1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đảng bộ tỉnh nghệ an lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015

181 249 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, nghiên cứu tổng kết công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An để khẳng định: tính đú

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN CAO NGUYÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở

CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỪ NĂM 1996

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN CAO NGUYÊN

ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở

CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỪ NĂM 1996

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đỗ Quang Hưng

Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan Các tài liệu tham khảm có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày……tháng……năm 2017

Tác giả luận án

Trần Cao Nguyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây

dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015”, tác giả vô cùng biết ơn GS.TS Đỗ Quang

Hưng - người đã trực tiếp hướng dẫn và nhiệt tình giúp đỡ trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy, cô giáo trong Phòng Đào tạo Sau đại học và Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình tác giả thực hiện luận án

Qua đây tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Tổ Chức Tỉnh

ủy, Sở Nội, Ban Dân tộc Tỉnh Nghệ An; Phòng Nội vụ và Phòng Tổ chức cán bộ các huyện miền núi Nghệ An, đã nhiệt tình cung cấp cho tác giả những tư liệu hết sức quan trọng để thực hiện luận án

Tác giả cũng xin cảm ơn đến các cán bộ, nhân viên làm việc tại Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâm Lưu trử tỉnh Nghệ An đã tạo mọi điều kiện để tác giả thu thập tài liệu nghiên cứu luận án

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bè bạn thân thiết, đồng nghiệp trong Trường Đại Học Vinh đã luôn tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành luận án

Tác giả: Trần Cao Nguyên

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 4

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của Luận án 4

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án 6

7 Kết cấu của Luận án 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Các công trình khoa học liên quan đến đề tài Luận án 7

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam 7

1.1.2 Các công trình nghiên cứu đề cập đến miền núi và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An 17

1.2 Những nội dung cơ bản của các công trình khoa học đã đề cập liên quan đến đề tài Luận án và những vấn đề Luận án tập trung nghiên cứu 22

1.2.1 Những nội dung cơ bản của các công trình khoa học đã đề cập liên quan đến đề tài Luận án 22

1.2.2 Những vấn đề Luận án tập trung nghiên cứu 23

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 25

2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi 25

Trang 6

2.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ

người DTTS trong HTCT (1996 – 2005) 43

2.2 Quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT 54

2.2.1 Chỉ đạo xây dựng quy hoạch, tạo nguồn cán bộ 54

2.2.2 Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người DTTS trong HTCT 60

2.2.3 Chỉ đạo về việc tiếp nhận tuyển dụng, thực hiện chế độ chính sách và đánh giá, kiểm tra, kỷ luật cán bộ 63

Tiểu kết chương 67

Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI ĐÁP ỨNG TÌNH HÌNH MỚI TỪ NĂM 2006 ĐẾN 2015 69

3.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi 69

3.1.1 Yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đáp ứng nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An 69

3.1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT (2006 - 2015) 78

3.2 Đảng bộ tỉnh Nghệ An chỉ đạo thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong HTCT từ năm 2006 đến năm 2015 92

3.2.1 Chỉ đạo quy hoạch nguồn cán bộ và tạo nguồn cán bộ 92

3.2.2 Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng 99

3.2.3 Chỉ đạo tiếp nhận, tuyển dụng, thực hiện chế độ chính sách và đánh giá, kiểm tra, kỷ luật cán bộ 107

Tiểu kết chương 3 112

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM 115

4.1 Nhận xét quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi (1996 – 2015) 115

4.1.1 Ưu điểm 115

4.1.2 Hạn chế, khiếm khuyết 127

4.1.3 Nguyên nhân của ưu điểm và những hạn chế, yếu kém 132

4.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 135

Trang 7

4.2.1 Quán triệt và vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số vào điều kiện cụ thể của địa phương 135 4.2.2 Xác định đúng vai trò của các đảng bộ cơ sở trong xây dựng đội ngũ cán

bộ người DTTS trong HTCT 137 4.2.3 Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền về vị trí, vai trò của đội ngũ cán bộ người DTTS và tầm quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán

bộ người DTTS trong HTCT 139 4.2.4 Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT 141 4.2.5 Các cấp ủy Đảng và chính quyền cần chú trọng phát triển kinh tế, xã hội cho vùng DTTS và phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào DTTS 144 Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 8

UBND Ủy ban nhân dân

UVBTV Ủy viên ban thường vụ

SCLLCT Sơ cấp lý luận chính trị

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong đó có 53 dân tộc thiểu số Do vậy, trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc có ý nghĩa chiến lược trong mọi giai đoạn lịch sử Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) tiếp tục khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc

có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan

hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội vùng có đồng bào dân tộc thiểu số…”[53, tr.36-37] Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, yêu cầu trước hết là phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số vững mạnh cả về số lượng và chất lượng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [63, tr.269] Vì vậy, đối với các địa phương có nhiều dân tộc sinh sống, Đảng và Nhà nước chú trọng đến việc sử dụng và xây dựng đội ngũ cán

bộ người dân tộc thiểu số và xem đây là lực lượng chủ yếu tại địa phương để thúc đẩy sự phát triển toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Tuy nhiên, công tác cán bộ dân tộc thiểu số hiện nay ở Việt Nam còn nhiều bất cập Những tình huống chính trị, cả việc những thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, kích động chia rẽ đồng bào dân tộc thiểu số, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc ở các vùng dân tộc thiểu số (Tây Nguyên, Tây Bắc…) đã cho thấy những hạn chế, yếu kém từ hệ thống chính trị cấp cơ sở, cũng như tình trạng “vừa thiếu, vừa yếu” của đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số Văn kiện Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX (2003) chỉ rõ: “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở vùng dân tộc và miền núi còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực tổ chức, chỉ đạo thực hiện; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưa được quan tâm”[47, tr.34] Đây là thực trạng chung của cả nước, trong đó có tỉnh Nghệ An về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi

Nghệ An là tỉnh có 10 huyện và 1 thị xã miền núi, chiếm 83,31% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; các huyện miền núi Nghệ An có 101 xã khu vực III, 61 xã khu vực

II, 90 xã khu vực I và 1.188 thôn bản đặc biệt khó khăn, có 27 xã biên giới; 3 huyện

Trang 10

được nhà nước đầu tư theo Nghị quyết 30a và 1 huyện được hưởng chính sách 30a; tính đến năm 2014 dân số các huyện miền núi 1.197.628 người chiếm 41% dân số toàn tỉnh, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số có 442.787 người, chiếm 15,2 % dân

số toàn tỉnh và chiếm 36% dân số trên địa bàn miền núi [18, tr.22] Các huyện miền núi Nghệ An là nơi có địa hình phức tạp, hiểm trở, cơ sở hạ tầng thấp kém; chỉ số phát triển con người (HDI) thấp nhất cả tỉnh; kinh tế hết sức khó khăn là “rốn nghèo” của cả nước, nhưng lại là nơi có vị trí chiến lược trọng yếu về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia, với 419 km đường biên giới tiếp giáp với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Các huyện miền núi Nghệ An muốn thoát nghèo, khai thác được lợi thế trong hội nhập, vấn đề đặt ra là cần chuyển hóa những tiềm năng, lợi thế ở các huyện miền núi thành nội lực, trong đó đặc biệt tăng cường lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong

hệ thống chính trị Khi bước vào công cuộc đổi mới, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, các huyện miền núi tỉnh Nghệ An được đầu tư, xây dựng và đạt được những thành tựu đáng kể cả về đời sống vật chất, tinh thần và trình độ dân trí của đồng bào được nâng lên Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi Nghệ An còn nhiều bất cập: số lượng cán bộ chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng; chất lượng cán bộ chưa đồng đều, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; mặt khác, lợi dụng chính sách dân tộc của Đảng, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, “bạo loạn lật đổ” chống phá cách mạng Việt Nam, khu vực biên giới các huyện miền núi Nghệ An các thế lực thù địch kích động đồng bào các dân tộc thiểu số chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân, gây bạo loạn… Do đó, yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi Nghệ An trong tình hình mới phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn cao

Vì vậy, nghiên cứu tổng kết công tác lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An để khẳng định: tính đúng đắn, sáng tạo trong chủ trương và sự chỉ đạo của

Trang 11

Đảng bộ tỉnh; đánh giá đúng những thành tựu, hạn chế; nhận xét và rút ra những kinh nghiệm có giá trị khoa học để vận dụng vào công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong tình hình mới đạt hiệu quả cao hơn, đó là việc làm rất cần thiết và cấp bách hiện nay

Với tất cả những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ

An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015” làm Luận án tiến sĩ

Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

2.1 Mục đích

Luận án làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ

cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm

1996 đến năm 2015, từ đó rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng để thực hiện tốt hơn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên luận án đặt ra những nhiệm vụ cần giải quyết sau:

Thứ nhất, trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Thứ hai, khái quát những yếu tố tác động đến tác động đến công tác xây dựng

đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An từ năm

1996 đến năm 2015 (được chia ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1, từ năm 1996 đến năm 2005; đoạn giai 2, đoạn từ năm 2006 đến năm 2015)

