Đề xuất giải pháp biện pháp nâng cao độ bền bê tông và bê tông cốt thép của cống qua đê vùng biển phục vụ chương trình bảo vệ, củng cố và nâng cấp hệ thống đê biển hiện có từ Quảng Ninh
Trang 1Môc lôc
PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN 5
I.1 Tên dự án: 5
I.2 Cấp quyết định đầu tư: 5
I.3 Cơ quan quản lý dự án: 5
I.4 Khái quát chung về dự án: 5
I.5 Mục tiêu của dự án: 6
I.6 Phương pháp thực hiện dự án: 7
PHẦN II: THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI, ĐỊNH HƯỚNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC TỈNH THUỘC HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM 8
I Tổng quan khu vực nghiên cứu 8
II Thực trạng kinh tế xã hội và khai thác sử dụng tài nguyên ven biển 9
II.1 Dân cư 9
II.2 Cấu trúc lao động 11
II.3 Tình trạng thiếu việc làm 12
II.4 Trình độ lao động 13
II.5 Hiện trạng kinh tế 14
1 Đặc điểm cơ cấu kinh tế 14
2 Khai thác và sử dụng tài nguyên 15
III Định hướng phát triển 18
III.1 Vùng duyên hải Bắc Bộ: 18
III.2 Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ: 22
IV Quy hoạch phát triển các tỉnh, thành phố 23
1 Tỉnh Quảng Ninh: 23
2 Thành phố Hải Phòng: 25
3 Tỉnh Thái Bình: 27
4 Tỉnh Nam Định: 28
5 Tỉnh Ninh Bình: 29
6 Các tỉnh, thành phố từ Thanh Hóa đến Quảng Nam: 30
V Những thuận lợi và thách thức 39
PHẦN III: ĐÁNH GIÁ CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG DỰ ÁN 40
I Vùng biển Nam Định 40
I.1 Chế độ thủy triều: 40
I.2 Chế độ sóng gió 41
I.3 Nước dâng 43
I.4 Chế độ dòng chảy 45
II Vùng biển Hà Tĩnh 46
II.1 Thuỷ triều: 46
II.2 Chế độ sóng gió 47
II.3 Nước dâng: 49
Trang 2II.4 Dòng chảy ven bờ 50
PHẦN IV: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA CHẤT CÁC TUYẾN ĐÊ BIỂN TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM 51
I Khu vực Quảng Ninh 51
II Khu vực Hải Phòng 55
III Khu vực Thái Bình 56
IV Khu vực Nam Định 57
V Khu vực Ninh Bình 58
VI Khu vực Thanh Hóa 62
VII Khu vực Nghệ An 65
VIII Khu vực Hà Tĩnh 70
IX Khu vực Quảng Bình 73
X Khu vực Quảng Trị 73
XI Khu vực Thừa Thiên Huế 76
XII Khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng 77
PHẦN V: HỆ THỐNG ĐÊ VÀ CỐNG DƯỚI ĐÊ BIỂN 79
I Tổng quan khu vực dự án 79
II Hệ thống đê biển sau 5 năm thực hiện Chương trình đầu tư củng cố, bảo vệ và nâng cấp đê biển hiện có các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam 80
II.1 Tình hình thực hiện Chương trình từ năm 2006 đến nay 80
II.2 Nhận xét và đánh giá 83
II.3 Những công việc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục chỉ đạo thực hiện Chương trình 86
II.4 Giải pháp thực hiện đến năm 2015 87
III Cống qua đê 88
III.1 Tình hình chung về hệ thống cống qua đê biển các tỉnh từ Quang Ninh đến Quảng Nam 88
III.2 Hiện trạng các cống qua đê 90
1 Hiện trạng cống qua đê 90
2 Các nguyên nhân chính gây hư hỏng cống dẫn đến mất an toàn đê điều 99 3 Các dạng hư hỏng của cống qua đê 99
4 Một số trường hợp hư hỏng cống qua đê điển hình ảnh hưởng tới an toàn đê 100
PHẦN VI: KẾT QUẢ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CỐNG QUA ĐÊ BIỂN TỪ QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM 101
I Tiêu chí và phương pháp đánh giá kiểm tra 101
1 Kiểm tra cường độ bê tông cống (áp dụngTCXD VN239:2006) 101
2 Kiểm tra chiều dầy lớp bảo vệ (theo TCXD 240 : 2000) 102
3 Đo tốc độ ăn mòn cốt thép trong bê tông (TCXD VN 294:2003) 102
II Một số hỉnh ảnh trong quá trình kiểm tra đánh giá chất lượng công trình 104
III Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 109
III.1 Tỉnh Quảng Ninh 109
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 109
Trang 32 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 110 III.2 Thành phố Hải Phòng 112
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 112
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 112 III.3 Tỉnh Thái Bình 114
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 114
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 114 III.4 Tỉnh Nam Định 116
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 116
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 117 III.5 Tỉnh Ninh Bình 119
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 119
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 119 III.6 Tỉnh Thanh Hóa 121
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 121
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 121 III.7 Tỉnh Nghệ An 123
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 123
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 123 III.8 Tỉnh Hà Tĩnh 125
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 125
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 125 III.9 Tỉnh Quảng Bình 127
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 127
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 127 III.10 Tỉnh Quảng Trị 129
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 129
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 129 III.11 Tỉnh Thừa Thiên Huế 131
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 131
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư hỏng 131 III.12 Thành phố Đà Nẵng 133
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 133
Trang 42 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê có hiện tượng hư
hỏng 133
III.13 Tỉnh Quảng Nam 135
1 Kết quả điều tra đánh giá hiện trạng các cống qua đê 135
2 Kết quả kiểm tra đánh giá chất lượng 05 cống qua đê 135
IV Nhận xét chung 137
V Đề xuất giải pháp nâng cao độ bền công trình bê tông và bê tông cốt thép vùng biển việt nam 137
PHẦN VII : KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
Trang 5BÁO CÁO TỔNG HỢP
PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ DỰ ÁN I.1 Tên dự án:
Điều tra, đánh giá và đề xuất giải pháp cải tạo hệ thống cống qua đê biển
các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam
I.2 Cấp quyết định đầu tư:
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn
Căn cứ Quyết định số 200/QĐ-BNN-KH ngày 22/01/2009 của Bộ trưởng
Bộ Nông nghiệp & PTNT phê duyệt đề cương, tổng dự toán dự án; Quyết định
số 858/QĐ-BNN-KH ngày 26/3/2009 phê duyệt kế hoạch đấu thầu Dự án “Điều
tra, đánh giá và đề xuất giải pháp cải tạo hệ thống cống qua đê biển các tỉnh ven
biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam”)
I.3 Cơ quan quản lý dự án:
Cục Quản lý Đê diều và Phòng chống lụt bão
I.4 Khái quát chung về dự án:
Thực hiện Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/3/2006 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình bảo vệ, củng cố và nâng cấp các tuyến đê
biển hiện có từ Quảng Ninh đến Quảng Nam, những năm qua cùng với sự nỗ lực
của địa phương, Chính phủ đã hỗ trợ các tỉnh tập trung đầu tư để củng cố các
trọng điểm xung yếu, từng bước hoàn thiện hệ thống đê biển Tuy nhiên, việc
củng cố nâng cấp mới chỉ tập trung các trọng điểm vào đê
Những năm gần đây do tác động của sự biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm
diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, khó lường Bão và áp thấp nhiệt đới có
xu thế ngày càng gia tăng cả về tần suất và cường độ, hiện tượng nước biển dâng
ngày càng gia tăng, đe dọa ổn định của hệ thống đê biển, ảnh hưởng đến hoạt
động của nhiều cống qua đê
Đối với các vùng ven biển, khi các tuyến đê biển được nâng cấp, nâng
tầm lên một bước mới sẽ làm cho đê biển vững chắc hơn tạo tiền đề phát triển
kinh tế vùng ven biển Đặc biệt, định hướng phát triển kinh tế đối với các vùng
Trang 6ven biển nước ta hiện nay là chuyển đổi một phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp sang nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp để tăng hiệu quả kinh tế, khi đó các cống qua đê sẽ có vai trò quan trọng trong việc phục vụ sản xuất, cải tạo môi trường
Hệ thống cống qua đê biển có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế, xã hội vùng ven biển Theo thống kê, các tuyến đê biển, đê cửa sông trong vùng dự án hiện có khoảng 1000 cống qua đê với nhiệm vụ tiêu nước chống ngập lụt, lấy nước phục vụ sản xuất, đảm bảo thông thuyền, Hầu hết các cống
có kết cấu bê tông cốt thép hoặc đá xây, được xây dựng từ lâu Do thường xuyên chịu các tác động bất lợi từ biển như thủy triều lên xuống, sóng, gió, xâm nhập mặn; mặt khác do thiếu kinh phí nên công tác duy tu bảo dưỡng thường xuyên không đảm bảo nên bị xuống cấp, hư hỏng, không đảm bảo yêu cầu phòng chống bão, lũ, dẫn đến mất ổn định hệ thống đê điều Các sự cố, hư hỏng thường gặp của cống là hiện tượng xâm thực do tác động của thuỷ triều, nứt gãy do qúa tải trọng thiết kế,
Một số khu vực do thay đổi cơ cấu sản xuất, quy mô dân số, một số cống tuy chưa hết tuổi thọ nhưng hiện nay do quá trình mở rộng thân và mặt đê nên cống bị ngắn, nhiều vị trí và quy mô cống qua đê trước đây không còn phù hợp, nhiẹm vụ nhiều cống qua đê thay đổi nhiều do chuyển đổi cơ cấu sản xuất, cũng như quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Vì vậy việc điều tra đánh giá hệ thống cống qua đê biển và đề xuất giải pháp cải tạo nâng cấp là rất cần thiết và cấp bách
I.5 Mục tiêu của dự án:
Đánh giá thực trạng hệ thống cống qua đê biển các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam Đề xuất giải pháp biện pháp nâng cao độ bền bê tông và
bê tông cốt thép của cống qua đê vùng biển phục vụ chương trình bảo vệ, củng
cố và nâng cấp hệ thống đê biển hiện có từ Quảng Ninh đến Quảng Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg, đảm bảo hệ thống đê biển ổn định lâu dài, phù hợp với yêu cầu sản xuất, phát triển kinh tế xã hội của từng vùng
