1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tư vấn xây dựng bộ tiêu chí/tiêu chuẩn và thiết kế mẫu nhà xanh tại thành phố Hà Tĩnh

273 239 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 273
Dung lượng 17,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Ngọc Đăng – Chủ tịch Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam, “Kiến trúc xanh” là công trình được thực hiện bằng tập hợp các giải pháp thiết kế kỹ thuật kiến trúc sáng tạo, thân thiện với

Trang 1

BAN ĐIỀU PHỐI DỰ ÁN

SRDP-IWMC HÀ TĨNH

BÁO CÁO TỔNG HỢP

Dự án: Tư vấn xây dựng bộ tiêu chí/tiêu chuẩn và thiết kế

mẫu nhà xanh tại thành phố Hà Tĩnh

ĐƠN VỊ THỰC HIỆN: CÔNG TY CỔ PHẦN NHỮNG KIẾN TRÚC SƯ H&P

Hà Nội, tháng 6/2017

Trang 2

BAN ĐIỀU PHỐI DỰ ÁN

SRDP-IWMC HÀ TĨNH

BÁO CÁO TỔNG HỢP

Dự án: Tư vấn xây dựng bộ tiêu chí/tiêu chuẩn và thiết kế

mẫu nhà xanh tại thành phố Hà Tĩnh

CÔNG TY CỔ PHẦN NHỮNG KIẾN TRÚC SƯ H&P

GIÁM ĐỐC

KTS ĐOÀN THANH HÀ

Hà Nội, tháng 6/2017

Trang 3

THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU VÀ BÁO CÁO:

TS.KTS NGUYỄN QUỐC TUÂN (Tư vấn trưởng) PGS.TS.KTS KHUẤT TÂN HƯNG

TS.KTS HỒ HẢI NAM

THS.KTS PHAN THỊ VÂN ANH

THS QUY HOẠCH NGUYỄN MINH PHƯƠNG THS.KTS HỒ PHƯƠNG THÀNH

KTS NGUYỄN HẢI HUỆ

THỰC HIỆN ĐO VẼ HIỆN TRẠNG NHÀ Ở:

CAO DUY TÙNG

PHẠM TRẦN HOÀNG

CHU DANH HÙNG MẠNH

PHẠM VĂN TÚ

NGÔ XUÂN ĐOÀN

NGUYỄN KHOA TRỌNG NGHĨA

HỨA HỒNG KỲ

BÙI DUY THÁI

Trang 4

Lý do nghiên cứu đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG NHÀ Ở THẤP TẦNG TẠI TP HÀ TĨNH THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH & THÍCH ỨNG VỚI BĐKH

I.1 Một số khái niệm và thuật ngữ

I.1.1 Kiến trúc Xanh

I.1.2 Công trình Xanh

I.1.3 Sự tương đồng / khác biệt giữa Kiến trúc Xanh và Công trình Xanh

I.1.4 Nhà ở liên kế phố

I.1.5 Biệt thự

I.1.6 Nhà vườn

I.1.7 Biến đổi khí hậu

I.1.8 Ảnh hưởng của BĐKH trong lĩnh vực Kiến trúc – Xây dựng

I.1.9 Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh và kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Hà Tĩnh

I.2 Giới thiệu chung về địa điểm nghiên cứu

I.2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hà Tĩnh

I.2.2 Giới thiệu chung về TP Hà Tĩnh

I.3 Tình hình phát triển kiến trúc xanh trên thế giới và ở Việt Nam

I.3.1 Tình hình phát triển kiến trúc xanh trên thế giới

I.3.2 Tình hình phát triển kiến trúc xanh ở Việt Nam

I.3.3 Tình hình phát triển kiến trúc xanh ở TP Hà Tĩnh

1.4 Hệ thống tiêu chí đánh giá kiến trúc xanh và công trình xanh trên thế giới

I.4.1 Hệ thống đánh giá LEED - Mỹ 2005

I.4.2 Hệ thống đánh giá CASBEE - Nhật Bản 2008

I.4.3 Hệ thống đánh giá Green Mark - Singapore 2010

I.4.4 Hệ thống đánh giá Green Building Index (GBI) - Malaysia

I.4.5 Hệ thống đánh giá EDGE của IFC – World bank

Trang 5

2

I.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá kiến trúc xanh và công trình xanh ở Việt Nam

I.5.1 Tiêu chí đánh giá LOTUS - Việt Nam 2013

I.5.2 Tiêu chí Kiến trúc Xanh Việt Nam của Hội Kiến trúc sư Việt Nam

I.5.3 Tiêu chí đánh giá Công trình Xanh của Hội Môi trường Xây dựng VN

I.5.4 Tiêu chí đánh giá và cấp chứng nhận Công trình Xanh của Bộ Xây dựng

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC XÂY DỰNG NHÀ Ở THẤP TẦNG TẠI TP

HÀ TĨNH THEO TIÊU CHÍ KIẾN TRÚC XANH & THÍCH ỨNG VỚI BĐKH

II.1 Các cơ sở pháp lý

II.1.1 Luật, tiêu chuẩn, quy phạm, văn bản pháp luật về thiết kế nhà ở đô thị II.1.2 Luật, tiêu chuẩn, quy phạm, văn bản pháp luật về xây dựng công trình tiết kiệm năng lượng, công trình xanh

II.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thiết kế nhà ở theo hướng kiến trúc xanh tại

TP Hà Tĩnh

II.2.1 Đặc điểm tự nhiên

II.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

II.2.3 Biến đổi khí hậu tại Hà Tĩnh

II.3 Kinh nghiệm xây dựng mô hình nhà ở thấp tầng theo tiêu chí xanh, ứng phó với BĐKH và chống chọi thảm họa ở trong và ngoài nước

II.3.2 Kinh nghiệm nước ngoài

II.3.1 Kinh nghiệm trong nước

II.4 Điều tra khảo sát, đánh giá hiện trạng nhà ở và tiềm năng phát triển kiến trúc xanh tại TP Hà Tĩnh

II.4.1 Các địa điểm khảo sát, nội dung khảo sát và các phương pháp điều tra, khảo sát

II.4.2 Đánh giá hiện trạng nhà ở và tiềm năng phát triển KTX tại khu vực ven sông Rào Cái

II.4.3 Đánh giá hiện trạng nhà ở và tiềm năng phát triển KTX tại khu vực ven các hồ điều hòa

II.4.4 Đánh giá hiện trạng nhà ở và tiềm năng phát triển KTX tại khu vực đô thị cũ

II.4.5 Đánh giá hiện trạng nhà ở và tiềm năng phát triển KTX tại khu vực đô thị mới

II.5 Tổng hợp các yêu cầu xây dựng nhà ở theo mô hình kiến trúc xanh ứng phó với BĐKH tại TP Hà Tĩnh

II.5.1 Các yêu cầu xây dựng nhà ở theo mô hình kiến trúc xanh ứng phó với BĐKH tại khu vực ven sông Rào Cái

Trang 6

III.1 Quan điểm và nguyên tắc xây dựng Bộ tiêu chí

III.1.1 Quan điểm

III.1.2 Nguyên tắc xây dựng Bộ tiêu chí

III.2 Bộ tiêu chí kiến trúc xanh cho nhà ở thấp tầng tại TP Hà Tĩnh

III.2.1 Tiêu chí bền vững về địa điểm

III.2.2 Tiêu chí tiết kiệm năng lượng

III.2.3 Tiêu chí khai thác sử dụng và bảo vệ nguồn nước hiệu quả

III.2.4 Tiêu chí sử dụng vật liệu

III.2.5 Tiêu chí chất lượng môi trường trong nhà

III.2.6 Tiêu chí thích ứng với BĐKH và đối phó với thảm họa

III.3 Vận dụng Bộ tiêu chí kiến trúc xanh để thiết kế nhà ở thấp tầng thích ứng BĐKH tại TP Hà Tĩnh

III.3.1 Các chỉ dẫn thiết kế chung

III.3.2 Chỉ dẫn thiết kế cho khu vực ven sông Rào Cái

III.3.3 Chỉ dẫn thiết kế cho khu vực ven các hồ điều hòa

III.3.4 Chỉ dẫn thiết kế cho khu vực đô thị cũ

III.3.5 Chỉ dẫn thiết kế cho khu vực đô thị mới

III.3.6 Chi phí – hiệu quả sử dụng vật liệu và giải pháp công nghệ Xanh

III.4 Các mô hình thiết kế thực nghiệm

III.4.1 Lựa chọn địa điểm thiết kế thực nghiệm cho 4 khu vực

III.4.1 Mô hình thực nghiệm nhà ở xây mới tại 4 khu vực

III.4.2 Mô hình thực nghiệm nhà ở cải tạo tại 4 khu vực

III.5 Giải thích về các kết quả đạt được

Trang 7

4

DANH MỤC BẢNG

trình xây dựng mới và cải tạo lớn

27

sông Rào Cái

trên mái nhà, trên ban công, logia, trong nhà)

100

bị

101

Trang 8

5

DANH MỤC HÌNH ẢNH

nhà ở truyền thống Malaysia, Indonesia

52

và CHLB Đức

53

Trung (phương án thắng giải cuộc thi do ISET tổ chức)

56

Tĩnh

99

Trang 9

6

hướng gió

108

giảm nhiệt

113

sáng, cách nhiệt, tấm che nắng gần cửa sổ giúp giảm tối thiểu

hơi nóng hấp thụ Quạt làm tăng tiện nghi môi trường

120

nguồn thực phẩm sạch cho gia đình

132

Trang 10

7

sinh nhà cửa, xả bệ xí, giặt giũ, tưới cây

141

nhẹ

158

Trang 11

8

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Quá trình biến đổi khí hậu đang tác động gay gắt đến cuộc sống của con người, ảnh hưởng trực tiếp tới các mục tiêu tăng trưởng và sự phát triển kinh tế - xã hội không chỉ ở phạm vi toàn cầu, quốc gia, mà còn cả ở qui mô của từng tỉnh, thành phố Là một tỉnh duyên hải Bắc Trung Bộ với điều kiện tự nhiên và địa hình, khí hậu khắc nghiệt, Hà Tĩnh đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng từ sự biến đổi khí hậu Trước hết, là nguy cơ cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự gia tăng ô nhiễm môi trường, giảm thiểu tốc độ phát triển, sự xâm lấn và ngập mặn sâu hơn các vùng ven biển, sự thay đổi thói quen và cuộc sống của người dân khi phải hứng chịu những điều kiện khí hậu khắc nghiệt hơn Xuất phát từ thực trạng này, việc nghiên cứu để tìm ra những hướng đi đúng đắn để phát triển bền vững kinh tế -

xã hội, trong đó có phát triển kiến trúc – xây dựng theo hướng Xanh, thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên trên địa bàn Hà Tĩnh là công việc cần thiết và cấp bách