Thứ ba, hệ thống chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác

xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung, đối với miền núi nói riêng từ năm 1996 đến năm 2015

Thứ tư, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng đường lối, chủ

trương của Đảng và Nhà nước lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi trong 20 năm (1996 - 2015)

Thứ năm, phân tích những thành công, ưu điểm và hạn chế, khiếm khuyết

trong quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị ở các huyện miền núi; rút ra những kinh nghiệm từ

Trang 12

sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị ở các huyện miền núi

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu về quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng

đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị ở các huyện miền núi từ

năm 1996 đến năm 2015

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Dưới góc độ Lịch sử Đảng, Luận án tập trung

nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015, cụ thể:

+ Luận án tập trung vào nghiên cứu đối tượng là cán bộ người DTTS trong HTCT (Đảng, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh và Đoàn thanh niên) ở địa bàn 10 huyện miền núi Nghệ An (cấp huyện

và cấp xã)

+ Luận án tập trung làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi (từ 1996 đến năm 2015): Chỉ đạo xây dựng quy hoạch, tạo nguồn cán bộ; Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Chỉ đạo về việc tiếp nhận tuyển dụng và thực hiện chế độ chính sách

- Về không gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu ở địa bàn 10 huyện

miền núi Nghệ An gồm: cấp huyện và cấp xã (Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Con Cuông, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Anh Sơn)

- Về thời gian nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu từ năm 1996 đến năm

2015, qua 04 nhiệm kỳ đại hội của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, khóa XIV (1996 - 2000), khóa XV (2001- 2005), khóa XVI (2005 - 2010) và khóa XVII (2010 - 2015)

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của Luận án

4.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Cơ sở lý luận: Luận án thực hiện dựa trên nền tảng quan điểm lý luận chủ

nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt

Trang 13

Nam về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ dân tộc thiểu số nói riêng

- Cơ sở thực tiễn: Luận án nghiên cứu từ thực tiễn công tác xây dựng đội ngũ

cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị ở các huyện miền núi Nghệ An nói riêng, được phản ánh trong các văn bản báo cáo, các bảng biểu thống kê lưu trữ của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể và các

cơ quan chức năng có liên quan và qua kết quả điều tra, khảo sát trực tiếp của nghiên cứu sinh

4.2 Nguồn tài liệu

Luận án khai thác nguồn tài liệu phong phú bao gồm:

- Văn kiện của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt tập trung trong thời gian từ

năm 1996 đến 2015

- Văn kiện của Đảng bộ tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, các sở, ban, ngành; Văn kiện của các Đảng bộ huyện, Ủy ban nhân dân huyện, các phòng chức năng của các huyện và số liệu khảo sát ở 10 huyện miền núi Nghệ An về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong HTCT từ năm 1996 đến 2015; Các tác phẩm về lịch sử địa phương của 10 huyện miền núi

- Kế thừa kết quả những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong

và ngoài nước có liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc

thiểu số

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, đồng thời

sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của các khoa học liên ngành, như: phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn, phỏng vấn chuyên gia…

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

- Luận án triển khai thành công sẽ có những đóng góp dưới góc độ Lịch sử

Đảng cho lĩnh vực nghiên cứu và xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số - những chủ thể chính trị ở địa phương khu vực miền núi; góp phần tổng kết thực tiễn

Trang 14

quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng chủ trương của Trung ương Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi (1996 – 2015)

- Đúc kết một số kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An

về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị,

có thể vận dụng để thực hiện tốt hơn công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các địa phương miền núi trên cả nước trong thời gian tới

- Từ kết quả khảo sát thực tiễn về quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong 20 năm (1996 – 2015), là cơ sở lý luận để các cấp bộ đảng có thể tham khảo trong quá trình lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân người tộc thiểu số trong hệ thống chính

trị ở khu vực miền núi có những điểm tương đồng với tỉnh Nghệ An

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

6.1 Về phương diện lý luận

Luận án góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận vấn đề về lĩnh vực xây dựng nguồn nhân lực với đối tượng cụ thể là cán bộ người dân tộc thiểu số trong thống chính trị

6.2 Về phương diện thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các

cơ quan hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực đặc thù ở khu vực miền núi; đóng góp thêm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về lịch

sử địa phương, về thực hiện chính sách dân tộc nói chung, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng ở tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến đề tài, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của Luận án được kết cấu trong 4 chương và 8 tiết

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các công trình khoa học liên quan đến đề tài Luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán

bộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam

- Nghiên cứu về tình hình kinh tế xã hội ở khu vực miền núi và vai trò của đồng bào dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực miền núi,

qua các ấn phẩm, Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền

núi Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996 của tác giả Bế Viết Đẳng (chủ biên) và

ấn phẩm, Phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi theo hướng công

nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 của các tác giả Lê

Du Phong, Nguyễn Đình Phan, Dương Thị Thanh Mai (đồng chủ biên) Qua nội dung trình bày, các tác giả đều thống nhất với nhau khi nêu lên thực trạng kinh tế -

xã hội ở các vùng dân tộc, miền núi và khó khăn trong việc thiếu nguồn nhân lực để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay ở khu vực miền núi Từ đó, các tác giả nêu lên các định hướng phát triển, một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ cho đồng bào dân tộc thiểu số, coi đó là chìa khóa thành công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội miền núi

- Bài viết, “Phát huy dân chủ, xây dựng, củng cố chính quyền và đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới”, của tác giả Cư Hoà Vần, trong

ấn phẩm “Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX”, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, (2001) Nội dung bài viết đề cập trực tiếp công tác cán bộ đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó tác giả nghiên cứu khá sâu sắc về thực trạng công tác cán bộ ở miền núi nước ta, những bất cập về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số được tác giả nghiên cứu đánh giá cụ thể: “Đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao, chuyên môn giỏi là người dân tộc làm việc tại các ngành của Trung ương và địa phương còn ít, cán bộ dân tộc thiểu số công tác trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, giao thông, xây dựng, y tế, giáo dục còn thiếu Cán bộ người dân tộc thiểu số ở các địa phương trình độ học vấn còn hạn chế, yếu kém Tình

Trang 16

năng lực, đặc biệt là trình độ năng lực học vấn” Nghiên cứu của Cư Hoà Vần đồng thời khẳng định vai trò của Đảng đối với sự phát triển của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số qua các thời kỳ cách mạng, “Từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số ở nước ta đã trưởng thành và không ngừng phát triển, đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số đã có bước trưởng thành khá rõ nét” Để đẩy mạnh công tác phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đối với sự phát triển của khu vực miền núi, nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp mang tính khả thi như: “Phải có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ dân tộc từ cơ

sở cho đến Trung ương, theo nhu cầu của từng loại cán bộ trong từng thời kỳ, bảo đảm mục tiêu chiến lược chung của cả nước” Đặc biệt, tác giả xác định cần “đẩy mạnh xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số không chỉ vì lợi ích của các dân tộc thiểu số mà còn nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng chung của cả nước, vì chiến lược con người,” Mặc dù không đề cập trực tiếp đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi Nghệ An nhưng nghiên cứu của tác giả Cư Hoà Vần đã phần nào đánh giá những điểm chung về hạn chế và bất cập đối với chủ thể chính trị là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi, những kết quả đó chính là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để luận án tiếp tục kế thừa và đề xuất các giải pháp trong xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi Nghệ An trong quá trình nghiên cứu

- Bài viết của tác giả Nguyễn Minh Hiển,“Sự phát triển giáo dục và đào tạo ở

vùng dân tộc thiểu số”, nghiên cứu được tác giả thể hiện trong cuốn sách“Các dân

tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2001) Bài viết

có cái nhìn khá sâu đối với sự chuyển biến về chất, lượng của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi nước ta Đánh giá về sự phát triển của công tác giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay, nghiên cứu của tác giả cho rằng: “công tác đào tạo, cán bộ là người dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc đạt nhiều thành tựu đáng kể Mười năm về trước, nhiều cán bộ thôn xã còn ở tình trạng mù chữ Cho đến nay, cán bộ thôn xã thấp nhất cũng có trình độ tiểu học,

có người có trình độ trung học phổ thông Nhiều cán bộ người dân tộc thiểu số đã

có trình độ cao” Với những kết quả đạt được về thành tựu của công tác giáo dục ở khu vực miền núi trong những năm qua, bài viết nhấn mạnh “Thành tựu nổi bật của giáo dục ở vùng dân tộc là xác lập được quy trình xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc

Trang 17

thiểu số” Vì vậy, khi nói đến tác động của sự chuyển biến đó, tác giả đề cập khá cụ thể về vai trò của Bộ giáo dục và đào tạo đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi, nghiên cứu chỉ rõ: “Ngành giáo dục và đào tạo đã góp phần đáng kể trong việc bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số ở các trung tâm bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, các trường bổ túc văn hoá tập trung ở các địa phương và Trung ương” Bàn luận về những hạn chế và bất cập còn tồn tại của công tác giáo dục ở khu vực miền núi đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nghiên cứu đề xuất những giải pháp cơ bản để đẩy mạnh phát triển giáo dục cho khu vực miền núi thời gian tới, cụ thể như: “Thực hiện chế độ ưu tiên cộng điểm trong tuyển sinh và đặc biệt là mở các lớp đào tạo dành riêng cho học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số nhất là ở vùng cao, tại các trường đại học và cao đẳng trong

cả nước là giải pháp cần thiết để gấp rút đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ cho vùng này" Có thể nói, giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước coi là quốc sách hàng đầu, trong thời gian qua, giáo dục và đào tạo có một vai trò hết sức to lớn đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy, nghiên cứu trên đây của tác giả Nguyễn Minh Hiển đã thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng từng bước đi vào cuộc sống vùng đồng bào dân tộc miền núi, bài viết là nguồn tư liệu khả thi để luận án tiếp tục kế thừa và đề cập những tác động liên quan đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu

số ở các huyện miền núi Nghệ An một cách cụ thể đó là giáo dục và đào tạo

- Nghiên cứu của tác giả Lê Minh Hương, “Vai trò các dân tộc thiểu số trong

sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc”, trong cuốn sách “Các dân tộc thiểu số Việt Nam

thế kỷ XX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2001) Khái quát về vị trí của khu vực

miền núi tác giả khẳng định, khu vực miền núi là những nơi có địa hình phức tạp, hiểm trở, cơ sở hạ tầng yếu kém, đời sống kinh tế khó khăn Nhưng khu vực miền núi lại là nơi có vị trí chiến lược về phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng hết sức trọng yếu của dân tộc Bài viết của Lê Minh Hương đã đánh giá vai trò hết sức quan trọng của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bài viết cho rằng:

“Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn coi trọng xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc, chống lại mọi âm mưu và hành động gây hiềm khích chia rẽ dân tộc của kẻ thù, giữ gìn trong ấm ngoài êm, giữ vững

an ninh trật tự các vùng miền núi, biên cương của đất nước”; “Trước cách mạng

Trang 18

tháng Tám, đồng bào các dân tộc thiểu số đã sớm giác ngộ và tham gia cách mạng, trực tiếp bảo vệ lãnh tụ Hồ Chí Minh, cơ quan Thường vụ Trung ương Đảng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng Việt Bắc”

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đât nước hiện nay, để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước bên cạnh đầu tư cho phát triển kinh tế

xã hội ở khu vực thành thị, cơ giới hóa nông thôn, bài viết cho rằng: “Đảng và Nhà nước từng bước thực hiện chủ trương, quyết sách phát triển kinh tế, xã hội ở vùng dân tộc, miền núi, góp phần giữ vững ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội” Đặc biệt, để đưa miền núi ngày càng tiến kịp miền xuôi, đồng bằng và đô thị tác giả khẳng định cần có các giải pháp, trong đó nhấn mạnh giải pháp về đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số: “Đảng, Nhà nước cần có kế hoạch dài hạn và toàn diện

về đào tạo cán bộ dân tộc cho vùng dân tộc miền núi Đây vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài” Có thể nói, nghiên cứu của tác giả Lê Minh Hương mặc

dù không trực tiếp đối với địa bàn các huyện miền núi Nghệ An, nhưng những kết quả mà tác giả khẳng định về vị trí chiến lược ở khu vực miền núi là rất tương đồng với khu vực các huyện miền núi Nghệ An với 419km đường biên giới tiếp giáp với nước cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào Vì vậy, nghiên cứu của Lê Minh Hương góp phần khẳng định những giá trị về mặt lý luận về vị trí và vai trò đối với địa bàn khu vực miền núi, là cơ sở để luận án kế thừa và tiếp tục nghiên cứu

- Sách Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ

dân tộc hiện nay, của tác giả Phan Hữu Dật, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,

2001 Trong nội dung chương 4, tác giả bàn đến vấn đề cán bộ người dân tộc thiểu số hiện nay gắn với vai trò của họ ở một số vùng cụ thể Tác giả cho rằng công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ đối với khu vực miền núi hiện nay là một vấn đề cấp bách, thể hiện ở chỗ: “thiếu, yếu, kém của cán bộ người dân tộc thiểu số” Do đó, để góp phần xây dựng đất nước trong thời kỳ hội nhập, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ cán bộ người dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết

- Luận án Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công cuộc đổi mới, của

Trịnh Quang Cảnh (2002), Luận án khái quát chung về tình hình phát triển của miền núi Việt Nam, đánh giá thực trạng phát triển miền núi Việt Nam Khi đề cập đến nội dung trọng tâm bàn về vai trò của đội ngũ tri thức người dân tộc thiểu số trong công cuộc xây dựng đất nước nói chung và vùng miền núi nói riêng, Luận án đánh giá

Trang 19

thực trạng đội ngũ tri thức là người dân tộc thiểu số, trong đó Luận án đề cập tới sự yếu kém về trình độ dân trí của đồng bào miền núi là một vấn đề bấp cập đối với công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở khu vực miền núi hiện nay Trên

cơ sở đó, Luận án đưa ra một số giải pháp góp phần xây dựng đội ngũ tri thức người

dân tộc thiểu số ở Việt Nam ngày càng phát triển đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới của đất nước

- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, “Đổi mới công tác đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi theo hướng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn”, đăng trên Tạp chí Giáo dục lý luận, số 1, 2002 Trên cơ sở chỉ ra thực trạng nguồn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi, tác giả đề cập tới đổi mới công tác đào tạo nguồn cán bộ dân tộc thiểu số miền núi theo hướng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trang, Lại Thị Thu Hà Chính

sách cử tuyển - một chủ trương đúng trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta về phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đăng

trên Tạp chí Dân tộc học, số tháng 2/2005 Các tác giả đề cập đến trình độ phát triển

ở khu vực miền núi trong công cuộc đổi mới của đất nước, trên cơ sở chỉ ra thực trạng khó khăn, một trong những giải pháp đưa ra để phát triển ở khu vực miền núi, các tác giả khẳng định chính sách cử tuyển đối với miền núi sẽ góp phần phát triển giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi nhằm giảm chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng lãnh thổ và là cơ sở để nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho khu vực miền núi

- Nghiên cứu của tác giả Ngô Đức Thịnh, Văn hóa, văn hóa tộc người và Văn

hóa Việt Nam (2006), tuy không đi vào nghiên cứu một cách cụ thể về cán bộ DTTS

ở Nghệ An, song công trình này đã cho thấy vai trò, vị trí của công tác cán bộ DTTS trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc, trong đảm bảo bình đẳng dân tộc trên phương diện chính trị Bên cạnh đó, các đặc điểm văn hóa, tâm lý, phong tục tập quán tộc người tác động đến công tác xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS nói chung mà các huyện miền núi Nghệ An có những nét đặc thù riêng

- Nghiên cứu, “Công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới 1986 – 2006” Trong ấn

Trang 20

phẩm “60 năm cơ quan công tác dân tộc”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2006),

của tác giả Ksor Phước Bài viết đề cập khá toàn diện về đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở khu vực miền núi, khẳng định sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, sự chuyển biến và phát triển của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi được tác giả khẳng định: “đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng Nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về lý luận chính trị, chuyên môn, học vấn, quản

lý nhà nước ngày càng được chuẩn hóa, chất lượng và số lượng đội ngũ cán bộ dân tộc ở tất cả các cấp được nâng lên” Đề cập tới vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị tác giả chỉ ra rằng “Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số qua các khoá ngày càng tăng, từ 10,2% khoá I lên 17,2% khoá XI

Uỷ viên Trung ương Đảng là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ gần 9% khoá X và hàng vạn cán bộ người dân tộc thiểu số được tham gia trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các ngành, các cấp” Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị trong thời gian qua, những đóng góp của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nghiên cứu còn chỉ ra những tồn tại, hạn chế của công tác dân tộc là: “Hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ dân tộc ở cơ sở vùng dân tộc thiểu

số còn hạn chế về tri thức và trình độ kỹ năng làm việc Ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn rất nhiều đồng chí chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương” Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số bài học lớn về công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới, một trong những bài học quan trọng đó là: “Kiện toàn

và phát huy vai trò của hệ thống chính trị, chăm lo công tác đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số trong các vùng dân tộc thiểu số”

- Ngoài ra, trong các bài viết của các tác giả Phạm Hồng Quang trên Tạp chí giáo dục, số 175/2007, “Mô hình đào tạo cán bộ quản lí người dân tộc thiểu số cho các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam”; Tráng A Pao (2005), “Thực hiện chế độ cử tuyển trong đào tạo cán bộ vùng dân tộc thiểu số miền núi”, Tạp chí Cộng sản, số 6; Nguyễn Hữu Ngà (2005), “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức dân tộc thiểu số

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Tạp chí Dân tộc học, số 3;

Lê Phương Thảo (2005), “Thành tựu và kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ dân