Trang 7I.6 Phương pháp thực hiện dự án:
Dự án sử dụng phương pháp nghiên cứu, đo đạc kiểm tra thực nghiệm kết hợp điều tra, thống kê, thu thập tài liệu Trong quá trình thực hiện đã chia thành nhóm để triển khai thực hiện dự án: Nhóm thực địa, nhóm phân tích xử lý nội nghiệp
Quá trình thực hiện dự án nhóm thực địa phối hợp với địa phương: Chi cục đê diều các tỉnh, Công ty khái thác công trình thủy lợi các tỉnh, UBND các huyện, các xã có tuyến đê biển đi qua Cụ thể thu thập các tài liệu liên quan đến
dự án đã có, cùng với địa phương xuống thực địa và triển khai nghiên cứu đo đạc kiểm tra hiện trạng các cống qua đê biển của toàn hệ thống thuộc dự án
Từ các tài liệu thu thập được, tổ chức tiến hành điều tra thực địa Các cán
bộ, tuỳ theo từng lĩnh vực chuyên môn được bố trí điều tra bổ sung các tài liệu còn thiếu, phát hiện các vấn đề mà tài liệu đã thu thập chưa đề cập tới
Việc điều tra thu thập tài liệu được thực hiện trên nguyên tắc tận dụng, kế thừa nguồn tài liệu đã có, tiến hành điều tra, thu thập bổ sung các tài liệu cơ bản, các tài liệu về hiện trạng, định hướng phát triển kinh tế xã hội trong vùng làm cơ
sở cho việc đánh giá hiện trạng và lập báo cáo phân tích,
Trang 8PHẦN II: THỰC TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI, ĐỊNH HƯỚNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÁC TỈNH THUỘC HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN TỪ
QUẢNG NINH ĐẾN QUẢNG NAM
Vùng ven biển chịu sự tác động tổng thể từ ba yếu tố cơ bản: đất liền, biển
cả và con người Hai yếu tố đầu là hai yếu tố bị chi phối chủ yếu bởi các quy luật tự nhiên và chúng cũng luôn thay đổi dưới tác động của loài người Con người chẳng những thông qua các hoạt động sinh kế và xã hội của mình luôn luôn thay đổi chính mình, chính cuộc sống, và xã hội của mình mà còn luôn tác động vào môi trường tự nhiên chung quanh mình làm cho chúng thay đổi theo Chính vì vậy để phát triển cũng như để quản lý sự phát triển sao cho sự phát triển ấy không làm tổn hại đến những lợi ích lâu dài và bảo đảm sự trường tồn của loài người thì chính phát triển con người và các cộng đồng xã hội của loài người mới là quan trọng nhất Đồng thời cũng chính các cộng đồng dân cư, xuất phát từ những nhu cầu thiết thân của họ sẽ tham gia một cách tích cực vào quá trình phát triển và quản lý, triển khai việc kiểm tra kiểm soát và giám sát việc thực hiện các kế hoạch phát triển và quản lý
I Tổng quan khu vực nghiên cứu
Khu vực từ Móng Cái đến Quảng Yên là dải đồng bằng duyên hải rất hẹp ngang nơi rộng nhất không quá 10 km Những đồng bằng này được cấu tạo chủ yếu từ phù sa cổ, cao hơn những bãi phù sa mới có khi đến 10m Chỉ ở trên thêm phù sa cổ mới có những điểm quần cư, nơi đây những cư dân ven biển canh tác trồng màu trên những cánh đồng, trông rừng bạch đàn hay sa mộc Các bãi bồi phù sa mới thì được san thành các ruộng cấy lúa, dải đồng bằng này kéo dài ra phía biển bằng các bãi triều trên có sú vẹt mọc thành rừng
Khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng chỉ còn lại một vùng cửa sông nơi mà tác động qua lại giữa dòng sông và biển quyết định sự hình thành các dạng địa hình quan hệ với biển Về mặt địa hình vùng phía đông tiếp giáp với bờ biển là vùng trẻ nhất về mặt địa chất và địa hình Đây là nơi rất thấp độ cao chỉ
từ 0 đến 2 mét nằm trong phạm vi tác động của thuỷ triều Nếu không có những con đê biển bảo vệ khu vực này sẽ không tránh khỏi bị ngập nước lúc triều lên Vùng trung tâm của đồng bằng có độ cao 2- 4 m đã thoát khỏi ảnh hưởng của các quá trình hình thành bờ biển Do hệ thống sông Thái Bình phân nhánh chi
Trang 9chít tạo thành các vùng đồng bằng thấp, các lạch ngang dọc chằng chịt, các cửa sông rộng dạng hình phễu (etchuye) nên ảnh hưởng của biển vào sâu và châu thổ hầu như không tiến ra hình thành các vùng dân cư ven biển Trái lại, các chi lưu của sông Hồng đầy ắp phù sa có sức bồi đắp mạnh có nơi tiến ra biển từ 80-100 m/năm như ở Kim Sơn (Ninh Bình) Do đó các quần cư trẻ hình thành dần theo năm tháng
Khu vực đồng bằng hạ lưu sông Mã, sông Cả cũng tương tự như đồng bằng sông Hồng khác chăng chỉ ở diện tích nhỏ hơn, đường viền núi gần hơn, bề mặt phù sa hạn chế hơn, nên các đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh kém bằng phẳng, nhiều đất cao, lắm đồi núi rải rác, các cồn cát ven biển phát triển Vì vậy ở những vùng này đất đai nghèo nàn hơn, dân cư sống dựa vào nghề nông cũng vì thế mà nghèo khó hơn
Từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân dải Trường Sơn Bắc ra sát biển và hướng núi chạy song song với bờ biển nên các đồng bằng ven biển không phát triển bề ngang, đồng thời lại phân chia thành từng vệt theo chiều dọc Ngoài cùng nơi sát biển là một vệt cồn cát Nhiều nơi trên dải cồn còn phát triển các đụn cát di động đang tiến từ ngoài biển vào bên trong lấn cả ruộng đồng Bên trong các dải cồn cát địa hình thường thấp trũng, sông ngòi chảy dùng dằng theo hướng các dải cồn để tìm lối thoát ra biển Ở những cửa sông có những vũng lầy nhỏ trên mọc
sú vẹt Với địa hình như vậy ở ven bờ biển dân cư thưa thớt, họ chỉ tập trung ở cửa các sông hoặc ở những cánh đồng phù sa tương đối cao để cấy lúa, làm vườn trồng cây ăn quả
II Thực trạng kinh tế xã hội và khai thác sử dụng tài nguyên ven biển
II.1 Dân cư
Dân cư - lao động là một trong những yếu tố cơ bản của kinh tế - xã hội,
là căn cứ cho việc hoạch định chính sách phát triển của vùng lãnh thổ nói chung
và các vùng ven biển nói riêng Dải ven biển có dân cư tập trung khá đông đúc
và mật độ dân số khá cao trung bình khoảng 369 người/km2 Song sự phân bố dân cư ở đây rất không đồng đều giữa các khu vực, chẳng hạn, từ Hải Phòng tới Ninh Bình mật độ trung bình là 981 người/km2, từ Thanh Hoá đển Thừa Thiên Huế 198 người/km2 Nếu xét riêng từng tỉnh, từng huyện thì cách biệt còn nhiều hơn nữa Thí dụ: Ven biển Quảng Ninh mật độ dân số là 398 ng/km2, ven biển
Trang 10Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình khoảng trên dưới 980 người/km2, Thanh Hóa mật độ dân số 310 người/km2, Quảng Bình – 100 người/km2, Quảng Trị - 125 người/km2,
Mật độ dân số cũng phân bố không đồng đều giữa các khu vực, dân cư tập trung chủ yếu ở thị xã, thành phố, nơi có hoạt động kinh tế và xã hội lâu đời, có
cơ sở hạ tầng tốt hơn so với các lãnh thổ khác Trong khi đó các huyện đảo, các huyện ven biển có mật độ dân cư rất thưa thớt Một sự khác biệt nữa trong sự phân bố dân cư của vùng là mật độ dân cư cao ở những khu vực dễ khai thác các tiềm năng tự nhiên, đó là các vùng có tài nguyên đất, nước, khí hậu, khoáng sản Còn những huyện miền núi có địa hình phức tạp thì mật độ dân số thấp Ví dụ như huyện Hải Hà của Quảng Ninh mật độ dân số chỉ có 95 người/km2 thì huyện Hải Hậu Nam Định mật độ dân số lên tới 1221 người/km2
Về tốc độ tăng dân số: Đây là vùng có tỷ lệ gia tăng dân số khá cao so
với cả nước Tỷ lệ gia tăng dân số khá cao một phần phụ thuộc vào mạng lưới y
tế ở các thành phố, thị xã đều có các bệnh viện, trung tâm y tế lớn, còn ở các địa phương (thôn, xã) đều có trạm y tế nhưng các trạm y tế này ít hoạt động và đang
bị xuống cấp Việc khám chữa bệnh và cấp thuốc, thực hiện các biện pháp sinh
đẻ có kế hoạch, ở các địa phương chưa được kịp thời và thường xuyên Nhưng thời gian gần đây mạng lưới y tế địa phương đã được chú trọng, việc tuyên truyền và tiến hành thực hiện chống các dịch bệnh, kế hoạch hoá gia đình, đã được phổ biến rộng rãi cho nên việc chăm lo sức khoẻ cho nhân dân đã được quan tâm Việc tăng nhanh dân số ở các vùng ven biển đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình sử dụng các diện tích đất hoang hoá và các tài nguyên khác nhau ở dải đất này ở những giai đoạn đầu việc tăng dân số đã kéo theo sự mở rộng nhanh chóng khu vự bãi bồi màu mỡ ở của sông lớn cho các cây trồng lương thực thực phẩm cây ăn quả và cây công nghiệp Việc lấn biển ngày càng được thực hiện mạnh mẽ và có hiệu quả hơn Các hệ thống đê bao chống mặn, hệ thống đồng ruộng làng mạc được xây dựng khắp nơi tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ổn định và tăng cường nơi cư trú Những làng mạc trù phú dần dần được hình thành lại làm tiền đề cho sự mở rộng các qui mô khai thác các vùng đất mới
Chính việc tăng cường số lượng định cư và sự hấp dẫn của nền kinh tế nông nghiệp ở các dải ven biển đã lôi cuốn con người vươn ra biển để đánh bắt
Trang 11hải sản Cùng với việc mở rộng sử dụng đất lập nên các quần cư ven biển của các làng xóm nông nghiệp những người đánh cá đã tụ hội về đây dựa vào những cộng đồng ven bờ để ra khai thác biển cả
Về giáo dục: Trong giáo dục mạng lưới trường lớp đã được đầu tư, đội
ngũ giáo viên cũng được bồi dưỡng nâng cao trình độ, vì vậy trẻ em trong độ tuổi đi học đến trường đã được tăng lên, tỷ lệ người không biết đọc, biết viết giảm đi Hiện tượng này góp phần nâng cao trình độ văn hoá chung, tăng chất lượng lao động của khu vực
II.2 Cấu trúc lao động
Nhìn chung, trong các vùng ven biển có nguồn nhân lực dồi dào và đa ngành, có thể sử dụng nguồn nhân lực vào nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó cho phép tạo điều kiện sử dụng lao động hợp lý với cơ cấu kinh tế xã hội đang được hình thành và phát triển