Dự án “Quản lý nguồn nước tổng hợp và phát triển đô thị trong mối liên hệ với Biến đổi khí hậu tại tỉnh Hà Tĩnh” – (IWMC) là một phần của Chương trình lớn về biến đổi khí hậu (BĐKH) thực hiện không chỉ trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh mà còn ở các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận với cùng mục tiêu và hoạt động Dự án có mục tiêu tổng quát nhằm hỗ trợ phát triển thể chế tỉnh Hà Tĩnh về quản lý nguồn nước tổng hợp và phát triển đô thị liên quan đến BĐKH tại tỉnh Hà Tĩnh Mục tiêu trước mắt của dự án là

hỗ trợ quản lý nguồn nước và phát triển đô thị liên quan đến biến đổi khí hậu tại tỉnh

Hà Tĩnh

Dự án sẽ có 4 kết quả chính như sau:

Kết quả 1: Hỗ trợ phát triển thể chế tỉnh Hà Tĩnh về quản lý tổng hợp nguồn nước và phát triển đô thị liên quan đến BĐKH tại tỉnh Hà Tĩnh

Kết quả 2: Áp dụng một chiến lược toàn diện về BĐKH Chiến lược được xây dựng dựa trên một loạt các nghiên cứu khác nhau, bao gồm dữ liệu biến đổi khí hậu

và mô hình thủy lực tập trung vào tác động vận động đến các khu định cư trong lưu vực sông Rào Cái và chỉnh sửa bản Quy hoạch tổng thể hiện tại của cả thành phố Hà Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh, trong đó lồng ghép các ưu tiên chính của Kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu

Kết quả 3: Các hoạt động thí điểm chiến lược ưu tiên được xây dựng và rút ra các phương thức hoạt động và vận hành thích hợp

Kết quả 4: Sự tham gia tích cực của cộng đồng và khu vực tư nhân hỗ trợ tốt cho việc thực hiện Chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu

Trang 12

9

Trong khuôn khổ hoạt động của dự án IWMC, nằm trong nội dung hoạt động của kết quả 4, nhằm cải thiện điều kiện sống cho cộng đồng dân cư thành phố Hà Tĩnh, thông qua Quỹ tín dụng nhà xanh, dự án hỗ trợ người dân sinh sống trong vùng chịu tác động của biến đổi khí hậu, ngập lụt xây dựng/cải tạo điều kiện nhà ở theo tiêu chí Nhà xanh (sử dụng tài nguyên, năng lượng hiệu quả, giải quyết các vấn đề về lượng nhiệt, cách nhiệt, kiểm soát ánh sáng tự nhiên, thông gió tự nhiên hạn chế sử dụng tài nguyên nước và tái sinh nước, có khả năng chống chọi thảm họa thiên nhiên như bão, lũ ) Do đó, để thực hiện tốt mục tiêu cải thiện điều kiện nhà ở cho người dân, cần thiết phải có bộ tiêu chí/tiêu chuẩn về nhà xanh và thiết kế mẫu nhà xanh riêng cho dự án

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mặc dù tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Kế hoạch hành động tăng trưởng Xanh giai đoạn 2016-2020, đã có đề tài nghiên cứu về quản lý nguồn nước dưới tác động của biến đổi khí hậu, song hiện tại vẫn chưa có những nghiên cứu khoa học, hoặc các công trình khảo sát, đánh giá toàn diện về tác động của biến đổi khí hậu đến kiến trúc

và phương thức xây dựng nhà ở truyền thống trên địa bàn Do đó, đề tài có các mục tiêu sau:

‐ Đánh giá tiềm năng phát triển kiến trúc xanh trong nhà ở thấp tầng tại thành phố Hà Tĩnh

‐ Xây dựng Bộ tiêu chí kiến trúc xanh và các chỉ dẫn thiết kế cho nhà ở thấp tầng tại thành phố Hà Tĩnh

‐ Vận dụng Bộ tiêu chí kiến trúc xanh để thiết kế mẫu nhà ở thấp tầng cho thành phố Hà Tĩnh có sự tích hợp các điều kiện đặc trưng về địa hình, khí hậu, vật liệu, kinh tế, xã hội của địa phương

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhà ở thấp tầng trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh, gồm có: nhà ở liên kế phố, biệt thự, nhà vườn

Phạm vi nghiên cứu của đề tài về mặt địa lý gồm: 04 khu vực trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh: Khu ven sông Rào Cái, khu ven các hồ điều hòa, khu vực đô thị cũ, khu vực đô thị mới

Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung và kết quả là: xây dựng bộ tiêu chí Kiến trúc Xanh khả thi cho nhà ở thấp tầng trên địa bàn TP Hà Tĩnh Bộ tiêu chí có tính chất khuyến nghị, gợi mở để nhân dân và các nhà chuyên môn tham khảo, từ đó có thể đề ra các giải pháp thiết kế kiến trúc, quy hoạch tổng mặt bằng, tổ chức không gian ngôi nhà phù hợp với bối cảnh BĐKH trên địa bàn TP Hà Tĩnh Đề tài không có

Trang 13

10

thẩm quyền xây dựng tiêu chuẩn thiết kế Nhà ở Xanh, cũng như không xây dựng bộ công cụ để đánh giá và xếp hạng công trình xanh Tuy nhiên, do là địa phương đầu tiên thực hiện nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí kiến trúc xanh cho nhà ở thấp tầng trong khuôn khổ dự án IWMC nên đề tài có thể đóng vai trò là tiền đề để giới thiệu áp dụng, từ đó tổng kết, giới thiệu nhân rộng bộ tiêu chí nhà xanh Sâu xa hơn, có thể kỳ vọng những tổng kết từ đề tài đưa tới việc thể chế hóa ở cấp địa phương hay cấp Trung ương khi hội đủ các điều kiện cần thiết

4 Phương pháp nghiên cứu

Do đặc điểm nhị nguyên của kiến trúc – vừa là sản phẩm văn hóa vừa là môi trường diễn ra các hoạt động văn hóa và sinh hoạt của con người, nên khi nghiên cứu

về chúng cần có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Sự kết hợp giữa chúng cho phép hạn chế được nhược điểm của từng phương pháp riêng lẻ và

bổ sung cho nhau trên tinh thần kiểm chứng kết quả của nhau Chính vì lẽ đó, khi nghiên cứu kiến trúc nhà ở tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh, đề tài phối hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, cụ thể là:

 Phương pháp điều tra xã hội học

 Phương pháp đo đạc, vẽ ghi hiện trạng kiến trúc

 Phương pháp đo đạc, đánh giá thực tế nhiệt độ tại hiện trường

 Phương pháp quan sát, đánh giá tại hiện trường

 Phương pháp thống kê

 Phương pháp tổng hợp và phân tích dữ liệu

 Phương pháp so sánh, đối chiếu

 Phương pháp thiết kế thực nghiệm để kiểm chứng kết quả

5 Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu

Lần đầu tiên, nhà ở trên địa bàn TP Hà Tĩnh được lựa chọn là đối tượng nghiên cứu của một dự án khoa học có tính thực tiễn cao theo hướng phát triển xanh và bền vững Không chỉ dừng ở mức nghiên cứu đề xuất các nguyên tắc và xây dựng bộ tiêu chí Nhà ở Xanh, đề tài còn thiết kế thực nghiệm cho 09 mẫu nhà cụ thể, gồm 04 mẫu nhà cải tạo và 05 mẫu nhà xây mới cho cả 4 khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu cung cấp các cứ liệu khoa học khả tín cho các nghiên cứu liên quan đến kiến trúc nhà ở, kiến trúc Xanh, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến môi trường

cư trú truyền thống trên địa bàn TP Hà Tĩnh

Nghiên cứu góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý, hoạch định chiến lược và chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý, giáo dục, nâng cao nhận thức về phát triển Xanh và bền vững trên địa bàn TP Hà Tĩnh Hơn nữa, nghiên cứu có thể đóng góp

Trang 14

11

vào hệ thống kiến thức cấp quốc gia để giới thiệu và nhân rộng mô hình phát triển bền vững thông qua xây dựng nhà ở tiết kiệm năng lượng và đáp ứng tiêu chí kiến trúc Xanh

Nghiên cứu cũng cung cấp những thông tin, cơ sở khoa học để giúp các Sở, Ban, Ngành, đơn vị, và nhất là cộng đồng xây dựng các dự án, các hoạt động thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng ở khu vực đô thị và nông thôn trên địa bàn TP Hà Tĩnh nói riêng và phạm vi các tỉnh chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH nói chung

Trang 15

12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XÂY DỰNG NHÀ Ở

THẤP TẦNG TẠI TP HÀ TĨNH THEO TIÊU CHÍ

KIẾN TRÚC XANH & THÍCH ỨNG VỚI BĐKH

 

I.1 Một số khái niệm và thuật ngữ

I.1.1 Kiến trúc xanh

Trên thế giới hiện nay đã có nhiều định nghĩa, khái niệm về kiến trúc xanh,

chẳng hạn Jackie Craven trong bài viết “What is Green Architecture? What is Green Design?”định nghĩa “Kiến trúc xanh” như sau: “Kiến trúc xanh” hay “Thiết kế xanh” là

sự tiếp cận đối với công trình xây dựng sao cho giảm thiểu các tác động nguy hại đối với sức khỏe con người và môi trường xung quanh “Kiến trúc sư xanh” hay “người thiết kế xanh” là người hết sức cố gắng bảo vệ an toàn môi trường không khí, nước

và đất bằng việc lựa chọn vật liệu và các biện pháp xây dựng thân thiện sinh thái