Trang 21

tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng Trong các bài viết các tác giả đều tập trung nêu lên những khó khăn về tình hình kinh tế, xã hội ở khu vực miền núi trong đó đặc biệt nhấn mạnh về chất lượng đội ngũ cán bộ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề đói nghèo, lạc hậu ở khu vực miền núi, từ đó các tác giả đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ trong đó có giải pháp yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Cuốn Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát

triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, của Hoàng Chí Bảo Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội, 2009 Tác giả đã nêu rõ những nhận thức lý luận mới về dân tộc, quan

hệ dân tộc và chính sách dân tộc; đánh giá thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc; đồng thời, đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề dân tộc, các quan hệ dân tộc, tạo sự công bằng, bình đẳng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi nước ta hiện nay

- Tác giả Vàng Xín Dư, với bài viết, “Một cách mới trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt cơ sở ở Hà Giang”, đăng trên Tạp chí Xây dựng Đảng số 4 (4 - 2009), tác giả chỉ rõ, Hà Giang là tỉnh miền núi, với trên 273 km đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc Dân số trên 70 vạn người, với 22 dân tộc, trong đó dân tộc Mông chiếm 32%, Tày 26,2%, Dao 14%” Trên cơ sở phân tích kết quả đã đạt được trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở của tỉnh, tác giả rút

ra một số kinh nghiệm Một trong những kinh nghiệm quan trọng là phải xây dựng, quy hoạch đội ngũ cán bộ chủ chốt đảm bảo chất lượng, trên cơ sở đó xây dựng kế

hoạch đào tạo, bồi dưỡng gắn với bố trí sử dụng sau đào tạo

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội

ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, của tác giả

Nguyễn Văn Tý, năm 2010 Trên cơ sở phân tích bản chất của tư duy lý luận và vai trò của năng lực tư duy lý luận đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số, đề tài đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và những yêu cầu cơ bản của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Đề tài đã đề xuất các giải pháp chủ yếu và những kiến nghị nhằm nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay Ý nghĩa của đề tài góp phần vào việc nhận thức vai trò, tác dụng to lớn của tư duy lý luận trong hoạt động của cán bộ

Trang 22

lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện người dân tộc thiểu số nói riêng

- Bài viết của tác giả Giàng Seo Phử,“Quan tâm phát triển địa bàn dân tộc

miền núi - một yêu cầu cơ bản quan trọng hiện nay”, đăng trên Tạp chí Quốc phòng

toàn dân số tháng 3/2010 Bài viết thể hiện rõ hệ thống quan điểm của tác giả khi đề cập đến vai trò của Đảng, Nhà nước đối với sự phát triển khu vực miền núi, tác giả nhấn mạnh: “Những năm qua nắm vững quan điểm của Đảng, công tác dân tộc của các cơ quan, ban ngành đoàn thể trong cả nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Hệ thống chính trị ở các địa bàn dân tộc miền núi ngày càng vững mạnh; tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững ”

Đề cập đến những hạn chế đối với sự phát triển ở địa bàn khu vực miền núi, nghiên cứu đã chủ trương đề ra các giải pháp cơ bản, trong đó xác định giải pháp có tính khả thi và quan trọng nhất là: “Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ địa phương, cán bộ là người dân tộc thiểu số”

- Trên cơ sở phân tích những thành tựu và chỉ ra những hạn chế trong thực

hiện chính sách dân tộc của Đảng qua 25 năm đổi mới, bài viết, “Thực hiện chính

sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam sau 25 năm đổi mới”, của tác giả Bùi

Đình Bôn, đăng trên Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự số 125, (2011) đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của Đảng đối với công tác dân tộc và miền núi Trong bài viết tác giả chỉ rõ: “Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý điều hành của bộ máy Nhà nước, sự tập hợp và động viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng bào các dân tộc đã nêu cao tinh thần

tự lực, tự cường, thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc và thu được nhiều kết quả quan trọng” Một trong những thành tựu quan trọng mà tác giả đề cập đó là: “Hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng củng cố ngày càng vững mạnh, đội ngũ cán bộ trí thức người dân tộc thiểu số đã được hình thành và trưởng thành rõ rệt Hơn 40 dân tộc thiểu số đã có con em của mình tốt nghiệp cao đẳng và đại học Tất cả các dân tộc thiểu số đều có người của dân tộc mình là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam” Để thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề “dân tộc” chống phá cách mạng Việt Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp quan trọng trong đó nhấn mạnh giải pháp: “Phải tăng cường sự lãnh

Trang 23

đạo của Đảng đối với công tác dân tộc, phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành

và đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác dân tộc, nhất là đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số”

- Luận án tiến sĩ: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các

tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay, của tác giả Nguyễn Thành Dũng (2012), Luận

án nghiên cứu về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên, với đối tượng cụ thể là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện (gồm các chức danh: bí thư, phó bí thư huyện ủy, thị ủy, thành ủy; chủ tịch hội đồng nhân dân huyện, thị

xã, thành phố; chủ tịch ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố) trong giai đoạn hiện nay Luận án đi vào phân tích và làm rõ một số khái niệm, phạm trù như quan niệm, vai trò và đặc điểm của dội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; quan niệm về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện; tiêu chí đánh giá chất, lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây Nguyên hiện nay Luận án đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở các tỉnh Tây nguyên trong giai đoạn hiện nay

- Luận án tiến sĩ: Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số của Đảng bộ

Bộ đội Biên phòng từ năm 1996 đến năm 2006 của tác giả Đặng Văn Trọng (2012), Luận

án nghiên cứu về chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ Bộ đội Biên phòng về xây

dựng đội ngũ cán bộ DTTS trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Luận án đã đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị tổng kết thực tiễn, đóng góp cơ sở lịch sử góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS của BĐBP đáp ứng

yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới

- Bài viết của tác giả Nguyễn Thi ̣ Ngân , “Nội dung cơ bản và ý nghĩa của Nghị quyết Trung ương Bảy khóa IX về công tác dân tộc đối với công cuộc đổi mới ở

Việt Nam”, trong cuốn sách “Mười năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7

(khóa IX) về công tác dân tộc, tôn giáo - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2013) Tác giả khẳng định vấn đề dân tô ̣c và đoàn kết dân tô ̣c là vấn đề chiến lược của cách ma ̣ng Viê ̣t Nam Bên cạnh những thành tựu đã đa ̣t được , tác giả chỉ ra những hạn chế yếu kém trong việc thực hiện chính sách dân tộc và miền núi như : chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu; trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển

Trang 24

đảng chậm; cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào… Trên có sở đó, tác giả đề ra những quan điểm cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu và những giải pháp về công tác dân tộc trong tình hình mới, trong đó công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cho đồng bào miền núi được tác giả khẳng định là vấn đề cấp bách hiện nay, là điều kiện để thực hiện phát triển kinh tế xã hội của miền núi

- Bài viết: “Tình hình dân tộc thiểu số và công tác dân tộc ở nước ta hiện nay”,

của tác giả Đỗ Thị Thạch trong cuốn sách “Mười năm thực hiện Nghị quyết Trung

ương 7 (khóa IX) về công tác dân tộc, tôn giáo - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (2013) Bài viết trình bày một cách cơ bản

về tình hình dân số, xã hội, về địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số Tác giả

khẳng định, sự phát triển của các dân tộc thiểu số còn thấp so với dân tộc đa số, giữa các dân tộc và các vùng có sự chênh lệch với nhau, đặc biệt là số đồng bào dân tộc ở vùng cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa còn rất nhiều khó khăn và kém phát triển về mọi mặt Do vậy, xoá bỏ khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc đó là vấn đề cốt lõi để giải quyết chính sách bình đẳng, đoàn kết dân tộc hiện nay Tác giả đề xuất giải pháp đào tạo đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số

là cơ sở để xây dựng nguồn nhân lực tại chỗ, thực hiện chiến lược công tác dân tộc trong thời gian tới

- Bài viết: “Phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay”, của tác giả Nguyễn Dương Hùng trong cuốn

sách “Mười năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác dân

tộc, tôn giáo - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, (2013) Tác giả khẳng định, mặc dù trong nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ta

đã có nhiều chủ trương, chính sách để nâng cao chất lượng và sử dụng đội ngũ cán

bộ nói chung, cán bộ người dân tộc thiểu số nói riêng, song trên thực tiễn đội ngũ này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế của đất nước Điều này thể hiện: Chất lượng, trình độ đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số còn thấp so với yêu cầu, như: ở cấp xã, trình độ sơ, trung cấp là chủ yếu; cấp tỉnh, huyện đa số có trình độ trung cấp, số có trình độ đại học đang tăng nhanh, song trình độ trên đại học còn ít… Hơn nữa, công tác đào tạo nguồn còn nhiều bất cập, không đủ hoặc

Trang 25

thiếu nguồn cán bộ dân tộc Chính sách bố trí, sử dụng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ người dân tộc còn có những bất cập nhất định, chưa khuyến khích giữa các đội ngũ này phát huy hết khả năng của mình Do vậy, để phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động hội nhập quốc tế, trong thời gian tới cần thực hiện một số giải pháp: Trên cơ sở thực trạng đội ngũ cán bộ đương nhiệm từng xã, huyện, vùng và nhóm cán bộ dự nguồn, cần chủ động đào tạo, đào tạo lại