Số dân trong độ tuổi lao động ở vùng ven biển chiếm khoảng 50% (phản ánh số người dưới độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động sống dựa vào lao động chính tương đối lớn) Số lao động ở độ tuổi 15 - 44 chiếm tỷ lệ cao nhất và thấp dần ở độ tuổi 55 - 60, đặc biệt ở độ tuổi 15 - 24 số lao động chiếm tỷ lệ khá lớn ở hầu hết các vùng Cả hai khu vực nông thôn và thành phố đều có tỷ lệ lao động cao ở nhóm tuổi 15 – 24 và 25 - 34; trong đó cao nhất là nhóm tuổi từ 25 -
34 ở khu vực thành thị và nhóm tuổi từ 15 - 24 ở nông thôn Nhìn chung lao động nông thôn ở độ tuổi 15 - 24 là nguồn lao động chính Vì vậy, đào tạo chuyên môn
kỹ thuật, ứng dụng khoa học vào sản xuất là nhiệm vụ cần thiết của việc nâng cao chất lượng nguồn lao động - động lực quan trọng để phát triển xã hội
Trong số những người có việc làm thì tỷ lệ lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm phần lớn Mặc dù bình quân diện tích đất nông nghiệp cho một người lao động thấp nhưng nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế thu hút nhiều lao động nhất Lao động trong công nghiệp và xây dựng cơ bảnthường tập trung ở các tỉnh và thành phố công nghiệp, còn vùng ven biển khác chiếm tỷ lệ nhỏ Lao động trong nghành dịch vụ cũng chủ yếu tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn như: Lực lượng lao động nữ của khu vực chiếm khoảng 50% số người lao động,
Trang 12điều đó đặt ra vấn đề cần nghiên cứu tạo việc làm thích hợp và có chính sách chế
độ hợp lý đối với lao động nữ, nâng cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội
II.3 Tình trạng thiếu việc làm
Khi đất nước phát triển sang giai đoạn phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lực lượng lao động ở các vùng ven biển đứng trước nhiều thử thách, đặc biệt là tình trạng thiếu việc làm Số người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm khá đông Tình trạng thiếu việc làm, thu nhập quá thấp đã buộc nhiều người, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, phải đi tìm việc làm tại các khu đô thị Tình hình di chuyển lao động tự do từ nông thôn ven biển ra thành thị tìm việc làm diễn ra vời cường độ rất lớn, mục đích chủ yếu của họ là kiếm việc làm để có thu nhập cao hơn Điều này đã làm tăng thêm sức ép việc làm tại đô thị và nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp như nhà ở, đi lại, điện nước sinh hoạt và các tệ nạn xã hội Hiện trạng trên là hiện tượng tất yếu trong quan hệ cung cầu lao động dưới tác động của cơ chế thị trường trong hoàn cảnh còn có nhiều lao động ở các vùng ven biển chưa đủ việc làm, thu nhập quá thấp so với đô thị Vì vậy vấn đề tạo việc làm cho lao động ở các vùng ven biển sao cho phù hợp với tính chất và khả năng của người lao động cần được nghiên cứu và quan tâm hơn
Việc di dân đi kinh tế mới ra các bãi bồi, các vùng đất cát ở ngay trên quê hương mình đã tỏ ra phù hợp với tâm lý tình cảm và tập quán sinh hoạt sản xuất của người dân nơi đây hơn là đưa họ đi những vùng khác xa xôi Quá trình khai thác cạn kiệt tài nguyên thuỷ hải sản ven bờ trong thời gian qua đã bức bách người dân vùng ven biển một mặt phải tìm cách vươn ra xa bờ hơn nữa mặt khác buộc họ phải tìm cách tái tạo, bảo vệ và phát triển tài nguyên thuỷ sản ngay trên vùng bãi bồi, sử dụng các tài nguyên mới khám phá như đất cát, vũng vịnh , đầm phá vào nuôi trồng thuỷ sản
Sự phát triển của mạng lưới đô thị và các khu du lịch ở các vùng ven biển
đã thúc đẩy lại sự phân bố dân cư và cơ cấu lao động giữa thành thị và nông thôn Các tụ điểm dân cư này đang phát triển và có xu hướng ngày càng gia tăng Với quá trình đô thị hoá nên dân số thành thị tăng lên quá nhanh, song nó cũng là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Tại đây đã tạo ra một thị trường tiêu thụ hàng nông sản, cơ khí, hoá chất phục vụ nông nghiệp, các cơ quan, các
Trang 13trung tâm văn hoá nhờ vậy lao động được nâng cao về trình độ chuyên môn kỹ thuật thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Sự phát triển mạng lưới đô thị còn làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất, đất nông nghiệp giảm đi và đất thổ cư, đất chuyên dùng tăng lên do yêu cầu cải thiện cơ sở hạ tầng: nhà ở, đường giao thông, các công trình phục vụ dân cư xã hội, xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
II.4 Trình độ lao động
Mặc dù có lực lượng lao động đông đảo nhưng trình độ lao động còn bị hạn chế, thời gian rỗi còn nhiều Ngoài nghề chính là nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác hải sản còn có một số nghề khác như xây dựng, đan, thêu, kinh tế biển,
Trong mấy năm gần đây dưới tác động của kinh tế thị trường, đã từng bước tổ chức sắp xếp lại sản xuất nên trình độ lao động cũng được nâng cao Bước đầu người dân ở đây đã có kinh nghiệm trong kinh tế thị trường, mạnh dạn
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Phần lớn người dân ở đây vốn
có truyền thống cần cù ham học hỏi, có khả năng nắm bắt các tiến bộ về công nghệ và khoa học kỹ thuật Hệ thống dạy nghề, khuyến nông, khuyến ngư và hoạt động của các tổ chức xã hội như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh, … góp phần đào tạo và hướng dẫn việc làm cho người lao động
Những nơi có vị trí ở gần các trung tâm phát triển người dân có điều kiện tiếp thu nhanh những tiến bộ mới, cập nhật thông tin nhanh và đa dạng, đó là chưa kể đến việc giao lưu Quốc tế qua các cảng và khách du lịch nước ngoài làm cho dân cư nhiều vùng ven biển trở nên nhạy cảm hơn, năng động hơn Điều đó cho phép nâng cao trình độ văn hoá chung của người dân, mở mang dân trí và tạo nguồn lao động có chất lượng ngày càng cao ở dải ven biển Đáng lưu ý lao động nữ ở nông thôn ven biển có trình độ thấp, số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và trung học chuyên nghiệp chỉ chiếm từ 4,7% đến 6,2% Lực lượng lao động nữ nông thôn lại chiếm khoảng 1/2 tổng số lao động nói chung,
vì vậy nâng cao trình độ cho lao động nữ nông thôn ven biển là vấn đề cần được quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của dải ven biển
Trang 14II.5 Hiện trạng kinh tế
1 Đặc điểm cơ cấu kinh tế
Trong những năm gần đây cùng với sự dịch chuyển của nền kinh tế thị trường trên phạm vi cả nước, nền kinh tế của khu vực ven biển đã từng bước tổ chức, sắp xếp lại sản xuất nên đã có những bước chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực Xu hướng của sự dịch chuyển này là tăng dần tỷ trọng các ngành, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ đồng thời giảm tỷ trọng các ngành nông, lâm và tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhiều nguồn tài nguyên, và tiềm năng mới nhất là tài nguyên và tiềm năng thuỷ hải sản được nghiên cứu sử dụng Hàng loạt các cơ sở hạ tầng như: cầu tàu, bến cảng, các khu nuôi trồng thuỷ sản mang tính công nghiệp đã được đưa vào hoạt động nhằm phát huy thế mạnh của dải Ngoài ra các ngành tiểu thủ công truyền thống cũng được chú ý phát triển và đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách các địa phương
Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo với cây trồng chính là cây lúa,
rau, hoa màu, một số cây công nghiệp ngắn ngày, một số xã cận biển có nghề trồng cói, nghề trồng rừng chắn sóng, chắn cát, Đi đôi với thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, trong những năm gần đây việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang nhóm cây thực phẩm, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày theo hướng sản xuất hàng hóa đang diễn ra tuy nhiên chưa trở thành những vùng sản xuất tập trung, chất lượng sản phẩm chưa cao để đáp ứng yêu cầu thị trường trong và ngoài nước Đây là biểu hiện của sự phát triển thiếu bền vững
Ngành thuỷ hải sản có những chuyển biến mạnh trong những năm gần
đây với tốc độ tăng trưởng khá cao (10 – 15% năm) cả về đánh bắt và nuôi trồng, chế biến Tuy nhiên việc phát triển tập trung đồng bộ mới đang diễn ra ở ven biển và các đảo, các vùng úng trũng còn ở dạng nhỏ lẻ, dộ bền vững thấp
Ngành công nghiệp: Sản xuất công nghiệp trong những năm vừa qua đã
duy trì được mức độ tăng trưởng khá, năng lực sản xuất tăng lên đáng kể, tỷ lệ đóng góp GDP ở mức cao, đặc biệt là các khu vực nằm trong vùng trọng điểm kinh tế như Quảng Ninh, Hải Phòng (Vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ), Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam (vùng trọng điểm kinh tế miền Trung) Một
Trang 15số khu công nghiệp điển hình như Uông Bí - Mạo Khê, Thượng Lý - Quán Toan, Daewoo - Hanel, Minh Đức, Nomura, Đình Vũ, Đồ Sơn, Hải Phòng 96, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây, Phú Bài, Liên Chiểu - Thủy Tú, Hoà Khánh, Điện Nam - Điện Ngọc, Khu kinh tế mở Chu Lai, Dung Quất,… Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng nhìn chung sản xuất công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng
Các hoạt động dịch vụ chưa phát huy hết vai trò của nó trong nền kinh tế
do tình trạng kinh tế ở đây còn thấp kém, các ngành công, thương nghiệp, tín dụng ngân hàng chưa đủ mạnh để giữ vững và phát huy hết vai trò của nó trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Ngành du lịch trong những năm gần đây đã có những bước phát triển
mạnh mẽ, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng và nâng cấp đáng kể thu hút lượng khách du lịch ngày càng tăng, nhất là khách quốc tế Tuy nhiên, hoạt động
du lịch mới chỉ vẫn mang tính tự phát, dừng lại ở những điểm nhất định chứ không phát triển thành tuyến riêng biệt, vì thế ngành du lịch vẫn chưa phát huy hết những ưu thế của nó trong cơ cấu kinh tế đầy tiềm năng của vùng ven biển
Ngành xây dựng và phát triển đô thị phát triển mạnh mẽ trong những năm