Theo WiseGEEK thì “Kiến trúc xanh” là một thuật ngữ rộng lớn đề cập tới sự

sáng tạo hay sự cải tạo các công trình xây dựng sao cho tác động của chúng là nhỏ nhất đối với môi trường xung quanh Có nhiều sự tiếp cận khác nhau về khái niệm

“công trình xanh”, với những đòi hỏi phải đáp ứng và tái sinh nguồn tài nguyên hiện

có, sử dụng có hiệu quả hệ thống công trình, đáp ứng yêu cầu thân thiện với môi trường trong việc cung cấp nước và năng lượng phục vụ cho công trình xây dựng

Theo Ken Yeang – KTS nổi tiếng người Malaysia, “kiến trúc xanh” không chỉ được tạo nên để bảo tồn những gì cần được bảo tồn mà còn phải đảm bảo sự lâu bền của hệ sinh quyển như một tổng thể Đó là một hệ thống nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, bao gồm việc sử dụng có cân nhắc nguồn năng lượng và vật liệu trong suốt quá trình công trình tồn tại, đồng thời làm giảm ảnh hưởng đến tự nhiên khi công trình vận hành, hay nói khác đi là công trình hòa hợp với tự nhiên

Ở Việt Nam cũng có một số định nghĩa về kiến trúc xanh, chẳng hạn theo GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng – Chủ tịch Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam, “Kiến trúc xanh” là công trình được thực hiện bằng tập hợp các giải pháp thiết kế kỹ thuật kiến trúc sáng tạo, thân thiện với thiên nhiên và môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng, tài nguyên nước, vật liệu, hài hòa kiến trúc với cảnh quan và sinh thái tự nhiên, tạo ra điều kiện sống tốt nhất cho người sử dụng”

Như vậy, có thể thấy “kiến trúc xanh” là một thuật ngữ tổng quát, đề cập đến kỹ thuật thiết kế có ý thức về môi trường trong lĩnh vực kiến trúc Nó có thể được coi là

kiến trúc bền vững về môi trường.Trong một ngữ cảnh rộng hơn, kiến trúc xanh tìm

kiếm giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của công trình xây dựng đối với môi trường bằng cách nâng cao tính hiệu quả và điều tiết sử dụng tài nguyên, năng lượng

và không gian phát triển

Trang 16

13

I.1.2 Công trình xanh

Theo PGS.TS Phạm Đức Nguyên, Công trình xanh (Green Building) là một

phong trào xây dựng xuất hiện từ cuối thế kỷ 20 (1990 – 1995) cho tới nay, nhằm khuyến khích xây dựng các tòa nhà mà cả vòng đời của nó, từ khi tìm địa điểm xây dựng, thiết kế, xây dựng, đến hết giai đoạn sử dụng nó, đáp ứng các yêu cầu sau:

sống của con người;

tạo, phấn đấu giảm phát thải khí CO2 đến mức 90% so với trước đây, khi đó công trình được coi là vận hành “không carbon / carbon neutral”;

thị

Theo Charles J Kibert, “công trình xanh” đề cập đến chất lượng và các đặc điểm của một công trình xây dựng sử dụng các nguyên lý và phương pháp xây dựng bền vững, trong đó có việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, tuân thủ các chu trình sinh thái Thiết kế sinh thái hay thiết kế bền vững (hoặc thiết kế xanh) là quá trình

áp dụng các nguyên lý bền vững trong thiết kế công trình

Theo Cục Bảo vệ môi trường Mỹ: “Công trình xanh là công trình xây dựng mà thực tế đã đạt được hiệu quả lớn nhất trong lựa chọn địa điểm xây dựng công trình,

sử dụng tài nguyên - năng lượng, nước, và vật liệu - trong khi tác động của công trình đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh là nhỏnhất trong suốt toàn bộ vòng đời của công trình - từ chọn địa điểm, thiết kế, thi công xây dựng đến vận hành, sửa chữa và tái sử dụng công trình”

Tương tự GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng cho rằng, “Công trình xanh là công trình xây dựng mà trong cả vòng đời của nó, từ giai đoạn lựa chọn địa điểm xây dựng, thiết

kế, thi công xây dựng, giai đoạn sử dụng, vận hành, cho đến giai đoạn sửa chữa, tái

sử dụng, đều đạt được hiệu quả cao trong sử dụng năng lượng, tài nguyên nước, vật liệu và giảm thiểu các tác động xấu đến sức khỏe của con người và môi trường xung quanh, sản sinh ra chất thải ô nhiễm môi trường ít nhất và tạo ra điều kiện sống tốt nhất cho người sử dụng”

Phần lớn các nước trên thế giới không đưa công trình xanh vào quy chế hành chính bắt buộc, mà chỉ là sự đòi hỏi của xã hội với lương tâm của người thiết kế, xây dựng Vì vậy, công trình xanh không phải là một cuộc thi mà phải trở thành một phong trào rộng lớn có sức lan tỏa sâu rộng trong xã hội Chứng chỉ công trình xanh, dù là Bạch kim, vàng hay bạc không phải Giải thưởng kiến trúc, mà là vinh dự của người làm ra nó, được xã hội thừa nhận

Trang 17

14

I.1.3 Sự tương đồng / khác biệt giữa Kiến trúc xanh và Công trình xanh

Để xác nhận một công trình đạt các mức độ Công trình xanh khác nhau, cần có một Hệ thống đánh giá khoa học, chuẩn xác, phù hợp với văn hóa, kinh tế, công nghệ mỗi nước Chỉ tiến hành đánh giá một công trình đã xây dựng (đã đưa vào sử dụng ít nhất 2 – 3 năm) về mặt Môi trường và Năng lượng Trong khi đó, Kiến trúc xanh là thiết kế kiến trúc để tạo ra công trình kiến trúc đáp ứng nhiều nhất các đòi hỏi của một công trình xanh, nó đòi hỏi giải pháp tổng thể, không chỉ về năng lượng, môi trường,

mà còn cả thẩm mỹ, sự phù hợp với bối cảnh Một số nước còn đưa cả tiêu chí về tính sáng tạo và sự phù hợp bản địa vào hệ tiêu chí đánh giá công trình kiến trúc xanh

Nội dung về công trình xanh có thể được định lượng tin cậy cụ thể bằng điểm

số, nhưng nội dung kiến trúc còn liên quan đến văn hóa, xã hội, cộng đồng, dân tộc, thẩm mỹ và cả việc đáp ứng tốt nhất công năng của một công trình Đánh giá một công trình đầy đủ và thỏa đáng về kiến trúc sẽ khó khăn và phức tạp hơn nhiều Như vậy,

có thể hiểu một cách đơn giản, Kiến trúc xanh phải chứa đựng hai yêu cầu nội dung

cơ bản: Yêu cầu Kiến trúc và yêu cầu tạo ra Công trình xanh Do đó, việc xây dựng tiêu chí Kiến trúc xanh thực chất là xây dựng bộ tiêu chí có tính chất dẫn dắt, định hướng, phải có tính chất bao trùm và đại diện cho nhiều yếu tố

Quan điểm “Công trình Xanh là công trình có tính thẩm mỹ cao” là không chính xác, nhưng chắc chắn rằng “Công trình Xanh phải là công trình sử dụng năng lượng một cách hiệu quả nhất” Trong khi đó, Kiến trúc xanh hay Kiến trúc bền vững là công

việc thiết kế kiến trúc để góp phần tạo ra tòa nhà xanh – Công trình xanh, đòi hỏi phải

có những giải pháp tổng thể cho dự án, không chỉ tập trung vào công trình mà còn cả bối cảnh xã hội, văn hóa, không gian xung quanh

I.1.4 Nhà ở liên kế

Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9411:2012 về Nhà ở liên kế - Tiêu chuẩn thiết

kế thì khái niệm nhà ở liên kế được hiểu như sau:

Nhà ở liên kế là loại nhà ở riêng lẻ của các hộ gia đình, cá nhân được xây dựng liền nhau, thông nhiều tầng được xây dựng sát nhau thành dãy trong những lô đất nằm liền nhau và có chiều rộng nhỏ hơn so với chiều sâu (chiều dài) của nhà, cùng

sử dụng chung một hệ thống hạ tầng của khu vực đô thị

Có 2 loại nhà ở liên kế:

- Nhà ở liên kế mặt phố (nhà phố): Là loại nhà ở liên kế xây dựng trên các trục đường phố, khu vực thương mại, dịch vụ theo quy hoạch đã được duyệt Nhà liên kế mặt phố ngoài chức năng để ở còn sử dụng làm cửa hàng buôn bán, dịch vụ văn phòng, nhà trọ, khách sạn, cơ sở sản xuất nhỏ và các dịch vụ

khác

Trang 18

đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt

I.1.6 Nhà vườn

Nhà vườn là khái niệm chỉ một loại nhà kết hợp giữa kiến trúc nhà ở với vườn cây bao quanh Tương tự như biệt thự, nhà vườn truyền thống thường là nhà ở riêng biệt, có sân, vườn, hàng rào và lối ra vào riêng biệt, song thường có diện tích lớn hơn

và đa số xây dựng một tầng Nhà vườn thường có ở các khu vực ven đô thị Nếu các khu nhà vườn gắn với cảnh quan tự nhiên, sông, nước… sẽ tạo ra một khung cảnh

có giá trị về sinh thái, du lịch cao

I.1.7 Biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu (BĐHK) là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân

tự nhiên và nhân tạo

Biến đổi khí hậu được biểu hiện ở chiều hướng tăng của nhiệt độ, tăng mực nước biển, thay đổi chế độ mưa, thay đổi lượng mưa, thay đổi chế độ gió, tất cả đều theo chiều hướng mạnh lên cùng với nguy cơ làm tăng các thảm họa thiên nhiên

Biến đổi khí hậu là thách thức lớn cho loài người trong thế kỷ 21, đe dọa phá hủy hệ sinh thái toàn cầu, trong đó Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất Theo các chuyên gia nghiên cứu biến đối khí hậu, đến năm 2100,

