc sống thường ngày của Người: chiếc quạt lá
cọ, chiếc gậy song quen thuộc, đôi dép cao su theo Người đi khắp nẻo đường đất nước , dường như vẫn còn hơi ấm của Người
- Phòng trưng bày bộ đồ Y tế, căn phòng trưng bày 42 hiện vật vốn là các dụng cụ y tế đã được sử dụng để chữa trị cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
Trang 39thời gian Người lâm bệnh từ ngày 24-8-1969 đến ngày 2-9-1969 Căn phòng nằm ở cuối dãy nhà mái bằng phía sau nhà Sàn và giáp với di tích nhà 67 Căn phòng được thiết kế, xây dựng vào tháng 5-1958 để làm nơi nghỉ của Bộ Chính trị giữa các cuộc họp với Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nhà Sàn Về sau, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh bệnh nặng, căn phòng mới dùng là nơi làm việc của Hội đồng bác sĩ chữa bệnh cho Người
- Di tích nhà bếp A, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và cơ quan Văn phòng Phủ Chủ tịch chuyển về khu Phủ Toàn quyền cũ, thì dãy nhà vốn là nơi làm việc, nơi ở của những người phục vụ cho Phủ Toàn quyền được sử dụng làm kho, mấy phòng đầu hồi được tu sửa để làm bếp nấu ăn phục vụ Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng Nhà bếp còn là nơi chuẩn bị những buổi tiệc Chủ tịch Hồ Chí Minh mời khách trong nước và quốc tế, nơi phục
vụ đồ uống hay bữa ăn nhẹ cho các đồng chí trong Bộ Chính trị khi tới họp với Người
Ngoài các công trình kiến trúc nêu trên, Khu Di tích Phủ Chủ tịch có môi trường cảnh quan đẹp, hài hòa và đa dạng các loại cây Tiêu biểu là Ao cá, Đường Xoài, Vườn cây, vườn hoa Phủ Chủ tịch là nơi sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm chăm sóc, nơi thư giãn, rèn luyện sức khỏe mỗi ngày trước và sau giờ làm việc
- Ao cá trong Khu Di tích rộng hơn 3.000m2, nơi sâu nhất khoảng 3m phía trước nhà Sàn Hàng ngày, sau giờ làm việc buổi chiều, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường ra cầu ao cho cá ăn Mỗi lần cho cá ăn Người lại vỗ tay gọi, lâu dần các loại cá đã quen với tiếng vỗ tay và tạo thành phản xạ quen thuộc cho
cá đến nay
- Đường Xoài có chiều rộng 5m, dài hơn 200m hai bên đường được trồng hai hàng Xoài cổ thụ, mỗi buổi sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh thường tập thể dục và đi bách bộ sau giờ làm việc mỗi buổi chiều Đường Xoài đã ghi
Trang 40nhiều kỷ niệm đẹp và cảm động giữa Người với đồng bào, chiến sỹ miền Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh thường tiếp khách và làm việc ở nơi đây trong những ngày đẹp trời Người coi Giàn hoa này như một phòng khách đặc biệt, tạo ra sự thoải mái, tự nhiên và không bị giới hạn bởi không gian và các nghi thức ngoại giao Đây cũng chính là nét độc đáo trong phong cách tiếp khách của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Vào những dịp Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, ngày Quốc tế thiếu nhi 1-6, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dành thời gian đón các cháu thiếu niên nhi đồng đến vui chơi, xem các cháu múa hát tại Giàn hoa Phủ Chủ tịch
- Vườn cây có hơn 1.271 cây các loại, thuộc 161 loài cây, 54 họ thực vật,
có 93 loài cây trong nước, 68 loài cây nước ngoài 35 là loại cây ăn quả, 59 loài là cây bóng mát, 67 loài là cây hoa, cây cảnh Đặc biệt, có một số cây quý hiếm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa về trồng Tại nơi đây, ngày 28/11/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng phong trào “Tết trồng cây”, phong trào vẫn được nhân dân Việt Nam thực hiện khi tết đến xuân về
- Sơ lược về tài liệu, hiện vật
Trong 15 di tích bất động sản tại Khu Di tích, có 10 di tích được đưa vào phục vụ du khách tham quan Gần 1000 tài liệu, hiện vật được trưng bày trên tổng số gần 1.700 tài liệu, hiện vật So sánh con số kiểm kê khoa học hiện tại