vừa qua, hiện tại và tương lai vẫn là ngành có tốc độ phát triển nhanh làm thay đổi diện mạo vùng duyên hải ven biển
Ngành Giao thông vận tải: Được đầu tư bằng nhiều dự án từ Trung ương
đến địa phương, hệ thống giao thông vận tải trong vùng duyên hải phát triển khá nhanh với đầy đủ các chủng loại: Đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường biển, đường không,… kết nối khu vực với các vùng phụ cận, tạo điều kiện cho việc luân chuyển, buôn bán hàng hóa với các tỉnh trong cả nước và các nước trong khu vực
2 Khai thác và sử dụng tài nguyên
Tài nguyên sinh vật ở các vùng ven biển rất phong phú, đa dạng, song cho
đến nay vẫn chỉ chú ý khai thác theo khía cạnh phát triển nông - lâm - ngư nghiệp Cùng với sự phát triển KT - XH, từ đặc điểm nhạy cảm đầy biến động của dải ven biển thì hướng khai thác sử dụng trong khía cạnh giữ gìn đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc trưng ngày càng giữ vai trò quan trọng
Trang 16Tài nguyên thực vật được khai thác không có kế hoạch lâu dài, một số dạng bị khai thác quá mức (rễ bần, trang), hoặc lợi dụng triệt để (nuôi thuỷ sản) không tính đến khả năng tái tạo bền vững của tài nguyên, do vậy tài nguyên bị cạn kiệt và suy thoái nghiêm trọng Hiện nay ở dải ven biển rừng ngập mặn ở trong và ngoài đầm nuôi bị chặt phá do đào đất đắp bờ, làm củi làm mất nơi ở, nơi cung cấp thức ăn cho tôm cá Việc phát triển khai thác sinh vật ven bờ đang
ở trong tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng do thiếu công nghệ, thiếu thiết bị, thiếu kiến thức, thiếu vốn và điều quan trọng nhất là thiếu qui hoạch chi tiết mạnh ai, nấy làm đã dẫn đến cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên, suy thoái môi trường nghiêm trọng
Về khai thác hải sản: Thời gian qua nghề khai thác hải sản của dải ven bờ
đã tạo ra được nhiều loại sản phẩm có giá trị xuất khẩu các cơ sở đóng tàu thuyền và dịch vụ nghề cá ngày càng phát triển Song, việc khai thác hải sản hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề bất cập: Cơ cấu nghề nghiệp có qui mô nhỏ vẫn chiếm trên 70% số đơn vị thuyền nghề; ngư dân còn dùng phương tiện đánh bắt
có tính huỷ diệt như xung điện, chất nổ, dùng các loại lưới có cỡ mắt nhỏ Tàu thuyền đánh bắt hải sản chủ yếu vẫn là tàu công suất nhỏ chiếm trên 80% Mặc
dù những năm qua đã đầu tư nhiều cơ sở qui mô công nghiệp với tổng công suất chế biến gần 60 tấn/ngày Song hiệu quả sử dụng thấp, khả năng khai thác chỉ đạt 20-30% công suất thiết kế
Nguồn lợi sinh vật của dải ven biển cửa sông tương đối phong phú và đa dạng về chủng loại, nhưng lại nghèo về số lượng Cho đến nay vẫn chưa có phương thức khai thác và sử dụng hợp lý nên nguồn lợi này ngày càng cạn kiệt Điều này đòi hỏi phải có phương thức và giải pháp khai thác hợp lý để vừa phát triển kinh tế bền vững vừa bảo vệ và tái tạo tài nguyên sinh vật ngày một tốt hơn
Khai thác tài nguyên du lịch: Dải ven biển của nước ta suốt từ bắc tới
nam đâu đâu cũng có tài nguyên cảnh quan du lịch lớn Du lịch nghỉ mát với hệ thống các bãi tắm đẹp, dọc theo chiều dài bờ biển của dải từ Trà Cổ, Bãi Cháy,
Đồ Sơn, Sầm Sơn, Cửa Lò, Non Nước, Hội An,… là nơi thu hút được đông đảo khách du lịch đến thăm quan, nghỉ dưỡng
Trang 17Du lịch sinh thái là hình thức du lịch, kết hợp thăm quan, nghiên cứu
Tiêu biểu cho loại hình du lịch này là hệ thống thống đảo trong các vịnh, các khu rừng ngập mặn, các sân chim, Có khả năng khêu gợi mạnh sự say mê tìm hiểu của du khách Ngoài ra dải ven biển còn có khoảng 950 di tích văn hoá lịch
sử trong đó 90 di tích đã được xếp hạng giúp cho du khách đến thăm quan nghiên cứu lịch sử Mật độ di tích trung bình của cả nước là 2,2 di tích/100 km2, trong khi đó mật độ di tích của Thái Bình là 20, Hải Phòng là 19,9, Nam Hà và Ninh Bình là 7,9
Du lịch lễ hội: Dải ven biển cũng rất nổi tiếng với các lễ hội truyền thống
Với các cuộc đua thuyền, bơi chải Các lễ hội này mang những nét độc đáo về văn hoá, lịch sử của cư dân dải ven biển nên có sức thu hút chẳng những du khách trong vùng mà còn từ các vùng khác đến và đặc biệt là đối với du khách quốc tế
Mấy năm gần đây, từ khi đất nước thực hiện chính sách mở cửa với nền kinh tế thị trường, ngành du lịch của dải đã được quan tâm, đầu tư khá mạnh về
cơ sở vật chất hạ tầng, kỹ thuật để thu hút sự quan tâm chú ý của du khách trong nước và quốc tế Tuy nhiên việc khai thác tài nguyên này vẫn còn rất hạn chế và chưa hợp lý Việc khai thác tài nguyên du lịch vẫn còn đơn điệu, chưa biết kết hợp đan xen nhiều loại hình (tắm biển - nghiên cứu - du lịch nghỉ dưỡng - chữa bệnh ) nên kém tính hấp dẫn Bên cạnh đó việc phát triển du lịch cũng bắt đầu gây ô nhiễm môi trường nguồn nước biển do rác thải của khách du lịch xả ra, dầu thải thừa của tàu thuỷ, nếu không được ngăn chặn sẽ gây nên những hậu quả khôn lường về kinh tế, hạn chế và có thể làm mất đi các nguồn tài nguyên khác
Khai thác tài nguyên vị thế
Với vị trí mặt tiền của quốc gia vùng ven biển là cửa ngõ của đất nước sẽ
có nhiều cơ hội đón nhận, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, nhằm phát triển kinh tế nội khu vực, cũng như là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế ổn định, phát triển
Ngoài những lợi thế vị thế có thể khai thác được, dải ven biển còn một hệ thống đảo ven bờ có ý nghĩa vị thế vô cùng quan trọng trong bảo vệ an ninh quốc gia Giá trị vị thế của hải đảo trước hết được thể hiện ở chỗ nó là cơ sở
Trang 18pháp lý về mặt lãnh thổ để xác định chủ quyền vùng biển và thềm lục địa Hệ
thống đảo còn trở thành "tiền đồn", điểm chốt cố định vững chắc khống chế hầu
hết vùng biển quan trọng ven bờ, tạo bức tường thành kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng, là nơi triển khai, bố trí lực lượng quốc phòng vô cùng thuận lợi cho bảo vệ an ninh tổ quốc Qua một loạt những bài học ở các nước có biển,
ta có thể thấy được tầm quan trọng của dải ven biển, và lợi thế tự nhiên của một quốc gia có biển như thế nào trong sự nghiệp phát triển KT - XH và an ninh quốc phòng của đất nước Vì vậy vị trí của dải ven biển được xem như một tiềm năng trong mọi tiềm năng, là tiền đề để khai thác hiệu quả mọi tiềm năng quan trọng khác trên mọi lĩnh vực Ngoài ra dải ven biển còn có ý nghĩa quan trọng trong mục đích chính trị, an ninh quốc phòng cần được quan tâm trong chiến lược lãnh thổ của quốc gia
Thế giới đang bước vào thế kỷ 21, với những đặc trưng và xu thế của các quan hệ kinh tế quốc tế có liên quan đến phát triển KT - XH của dải ven biển, đó là: ưu tiên cho phát triển kinh tế, xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá về kinh tế, trong đó vai trò và vị trí của ASEAN với 10 thành viên (mà Việt Nam là một thành viên) ngày càng trở nên quan trọng trong khu vực và trên thế giới Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển như vũ bão, với những nội dung nổi bật là điện tử và tin học, tự động hoá, sinh học hoá, vật liệu mới, ngày càng đóng vai trò là nhân tố quan trọng nhất, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển KT - XH, ảnh hưởng sâu sắc tới mọi quốc gia, mọi khu vực, mọi tầng lớp dân cư trên toàn thế giới
Đứng trước thách thức đó, Việt Nam nói chung và dải ven biển nói riêng, phải phát triển nhanh, mạnh tạo bước nhảy vọt trong tất cả các lĩnh vực và các hoạt động kinh tế, để tạo tiền đề cho sự phát triển theo xu thế chung của thế giới
và cả nước, tạo điều kiện lôi kéo các vùng trong nước phát triển theo, và kêu gọi được đầu tư nước ngoài vào khu vực, cũng như cả nước ngày càng tăng
III Định hướng phát triển
III.1 Vùng duyên hải Bắc Bộ:
Vùng duyên hải Bắc Bộ gồm 5 tỉnh thành phố là Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước
Trang 19Theo Quy hoạch xây dựng vùng Duyên hải Bắc Bộ đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 vừa được Bộ Xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phạm vi lập quy hoạch của vùng duyên Hải Bắc bộ bao gồm toàn bộ ranh giới hành chính TP Hải Phòng và 4 tỉnh: Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình với diện tích tự nhiên khoảng 12.005,93km2 Phạm vi nghiên cứu bao gồm Vùng đồng bằng Sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các khu vực liên quan đến phát triển không gian kinh tế - xã hội của Vùng trong tầm nhìn hướng tới 2050
Quy hoạch xây dựng Vùng Duyên hải Bắc bộ nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, cân đối, hài hoà giữa các đô thị trong vùng Vì vậy, để các nội dung định hướng phát triển quy hoạch xây dựng Vùng Duyên Hải Bắc bộ được triển khai có hiệu quả, Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng Chính phủ một số vấn đề trọng tâm cần được triển khai thực hiện: Rà soát, điều chỉnh một số đồ án, dự án cấp vùng đã được phê duyệt nhưng không còn phù hợp với tình hình mới, bao gồm: Quy hoạch chung các TP trung tâm tỉnh lỵ, các KĐTM, các KCN tập trung Xác định quy mô tính chất hệ thống giao thông trong toàn vùng đặc biệt
là dự án đường cao tốc ven biển Phát triển hệ thống giao thông vận tải hành khách công cộng của các đô thị trong vùng và liên vùng hợp lý hiện đại Nghiên cứu cơ chế chính sách và chiến lược phát triển đô thị trong toàn vùng phù hợp với tầm nhìn lâu dài đảm bảo phát triển bền vững cho toàn vùng
1 Tầm nhìn dài hạn