Còn theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) mực nước biển dâng sẽ nằm trong khoảng giữa 0.74 mét (giới hạn dưới) và 1.00 mét (giới hạn trên); Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa các vùng, có thể tăng đến 10% vào mùa mưa và giảm đến 5% vào mùa khô

Trang 19

16

I.1.8 Ảnh hưởng của BĐKH trong lĩnh vực kiến trúc – xây dựng

Trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, BĐKH được xác định sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố sau:

Về đầu tư xây dựng: Các công trình xây dựng bị thay đổi điều kiện làm việc so

với bình thường, độ bền vững của kết cấu, khả năng chịu tải trọng và tuổi thọ công trình bị ảnh hưởng Để thích ứng với BĐKH thì trong thiết kế, thi công xây dựng cần

áp dụng các tiêu chuẩn mới về tải trọng, khả năng chịu lực và độ bền vật liệu nên cơ cấu đầu tư cũng bị tác động

Về kiến trúc - quy hoạch: Việc xác định cốt nền quy hoạch xây dựng và bố trí

sắp xếp các khu dân cư chịu tác động bởi các yếu tố thời tiết và địa hình Những diễn biến bất thường của thời tiết làm cho các số liệu thống kê khí hậu - thủy văn lịch sử không còn nhiều ý nghĩa trong việc tính toán, lựa chọn cốt nền quy hoạch công trình Tác động mạnh của mưa bão gây thiệt hại cho các công trình kiến trúc, nhất là nhà cửa của nhân dân tại các khu dân cư gần bờ biển chưa được xây kiên cố, các kho tàng, nhà xưởng, trường học, công trình văn hóa, quảng cáo… Các giải pháp kiến trúc công trình truyền thống không đủ độ bền vững để chịu tác động của mưa bão với tần suất ngày càng lớn

Về hạ tầng kỹ thuật và phát triển đô thị: Dưới tác động của BĐKH, hệ thống

công trình hạ tầng kỹ thuật nói chung và hạ tầng kỹ thuật đô thị nói riêng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Các công trình giao thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải, nghĩa trang, cây xanh và thông tin liên lạc bị thiệt hại nặng nề do bão, lụt ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng dịch vụ đô thị và bảo vệ môi trường

Về vật liệu xây dựng: BĐKH tác động mạnh đến việc sử dụng vật liệu trong xây

dựng, làm cho tính chất, khả năng làm việc của vật liệu bị thay đổi, nhất là các vật liệu làm kết cấu bao che Việc khai thác đất sét, sử dụng nhiên liệu hóa thạch và gỗ tự nhiên trong sản xuất gạch ngói làm ảnh hưởng đến môi trường ngày càng nghiêm trọng; việc khai thác cát lòng sông và khai thác đá làm vật liệu xây dựng cũng tác động mạnh đến môi trường, làm tăng nguy cơ sạt lở tại các điểm xung yếu dọc bờ sông

Có thể nói, tác động của BĐKH đến ngành xây dựng là tác động tổng hợp từ tổng thể đến chi tiết, từ bên ngoài đến bên trong công trình và đối tượng chịu ảnh hưởng là con người với các hoạt động hằng ngày gắn liền với các công trình xây dựng

từ nơi ở đến nơi làm việc và cả trong lúc tham gia giao thông

I.1.9 Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh và kế hoạch hành động tăng trưởng xanh tỉnh Hà Tĩnh:

Ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 1393/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh với mục tiêu chung của chiến lược: Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế carbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành

Trang 20

17

xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội

Theo Quyết định 1393, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh có các mục tiêu cụ thể như sau:

- Tái cấu trúc và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao;

- Nghiên cứu, ứng dụng ngày càng rộng rãi công nghệ tiên tiến nhằm sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, giảm cường độ phát thải khí nhà kính, góp phần ứng phó hiệu quả với BĐKH;

- Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp , dịch

vụ xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng xanh

Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh xác định ba nhiệm vụ chiến lược:

- Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

- Xanh hóa sản suất

- Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Về giải pháp thực hiện cụ thể, có 17 giải pháp được nêu ra, đều tập trung đề xuất cụ thể về tiết kiệm năng lượng, khuyến khích ứng dụng công nghệ mới thân thiện với môi trường, tuyên truyền và giáo dục, phát triển nông nghiệp công nghệ sạch v.v , trong đó giải pháp số 11 về Đô thị hóa bền vững được chúng tôi trích dẫn một số nội dung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài như sau:

- Quy hoạch đô thị và quản lý quy hoạch: đến năm 2020 các đô thị đạt mức trung bình trở lên của hệ thống chỉ số đô thị xanh

- Xây dựng hạ tầng kỹ thuật: giới thiệu áp dụng hệ thống đánh giá hiệu quả năng lượng và hạ tầng đô thị xanh để nâng cao mức tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính cho các khu đô thị

- Xây dựng đô thị xanh, đô thị sinh thái, công trình xanh: nghiên cứu, ban hành

hệ thống tiêu chuẩn về quy hoạch, kiến trúc đô thị đô thị, thiết kế, sử dụng vật liệu, giải pháp xây dựng xanh thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng, tài nguyên, giảm thiểu khí gây hiệu ứng nhà kính, có giải pháp công nghệ thích hợp xử lý chất thải đô thị

- Xanh hóa cảnh quan đô thị: khuyến khích đầu tư và phát triển các khoảng không gian xanh trong các dự án đô thị và khuyến khích cộng đồng, doanh nghiệp và các hộ gia đình huy động nguồn lực để xanh hóa cảnh quan đô thị

Trang 21

bộ, từng bước tiến tới hiện đại; Cải thiện các vấn đề môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và chất lượng cảnh quan Xây dựng lối sống thân thiện với môi trường; Nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH

Các mục tiêu cụ thể gồm có:

1 Giảm phát thải khí nhà kính và tiết kiệm năng lượng: Đến năm 2020: Giảm cường độ phát thải khí nhà kính so với mức phát triển bình thường là 6,0%, trong đó mức giảm tự nguyện khoảng 5,2% (với hỗ trợ của Trung ương); còn lại là mức phấn đấu khi có thêm hỗ trợ của quốc tế

2 Xanh hóa sản xuất

‐ Hình thành và phát triển cơ cấu “kinh tế xanh” trên cơ sở đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế sử dụng công nghệ tiên tiến, tạo ra giá trị gia tăng lớn, sử dụng hiệu quả hơn tài nguyên thiên nhiên, chống chịu hiệu quả hơn với biến đổi khí hậu;

‐ Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp; hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng xanh hóa các ngành hiện có và khuyến khích phát triển các ngành kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên với giá trị gia tăng cao;

‐ Phấn đấu đến năm 2020: 80% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường, trong đó 50% các cơ sở áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có hệ thống thu gom và xử lý chất thải đảm bảo môi trường; Trên 75% các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; Đầu tư phát triển các ngành hỗ trợ bảo vệ môi trường và làm giàu vốn tự nhiên phấn đấu đạt 3 - 4% GDP

3 Xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững: Xây dựng lối sống thân thiện với môi trường thông qua tạo nhiều việc làm xanh từ các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư vào vốn tự nhiên, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội xanh Phấn đấu đến năm 2020 có:

‐ Trên 50% số xã, 3-4 huyện đạt chuẩn nông thôn mới và có xã nông thôn mới kiểu mẫu;

‐ Trên 85% nước thải, chất thải rắn y tế được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường; Trên 96% chất thải rắn đô thị và 60% chất thải rắn nông thôn được thu

Trang 22

‐ Giảm 65% khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị, trung tâm thương mại

so với năm 2010;

‐ 100% dân cư hiểu biết, có kiến thức cơ bản về ứng phó, thích nghi với BĐKH;

‐ 100% đô thị có diện tích cây xanh đạt tiêu chuẩn;

‐ Tỷ lệ che phủ rừng đạt trên 55%

I.2 Giới thiệu chung về địa điểm nghiên cứu

I.2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Hà Tĩnh

Theo Cổng thông tin điện tử Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải

Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

Hà Tĩnh có TP Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, thị xã Kỳ Anh và 10 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh ; trong đó có với 262 đơn vị hành chính cấp xã. 

có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan. Ngoài ra

Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội. 

+ Đặc điểm địa hình:

Lãnh thổ Hà Tĩnh chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hình dốc nghiêng từ Tây sang Đông (độ dốc trung bình 1,2%, có nơi 1,8%) và bị chia cắt mạnh bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn, có nhiều dạng địa hình chuyển tiếp, xen

kẻ lẫn nhau Phía Tây là sườn Đông của dãy Trường Sơn có độ cao trung bình 1500m,

kế tiếp là đồi bát úp và một dãy đồng bằng hẹp, có độ cao trung bình 5m, thường bị núi cắt ngang và sau cùng là dãy cát ven biển bị nhiều cửa lạch chia cắt Về tổng thể,

Hà Tĩnh có 4 dạng địa hình cơ bản như sau: 

Trang 23

20

- Vùng núi cao: Địa hình vùng núi cao thuộc phía Đông của dãy Trường Sơn

bao gồm các xã phía Tây của huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh Địa hình dốc

bị chia cắt mạnh, hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Rào Trổ. 

- Vùng trung du và bán sơn địa: Đây là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống

vùng đồng bằng Vùng này chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí Minh bao gồm các

xã vùng thấp của huyện Hương Sơn, các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc, ven Trà Sơn của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng. 

- Vùng đồng bằng: là vùng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn

và dải ven biển, bao gồm các xã vùng giữa của huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Địa hình vùng này tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feralit hay trầm tích biển. 

- Vùng ven biển nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1A chạy dọc theo bờ biển

gồm các xã của huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Địa hình được tạo bởi những đụn cát, các vùng trũng được lấp đầy trầm tích hay đầm phá hay phù sa được hình thành do các dãy đụn cát chạy dài ngăn cách bãi biển Ngoài ra vùng này còn xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển do kiến tạo của dãy Trường Sơn Bắc Nhiều bãi ngập mặn được tạo ra từ nhiều cửa sông, lạch. 