để nâng cao chất lượng cán bộ, qua đó dần từng bước chuẩn hóa cán bộ theo tiêu chuẩn hiện hành Song song với việc nâng cao chất lượng cán bộ, cần kiện toàn hệ thống chính trị các cấp, nhất là ở cấp xã theo hướng gần dân, do dân và vì dân

- Luận án tiến sĩ: Tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các

tỉnh Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay, của tác giả Trương Thị Bạch Yến, năm 2014,

Luận án đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về khái niệm, nội dung, phương thức tạo nguồn cán bộ, công chức xã Luận án đã tổng hợp kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra trong tạo nguồn cán bộ, công chức xã là người dân

tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên những năm vừa qua Trên cơ sở đó, luận án đề xuất

các giải pháp có tính đặc thù, khả thi nhằm đẩy mạnh tạo nguồn cán bộ, công chức xã người dân tộc thiểu số ở các tỉnh Tây Nguyên đến năm 2020 Các giải pháp như củng cố, phát triển và giao trách nhiệm cụ thể cho hệ thống các trường dân tộc nội trú, các cơ sở giáo dục - đào tạo trên địa bàn Tây Nguyên tham gia tạo nguồn cán bộ công chức xã người dân tộc thiểu số, xây dựng, củng cố và phát huy vai trò hệ thống chính trị cấp cơ

sở, lực lượng người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số ở Thôn, Buôn trong tạo nguồn cán bộ công chức xã người dân tộc thiểu số

1.1.2 Các công trình nghiên cứu đề cập đến miền núi và đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An

- Ấn phẩm, “Một số chính sách về dân tộc và miền núi Nghệ An”, Nxb Nghệ

An, 1992 của Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An Ấn phẩm đánh giá khá chi tiết về tình hình kinh tế xã hội của các huyện miền núi, trên cơ sở những hạn chế và khó khăn ở khu vực miền núi, ấn phẩm đã trình bày những chính sách cụ thể của Ban dân tộc miền núi Nghệ An đối với sự phát triển của khu vực miền núi trong thời gian tới, như chính sách kinh tế, xã hội; chính sách văn hóa; chính sách giáo dục Đặc biệt ấn phẩm trích lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của các đồng chí lãnh đạo cao cấp, trích

Trang 26

nội dung các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc và miền núi; các chủ trương chính sách của tỉnh Nghệ An đối với dân tộc và miền núi, đặc biệt là Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIII (1990 - 1995)

- Công trình nghiên cứu, “Tiếp cận sinh thái nhân văn và phát triển bền

vững miền núi Tây Nam Nghệ An”, của các tác giả Lê Trọng Cúc, Trần Đức

Viên, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1997 Công trình đã cụ thể hóa về tình hình kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái của các huyện miền núi Tây Nghệ An Đánh giá những thách thức đặt ra và hướng giải quyết đối với các huyện miền núi Nghệ An trong thời gian tới Một trong những hướng giải quyết đặt ra mà nghiên cứu đề cập đến là việc thực hiện chính sách giáo dục - đào tạo ở các huyện miền núi Nghệ An, đây được coi là hướng giải quyết về bài toán nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần phát triển bền vững ở khu vực miền núi Tây Nam Nghệ An

- Sách, “Một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Nghệ An”, của Ban Dân tộc và Miền núi Nghệ An, Nxb Nghệ An, 2002, tập hợp

các chủ trương, chính sách của Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về phát triển kinh tế - xã hội các huyện, xã miền núi từ năm

1986 đến năm 2001 với số liệu thống kê trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, đào tạo cán bộ Công trình đề cập đến thực trạng phát triển đối với các huyện miền núi Nghệ An, trong đó sự yếu kém về chất, lượng của đội ngũ cán bộ ở các huyện miền núi được công trình đề cập và bàn luận Đặc biệt nghiên cứu có đề xuất một số giải pháp cơ bản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi Nghệ An, một trong những giải pháp nghiên cứu đề xuất là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở khu vực miền núi Nghệ An

- Sách “Kết hợp phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn

Bắc Trung Bộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, của TS Đoàn Minh

Duệ và TS Đinh Thế Định, Nxb Nghệ An, 2003 đã phân tích mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc kết hợp phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ, từ đó bước đầu nêu lên những giải pháp chủ yếu để kết hợp phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội ở nông thôn khu vực Bắc

Trang 27

Trung Bộ, trong đó có đề cập đến miền núi Nghệ An về vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu của tác giả Trần Quang Nhiếp về “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ

sở”, đăng trên Tạp chí Cộng sản số 8 (3/2003) Bài viết nghiên cứu khá toàn diện về

đội ngũ cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi nói chung và các huyện miền núi Nghệ An nói riêng Đề cập đến các huyện miền núi Nghệ An, bài viết

đi vào làm rõ năng lực cán bộ, chất lượng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, cụ thể: “Chỉ tính riêng ở Nghệ An, nhiệm kỳ (2001- 2005), toàn Đảng bộ có 3.102 đồng chí giữ chức

vụ chủ chốt ở cơ sở với trình độ văn hoá cấp tiểu học có 05 đồng chí, chiếm 0,16%, cấp trung học cơ sở có 750 đồng chí, chiếm 24,7%, cấp trung học phổ thông có 2347 đồng chí, chiếm 75,66%; 49% cán bộ có trình độ chuyên môn đã qua đào tạo từ sơ cấp đến đại học” Bên cạnh đánh giá những thành tựu đã đạt được, bài viết đi vào phân tích những hạn chế, trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở ở khu vực miền núi Nghệ An đó là: “Cơ cấu cán bộ bất hợp lý, không đồng đều, tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số còn thấp” Đặc biệt tác giả đề xuất một số giải pháp, trong đó chú trọng giải pháp: xây dựng quy hoạch, đánh giá sử dụng; đào tạo bồi dưỡng đối với đội ngũ cán bộ là người DTTS cấp cơ sở

- Hoàng Xuân Lương, đề tài khoa học: “Nghiên cứu các giải pháp và xây dựng

mô hình vượt đói nghèo cho đồng bào KhơMú ở Nghệ An” (2004) Đề tài phân tích

khá toàn diện về bức tranh kinh tế, xã hội ở các huyện miền núi Nghệ An, trong đó

nhấn mạnh tới tình trạng đói nghèo của đồng bào KhơMú ở các huyện miền núi

Nghệ An Ngoài những đánh giá về hạn chế, yếu kém và những tác động đưa đến đói nghèo cho đồng bào KhơMú, đề tài đã đưa ra một hệ thống các giải pháp để thoái nghèo cho đồng bào KhơMú, trong đó tác giả cho rằng cần củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người Kh‟Mú; xây dựng các

mô hình vượt đói nghèo ở các bản Kh‟Mú Đặc biệt tác giả bàn về các giải pháp nâng cao chất lượng lao động cho đồng bào dân tộc KhơMú

- Sách “Nghệ An - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI”, Nxb, Chính trị Quốc gia,

Hà Nội, 2005 của Tỉnh uỷ - Hội đồng nhân dân - Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An Đây được coi là công trình tiêu biểu đánh giá về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, văn hoá của tỉnh Nghệ An trong thế kỷ XXI Cuốn sách trình bày chi tiết

và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An trước điều

Trang 28

kiện hoàn cành lịch sử mới của dân tộc và xu thế mới của thế giới Những khó khăn

và thách thức của Nghệ An trong thế kỷ mới được tác phẩm phân tích và đưa ra những giải pháp định hướng mang tính trước mắt và lâu dài Trong đó tác phẩm đề cập đến thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở các huyện miền Tây và đưa ra những định hướng giải quyết trong thời gian tới

- Bài viết “Sáu giải pháp đào tạo nghề cho lao động miền núi Nghệ An”, của

tác giả Đỗ Quang Hưng, Tạp chí LĐ&XH, số 288, 6/2006 từ tr21-26 Bài báo đã đi vào khái quát thực trạng nguồn lao động ở khu vực các huyện miền Tây Nghệ An, trên cơ sở đó tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động

- Hội thảo khoa học: “Những giải pháp thực hiện có hiệu quả Đề án Phát triển

kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ An”, của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, năm 2008,

đã tập hợp trên 50 bài viết của các nhà khoa học bàn về tình hình, thực hiện Quyết định 147 của Thủ tướng Chính phủ về Phát triển kinh tế - xã hội miền Tây Nghệ

An, từ đó đưa ra các phương hướng, giải pháp trên các lĩnh vực cụ thể để phát triển miền núi tỉnh Nghệ An trong điều kiện mới như quy hoạch dân cư, ngăn ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng giáo dục, dạy nghề và đào tạo nguồn lực trên đại bàn miền Tây Nghệ An

- Bài viết “Nghệ An tập trung đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất

lượng cao”, của tác giả Nguyễn Thế Trung, Tạp chí Cộng sản số 796, 2009 Để

đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cùng với các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nghệ An trong giai đoạn mới, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng đối với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao coi đó là yêu cầu then chốt cho sự phát triển của tỉnh Nghệ