Theo Bộ Xây dựng, đến năm 2050 vùng Duyên hải Bắc bộ là một vùng kinh tế quan trọng tầm quốc gia và quốc tế, có vị thế ảnh hưởng đặc biệt với Vùng Thủ đô Hà Nội, Vùng kinh tế Nam Trung Quốc và vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, là một vùng trọng điểm của chiến lược biển Việt Nam Với phạm vi quy hoạch này, Vùng Duyên hải Bắc bộ là vùng có mật độ dân số tương đối cao so với các vùng khác trong cả nước, mật độ dân số trung bình 634 người/km2 (cả nước có mật độ là 252 người/km2) Xu hướng dân cư chuyển dịch vào các đô thị trung tâm tỉnh Phân bố dân cư theo mật độ chia làm 3 vùng: Vùng có mật độ dân số cao là Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định là 1.200 người/km2; vùng Ninh Bình có mật độ dân số trung bình là 662 người/km2; tỉnh Quảng Ninh có mật độ dân số thấp nhất là 183người/km2 Dự báo dân số như sau: Hiện trạng dân số
Trang 20toàn vùng năm 2005: 7,606 triệu người; dự kiến đến năm 2015: 8,3 - 8,65 triệu người; dự kiến đến năm 2025: 8,7 - 9 triệu người Theo đó, dân số đô thị Vùng Duyên hải Bắc bộ có tỷ lệ 24,54% ( 2005 tỷ lệ dân số đô thị cả nước vào khoảng 27%) Dân cư đô thị tập trung chủ yếu vào các TP như Hải Phòng và các TP tỉnh
lỵ Dân số đô thị toàn vùng năm 2005: 1,86 triệu người; dự kiến đến năm 2015: 2,5 - 2,8 triệu người; dự kiến đến năm 2025: 4,5 - 5 triệu người
Vùng Duyên hải Bắc bộ có tỷ lệ đô thị hoá thấp do vậy dự báo tốc độ đô thị hoá chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 2006 - 2015 là giai đoạn phát triển có tốc
độ cao; giai đoạn 2016 - 2025 là giai đoạn phát triển dân số có tốc độ trung bình
và ổn định vào giai đoạn 2030 - 2050 Tỷ lệ đô thị hoá dự báo theo tình hình phát triển kinh tế - xã hội vùng và quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng hướng tới một vùng có cơ cấu công nghiệp xây dựng và thương mại dịch vụ chiếm 94%, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 6% Dự báo tỷ lệ đô thị hoá như sau: Năm 2005: 24,54% (toàn quốc khoảng 27%); năm 2015 đạt 38 - 42%; năm
2025 đạt khoảng 55 - 60%
2 Rà soát, điều chỉnh một số đồ án, dự án cấp vùng
Vùng Duyên hải Bắc bộ sẽ phát triển theo hướng vùng đô thị đa cực, phân
bố theo tuyến: Liên kết giữa không gian TP Hải Phòng - Hạ Long là các đô thị hạt nhân trung tâm vùng và các đô thị trung tâm tỉnh lỵ trên cơ sở các trục không gian chủ đạo: Trục không gian QL18, trục không gian QL10, trục không gian tuyến cao tốc ven biển vùng Duyên hải, trục không gian Đông Tây nối vùng châu thổ sông Hồng với Vùng Thủ đô Hà Nội, hành lang đường Hồ Chí Minh
Không gian Vùng Duyên hải Bắc bộ được tổ chức thành 2 vùng: Vùng đô thị hạt nhân và vùng phát triển đối trọng Vùng đô thị hạt nhân: TP Hải Phòng -
Hạ Long nối kết phát triển thành vùng đô thị hạt nhân là động lực để phát triển Vùng Duyên hải Bắc bộ và khẳng định vai trò cấp độ quốc gia quốc tế với các dịch vụ: Thương mại, du lịch, cảng biển, công nghiệp trong mối liên kết với Vùng Thủ đô Hà Nội và các trung tâm phân vùng Vùng phát triển đối trọng: Gồm 2 phân vùng Trong đó các đô thị tỉnh lỵ đóng vai trò hạt nhân phát triển
Phân vùng phía Bắc Duyên hải: Không gian liên kết phát triển theo QL18
và đường cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái gồm các đô thị phân bố theo
Trang 21dải: Đông Triều - Mạo Khê - Uông Bí - Cẩm Phả - Tiên Yên - Đầm Hà - Quảng
Hà - Móng Cái và khu kinh tế Vân Đồn Là trung tâm công nghiệp: Luyện kim, năng lượng, đóng tàu, dịch vụ, cảng biển, khai thác mỏ và trung tâm du lịch dịch
vụ quốc gia, quốc tế với di sản vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long
Phân vùng phía Nam gồm: 3 tỉnh Thái Bình - Nam Định - Ninh Bình Không gian vùng theo dải ven biển kết hợp cùng nông nghiệp châu thổ sông Hồng Không gian được liên kết theo trục QL10 và đường cao tốc ven biển Với trung tâm phân vùng là thành phố Nam Định (phát triển thành trung tâm vùng Nam sông Hồng ) và đô thị trung tâm tỉnh Thái Bình, Ninh Bình Phát triển các
đô thị ven biển: Diêm Điền, Tiền Hải, Hải Thịnh, Phát Diệm; phát triển các ĐTM ở khu vực có tiềm năng phát triển: Hùng Thắng, Ngô Đồng, Quất Lâm, Cồn, Rạng Đông gắn với các khu bảo tồn thiên nhiên và rừng quốc gia Cúc Phương, khu Tràng An Phân vùng đảm bảo yêu cầu an ninh lương thực, phát triển công nghiệp đóng tàu, chế biến thuỷ hải sản, nông sản, trung tâm văn hoá - giáo dục đào tạo dịch vụ đô thị và trung tâm du lịch quốc gia
Để thực hiện được đồ án này, Bộ Xây dựng cũng kiến nghị Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo liên tỉnh để chỉ đạo các chương trình dự án cấp vùng tạo điều kiện huy động các nguồn vốn đầu tư theo đúng quy hoạch được duyệt
Theo đó, các chương trình dự án ưu tiên gồm:
- Xây dựng trung tâm Hội nghị hội thảo quốc tế của vùng tại Hải Phòng Xây dựng các cơ sở giáo dục, đại học, trung học công nghiệp, dạy nghề tại các tỉnh trong vùng Xây dựng các bệnh viện cấp vùng tại Hải Phòng và cấp khu vực tại các tỉnh trong vùng Xây dựng hệ thống các công trình thương mại đầu mối tại các tỉnh trong vùng Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch xây dựng đô thị, KCN không phù hợp với quy hoạch vùng tại các tỉnh trong vùng Khu du lịch hang động Tràng An tại tỉnh Ninh Bình Xây dựng các trung tâm thể thao cấp vùng tại Hải Phòng, cấp khu vực tại Nam Định, Ninh Bình Đầu tư xây dựng các khu du lịch Trà Cổ, Vân Đồn, Cát Bà, Đồ Sơn, Đồng Châu, Chùa Keo, Cổ Lễ, Cồn Lu - Cồn Vành, Cồn Thủ, Quất Lâm, Cúc Phương, Vân Long, Yên Tử, Đền Trần, Cố
đô Hoa Lư tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình
Trang 22- Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh các tuyến đường: Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và cầu Đình Vũ - Cát Hải; cao tốc Hà Nội - Hạ Long - Móng Cái; cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng; Khảo sát và lập dự án tuyến đường cao tốc ven biển qua các tỉnh trong vùng; Nâng cấp QL39 từ Diêm Điền đi Hưng Yên tại Thái Bình; Nâng cấp tuyến đường 21 từ Nam Định đi Phủ Lý và đoạn Nam Định - Thịnh Long tại Nam Định; Làm mới tuyến đường từ Nam Định - Quất Lâm - Nho Quan tại Nam Định, Ninh Bình; Hoàn thiện đường cao tốc QL1 tại Ninh Bình; Nâng cấp QL10 đoạn Ninh Bình - Phát Diệm tại Ninh Bình; Nâng cấp sân bay Cát Bi, xây mới sân bay Bạch Long Vỹ tại Hải Phòng; Xây mới sân bay Vân Đồn tại Quảng Ninh; Xây dựng tuyến đường sắt Hải Phòng - cảng quốc tế Hải Phòng; Nâng cấp cảng Diêm Điền tại Thái Bình; Nâng cấp đường 12B nối Phát Diệm - đường Hồ Chí Minh
- Xây dựng nhà máy nước liên vùng tại Yên Hưng - Quảng Ninh; Xây dựng mới và nâng cấp các nhà máy nước vùng tỉnh
- Hoàn thiện và xây dựng các nhà máy nhiệt điện tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình
III.2 Vùng duyên hải Bắc Trung Bộ:
Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số Số: 113/2005/QĐ-TTg ngày 20/05/2005 phê duyệt định hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 với mục tiêu chỉ đạo và điều hành thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển và quản
lý phát triển làm căn cứ để các cấp, các ngành, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế định hướng các hoạt động của mình, đảm bảo đưa vùng Bắc Trung
Bộ và duyên hải Trung Bộ sớm tiến kịp các vùng khác trong nước, trở thành một đầu cầu lớn của cả nước trong giao lưu, hợp tác kinh tế quốc tế; cải thiện căn bản đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân trong vùng; hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của thiên tai; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái
Yêu cầu về rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch phải đạt được là:
- Quán triệt và cụ thể hoá các nội dung theo tinh thần Nghị quyết số 39/NQ-TW, cập nhật, bổ sung phù hợp với điều kiện mới
Trang 23- Xác định rõ trong quy hoạch về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội (giao thông, điện, thuỷ lợi, khu công nghiệp, trường học, cơ sở khám
chữa bệnh, các công trình văn hoá,…) đối với các ngành sản suất kinh doanh chỉ
nêu định hướng và xác định lĩnh vực cần ưu tiên tập trung đầu tư phát triển, đề ra
các chính sách để các thành phần kinh tế đầu tư phát triển
- Xác định rõ các chương trình, dự án đầu tư trong 5 năm tới, nhu cầu về vốn
và cơ cấu vốn đầu tư cho từng chương trình, dự án và các giải pháp, cơ chế chính
sách huy động vốn đầu tư Lựa chọn, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên thực hiện các đề án,
dự án quan trọng để đưa vào kế hoạch 5 năm 2006 - 2010
IV Quy hoạch phát triển các tỉnh, thành phố
1 Tỉnh Quảng Ninh:
Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến
năm 2020" tại Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg ngày 24/11/2006 Theo đó mục
tiêu phát triển từ nay đến năm 2020, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả để thực hiện công nghiệp hoá trước
năm 2020:
- Tốc độ tăng trưởng GDP thời kỳ 2006 - 2010 đạt khoảng 13%; thời kỳ
2011- 2020 khoảng 14,2% GDP bình quân đầu người vào năm 2010 (giá so
sánh 1994) đạt khoảng 950 USD, năm 2020 đạt khoảng trên 3.120 USD
- Tỷ lệ tích lũy đầu tư lên 40% so với GDP vào năm 2010, đáp ứng 75%
nhu cầu vốn đầu tư phát triển
- Thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát
triển y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, thể dục - thể thao v.v…
Trang 243 Cơ cấu GDP (% - giá hiện
Theo định hướng tổ chức kinh tế theo không gian lãnh thổ, tiểu vùng phía
Đông hình thành Khu kinh tế Vân Đồn với việc phát triển du lịch, dịch vụ cao
cấp; xây dựng cảng biển, cảng hàng không; thúc đẩy phát triển mạnh Khu kinh
tế cửa khẩu Móng Cái; nghiên cứu hình thành tổ hợp công nghiệp - dịch vụ -
cảng biển tại phía Đông - Bắc tỉnh; xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu Hoành
Mô, Bắc Phong Sinh; phát triển kinh tế biển và hải đảo Phát triển đô thị: nghiên