+ Đặc điểm khí hậu:

Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa lạnh và nóng Trong 5 năm qua (2011 - 2015), khí hậu Hà Tĩnh có những diễn biến phức tạp hơn so với giai đoạn 2006 - 2010

Sự phức tạp của thời tiết, khí hậu được thể hiện trên nhiều đặc trưng:

Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22 độ

C, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33 độ C Trong 54 năm qua, nhiệt độ không khí trung bình năm ở tỉnh Hà Tĩnh có xu thế tăng lên với tốc độ tăng tương đối đồng đều tại các trạm quan trắc, từ 0,1 - 0,2 độ C/thập kỷ Trong đó nhiệt độ tại huyện Hương Khê có tốc độ tăng nhanh nhất

Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối có xu thế tăng tại tất cả các trạm của tỉnh Hà Tĩnh trong hơn 50 năm qua (1961 - 2014) Nền nhiệt độ có xu thế tăng lên rõ rệt, kể từ năm

1959 đến năm 2010 nhiệt độ trung bình năm tại khu vực Hà Tĩnh tăng lên khoảng ≈

Kỷ lục nhiệt độ thấp cực đại ở tỉnh Hà Tĩnh là 2,6 độ C, xảy ra ở huyện Hương Khê

Trang 24

21

Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm lớn Xu thế biến đổi lượng mưa trung bình năm trên địa bàn tỉnh khá rõ rệt theo các thời kỳ và các vùng khác nhau Đây là điểm cần đặc biệt chú ý khi thiết kế nhà ở thích ứng với khí hậu nóng, ẩm, mưa nhiều của Hà Tĩnh

I.2.2 Giới thiệu chung về TP Hà Tĩnh

Theo Cổng thông tin điện tử thành phố Hà Tĩnh, TP có diện tích tự nhiên

Tĩnh có 16 đơn vị hành chính, trong đó có 10 phường và 6 xã với dân số thống kê năm

là 87.168 người Tuy có diện tích nhỏ nhất so với các huyện thị khác trong tỉnh nhưng thành phố Hà Tĩnh đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh với các kiến trúc đô thị đan xen với các vùng nông thôn rất đặc trưng

Thành phố nằm ở trung tâm của tỉnh Hà Tĩnh, nằm ven quốc lộ 1A, cách Hà Nội khoảng 340 km, cách thành phố Vinh khoảng 50 km về phía Nam

- Phía Bắc giáp huyện Thạch Hà và Lộc Hà

- Phía Nam giáp huyện Cẩm Xuyên

- Phía Tây giáp huyện Thạch Hà

- Phía Đông giáp huyện Thạch Hà

Thành phố Hà Tĩnh nằm trên vùng đồng bằng ven biển miền Trung, có địa hình thấp, bằng phẳng, đất đai được tạo thành do bồi tích sông, biển, độ cao từ 0,5m-3m Thành phố Hà Tĩnh được che chắn bởi ngọn Rào Cỏ thuộc Trường Sơn Bắc phía Tây Hương Khê nên ít bị ảnh hưởng bởi gió Lào Thời tiết có hai mùa rõ rệt là mùa rét từ tháng 11 đến tháng 4, mùa khô nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình 23-

Vị trí địa lý của thành phố là một thế mạnh tạo cho thành phố những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền sản xuất hàng hóa với những ngành kinh tế mũi nhọn đặc thù, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,

mở rộng liên kết kinh tế giữa các huyện, thị trong tỉnh cũng như các tỉnh, thành trong

cả nước

I.3 Tình hình phát triển kiến trúc xanh trên thế giới và ở Việt Nam

I.3.1 Tình hình phát triển kiến trúc xanh và công trình xanh trên thế giới

Kiến trúc xanh trên thế giới có lịch sử phát triển từ khá lâu đời, nhưng mới chỉ trở thành trào lưu thực sự trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây Xu hướng này được khởi xướng từ năm 1990 bởi tổ chức Nghiên cứu Xây dựng Anh (BRE) và một số tổ chức nghiên cứu tư nhân cùng đưa ra phương pháp đánh giá môi trường đối với công

Trang 25

22

trình, được gọi là BREEAM với mục đích chỉ đạo thực tiễn xây dựng công trình xanh một cách có hiệu quả để giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động xây dựng đối với môi trường khu vực và toàn cầu

Năm 1991, do sáng kiến của một số nhà đầu tư tư nhân, Hoa Kỳ đã thiết kế và hiện thực hóa một số ngôi nhà có chất lượng môi trường tốt và sử dụng tiết kiệm năng lượng Chúng đã trở thành hình mẫu về công trình xanh, thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia xây dựng, kiến trúc và môi trường của Hoa Kỳ Đến năm 1993, các chuyên gia này đã phối hợp với nhau thành lập Hội đồng Công trình Xanh của Mỹ (USGBC), đề ra bộ tiêu chí đánh giá và công nhận Công trình Xanh theo các mức khác nhau, được gọi là “Chỉ dẫn thiết kế môi trường và năng lượng”, viết tắt là LEED

Nhận thấy những lợi ích thiết thực về môi trường, từ năm 1998 nước láng giềng của Mỹ là Canada cũng bắt đầu phát triển công trình xanh và thu được những kết quả khả quan Phong trào xây dựng xanh từ Anh, Mỹ, Canada sau đó đã lan rộng ra rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu và Châu Á

Đến nay, trên thế giới đã có khoảng gần 100 nước triển khai phát triển công trình xây dựng xanh của mình Năm 2002 Hội đồng Công trình Xanh thế giới (WGBC) được thành lập, đặt trụ sở tại Canada Phần lớn Hội đồng Công trình Xanh của các quốc gia là tổ chức phi chính phủ, chỉ một số ít là tổ chức chuyên môn thuộc chính quyền nhà nước Ở hầu hết các nước có Hội đồng Công trình Xanh đều đã ban hành các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia về “Công trình xây dựng hiệu quả năng lượng”, đây là một cơ sở pháp lý quan trọng, làm căn cứ trong việc đánh giá, công nhận công trình xanh

Tại Mỹ, theo ông Richard Fedrizzi - Chủ tịch USBGC, thì 200 dự án đầu tiên được nhận chứng chỉ công trình xanh đã giảm được khoảng 30% nước cấp và 30 - 50% năng lượng tiêu thụ Sau đó, quốc gia này có sự phát triển nhảy vọt về Công trình Xanh, đến năm 2000 mới có 1500 tòa nhà được cấp chứng chỉ công trình xanh nhưng đến năm 2006 con số này đã lên tới 5000 công trình với tổng diện tích sử dụng là 50

Hiệu quả của chương trình phát triển Công trình Xanh của Mỹ được Jerry Yudelson tổng kết như sau:

- Giảm chi phí bảo dưỡng 10-15% đặc biệt về vận hành năng lượng

- Năng suất lao động tăng 3-5%

- Nguy cơ bệnh tật giảm >5%, nâng cao sức khỏe người sử dụng

- Giá trị công trình tăng, thương hiệu Công ty xây dựng nổi bật

- Công trình xanh là cam kết bảo đảm bền vững về môi trường

Trang 26

23

Tại Canada, trước khi hệ thống LEED - Canada ra đời, đã có 17 công trình được nhận chứng chỉ LEED của Mỹ Đến đầu năm 2007, có 420 dự án đăng ký nhận chứng chỉ LEED Canada Với dân số chỉ bằng 1/10 dân số Mỹ, nhưng số lượng các

dự án của Canada đăng ký nhận chứng chỉ xấp xỉ với Mỹ Riêng năm 2007, quốc gia này có hơn 60 công trình được cấp chứng chỉ công trình xanh cả của Mỹ và Canada,

Bạch kim đầu tiên đã sử dụng hệ thống sưởi địa nhiệt của nước biển và các tấm quang điện cung cấp 20% nhu cầu năng lượng hàng năm của Trung tâm

Tại Australia, năm 2007 có 2 công trình được nhận chứng chỉ “6 sao xanh” (tương đương Công trình xanh Bạch Kim theo hệ thống LEED), và 1 công trình nhận chứng chỉ “5 sao xanh” (tương đương Công trình xanh Vàng), đều nằm ở thành phố Melbourne Tòa nhà Hội đồng Thành phố CH2 (6 sao xanh) có diện tích xấp xỉ 13.000

nắng một cách hiệu quả cho công trình Tòa nhà này còn tái sử dụng nước thải để sử dụng cho hệ thống vệ sinh – đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với vùng khí hậu khô hạn như Melbourne nói riêng và Australia nói chung Đến đầu năm 2007 có hoảng 100

dự án Australia đăng ký nhận chứng chỉ sao xanh Cũng trong năm 2007, Cơ quan thương mại Úc đã xếp hạng hoạt động Công trình Xanh của các quốc gia theo điểm

số, điểm càng cao thể hiện sự hoạt động càng mạnh mẽ Theo đó, đứng đầu là Mỹ, sau đó là Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc, Úc, New Zealand, Ấn Độ…

Tại Trung Quốc, vấn đề tiết kiệm năng lượng trong các công trình được chú trọng và là mục tiêu hàng đầu của công trình xanh Năm 2004 Trung Quốc mới có các

dự án đầu tiên được nhận chứng chỉ công trình xanh cơ bản Nhưng quốc gia này đã bày tỏ tham vọng trong việc phát triển kiến trúc và đô thị xanh với Dự án Thành phố sinh thái Dongtan 3 triệu dân (cạnh Thượng Hải), được hi vọng sẽ là thành phố đầu

tiên trên thế giới không dùng năng lượng hóa thạch Đây là thành phố “không carbon”

với các giải pháp: thu gom và làm sạch nước, sưởi ấm bằng năng lượng mặt trời, gió

và sinh học, không phát sinh bụi Nước tiêu thụ giảm bớt 43%, 88% nước thải được tái sử dụng, giảm 64% tiêu thụ năng lượng, mỗi năm giảm 350.000 tấn khí thải CO2 Theo tính toán, công trình Xanh sẽ chiếm khoảng 2% thị trường công trình thương mại mới ở Trung Quốc vào năm 2012 Đây là con số rất lớn vì gần một nửa số tòa nhà của thế giới được xây dựng tại Trung Quốc trong khoảng thời gian 2005-2015