An trong giai đoạn hiện nay

- Kỷ yếu “Đại hội các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An lần thứ nhất”, Nxb Nghệ

An, năm 2009, đã tập hợp các tham luận tổng kết phong trào thi đua yêu nước của đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Nghệ An qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới Các tham luận đã phản ánh tình hình của các dân tộc thiểu số trên nhiều phương diện, cho một cái nhìn khái quát, tổng thể về các dân tộc trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An

Trang 29

- Bài viết "Bộ đội Biên phòng Nghệ An xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số

trong tình hình mới", của tác giả Đặng Văn Trọng đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng, số 1

(242), năm 2010 Bài viết phân tích những điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn ở khu vực các huyện miền núi biên giới Nghệ An, trên cơ sở đó tác giả trình bày một cách có hệ thống về chủ trương của bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong tình hình mới, góp phần phát triển kinh tế xã hội và giữ vững sự ổn định vùng biên cho khu vực miền Tây Nghệ An

- Bài viết “Nghệ An tập trung phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống các

dân tộc ở miền Tây”, của tác giả Trần Văn Hằng đăng trên Tạp chí Cộng sản, số

807, năm 2010 đã trình bày những tiềm năng, lợi thế của miền Tây và kết quả đạt được bước đầu, bài viết đã nêu lên 8 giải pháp nhằm vượt qua những khó khăn, thử thách trên địa bàn miền núi của tỉnh như đề cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, lồng ghép thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án; đẩy mạnh công tác đào tạo cán bộ ở các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong…

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường trọng điểm 2011- 2012“Cải cách hành

chính ở huyện Quế Phong – Nghệ An thực trạng và giải pháp”, của TS Đinh Thế Định

(2012), Trường Đại học Vinh Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ hai bình diện lý luận và thực tiễn, giải quyết vấn đề theo hướng từ cơ sở lý luận và những vấn đề được phân tích, đánh giá từ thực tiễn của vấn đề nghiên cứu để đề xuất những giải pháp có tính khả thi thực hiện chương trình cải cách hành chính có hiệu quả, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa của huyện Quế Phong nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

- Luận án tiến sĩ: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội

ở các huyện miền núi từ năm 2001 đến năm 2010, của tác giả Mai Chi (2014), Luận

án đã đi sâu nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo quán triệt chính sách xã hội của Đảng trên địa bàn các huyện miền núi trong 10 năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện (từ năm 2001 đến năm 2010), Luận án góp phần làm rõ hơn

sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, đồng thời làm sáng tỏ sự sáng tạo của các cấp đảng bộ địa phương trong quá trình cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Trung ương Đảng trên một lĩnh vực nhất định trong công cuộc đổi mới, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị đối với Đảng bộ tỉnh

Trang 30

trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội ở các huyện miền núi thời gian tới Luận

án khẳng định vai trò hết sức to lớn của đội ngũ cán bộ người DTTS trong lãnh đạo thực thi chính sách xã hội ở địa phương

- Bài viết Ban dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An 70 năm xây dựng và phát triển, của tác giả Lương Thanh Hải, đăng trong cuốn sách Ủy ban Dân tộc 70 năm xây

dựng và phát triển (2016), Nxb, Chính trị Quốc gia đề cập đến quá trình Đảng bộ

tỉnh Nghệ An đã thực thi và vận dụng các chủ trương chích sách dân tộc của Trung ương Đảng đối với sự phát triển ở các huyện miền núi, bài viết nhấn mạnh đến vai trò của khu vực miền núi và đề cập đến đẩy mạnh công tác dân tộc trong đó có công

tác cán bộ nâng cao chất, lượng cho cán bộ dân tộc thiểu số

1.2 Những nội dung cơ bản của các công trình khoa học đã đề cập liên quan đến đề tài Luận án và những vấn đề Luận án tập trung nghiên cứu

1.2.1 Những nội dung cơ bản của các công trình khoa học đã đề cập liên quan đến đề tài Luận án

Qua các công trình công bố có thể thấy mảng đề tài về xây dựng đội ngũ cán

bộ người dân tộc thiểu số đã thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước Trong các công trình đó, đã phản ánh ở mức độ khác nhau về sự lãnh đạo của Đảng đối với sự phát triển của đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số nói chung và quá trình quán triệt, tổ chức chỉ đạo thực hiện của các Đảng bộ địa phương trong việc thực hiện xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Hầu hết, các tác giả đã phác hoạ rõ bối cảnh, tình hình mới đòi hỏi thực hiện mạnh hơn nữa công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc ở các địa phương miền núi, nêu lên những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc đối với các địa phương miền núi trong sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi nói chung

Các công trình công bố trên tuy không đi vào nghiên cứu một cách chuyên biệt

về đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi Nghệ An, nhưng các công trình nghiên cứu đã cho thấy vai trò, vị trí của công tác cán bộ DTTS trong

tổ chức thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc, trong đảm bảo bình đẳng dân tộc trên phương diện chính trị Các công trình đã làm rõ các đặc điểm văn hóa, tâm lý, phong tục tập quán tộc người tác động đến công tác xây

Trang 31

dựng đội ngũ cán bộ DTTS nói chung mà các huyện miền núi Nghệ An có những nét đặc thù riêng

Các công trình đã phần nào luận giải được những nguyên nhân khó khăn trong phát triển kinh tế xã hội ở khu vực miền núi; chất lượng đội ngũ cán bộ thấp, số lượng đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa yếu chưa đáp ứng được yêu cầu; đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội, giáo dục đào tạo chưa được chú trọng… những hạn chế đó đã kìm hãm sự phát triển khu vực miền núi nói chung, trong đó có khu vực miền núi Nghệ An, đây là những nguồn tư liệu và cơ sở quan trọng để đề tài kế thừa, tiếp tục giải quyết những vấn đề đặt ra

1.2.2 Những vấn đề Luận án tập trung nghiên cứu

Dưới góc độ Lịch sử Đảng, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào

nghiên cứu trực tiếp, toàn diện, có hệ thống về quá trình “Đảng bộ tỉnh Nghệ An

lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 đến năm 2015” Sự chỉ đạo cụ thể của Đảng bộ

tỉnh Nghệ An đối với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi ra sao? Các Đảng bộ địa phương ở các huyện miền núi Nghệ An triển khai, tổ chức thực hiện như thế nào, có những đặc điểm gì? Sự sáng tạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An trong quá trình thực thi đường lối, chủ trương của Đảng về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu

số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi Nghệ An? Những kinh nghiệm về quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi để đóng góp vào việc hoạch định và thực hiện công tác xây dựng cán bộ dân tộc thiểu số ở Nghệ An và áp dụng

ở các địa phương miền núi khác?

Những vấn đề đó vẫn còn là những nội dung cần được tập trung nghiên cứu một cách thấu đáo hơn Cần phải khảo sát thực tế một cách cụ thể, để có được những đánh giá khách quan, có cơ sở khoa học về những mặt đạt được và chưa đạt được trong quá trình lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi của Đảng bộ tỉnh Nghệ An Do đó, chúng tôi xác định vấn đề cần được tập trung nghiên cứu gồm:

Thứ nhất, làm rõ những yếu tố tác động tới công tác xây dựng đội ngũ cán bộ

người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An

Trang 32

Thứ hai, làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An vận dụng chủ trương,

chính sách của Đảng, lãnh đạo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi từ năm 1996 - 2015

Thứ ba, phân tích những thành công, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế trong

quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo thực hiện công tác xây dựng đội ngũ cán người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi; nhận xét và rút ra một số kinh

nghiệm

Qua nghiên cứu những công trình khoa học liên quan, chúng tôi khẳng định

Luận án “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc

thiểu số trong hệ thống chính trị ở các huyện miền núi từ năm 1996 - 2015” không

trùng lặp với bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác đã được công bố

Trang 33

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH NGHỆ AN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG HỆ

THỐNG CHÍNH TRỊ Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI

TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2005 2.1 Những yếu tố tác động và chủ trương của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT ở các huyện miền núi

2.1.1 Những yếu tố tác động

2.1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên, dân cư và kinh tế - xã hội

- Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Miền núi tỉnh Nghệ An gồm 10 huyện và 1 thị xã; diện tích chiếm 83,31% trong tổng số 16.490,25 km2 diện tích tự nhiên toàn tỉnh Về địa giới hành chính, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa; phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Đông giáp 4 huyện đồng bằng của tỉnh (Nam Đàn, Đô Lương, Yên Thành, Quỳnh Lưu); phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam giáp 3 tỉnh của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (Hủa Phăn, Xiêng Khoảng và Bulikhămxay) với đường biên giới dài 419

Km Miền núi Nghệ An có 5 cửa khẩu nối với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (1cửa khẩu quốc tế: Nậm Cắn - huyện Kỳ Sơn; 1 cửa khẩu chính: Thanh Thủy - huyện Thanh Chương; 3 cửa khẩu phụ: Tam Hợp - huyện Tương Dương; Thông Thụ - huyện Quế Phong; Cao Vều - huyện Anh Sơn)