cứu nâng cấp thị xã Móng Cái lên đô thị loại II, thị trấn Cái Rồng lên đô thị loại
III, các thị trấn huyện lỵ lên đô thị loại IV Trong tương lai, Tỉnh sẽ có 2 đô thị
loại II (Hạ Long, Móng Cái), 3 đô thị loại III (Uông Bí, Cẩm Phả, Cái Rồng) và
9 đô thị loại IV là các thị trấn huyện lỵ Phát triển các điểm dân cư nông thôn,
kinh tế miền núi và hải đảo Quyết định cũng đã xác định các chương trình, dự
án ưu tiên đầu tư
Trang 252 Thành phố Hải Phòng:
Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng
thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020" tại Quyết định số 271/2006/QĐ-TTg ngày 27/11/2006 Theo đó:
Mục tiêu cụ thể:
- Phấn đấu đưa tỷ trọng GDP Hải Phòng trong GDP cả nước đạt khoảng
4,5% năm 2010 và 7,3% năm 2020 Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 13 -
13,5% giai đoạn 2006 - 2010 và 13,5 - 14% giai đoạn 2011 - 2020, cao hơn mức
tăng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ khoảng 1,3 lần; GDP bình quân đầu
người (tính theo giá hiện hành) đạt 1.800 - 1.900 USD vào năm 2010 và 4.900 -
5.000 USD vào năm 2020 Phấn đấu có cơ cấu kinh tế hiện đại với các sản phẩm
chủ lực có sức cạnh tranh cao cả trong công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp
Dự kiến tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm như sau:
Tỷ trọng các ngành trong cơ cấu GDP Năm 2010 Năm 2020
Trang 26- Phấn đấu giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,9 - 2,0 tỷ USD vào năm 2010
và khoảng 6 tỷ USD vào năm 2020
- Hoàn thiện về cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, ngang tầm với các thành phố phát triển trong khu vực
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên bình quân 1 - 1,1%/năm giai đoạn 2006 - 2020
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60 - 65% vào năm 2010 và 85 - 90% vào năm 2020 Giải quyết việc làm cho 225.000 lao động trong giai đoạn 2006 -
2010 và 500.000 lao động giai đoạn 2011 - 2020
- Tỷ lệ dân số đô thị đạt 55 - 60% vào năm 2010 và 80 - 85% vào năm 2020
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 5% vào năm 2010 (theo chuẩn mới)
- Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm xuống còn dưới 5%, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 90% năm 2010 và tương ứng là 4% và 95% vào năm 2020
- Đến năm 2010, phấn đấu 90% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã và tới năm 2020, đạt tỷ lệ 100%
- Phấn đấu đạt 90% chất thải rắn đô thị được thu gom và xử lý hợp vệ sinh vào năm 2010 và 90 - 100% vào năm 2020
Quy hoạch phát triển không gian, lãnh thổ vùng biển và ven biển:
- Phát triển hệ thống cảng biển bằng nguồn lực tổng hợp, phát triển đồng bộ
và hiện đại hệ thống cảng (bến, luồng lạch, trang thiết bị sản xuất, điều hành v.v ) bảo đảm đủ khả năng phục vụ cho lượng hàng hoá thông qua cảng khoảng
từ 25 - 30 triệu tấn vào năm 2010 và 70 - 80 triệu tấn vào năm 2020;
- Phát triển công nghiệp và đô thị vùng biển và ven biển: hình thành một số khu, cụm công nghiệp tập trung và các dải hành lang đô thị ven biển gắn với trục công nghiệp chiến lược đường quốc lộ số 5, đường quốc lộ số 10 và cảng Hải Phòng tạo thành một chùm đô thị - công nghiệp có sức thu hút và lan toả lớn, đóng vai trò là động lực đối với sự phát triển của vùng Bắc Bộ
Trang 273 Tỉnh Thái Bình:
Thủ tướng Chính phủ đã Phê duyệt "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020" tại Quyết định số 262/2006/QĐ-TTg ngày 14/11/2006 Theo đó:
- Tăng kim ngạch xuất khẩu từ 98 triệu USD năm 2005 lên khoảng 200 -
240 triệu USD năm 2010; năm 2015 khoảng 400 triệu USD và năm 2020 khoảng 800 - 850 triệu USD
- Tăng thu ngân sách nhằm bảo đảm các nhiệm vụ chi của Tỉnh và từng bước phấn đấu để có tích lũy Phấn đấu tỷ lệ thu ngân sách đạt khoảng 15% GDP vào năm 2010; 17% năm 2015 và 19% năm 2020
- Tăng nhanh đầu tư toàn xã hội, thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài, thời kỳ 2006 - 2010 tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến đạt 35 - 36% GDP;
ở nông thôn khoảng 88 - 89% vào năm 2020 Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10% vào năm 2010, dưới 3% vào năm 2020
Trang 28- Đến năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa đạt khoảng 40%; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động khoảng 67%
- Đến năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 40%, trong đó qua đào tạo nghề là 25%, đến năm 2020 tỷ lệ này là 60% và 42%; nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành phổ cập trung học phổ thông vào năm 2010,…
Xây dựng kết cấu hạ tầng và đẩy nhanh đô thị hóa là lĩnh vực quyết định, là
nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ quy hoạch Xây dựng thành phố Thái Bình trở thành Trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của Tỉnh và đạt tiêu chuẩn đô thị loại II trong giai đoạn 2010 - 2015; xây dựng, mở rộng cảng biển Diêm Điền, cảng sông Tân Đệ; nâng cấp một số tuyến đường quan trọng và xây dựng các cầu nối với tỉnh ngoài, xây dựng các công trình thủy lợi, cấp nước, cấp điện; xây dựng hạ tầng các khu du lịch, khu công nghiệp
Phát triển khu vực nông thôn và vùng ven biển
Đối với khu vực nông thôn, song song với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng đẩy nhanh sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề và dịch vụ
Đối với vùng ven biển, bố trí cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển kinh tế tổng hợp Triển khai nhanh chóng các dịch vụ cung cấp giống và phòng trừ dịch bệnh nhằm phát triển nhanh diện tích nuôi trồng thủy sản, xây dựng cơ sở hậu cần nghề cá, phát triển các phương tiện đánh bắt, chế biến thuỷ sản
4 Tỉnh Nam Định:
Theo Quyết định số 87/2008/QĐ-TTg ngày 3/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của tỉnh đến năm 2010 khoảng 12%/năm và tăng đến 13%/năm giai đoạn 2011 - 2015
Trước mắt, đến năm 2010, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm cao nhất, khoảng 39%; dịch vụ chiếm 36%, nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 25% Thu nhập bình quân đầu người sẽ đạt 12,5 triệu đồng vào năm 2010, 26 triệu đồng năm 2015, 50 triệu đồng năm 2020 (tính theo giá thực tế)
Trang 29Tập trung đẩy mạnh sản xuất lúa đặc sản ở các huyện phía Nam, mở rộng sản xuất lúa chất lượng cao ở các huyện phía Bắc; ổn định diện tích 2 vụ lúa khoảng 70 - 75 nghìn ha, năng suất 13 - 14 tấn/ha/năm, sản lượng khoảng 900 -
950 nghìn tấn
Đầu tư mạnh vào các doanh nghiệp đóng tàu như Nhà máy đóng tàu Thịnh Long để đóng mới tàu biển với công suất thiết kế tải trọng 6.500 - 15.000 DWT Hình thành thêm một số khu công nghiệp tàu thủy: Nam Định, Xuân Kiên, Mỹ Lộc, Nghĩa Bình, Thịnh Long
Bên cạnh chất lượng, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tăng nhanh, làm chỗ dựa cho phát triển ngành nghề nông thôn tại địa phương
Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp phấn đấu bình quân giai đoạn 2006 - 2010 là 25%/năm, giai đoạt 2011 - 2015 đạt 17%/năm, giai đoạn
2016 - 2020 đạt 15%/năm
Du lịch sẽ được phát triển thành ngành kinh tế quan trọng, theo đó, sẽ nghiên cứu xây dựng khu du lịch biển Rạng Đông, phát triển khu du lịch biển Thịnh Long, Quất Lâm,
Đáng chú ý, theo Quy hoạch, Nam Định sẽ trở thành đô thị trung tâm phía Nam của vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, Trung tâm giao dịch chứng khoán của Nam đồng bằng sông Hồng để huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
Về mạng lưới quốc lộ, đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình qua địa bàn tỉnh với chiều dài khoảng 21 km, sau đó tiếp tục nâng cấp toàn tuyến từ Pháp Vân - Ninh Bình lên 6 làn xe Xây dựng đường quốc lộ ven biển với quy mô cấp II đồng bằng, đoạn Thanh Hóa - Ninh Bình - Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh sau năm 2010
5 Tỉnh Ninh Bình:
Mục tiêu của tỉnh từ nay đến năm 2010 phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10%/ năm; năm 2005 bình quân GDP đầu người tăng 1,4 lần; Đến năm 2010 tăng 2 lần so với năm 2000
Trang 306 Các tỉnh, thành phố từ Thanh Hóa đến Quảng Nam:
Theo Quyết định số 61/2008/QĐ-TTg ngày 09/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội dải ven biển miền Trung Việt Nam đến năm 2020
Mục tiêu phát triển:
- Xây dựng Dải ven biền miền Trung (DVBMT) trở thành Vùng kinh tế phát triển, cửa ngõ phía Đông và là một trong các hành lang kinh tế Bắc - Nam quan trọng của miền Trung và cả nước, đóng góp vào tăng trưởng của toàn miền Trung và trên lãnh thổ từng tỉnh trong Vùng Tăng trưởng GDP khoảng 12,5% thời kỳ 2006 - 2010 và 12,9 - 13,0% thời kỳ 2011 - 2020, tỷ trọng GDP của kinh
tế trên biển và ven biển của DVBMT trong toàn vùng miền Trung khoảng 76 - 80,4% GDP vào năm 2020, đóng góp khoảng 82 - 85% giá trị xuất khẩu của miền Trung
- Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế biển bao gồm: hệ thống cảng biển, trong đó có cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong; các sân bay; mạng giao thông ven biển và mạng kết nối với nội địa; hệ thống cung cấp nước, xử lý chất thải rắn, nhất là chất thải nguy hại; hệ thống các công trình phòng tránh thiên tai
- Hình thành các trung tâm tiến ra biển của cả nước ở miền Trung và ở địa bàn mỗi tỉnh, mỗi tiểu vùng trên cơ sở phát triển các đô thị ven biển và hướng biển, các khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp và khu du lịch ven biển
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế đảo
- Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với phát triển nguồn nhân lực; đồng bộ giữa quy hoạch phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp với quy hoạch nguồn nhân lực Nâng cao toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa của cư dân, giảm nhanh tỷ lệ đói nghèo Thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực các xã bãi ngang, các khu vực khó khăn ven biển để giảm thiểu chênh lệch Vùng
- Đảm bảo phát triển DVBMT theo hướng phát triển bền vững, hài hoà các yếu tố phát triển kinh tế cùng với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và tái tạo môi trường tự nhiên, chất lượng cuộc sống được cải thiện
Trang 31- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ quốc phòng
an ninh và môi trường sinh thái, tăng cường hợp tác quốc tế để bảo vệ chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, thềm lục địa và lãnh hải
Nhiệm vụ phát triển: Để thực hiện những mục tiêu quy hoạch trên và góp
phần thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nhiệm vụ phát triển của DVBMT tập trung vào các phương hướng chủ yếu sau:
1) Phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật ven biển và biển:
* Về đường bộ
- Hình thành đường giao thông ven biển qua DVBMT dài 1.314 km nối liền ven biển các tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình Thuận
- Triển khai xây dựng hầm đường bộ Đèo Cả
- Xây dựng và hoàn thành đường cao tốc Bắc Nam: Đến năm 2020, tuyến Bắc Nam phía Đông gồm các đoạn sau: Ninh Bình-Thanh Hóa; Thanh Hoá-Vinh; Vinh-Hà Tĩnh; Cam Lộ-Đà Nẵng; Đà Nẵng-Quảng Ngãi; Quảng Ngãi-Quy Nhơn; Nha Trang-Dầu Giây;
- Cải tạo, nâng cấp và mở rộng các tuyến quốc lộ trục ngang đạt cấp III - cấp IV, một số đoạn thường xuyên ngập lụt phải được kiên cố hoá gồm các quốc lộ: 47, 7, 8A, 12A, 9, 49A, 14B + 14D, 24; 19, 25, 26, 27, 28, 55
* Đường sắt
Nâng cấp toàn tuyến đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cấp quốc gia và khu vực, triển khai đường sắt đôi khổ 1.435 mm đoạn Hà Nội-Vinh và đoạn TP HCM-Nha Trang Nghiên cứu xây dựng một số đoạn đường sắt cao tốc Bắc-Nam, trước hết là các tuyến TP Hồ Chí Minh-Nha Trang và Hà Nội-Vinh
* Đường thuỷ: Cải tạo đường thuỷ gắn liền với việc chỉnh trị bãi cạn cửa sông
* Hình thành kết cấu hạ tầng kỹ thuật các hành lang kinh tế gắn kết các đô thị, cảng biển, sân bay với các khu kinh tế cửa khẩu của Vùng như hành lang kinh tế Thanh Hoá - Sầm Sơn; Vinh - Cửa Lò - Bến Thuỷ; Hà Tĩnh - Bắc Quảng Bình; Quảng Trị - Huế; Đà Nẵng - Dung Quất - Nhơn Hội; Nha Trang - Ninh
Trang 32Thuận - Bình Thuận và các hành lang kinh tế Đông - Tây nối các cửa khẩu phía Tây ra các cửa biển phía Đông
* Phát triển cảng biển
- Xây dựng cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong (Khánh Hoà) trở thành cảng biển lớn của Việt Nam đạt tầm vóc quốc tế, đến năm 2020 cảng sẽ hoàn thiện với công suất 1,5 triệu TEU
- Xây dựng cảng Liên Chiểu - Đà Nẵng làm cảng cửa ngõ
- Hoàn thành nâng cấp các cảng tại các khu kinh tế theo quy hoạch, gồm các cảng; Nghi Sơn, Cửa Lò, Vũng Áng, Hòn La, Chân Mây, Kỳ Hà, Dung Quất, Quy Nhơn, Nhơn Hội, Vũng Rô, Phú Quý Phát triển các cảng Cửa Việt,
Ba Ngòi đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương
* Hình thành và phát triển đội tàu biển Phát triển nhanh đội tàu chở container
* Xây dựng các cảng hàng không theo quy hoạch hệ thống cảng hàng không cả nước Tiếp tục đầu tư xây dựng, nâng cấp và mở rộng các cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Bài, Chu Lai Khai thác có hiệu quả các cảng hàng không Vinh, Đồng Hới, Phù Cát, Tuy Hoà Nghiên cứu, cải tạo, nâng cấp sân bay trên đảo Phú Quý
* Phát triển thuỷ lợi kết hợp thuỷ điện với các công trình hồ chứa, mạng dẫn để có nguồn cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt
* Hệ thống cấp nước: Quy hoạch hệ thống cấp nước cho toàn DVBMT Giải quyết nhu cầu nước sạch nông thôn bằng biện pháp khoan giếng, đào giếng khơi, xây dựng bể chứa nước mưa, sử dụng nguồn nước mặt qua xử lý, xây dựng các trạm xử lý cấp nước bằng công nghệ trong nước
* Hệ thống thoát nước và xử lý chất thải rắn, nhất là chất thải nguy hại: Quy hoạch các bãi rác thải, nhà máy xử lý rác thải; xử lý nước thải của các đô thị, khu kinh tế (KKT), khu công nghiệp trước khi cho thoát ra sông, biển Xây dựng khu xử lý chất thải rắn tập trung của từng tỉnh; khu xử lý chất thải rắn nguy hại đối với từng Tiểu vùng ven biển Đối với dự án Nhà máy điện nguyên tử tại Ninh Thuận, trong quy hoạch phải có cơ chế và địa điểm xử lý rác thải riêng
Trang 33* Phát triển và đầu tư xây dựng các công trình cảnh báo, phòng tránh thiên tai, trung tâm cứu hộ cứu nạn, các khu neo đậu tàu thuyền tránh bão gồm:
hệ thống quan trắc, cảnh báo thiên tai; các cơ sở vật chất phục vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; các cơ sở dịch vụ hỗ trợ nghề cá, khu neo đậu tránh bão theo Quyết định 288/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; các cảng và khu dịch vụ hậu cần nghề cá ở Lạch Hới (Thanh Hóa), Lạch Quèn, Lạch Vạn (Nghệ An), Cửa Sót (Hà Tĩnh), Cửa Tùng (Quảng Trị), Cửa Đại, An Hòa (Quảng Nam)
* Phát triển các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung trên vùng đất cát, vùng trồng lúa, cói, làm muối hiệu quả thấp (chú ý tới vấn đề bảo vệ môi trường) Đầu
tư các vùng sản xuất giống thuỷ sản Tập trung vào hạ tầng phát triển nuôi trồng thuỷ sản biển đảo
* Đầu tư cơ sở chế biến và thương mại thuỷ sản như nhà máy chế biến, chợ cá, kho bảo quản thuỷ sản và các công trình kết cấu hạ tầng thương mại thuỷ sản khác
* Củng cố và nâng cấp hệ thống đê cửa sông và đê biển kết hợp chỉnh trị các dòng sông để chống bồi lắng sạt lở, hạn chế hiện tượng sa mạc hoá, đảm bảo thoát lũ và khai thác tổng hợp nguồn nước của từng lưu vực Xử lý và bảo vệ một số đoạn sông mà dân cư đang sống tập trung ở vùng cửa sông đang bị sạt lở
* Đẩy mạnh chương trình trồng rừng phòng hộ ven biển tại Dải ven biển miền Trung
* Xây dựng các hành lang thoát lũ hợp lý bằng kết hợp hệ thống đê và lòng bãi sông
* Quy hoạch bố trí lại các khu dân cư và xây dựng các công trình công cộng (trường học, bệnh viện, trạm y tế, nhà văn hoá ), nhà ở ở những vùng bị lũ lụt theo hướng phòng chống thiên tai
2) Phát triển các trung tâm kinh tế biển
* Phát triển đô thị ven biển
Trang 34- Xây dựng Đà Nẵng thành Trung tâm kinh tế biển của Vùng, là một trong
ba trung tâm kinh tế biển lớn của nước ta
- Phát triển các đô thị của Vùng trở thành những trung tâm tiến ra biển của từng tỉnh, từng tiểu vùng trong Dải ven biển miền Trung: Thanh Hóa trở thành một trung tâm phát triển ở Bắc miền Trung; thành phố Vinh là Trung tâm kinh tế, văn hoá của vùng Bắc Trung Bộ; thành phố Huế trở thành Thành phố Festival, thành phố du lịch, trung văn hoá, kinh tế của Vùng; trung tâm thương mại, dịch vụ và giao dịch quốc tế, trung tâm khoa học, đào tạo và trung tâm y tế
đa ngành chất lượng cao của Vùng; Nha Trang là trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học của tỉnh, khu vực các tỉnh cực Nam Trung Bộ và trung tâm du lịch biển của cả nước
- Xây dựng và phát triển các thành phố, thị xã ven biển trên từng tỉnh trở thành những trung tâm tiến ra biển của từng tỉnh, như các thành phố: Hà Tĩnh, Đồng Hới, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Tuy Hoà, Phan Rang-Tháp Chàm, Phan Thiết và thị xã Đông Hà
* Các khu kinh tế (KKT) ven biển
- Phát triển KKT gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương và của Vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Đẩy nhanh sự phát triển các KKT đã được thành lập mà trước hết là các khu tinh tế có ý nghĩa động lực đối với DVBMT là các KKT Dung Quất, Chu Lai, Nhơn Hội, Vân Phong, Chân Mây - Lăng Cô, Nghi Sơn, Vũng Áng, Đông-Nam Nghệ An, Nam Phú Yên
- Hình thành và thành lập KKT Hòn La
* Các khu công nghiệp (KCN)
- Giai đoạn 2006 - 2010: Tập trung đầu tư hoàn chỉnh và khai thác có hiệu quả 21 KCN, khu chế xuất (KCX) đã và đang được triển khai xây dựng với tổng diện tích đất tự nhiên 3.510 ha, đặc biệt là các KCN trên địa bàn trọng điểm Xem xét mở rộng và thành lập mới 7 KCN với tổng diện tích khoảng 1.660 ha Phát triển một số cụm công nghiệp vừa và nhỏ tạo mặt bằng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có cơ hội phát triển
Trang 35- Từ năm 2011 đến 2020 và những năm tiếp theo, thành lập 23 KCN mới và
mở rộng 7 KCN với tổng diện tích khoảng 5.578 ha đến năm 2020 Khuyến khích các KCN đầu tư phát triển công nghệ cao, sản xuất hàng xuất khẩu
- Phân bố các KCN gắn với hình thành các điểm đô thị trong Vùng theo các tuyến hành lang Phát triển các cụm công nghiệp theo quy hoạch ở những nơi có điều kiện thuận lợi
3) Phát triển kinh tế đảo
- Tăng cường đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh kết hợp kinh tế dân sinh trên các huyện đảo, xã đảo, hỗ trợ phát triển nghề cá xa bờ và một số tuyến đường ven biển như cầu cống, khu dịch
vụ hậu cần nghề cá, các khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão, hồ chứa nước, trạm phát điện sức gió, xử lý chất thải rắn
- Phát triển du lịch, khai thác hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá xa bờ trên các đảo kết hợp với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng ở Hòn Mê (Thanh Hoá), Hòn Mát, đảo Ngư (Nghệ An), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam); Lý Sơn (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), hệ thống các đảo của Khánh Hoà và Phú Quý (Bình Thuận)
- Phát triển kinh tế đảo Phú Quý theo Quyết định số 312/2007/QĐ-TTg về một số cơ chế, chính sách ưu đãi đối với đảo Phú Quý