Tại Ấn Độ, năm 2004 Trung tâm thương mại sinh thái CII - Sohrabji Godrej với

Kim theo hệ thống LEED của Mỹ Nhưng đến năm 2005, Ấn Độ đã có tới 40 công trình được cấp chứng chỉ công trình xanh Năm 2007, Hội đồng Công trình xanh Ấn Độ công bố Hệ thống đánh giá công trình xanh của mình, tham khảo từ LEED của Mỹ, và phấn đấu để một năm sau có 100 công trình (diện tích trung bình mỗi công trình là

Trang 27

24

I.3.2 Tình hình phát triển kiến trúc xanh và công trình xanh ở Việt Nam

Ngày 3/9/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định 102/2003/NĐ-CP về việc “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” Bộ Xây dựng, với sự hỗ của nhóm Tư vấn

quốc tế Derenger - Hoa Kỳ đã biên soạn và ban hành QCXDVN 09: 2005/BXD, Quy chuẩn xây dựng - Các công trình xây đựng sử dụng năng lượng có hiệu quả được ban hành tháng 11/2005 Hiện nay QCXDVN 05:2005 đã được thay thế bởi QCXDVN 09:2013/BXD Đây là văn bản pháp quy kỹ thuật quy định các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải tuân thủ khi thiết kế và sử dụng các thiết bị trong nhà QCXDVN 09 có thể

sẽ là điều kiện tiên quyết và tối thiểu để một công trình xây dựng được công nhận là công trình xanh ở Việt Nam, bởi sử dụng năng lượng hiệu quả cũng là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của bộ tiêu chí công trình xanh

Năm 2006, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Từ năm 2005 ASEAN đã tổ chức cuộc thi hàng năm về “Công trình sử dụng năng lượng hiệu quả” Những tòa nhà đoạt giải sẽ được tham gia dự thi và quảng bá

hình ảnh trong khối ASEAN qua thương hiệu “Green Building” (Tòa nhà xanh) Năm

2006, khách sạn Continental, thành phố Hồ Chí Minh, đoạt giải “Công trình sử dụng năng lượng hiệu quả”; Năm 2007 là tòa nhà Diamond Plaza, thành phố Hồ Chí Minh,

đoạt giải

Để khuyến khích và thúc đẩy phát triển phong trào “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong tòa nhà”, năm 2012 Bộ Xây dựng đã tổ chức cuộc thi “Công trình kiến trúc tiết kiệm năng lượng” Đây là cuộc thi được tổ chức lần đầu tiên ở nước

trình kiến trúc hiệu quả năng lượng đã được Ban Tổ chức cuộc thi trao giải thưởng tại

Bộ Xây dựng ngày 28/3/2013

Hiện nay, Bộ Xây dựng cũng đang nghiên cứu xây dựng Chiến lược Quốc gia

về phát triển công trình xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

Năm 2005, Hội đồng Công trình xanh Việt Nam (VGBC) do một nhóm người

Mỹ và Việt kiều ở Mỹ đứng ra thành lập và được Quỹ Thành phố Xanh của Bang California, Mỹ tài trợ Như vậy VGBC thực chất là một tổ chức phi chính phủ (NGO) của nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Từ năm 2007 đến nay VGBC đã hoạt động rất tích cực Sau khi nghiên cứu, phân tích, tham khảo các bộ tiêu chí công trình xanh của một số nước, như là LEED (Hoa Kỳ), GBI (Malaysia), Green Star (Úc), cùng với việc cân nhắc đến điều kiện cụ thể của Việt Nam, VGBC đã xây dựng được bộ công

cụ LOTUS đánh giá và công nhận công trình xanh cho Việt Nam VGBC đã công bố 3 tài liệu hướng dẫn kỹ thuật sử dụng công cụ LOTUS: đối với công trình nhà ở, đối với công trình phi nhà ở và đối với công trình hiện hữu VGBC đã tổ chức nhiều lớp tập huấn về công trình xanh, cho đến nay đã đào tạo được 71 chuyên gia tư vấn LOTUS

Có thể đánh giá VGBC là tổ chức có công đầu tiên truyền bá phát triển công trình xanh

Trang 28

25

ở nước ta Tuy vậy, do là một tổ chức NGO của nước ngoài, nên có một số tiêu chí công trình xanh, cũng như quy trình và thủ tục đánh giá, cấp chứng chỉ công trình xanh chưa hoàn toàn phù hợp với điều kiện của Việt Nam Cho đến nay chỉ có một số ít dự

án đầu tư có yếu tố nước ngoài đăng ký chứng chỉ LOTUS như: nhà máy Việt Nam Mộc Bài - Tây Ninh, Dự án tòa nhà Xanh One - Liên Hợp Quốc - Hà Nội, Văn phòng

và nhà máy Mainetti, Trung Tâm thương mại Big C - Hạ Long, Trung tâm thương mại Big C Green Square, Trường mầm non Thế giới Xanh Pou chen…

Tuy vậy, sự lan tỏa của trào lưu phát triển công trình xanh từ Hoa Kỳ vào Việt Nam không chỉ do sự đóng góp của VGBC, mà còn chính do Hội đồng Công trình Xanh Hoa Kỳ (USGBC) trực tiếp tiến hành xét công nhận công trình xanh ở Việt Nam Hai công trình ở miền Nam nước ta đã được USGBC cấp chứng chỉ LEED Vàng vào

cuối năm 2012 Đó là Trụ sở Công ty TNHH Intel Products Việt Nam, (TP Hồ Chí Minh)

và trụ sở Công ty TNHH Chang Shin Việt Nam (Đồng Nai)

Nhằm thúc đẩy việc phát triển nền kiến trúc Việt Nam thân thiện với môi trường, phù hợp xu thế phát triển bền vững”, thực hiện Tuyên ngôn “Kiến trúc Xanh Việt Nam” được công bố ngày 27/4/2011, Hội Kiến trúc sư Việt Nam đã ban hành 5 tiêu chí Kiến

trúc xanh Tiêu chí KTXVN được áp dụng đối với:(a) Các công trình kiến trúc, khu đô

thị xây mới, cải tạo, nâng cấp, chỉnh trang; (b) Các đồ án thiết kế kiến trúc, quy hoạch

đô thị nông thôn được cấp thẩm quyền phê duyệt, đã và đang được thực hiện Điểm đặc biệt là Hội Kiến trúc sư Việt Nam khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân có các hoạt động liên quan đến phát triển kiến trúc, đô thị bền vững có thể áp dụng các tiêu chí Kiến trúc Xanh Việt Nam mà không kèm theo bất cứ điều kiện hoặc cam kết nào

Năm 2014, Hội Môi trường Xây dựng Việt Nam cũng đã cho ra đời Bộ công cụ đánh giá CTX Việt Nam (Bản 1.0/2014), tuy nhiên cho tới nay công cụ này mới chỉ được áp dụng đánh giá thành công cho một công trình là tòa nhà chung cư Thăng Long Number One

Mới đây Tổ chức Tài chính quốc tế IFC cũng đã nghiên cứu và công bố hệ tiêu chí đánh giá công trình sử dụng tài nguyên hiệu quả EDGE Hệ thống chứng chỉ EDGE (Excellence in Design for Greater Efficiencies) của IFC là hệ thống chứng chỉ tự nguyện mang tính toàn cầu cho công trình sử dụng tài nguyên hiệu quả, đưa đến những giải pháp kỹ thuật xanh, đồng thời có khả năng giảm chi phí đầu tư và tiết kiệm của công trình

Về phía Bộ Xây dựng dự kiến trong thời gian sắp tới sẽ ban hành thông tư hướng dẫn quy trình chứng nhận và hệ thống tiêu chí chứng nhận Công trình xanh, với các trọng số cụ thể và Bộ Xây dựng sẽ là cơ quan cấp chứng nhận Công trình xanh Trước đó một đơn vị tư vấn sẽ được chọn để xem xét sự phù hợp của công trình đối với hệ thống tiêu chí được quy định trong thông tư Sau đó, hội đồng khoa học của Bộ Xây dựng sẽ xem xét, thẩm định lại lần cuối trước khi cấp chứng nhận Công trình xanh chính thức

Trang 29

26

Như vậy, có thể thấy rằng phát triển công trình xanh ở nước ta đang trong giai đoạn khởi động với một số động thái khá tích cực của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước Tuy nhiên, phát triển công trình xanh chủ yếu mới được thực hiện tại 2 thành phố lớn như TP Hồ Chí Minh và Hà Nội và cũng chưa trở thành trào lưu thực

sự như ở nhiều quốc gia khác Tại các thành phố nhỏ, vấn đề này còn trầm lắng hơn

và chưa được quan tâm một cách thực sự

I.3.3 Tình hình phát triển kiến trúc xanh và công trình xanh tại TP Hà Tĩnh

Cũng giống như đa số các thành phố tỉnh lẻ khác, việc phát triển kiến trúc xanh, công trình xanh tại TP Hà Tĩnh còn tương đối hạn chế Một phần do chưa được định hướng bởi Chiến lược Quốc gia về phát triển công trình xanh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, bởi văn bản này còn đang trong giai đoạn dự thảo, một phần do các chủ đầu tư và nhà thiết kế chưa nhận thức đúng đắn về vai trò và trách nhiệm phát triển kiến trúc xanh nhằm hướng tới một tương lai bền vững chung

Tuy nhiên, TP Hà Tĩnh cũng đã bắt đầu có một vài điểm sáng với sự xuất hiện của một số công trình kiến trúc tiệm cận được các tiêu chí của kiến trúc xanh Tiêu biểu trong số đó là Trụ sở Ban điều phối dự án IWMC và ngôi nhà ruộng bậc thang do Công ty H&P Architects thiết kế Những công trình này đã tận dụng được những ưu thế và hạn chế được những bất lợi của điều kiện khí hậu địa phương, từ đó tạo ra môi trường sống tiện nghi mà không cần tiêu tốn nhiều năng lượng để làm mát và chiếu sáng