Về địa hình: Miền núi tỉnh Nghệ An nằm về phía Đông Bắc dãy núi Trường Sơn có độ cao và độ dốc thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Đồi núi chủ yếu là cao, dốc Địa hình bị chia cắt mạnh, hình thành nhiều tiểu khu vực là vùng Tây Bắc (gồm các huyện: Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong và Thị xã Thái Hòa), vùng Tây Nam (gồm các huyện: Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn); trong đó có 5 huyện vùng núi cao (Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quỳ Châu, Quế Phong), còn lại là vùng núi thấp

Khoáng sản: Miền núi Nghệ An đa dạng, phong phú như; đá vôi có trữ lượng khoảng 200 triệu mét khối tập trung ở Anh Sơn, Tân Kỳ; đá ba zan có trữ lượng khoảng 260 triệu tấn, phân bố ở Nghĩa Đàn, Qùy Hợp; than đá có ở khe Bố, huyện Tương Dương; đá trắng (đá vôi bị hoa hóa) tập trung ở Qùy Hợp có giá trị xuất

Trang 34

khẩu cao; thiếc ở Qùy Hợp, Qùy Châu, Quế Phong, Tân Kỳ với trữ lượng khoảng 100.000 tấn (lớn nhất cả nước); vàng phân bố tập trung ở Tương Dương, Con Cuông và rải rác ở Quế Phong, Qùy Châu, Qùy Hợp; bên cạnh đó, ở các huyện miền núi còn có một số loại khoáng sản phục phụ cho xây dựng như đá, cát, sỏi, đất sét gạch ngói có trữ lượng lớn ở các huyện Thanh Chương, Nghĩa Đàn, Qùy Hợp, Con Cuông

Đường giao thông: Các huyện miền núi nói chung và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng ở Nghệ An có vị trí rất quan trọng về chính trị, quốc phòng -

an ninh đối với cả tỉnh và vùng Bắc Trung Bộ Đây cũng là vùng trọng điểm các nguyên liệu nông, lâm, khoáng sản; tiềm năng đất đai, vốn rừng; tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, lịch sử văn hóa tộc người đa dạng và phong phú Ngay khi đặt chân đến Nghệ An, để củng cố nền thống trị, phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên ở khu vực miền núi Nghệ An, thực dân Pháp đã mở các tuyến đường nối Vinh với Lào, đó là đường thuộc địa số 7 trên cơ sở tuyến đường bộ “thượng đạo”

đi từ Đô Lương theo hướng Tây qua Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn sang Xiêng Khoảng (Lào) và tuyến đường 48 nối quốc lộ 1 tại Diễn Châu, qua Quỳnh Lưu, Nghĩa Đàn lên Quỳ Châu Tuyến đường bộ Vinh – Xiêng Khoảng (Cao nguyên Trấn Ninh) dài 402 km được người Pháp bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 1893, đến 1905 tiếp tục bổ sung và 1923 mới được hoàn thành Tuyến đường

48 được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1921 chủ yếu phục vụ cho việc khai thác tài nguyên của Pháp ở Nghĩa Đàn, Quỳ Châu Cùng với các tuyến đường 1A, 7A,

48 được xem là các tuyến lớn được xây dựng từ lâu, còn có các đường 15A, 15B,

46, 38, 34… Đặc biệt là tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua 5 huyện miền núi được hoàn thành vào những năm 2000 đã tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực miền núi Nghệ An nối liền với các huyện lỵ trong tỉnh, tạo điều kiện để giao lưu giữa các vùng, giữa đồng bằng với miền núi

Đất đai: các huyện miền núi Nghệ An gồm 6 nhóm đất chính Đất nông nghiệp

có 102.096 ha, chiếm 7,4% tổng diện tích tự nhiên, là tỷ lệ rất thấp so với cả nước

và cả tỉnh (toàn quốc là 28,39%; tỉnh Nghệ An là 12%); một số huyện vùng núi cao, chiếm tỷ lệ rất thấp như Tương Dương: 0,32%; Kỳ Sơn: 1,79%; Con Cuông: 2,29%; Quế Phong: 2,54%; Quỳ Châu: 4,8% Đất chuyên dùng chiếm tỷ lệ thấp, bằng

Trang 35

1,85% (25.746 ha) tổng diện tích tự nhiên, trong khi toàn tỉnh là 3,6%, toàn quốc là 4,66% [139, tr.3] Tổng diện tích đất có rừng ở các huyện miền núi Nghệ An là 656.391 ha, chiếm 93,1% tổng diện tích rừng toàn tỉnh, trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 95,8% và diện tích rừng trồng chiếm 4,2% Nghệ An đứng thứ 2 cả nước sau Gia Lai về diện tích rừng Rừng ở các huyện miền núi Nghệ An còn có tiềm năng du lịch sinh thái

Như vậy, các huyện miền núi Nghệ An là nơi có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển một cách bền vững Lợi thế của vùng là thuận lợi trong thông thương với bên ngoài, nguồn tài nguyên đa dạng, trữ lượng lớn và mức độ khai thác chưa cao Bên cạnh đó, các huyện miền núi Nghệ An cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội, là nơi có địa hình phức tạp, hiểm trở, cơ

sở hạ tầng thấp kém, chỉ số phát triển con người (HDI) thấp nhất cả tỉnh, nhưng lại có

vị trí chiến lược trọng yếu về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ an ninh biên giới quốc gia Những thuận lợi và khó khăn trên đã tác động một cách trực tiếp về công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS ở các huyện miền núi, khó khăn về địa hình, địa lý, cơ sở hạ tầng thấp kém, chỉ số phát triển con người thấp… là nguyên nhân dẫn đến chất lượng đội ngũ cán bộ người DTTS thiếu và yếu Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các huyện miền núi Nghệ An trong giai đoạn hiện nay là góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Đảng, và Nhà nước đến từng người dân, là cơ sở bảo vệ an ninh biên giới quốc gia và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cấp cơ sở

- Dân số

Tính năm 2000, dân số các huyện miền núi Nghệ An chiếm 1/3 dân số toàn tỉnh, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 29% dân số trong vùng [111] Gồm các dân tộc cư trú lâu đời trên địa bàn là Thái, Thổ, Kh‟Mú, Mông, Ơ Đu, Đan Lai

và một số dân tộc khác có dân số ít như Mường, Hoa, Nùng, Ê Đê Các dân tộc có dân số đông là Kinh, Thái, Thổ, Kh‟Mú, Mông Dân tộc có dân số ít nhất là dân tộc

Ơ Đu sống trên vùng núi cao, hiện có 580 người Đây là một trong những dân tộc ít người nhất của Việt Nam và chỉ có ở Nghệ An Đặc điểm nổi bật của sự phân bố dân cư là các dân tộc cộng cư đan xen Tuy vậy, mỗi dân tộc có những vùng quần tụ đông đảo của mình Dân tộc Kinh có mặt ở hầu hết các địa phương, chủ yếu ở vùng

Trang 36

núi thấp và ở các khu vực thị xã, thị trấn của các huyện vùng núi cao Đồng bào DTTS phân bố chủ yếu ở các huyện vùng núi cao, trong đó huyện Kỳ Sơn chiếm 95,36%, huyện Tương Dương chiếm 89,45%, huyện Quế Phong chiếm 89,42%, huyện Con Cuông và huyện Quỳ Châu 69%, còn huyện Anh Sơn và huyện Thanh Chương thì tỷ lệ rất thấp, chỉ chiếm 18% [21, tr.22] Dân tộc Thái chủ yếu sống ở 5 huyện vùng núi cao Dân tộc Mông tập trung chủ yếu tại 3 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong, còn huyện Nghĩa Đàn chủ yếu là dân tộc Thổ Bên cạnh những giá trị văn hóa tốt đẹp, trong đời sống đồng bào các dân tộc ở miền núi Nghệ An còn tồn tại những khó khăn, hạn chế như: phong tục tập quán lạc hậu ma chay, cúng bái, mê tín dị đoan, hội hè kéo dài… Tỷ lệ mù chữ ở một số dân tộc còn cao, dân tộc Mông còn 43%, dân tộc Khơ Mú là 32,01% Những khó khăn đó làm ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ người DTTS cần phải nắm vững tập quán sản xuất, canh tác cũng như phong tục của các dân tộc để

có chính sách sát hợp với từng dân tộc

- Đặc điểm kinh tế - xã hội

Thực hiện Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị (khóa

VI) Về một số chủ trương, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội miền núi,

phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi Nghệ An đã có bước phát triển, sản xuất nông, lâm, công nghiệp và dịch vụ có nhiều tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người từng bước được nâng lên Số hộ đói nghèo giảm dần, từng bước khắc phục căn bản tình trạng hộ đói Tính đến năm 2000, giá trị sản xuất và giá trị tổng sản phẩm của khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm 51,8% trong cơ cấu kinh tế; công nghiệp xây dựng là 23,4%; thương mai dịch vụ 24,8% [21, tr.22]

Bên cạnh những thành tựu, phát triển kinh tế ở các huyện miền núi còn gặp nhiều khó khăn Sản xuất còn phân tán, manh mún, ở các xã vùng cao, vùng sâu, biên giới, sản xuất tự cung tự cấp là phổ biến Các cơ sở công nghiệp - thủ công nghiệp và dịch vụ có quy mô nhỏ bé, vùng cao hầu như không có Các ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm hoạt động yếu Tiềm năng du lịch chưa được phát huy đầy đủ Kết cấu hạ tầng thấp kém Năm 2000, còn 18 xã chưa có đường ô tô vào trung tâm và 22 xã ô tô chỉ vào được trong mùa khô, 86 bến đò chưa được xây dựng

Trang 37

cầu treo Các công trình thủy lợi chủ yếu là vừa và nhỏ, chưa được kiên cố hóa, mới huy động được 50 - 60% công suất Việc cấp nước sinh hoạt hầu như chưa có Lao động nông lâm nghiệp chiếm tới 86,4%, lao động thiếu việc làm còn lớn và ngày càng gia tăng Chất lượng lao động thấp (đặc biệt là ở các huyện vùng núi cao), lao động qua đào tạo toàn vùng chỉ có khoảng 10%, chủ yếu ở vùng núi thấp Số lao động được đào tạo đạt tỷ lệ thấp, cao nhất là người Kinh với 9,8%, còn dân tộc Mông, Kh‟Mú chưa đầy 0,01% Số người được đào tạo có trình độ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 1,8% [21, tr.23], đang là trở ngại lớn trong quá rình tiếp thu khoa học

kỹ thuật, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội của vùng

Theo tổng hợp kết quả điều tra chung thực trạng đói nghèo năm 2000, các huyện miền núi Nghệ An còn 57.263 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 26,46%, cao hơn 3 lần

so với thành thị của tỉnh (8.05%), trong đó, một số huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao như Kỳ Sơn 65,14%; Tương Dương 61,22% [21, tr.22] Công tác giáo dục, y tế, còn nhiều bất cập và yếu kém Năm 2000 còn 18 xã nghèo chưa có trường mà chỉ

có lớp mầm non, trang bị nghèo nàn Hiện tượng học sinh bỏ học có chiều hướng gia tăng, chất lượng giáo dục thấp Tỷ lệ du canh du cư lớn, chiếm 21% đối tượng vận động định canh định cư, phần lớn tập trung ở các xã vùng biên giới Việt – Lào Số hộ này dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo di cư tự do sang Lào Các tệ nạn xã hội như buôn bán, sử dụng chất ma túy, các hủ tục mê tín dị đoan chưa được xóa

bỏ triệt để, hiện tượng tái trồng cây thuốc phiện vẫn còn Từ năm năm 1995 đến năm 2000 trên địa bàn các huyện miền núi xảy ra 756 vụ buôn bán ma túy, bắt giữ

988 đối tương [117, Tr.770]

Khu vực biên giới các huyện miền núi tình hình chính trị gặp nhiều khó khăn, việc truyền đạo trái phép đạo Tin lành vào đồng bào DTTS ở các huyện miền núi như Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn ngày càng tăng Chúng thường nhắm vào đối tượng học sinh là con em cán bộ người DTTS, phụ nữ góa chồng dân tộc Mông, Khơ mú để dụ

dỗ theo đạo, tuyên truyền nói xấu Đảng Trên tuyến biên giới phía Tây, do chính quyền và quân đội Lào tập trung quét mạnh nên các nhóm phỉ chạy sang địa bàn các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong ẩn náu, móc nối mua bán trao đổi ma

Trang 38

túy, lôi kéo người Mông di cư sang Lào… Các nhóm phỉ chuyển đổi phương thức hoạt động từ vũ trang đối đầu sang bạo loạn lật đổ [117, Tr.806]

Nhìn một cách tổng thể, các huyện miền núi là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của tỉnh Nghệ An và khu vực Bắc Trung Bộ; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của tỉnh Nghệ An; có tiềm năng lớn về quỹ đất và tài nguyên rừng, khoáng sản để phát triển và mở rộng sản xuất nông lâm nghiệp, khai thác khoáng sản gắn với công nghiệp chế biến trên quy mô lớn Đồng bào các dân tộc có truyền thống đoàn kết, yêu nước tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp Nhưng, do chịu sự tác động rất lớn của điều kiện bất lợi như địa hình đồi núi phức tạp, chia cắt mạnh, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, hạn hán Các huyện miền núi Nghệ An vẫn còn trong tình trạng khó khăn, lạc hậu Tiềm năng đất đai, con người khá phong phú nhưng kết cấu hạ tầng yếu kém, thị trường chưa phát triển Trình độ dân trí thấp, đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn, sản xuất thuần nông kém hiệu quả, tự cấp, tự túc Chất lượng nguồn lao động thấp, chi phí sản xuất cao, môi trường đầu tư không thuận lợi Hoạt động buôn bán ma túy, nạn di dịch cư tự do, hoạt động truyền đạo chống phá chính quyền cách mạng… diễn biến phức tạp Để đưa các huyện miền núi Nghệ An phát triển bền vững, khai thác các lợi thế của vùng, một trong những giải pháp có tính khả thi là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các huyện miền núi, trong đó có công tác xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS trong HTCT Xây dựng các huyện miền núi phát triển vững mạnh và toàn diện vừa là yêu cầu nguyện vọng của đồng bào các dân tộc trong vùng, vừa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh lâu dài của tỉnh Nghệ An nói riêng và của cả nước nói chung

2.1.1.2 Quan điểm và chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị

- Quan điểm về hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam

Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị trong mỗi xã hội, quan hệ với nhau nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức chính trị, nhà nước và tổ chức chính trị xã hội hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và

Trang 39

pháp luật Mỗi thành viên của Hệ thống chính trị đều có vị trí, vai trò nhất định trong đời

sống chính trị của đất nước

Hệ thống chính trị của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam; Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên gồm có: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ

Việt Nam, Hội cựu chiến binh, Hội nông dân

Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số là một bộ phận cấu thành của Hệ thống chính trị cơ sở nói riêng và Hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hệ thống chính trị ở cơ sở vùng dân tộc thiểu số có chức năng xây dựng mối quan hệ đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng cơ sở, xây dựng chính quyền vững mạnh phấn đấu thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

- Khái niệm cán bộ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ người dân tộc thiểu

số trong hệ thống chính trị

Cán bộ: Điều 4 luật cán bộ công chức năm 2008 của nước Cộng hoà xã hội

chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ, Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn,

bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách

nhà nước

Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị

- xã hội

Cán bộ người dân tộc thiểu số: Về cụm từ “cán bộ người DTTS” cho đến nay

mới thấy được dùng trong một số văn bản của Đảng, Nhà nước và của một số địa phương khi nói về công tác cán bộ, chưa thấy tài liệu nào nêu định nghĩa về “cán bộ

người DTTS” Theo chúng tôi hiểu “cán bộ người DTTS” ở nước ta hiện nay là

những cán bộ có thành phần xuất thân (có cha, mẹ, hoặc có cha hay mẹ đẻ) là người DTTS Như vậy, những cán bộ xuất thân có nguồn gốc từ 53 dân tộc không phải là

Trang 40

dân tộc Kinh (Ba Na, Bố Y, Brâu, Bru, Ê-Đê, Giáy, gia-rai, giẻ-Triêng, Vân Kiều, Chăm, Chơro, Chu-ru, Chứt, Co, Cống, Cờ Lao, Cờ Tu, Dao, Hà nhì, Hoa, Hrê, Kháng, Khơ me, Khơ mú, La chí, La Ha, La hủ, Lào, Lô Lô, Lự, Mạ, Mảng, Mông (Hmông), Mnông, Mường, Ngái, Nùng, ơ đu, Pà thẻn, Phù Lá, Pù Péo, Ra-gai, Thái, Thổ, Mông, Tày, Nùng, ) được gọi là cán bộ DTTS

Cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị: là những người công

tác trong một tổ chức xác định của HTCT, có thành phần xuất thân từ các DTTS; có những trách nhiệm và quyền hạn nhất định được tổ chức giao phó; có năng lực và trình độ công tác đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ được giao; có phẩm chất đạo đức cách mạng; có nghĩa vụ tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, hết lòng tận tụy phục vụ nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì lợi ích tối cao của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc cùng chung sống Cộng đồng các dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, tạo nên truyền thống đấu tranh anh dũng kiên cường trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước

và giữ nước Nhận rõ vai trò to lớn của đồng bào các dân tộc, ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có chính sách dân tộc đúng đắn, kịp thời động viên và tập hợp lực lượng các dân tộc tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và ngày nay là sự nghiệp đổi mới xây dựng và pháp triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, việc xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng, là biểu hiện sinh động nhất về quyền bình đẳng giữa các dân tộc Để thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tập trung lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng và coi đây là vấn đề then chốt trong thực hiện chính sách dân tộc Đảng xác định, đội ngũ cán bộ người DTTS là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước Đội ngũ cán bộ người DTTS không chỉ có vai trò quan trọng như đội ngũ cán bộ nói chung, mà còn có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết các vấn đề về dân tộc, nhất là tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tiến hành sự nghiệp cách mạng của

Ngày đăng: 13/11/2017, 12:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w