Với những khởi đầu đáng khích lệ đó, Hà Tĩnh được hi vọng sẽ là một trong những thành phố đi đầu trong phát triển kiến trúc xanh và công trình xanh ở Việt Nam trong tương lai không xa

1.4 Hệ thống tiêu chí đánh giá kiến trúc xanh và công trình xanh trên thế giới

1.4.1 Hệ thống đánh giá LEED - Mỹ

LEED (Leadership in Energy and Environmental Design - tạm dịch: Định hướng

Thiết kế về Năng lượng và Môi trường) là hệ thống tiêu chuẩn quốc tế về kiến trúc xanh, được công nhận và thẩm định cho những công trình kiến trúc, cung cấp cho bên thứ ba và chứng nhận rằng một tòa nhà hoặc một sở hữu công cộng được thiết kế và xây dựng dựa theo những tiêu chuẩn hướng đến việc cải thiện hiệu suất, kết hợp với các tiêu chuẩn về tiết kiệm năng lượng, hiệu quả thoát nước, giảm lượng khí thải C02, nâng cao chất lượng môi trường sống, nâng cao khả năng quản lý nguồn tài nguyên

và khả năng linh hoạt của công trình trong việc thích ứng với sự thay đổi

Được phát triển bởi US Green Building Council – Hội đồng công trình Xanh Hoa

Kỳ (USGBC), LEED cung cấp cho các chủ sở hữu, cũng như các nhà quản lý cơ sở vững chắc để xác định và thực hiện các giải pháp “kiến trúc xanh” đạt tiêu chuẩn và

Trang 30

27

khả thi như thiết kế, thi công, vận hành, bảo hành LEED là tiêu chuẩn rất thuyết phục bởi sự linh hoạt vì nó dễ dàng áp dụng cho tất cả các loại công trình – từ công trình thương mại cho đến dân cư Nó hoạt động trong suốt quá trình xây dựng – thiết kế và xây dựng, vận hành và bảo trì LEED mở rộng các lợi ích của mình vượt khỏi những lĩnh vực xây dựng đặc thù, lạc hậu để đưa con người vào quá trình phát triển của kiến trúc, xây dựng và công nghệ mới

LEED trong Thiết kế xây dựng: Hệ thống LEED được áp dụng để đánh giá cho

nhiều ngành nghề khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi báo cáo này chỉ tập trung những tiêu chuẩn đặc trưng cho ngành Kiến trúc và Xây dựng dựa vào sáu tiêu chí dưới đây

để đánh giá một công trình kiến trúc xanh:

1 Thiết kế địa điểm bền vững

2 Sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước

3 Năng lượng với môi trường

4 Vật liệu và tài nguyên

5 Chất lượng môi trường trong không gian bên trong nhà

6 Thiết kế có tính đổi mới

Hình 1: Hệ thống tiêu chí đánh giá của LEED

Trang 31

28

Bảng 1: Chi tiết điểm và hạng mục trong tiêu chuẩn LEED cho công trình xây dựng mới và cải tạo lớn

Trang 32

29

I.4.2 Hệ thống đánh giá CASBEE - Nhật Bản

Hình 3: Hệ thống đánh giá và trọng số của CASBEE

Hệ tiêu chí công trình xanh CASBEE (Nhật Bản) bao gồm 6 nhóm sau:

(1) Chất lượng môi trường trong công trình:

Môi trường âm thanh (tiếng ồn trong phòng, giảm ồn ở các không gian mở, cách âm, hút âm ở vỏ công trình); tiện nghi nhiệt (kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió trong phòng, cách nhiệt ở vỏ công trình, phân khu sử dụng trong công trình, điều hòa không khí); chiếu sáng (chiếu sáng tự nhiên, chống chói lóa, chiếu sáng điện); chất lượng không khí (chống ô nhiễm hóa chất, amiăng, bụi), thông gió (hệ số thông gió tự nhiên, xuyên khí qua vỏ công trình, sơ đồ cấp không khí, kiểm soát hút thuốc lá);

(2) Chất lượng phục vụ của công trình:

a) Khả năng phục vụ (tổ chức không gian chức năng hợp lý trong công trình,

áp dụng hệ thống thông tin tiên tiến…); tiện ích, tiện nghi (tầm nhìn và cảm nhận cảnh quan xung quanh, không gian thư giãn, quy hoạch trang trí); quản lý duy

tu, bảo dưỡng, an toàn;

b) Tính bền vững và độ tin cậy (chống động đất); tuổi thọ phục vụ của các bộ phận nhà (vật liệu, khung kết cấu, thay đổi nội thất, bố trí thay đổi hệ thống thông gió và điều hòa không khí, sửa chữa hệ thống cấp nhiệt, cấp gas, cấp nước và thoát nước, nước mưa);

c) Tính mềm dẻo và tính đáp ứng của công trình

Trang 33

30

(3) Môi trường ngoài nhà tại địa điểm xây dựng:

Bảo tồn và phát triển sinh vật trên bề mặt tại địa điểm xây dựng, tạo phong cảnh

và cảnh quan đô thị, phát triển không gian cây xanh và tiện ích ngoài nhà, cải thiện môi trường nhiệt tại địa điểm xây dựng

(4) Tiết kiệm năng lượng:

Giảm tải trọng nhiệt của công trình, tận dụng năng lượng tự nhiên (sử dụng năng lượng tự nhiên, như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt ), sử dụng năng lượng tái tạo; nâng cao hiệu suất sử dụng của các hệ thống thiết bị phục vụ trong công trình, như là hệ thống cấp nhiệt, gas, thông gió, điều hòa không khí, hệ thống chiếu sáng điện, hệ thống cấp nước nóng, thang máy (5) Tiết kiệm tài nguyên và vật liệu:

Tài nguyên nước (tiết kiệm nguồn nước, hệ thống sử dụng nước mưa, hệ thống tái sử dụng nước xám); Giảm thiểu sử dụng tài nguyên không tái tạo (giảm thiểu

sử dụng vật liệu xây dựng, tiếp tục sử dụng các kết cấu hiện có, tái sử dụng các vật liệu xây dựng, sử dụng gỗ khai thác từ rừng phát triển bền vững); tránh

sử dụng các vật liệu chứa chất độc hại, vật liệu dễ cháy

(6) Môi trường xung quanh:

địa phương (ô nhiễm không khí, đảo nhiệt, ồn, rung, mùi), tải trọng lên hệ thống

hạ tầng kỹ thuật đô thị (giảm thiểu lưu lượng nước mưa chảy tràn, nước thải, tải trọng xử lý nước thải, kiểm soát ô nhiễm giao thông), phá hoại của gió bão, thiêu nóng của bức xạ mặt trời, chói lóa từ bề mặt tường ngoài của công trình

I.4.3 Hệ thống đánh giá Green Mark - Singapore

Hệ tiêu chí công trình xanh Green Mark của Singaporechủ yếu phù hợp với thị trường xây dựng tại các nước phát triển Green Mark có hiệu lực từ ngày 1 tháng 12 năm 2010, bao gồm 5 nhóm chỉ tiêu sau:

(1) Hiệu quả năng lượng:

Thiết kế nhiệt kỹ thuật đối với vỏ công trình, hệ thống điều hòa không khí, thông gió tự nhiên, thông gió cơ khí, chiếu sáng tự nhiên, chiếu sáng điện, thông gió phòng chung, thang máy, các thiết bị đặc thù khác, sử dụng năng lượng tái tạo (2) Hiệu quả sử dụng nước:

Sử dụng nước vừa đúng, chống rò rỉ, thất thoát nước, hệ thống tưới tiêu vườn cảnh tiết kiệm và tiêu hao nước của tháp làm lạnh

(3) Bảo vệ môi trường:

Xây dựng bền vững, sản phẩm bền vững, điều kiện sống xanh, thực tế quản lý môi trường, giao thông xanh, làm lạnh, quản lý nước mưa

Trang 34

31

(4) Chất lượng môi trường trong nhà:

Tiện nghi nhiệt, mức ồn, chất ô nhiễm không khí trong nhà, quản lý chất lượng không khí trong nhà, các ballast tần số cao

(5) Các đặc thù xanh khác và những điều sáng tạo mới mẻ của công trình

Các hạng mục công trình áp dụng Green Marks:

I.4.4 Hệ thống đánh giá Green Building Index (GBI) - Malaysia

Green Building Index (GBI) là công cụ đánh giá công trình xanh được công nhận bởi Malaysia với mục đích thúc đẩy tính bền vững trong môi trường xây dựng và nâng cao nhận thức cho các nhà phát triển, kiến trúc sư, kỹ sư, nhà quy hoạch, nhà thiết kế, nhà thầu và công chúng về các vấn đề môi trường và trách nhiệm của loài người đối với các thế hệ tương lai Công cụ xếp hạng GBI cung cấp cơ hội cho các nhà phát triển và chủ sở hữu tòa nhà thiết kế và xây dựng các tòa nhà xanh, bền vững hơn, thể hiện qua việc: tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nước, môi trường trong lành, kết nối tốt hơn với giao thông công cộng, tái chế tốt hơn và nhiều cây xanh hơn

GBI được phát triển đặc biệt cho điều kiện của Malaysia như khí hậu nhiệt đới, môi trường và bối cảnh phát triển, nhu cầu văn hoá và xã hội GBI được tạo ra để:

chuẩn đo lường chung;

lai, các tòa nhà hiện có được nâng cấp và sửa lại để nâng cao chất lượng tổng thể

Trang 35

32

Các tiêu chí đánh giá chính của GBI:

(1) Hiệu quả năng lượng (EE): Cải thiện tiêu thụ năng lượng bằng cách tối ưu hóa định hướng xây dựng, giảm thiểu sự gia nhiệt bằng năng lượng mặt trời Thông qua việc xây dựng vỏ bọc công trình, tận dụng ánh sáng tự nhiên, áp dụng các phương pháp tốt nhất trong xây dựng các dịch vụ bao gồm sử dụng năng lượng tái tạo và đảm bảo kiểm tra tính hợp lý trong vận hành và bảo dưỡng định kỳ (2) Chất lượng môi trường trong nhà (EQ): Đạt được chất lượng tốt trong các tiện nghi trong nhà như không khí, âm thanh, thị giác và nhiệt Sử dụng vật liệu hợp chất hữu cơ bay hơi thấp, ứng dụng các phương pháp lọc không khí để đảm bảo chất lượng không khí, kiểm soát một cách thích hợp nhiệt độ, sự dịch chuyển và độ ẩm không khí

(3) Quy hoạch khu đất và quản lý bền vững (SM): Lựa chọn những địa điểm thích hợp cho xây dựng với quy hoạch tiếp cận với giao thông công cộng, cộng đồng, dịch vụ, không gian mở và cảnh quan Tránh hoặc bảo tồn một cách thân thiện môi trường các khu vực nhạy cảm thông qua việc tái phát triển các khu vực hiện có và các khu “đất xám” “đất nâu” Thực hiện quản lý xây dựng thích hợp, quản lý nước mưa và giảm sự quá tải cho cơ sở hạn tầng hiện có

(4) Vật liệu & tài nguyên (MR): Thúc đẩy việc sử dụng các vật liệu thân thiện với môi trường có nguồn gốc bền vững và nguồn gốc tái chế Thực hiện quản lý chất thải xây dựng một cách phù hợp trong các khâu lưu trữ, thu thập và tái sử dụng các vật liệu, ván khuôn và chất thải

(5) Sử dụng nước hiệu quả (WE): Thu nước mưa, tái chế nước và các áp dụng các thiết bị tiết kiệm nước

(6) Sáng tạo (IN): Sáng kiến thiết kế và sáng kiến khác đáp ứng các mục tiêu của GBI

Hình 4: Bảng phân bố điểm cho công trình nhà ở và phi nhà ở của GBI

Trang 36

I.4.5 Hệ thống đánh giá EDGE của IFC – World bank

Hình 5: Chu trình kiểm tra, đánh giá và cấp chứng chỉ của EDGE

Chứng chỉ EDGE (Excellent Design for Greater Efficiencies) là một hệ thống chứng nhận công trình xanh dành cho các thị trường mới nổi như cho các nước đang

Trang 37

34

phát triển trên thế giới bao gồm cả Việt Nam EDGE được phát triển bởi IFC, thành viên của Nhóm Ngân hàng Thế giới EDGE đánh giá việc sử dụng tài nguyên hiệu quả, giúp tiết kiệm năng lượng, nước và năng lượng dùng để sản xuất vật liệu xây dựng công trình, qua đó giúp giảm phát thải khí nhà kính Hệ thống chứng chỉ giúp đưa ra các giải pháp thiết kế kỹ thuật hiệu quả cho công trình với những tính toán chi phí đầu tư và mức tiết kiệm tương ứng để chủ đầu tư lựa chọn mức độ “xanh” của công trình EDGE là một công cụ định lượng giúp tối ưu hóa thiết kế, từ đó cho ra những sản phẩm đáng để đầu tư, cũng như có tính thương mại cao Đằng sau động lực về tài chính, EDGE mang lại những kết quả tích cực đối với môi trường, EDGE góp phần ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua việc khuyến khích sử dụng tài nguyên hiệu quả trong thiết kế công trình không chỉ cho nhà ở mà còn cho khách sạn, trung tâm thương mại, bệnh viện và văn phòng EDGE được đổi mới liên tục để bảo đảm nhà đầu tư luôn đi tiên phong trong xu thế công trình xanh hiện nay

EDGE được đánh giá dựa trên các 3 tiêu chí chính là năng lượng, nước, vật liệu Quy trình chứng nhận bắt đầu ngay từ giai đoạn thiết kế, với việc nhập thông số

dự án vào phần mềm EDGE và lựa chọn các giải pháp xanh Dự án đạt tiêu chuẩn EDGE phải cải thiện được ít nhất 20% mức tiêu thụ năng lượng, nước, vật liệu so với công trình điển hình tại tỉnh/thành phố đó Nếu đạt được mức cải thiện này thì dự án

sẽ đủ điều kiện để đăng ký cấp chứng chỉ

I.5 Hệ thống tiêu chí đánh giá kiến trúc xanh và công trình xanh ở Việt Nam

I.5.1 Tiêu chí đánh giá LOTUS - Việt Nam 2013

LOTUS là là hệ thống đánh giá công trình xanh mang tính tự nguyện theo định hướng thị trường do Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC) xây dựng riêng cho lĩnh vực môi trường xây dựng của Việt Nam.Hệ thống Đánh giá LOTUS được xây dựng dựa trên các hệ thống đánh giá công trình xanh quốc tế khác nhau

VGBC đã phát triển Hệ thống Chứng nhận LOTUS với sự cân nhắc đến toàn

bộ các loại hình dự án xây dựng, cũng như đã tạo ra các Hệ thống Đánh giá LOTUS khác nhau tương ứng với các loại hình dự án

Hình 6: Khung phát triển công cụ LOTUS

Trang 38

35

5 hệ thống đã hoàn thiện:

triển, được sử dụng để đánh giá các công trình phi nhà ở xây mới hoặc cải tạo quy mô lớn

công trình chung cư xây mới hoặc cải tạo quy mô lớn

các công trình đang được vận hành Trong khi LOTUS NR và MFR đánh giá công trình ở giai đoạn thiết thiết kế và xây dựng, LOTUS BIO tập trung vào quá trình quan trọng nhất của công trình: giai đoạn vận hành

công trình phi nhà ở xây mới hoặc cải tạo diện rộng với GFA < 2.500 m2

2 hệ thống đang được hoàn thiện:

dự án thi công nội thất

đánh giá các dự án nội thất nhỏ phi thương mại như nhà ở gia đình

Hình 7: Bảy hệ thống đánh giá của LOTUS

Trang 39

36

LOTUS NR và MFR bao gồm 10 nhóm tiêu chí (gồm cả tiêu chí Sáng kiến) còn LOTUS BIO có 9 nhóm tiêu chí, giúp đánh giá công trình dựa trên một số điểm xác định Các nhóm tiêu chí đều được phát triển phù hợp với các nguyên tắc xây dựng xanh giúp sử dụng năng lượng và nước một cách hiệu quả, thân thiện với môi trường

và người sử dụng, đồng thời giảm thiểu lượng chất thải và ô nhiễm Mỗi nhóm tiêu chí

sẽ có các khoản mục với các tiêu chí tương ứng Trong đó mỗi tiêu chí đều được ấn định một số điểm nhất định Đối với các khoản mục có các tiêu chí là điều kiện tiên quyết thì công trình bắt buộc phải đáp ứng được các tiêu chí đó để được cấp chứng nhận LOTUS

Hệ thống 10 nhóm tiêu chí công trình xanh của LOTUS gồm có:

(1) Năng lượng: Giảm thiểu tiêu thụ năng lượng nhân tạo, tận dụng năng lượng

tự nhiên, năng lượng tái tạo;

(2) Nước: Tiết kiệm sử dụng nước, tận dụng nước mưa, tái sử dụng nước thải ; (3) Vật liệu: Tiết kiệm sử dụng vật liệu xây dựng, sử dụng vật liệu tái chế, vật liệu dễ chế tạo, vật liệu được tạo thành tiêu tốn ít năng lượng ;

(4) Sinh thái: Bảo vệ sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của việc xây dựng công trình đến hệ sinh thái xung quanh, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển thảm thực vật, trồng cây xanh trên mái và các tầng nhà;

(5) Chất thải & Ô nhiễm: Giảm thiểu chất thải và ô nhiễm môi trường, giảm thiểu

xả thải nước thải, chất thải rắn, khí thải, khuyến khích tái chế, tái sử dụng chất thải trong suốt quá trình xây dựng, và giai đoạn vận hành;

(6) Sức khỏe & Tiện nghi: Bảo đảm tiện nghi và sức khỏe, chất lượng không khí trong nhà, tiện nghi nhiệt, vi khí hậu, tiện nghi ánh sáng, tiện nghi ồn, rung; (7) Thích ứng & Giảm nhẹ: Thích ứng và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống úng ngập, bảo đảm công trình bền vững dưới tác động của bão tố, động đất, thảm họa thiên nhiên Công trình không gây ra hiệu ứng đảo nhiệt, khuyến khích người sử dụng công trình đi lại bằng xe đạp và sử dụng phương tiện giao thông công cộng, sử dụng vật liệu địa phương để giảm nhu cầu giao thông vận tải;

(8) Cộng đồng: Kết nối cộng đồng, tham vấn cộng đồng khi đầu tự xây dựng dự

án, kết nối với các tiện ích, cơ sở hạ tầng và dịch vụ sẵn có, có không gian phục vụ cộng đồng, tiện nghi cho người;

(9) Quản lý: Quản lý trong giai đoạn thiết kế công trình, trong giai đoạn thi công công trình và trong giai đoạn vận hành công trình đều là đảm bảo tối ưu hóa các hoạt động quản lý, khuyến khích áp dụng hệ thống quản lý môi trường; (10) Sáng kiến: Khuyến khích các sáng kiến mang lại lợi ích cho môi trường nằm ngoài các yêu cầu

Trang 40

37

Hình 8: Hệ thống 10 nhóm tiêu chí công trình xanh của LOTUS

Chứng nhận LOTUS bao gồm 4 mức: Chứng nhận, Bạc, Vàng, và Bạch kim, dựa trên tổng số điểm mà dự án đạt được Mỗi hệ thống đánh giá có số điểm quy định khác nhau (bao gồm cả điểm thưởng tại hạng mục Sáng kiến) Để đạt Chứng nhận LOTUS, dự án phải đáp ứng được toàn bộ các điều kiện tiên quyết và đạt ít nhất 40% tổng số điểm quy định

Có hai giai đoạn xét cấp chứng chỉ:

Hình 9: Các mức độ chứng nhận Công trình Xanh của LOTUS

Quy trình Chứng nhận áp dụng cho các Hệ thống Đánh giá LOTUS cơ bản bao gồm 6 bước sau:

cầu của LOTUS

Ngày đăng: 13/11/2017, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w