4) Phát triển các lĩnh vực xã hội, xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội các xã bãi ngang, các vùng khó khăn của Dải ven biển miền Trung Việt Nam
5) Phát triển các không gian sản xuất
* Công nghiệp
- Chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hình thành hệ thống sản phẩm công nghiệp chủ lực: công nghiệp lọc, hoá dầu, điện, luyện kim, công nghiệp cơ khí, điện tử; công nghiệp đóng mới và sửa chữa, tàu thuyền (chú ý tới bảo vệ môi trường và xử lý chất thải) Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng Phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản gắn với vùng nguyên liệu
Trang 36- Đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp lọc, hóa dầu ở: Dung Quất của Quảng Ngãi, Nghi Sơn của Thanh Hóa, Nhơn Hội của Bình Định, Nam Phú Yên (Hoà Tâm, Đông Hoà) của Phú Yên
- Phát triển các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp làng nghề, công nghiệp trong nông thôn, nhằm sử dụng nguyên liệu sẵn có trong vùng, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập và tăng sản phẩm hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng và càng cao của khu vực dân cư
- Đầu tư đổi mới công nghệ, đa dạng hoá mẫu mã, chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm trên các dây chuyền công nghệ cao theo tiêu chuẩn quốc tế Chú trọng xây dựng thương hiệu sản phẩm hàng hoá của vùng trên trường quốc tế
- Liên kết phát triển công nghiệp và các ngành kinh tế khác giữa các tỉnh trong Dải ven biển miền Trung và các vùng kinh tế khác:
* Du lịch
- Phát triển du lịch biển, đảo và ven biển DVBMT nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của kinh tế biển, có thứ hạng cao ở khu vực Đông Nam
Á Gắn phát triển du lịch với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
- Tập trung đầu tư phát triển các loại hình du lịch, vui chơi giải trí chất lượng cao với các sản phẩm du lịch đa dạng và giá trị cao
- Phát triển đu lịch của DVBMT chủ yếu theo tuyến du lịch ven biển dọc quốc lộ 1, xây dựng các tuyến du lịch dựa vào việc khai thác giá trị du lịch của các di tích lịch sử - văn hoá, di tích chiến tranh và di sản thế giới
- Phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển du lịch Xây dựng mới hiện đại một số khu hội chợ, hội nghị, hội thảo quốc tế, khu thể thao tổng hợp ở các khu vực: Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, đủ tiêu chuẩn để tổ chức các
sự kiện văn hoá, thể theo, du lịch, vui chơi giải trí quốc tế, nhất là các môn thể thao đặc thù ở biển
Trang 37* Các lĩnh vực dịch vụ: Phát triển các lĩnh vực dịch vụ liên quan đến kinh
tế biển khác: dịch vụ vận tải biển; dịch vụ cảng biển, sân bay; dịch vụ và kinh doanh dầu khí; dịch vụ thương mại; ngân hàng, tài chính; dịch vụ viễn thông
* Sản xuất nông, lâm nghiệp:
- Phát triển nông nghiệp của Vùng theo hướng: nâng cao độ an toàn của sản xuất, phòng tránh lũ lụt, nâng cao hiệu quả trên mỗi ha đất canh tác Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, áp dụng rộng rãi công nghệ sinh học trong các ngành sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ ở các vùng trồng lúa Rà soát quy hoạch các vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến ở DVBMT Phát triển các cây công nghiệp ngắn ngày (mía, lạc, dứa, thuốc lá, vừng, bông vải ), cây ăn quả phù hợp với đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng từng vùng Phát triển đàn bò, đàn lợn và các vật nuôi khác gắn với việc hình thành các cơ sở chăn nuôi lấy thịt, lấy sữa với quy mô tập trung Xây dựng các trung tâm giống, tăng cường thiết bị, cán bộ cho công tác thú y và vệ sinh chăn nuôi
- Phát triển kinh tế rừng thành ngành kinh tế quan trọng gắn với bảo vệ môi trường Tăng cường bảo vệ và phát triển vốn rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng đặc dụng và các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia; đẩy mạnh trồng mới và chăm sóc phục hồi rừng
- Phát triển nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo
vệ tái lạo nguồn lợi thuỷ sản, phòng chống dịch bệnh cho các đối tượng nuôi, theo hướng thực hiện nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nuôi trồng thủy sản Phát triển giống nuôi trồng thuỷ sản và hợp tác nghiên cứu nuôi trồng dược liệu biển phục vụ chế biến dược liệu
6) Bảo vệ môi trường ven biển và biển
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về vị trí vai trò của biển đối với phát triển vùng và trách nhiệm về bảo vệ môi trường biển Nâng cao nhận thức và kiến thức của cộng đồng về các giá trị đe doạ đối với tài nguyên và môi trường vùng bờ và các biện pháp sử dụng quản lý bền vững Xây dựng các chương trình nghiên cứu và phát triển về cải thiện sinh kế cho các cộng đồng địa
Trang 38phương và hoàn thiện các chương trình giáo dục và đào tạo về quản lý tài nguyên môi trường;
- Bảo vệ môi trường, các hệ sinh thái, sức khỏe con người khỏi tác động của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và thiên tai như: Bảo vệ chất lượng nước biển ven bờ, bãi biển, các hệ sinh thái ven biển và môi trường quanh các đảo của DVBMT; Phòng ngừa và giảm thiểu tác hại do thiên tai và sự cố môi trường, như xói lở bờ sông, bờ biển và lũ lụt;
- Bảo tồn các loài, tài nguyên, sinh cảnh và các giá trị quan trọng về sinh thái, xã hội và văn hoá và lịch sử;
- Cải tạo, phục hồi các tài nguyên, sinh cảnh đã bị suy thoái tại vùng bờ;
- Tăng cường thể chế quản lý tổng hợp vùng bờ theo hướng phát triển bền vững
7) Đảm bảo quốc phòng an ninh biển
- Nâng cấp trách nhiệm của các cấp, các ngành, các địa phương đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc
- Bố trí kinh tế phải gắn với quốc phòng Trong bố trí các công trình xây dựng và bố trí dân cư nhất thiết phải chú ý đến yếu tố quốc phòng để tạo thế liên hoàn có thể ứng cứu được lẫn nhau
- Xây dựng một số ngành, lĩnh vực có sự lưỡng dụng vừa làm kinh tế vừa đảm nhận nhiệm vụ an ninh quốc phòng (công nghiệp đóng tầu, vật liệu xây dựng, dệt may, thông tin liên lạc, vận tải biển, khai thác hải sản )
- Huy động và kết hợp bố trí hợp lý lực lượng vũ trang làm kinh tế dịch
vụ biển, làm chỗ dựa cho các hoạt động kinh tế trên biển Có chính sách khuyến khích và tạo lập thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đảm bảo các hạt động dân sự trên toàn vùng biển được thường xuyên
- Đẩy mạnh hoạt đối ngoại quốc phòng, nắm chắc luật pháp và tập quán quốc tế để giải quyết các tranh chấp biển, đảo kịp thời và có hiệu quả, không để xảy ra các điểm nóng Kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quốc phòng và đối ngoại
Trang 39quân sự Củng cố và mở rộng hợp tác về quốc phòng với các nước ASEAN và Trung Quốc
V Những thuận lợi và thách thức
Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có những định hướng quan trọng và quan tâm đầu tư nhằm biến vùng duyên hải ven biển thành vùng kinh tế - xã hội phát triển bền vững Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi do tự nhiên đem lại, vùng duyên hải ven biển còn tiềm ẩn những thách thức to lớn vì đây là vùng trũng thấp, thường xuyên chịu tác động của các yếu tố thiên nhiên khốc liệt như bão, lốc, nước biển dâng,…
Để tồn tại và phát triển, trải qua nhiều thế hệ đã dần hình thành hệ thống
đê biển, đê cửa sông nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của nước biển Đây là thành quả to lớn của nhiều thế hệ, là tài sản vô giá của quốc gia, là hạ tầng quan trọng quyết định đến sự phát triển bền vững của vùng duyên hải ven biển
Trong những năm vừa qua một số tuyến đê biển xung yếu thuộc các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam đã được đầu tư khôi phục, củng cố Tuy nhiên do nguồn kinh phí hạn chế nên hệ thống đê biển còn mang tính chắp
vá, mứa đảm bảo an toàn chưa cao Mặt khác, do thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều, sóng gió, đặc biệt là khi có bão lớn nên đê biển cả ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ còn nhiều tồn tại, nhất là việc ổn định lâu dài trước nguy
cơ thiên tai ngày càng khốc liệt và trước đòi hỏi việc phát triển đa mục tiêu Việc bảo vệ an toàn hệ thống đê biển là một yêu cầu cấp bách
Trang 40PHẦN III: ĐÁNH GIÁ CÁC ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
VÙNG DỰ ÁN
Các yếu tố hải văn bao gồm thuỷ triều, sóng, dòng chảy biến đổi theo các chu kỳ khác nhau kết hợp với điều kiện địa hình khu vực đã tạo nên chế độ động lực đặc thù ở các vùng khác nhau tác động tới cống qua đê biển và hệ thống đê biển
Sóng là yếu tố động lực rất quan trọng ở đới ven bờ biển và cửa sông Ngoài tác động gây áp lực vỗ bờ, khi sóng vỡ còn tạo ra dòng chảy tốc độ cao có thể rửa trôi vật liệu đáy và tham gia vận chuyển bùn cát dọc bờ, phân bố lại trầm tích từ trong sông đưa ra hình thành nên các bãi bồi ven biển cửa sông Hoạt động của sóng cũng đã tạo nên các dạng địa hình mài mòn - xói lở và bồi tụ rất đặc trưng Quá trình mài mòn do sóng cũng cung cấp cho khu bờ một lượng bồi tích đáng kể, nhiều khi nó trở thành nguồn bồi tích chính, đặc biệt là những đoạn
bờ có ít cửa sông đổ ra biển và chịu tác động mạnh của sóng
I Vùng biển Nam Định
I.1 Chế độ thủy triều:
Bờ biển Nam Định có chiều dài khoảng 72Km nằm trong vùng ven biển cửa sông đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có chế độ nhật triều khá thuần nhất: Tại Hòn Dáu, triều có chu kỳ trung bình 24h45, thời gian triều dâng và rút có sự chênh lệch (TD = 11h11' và TR = 13h43') Biên độ dao động tối đa 3,0m đến 3,5m, trung bình từ 1,7m đến 1,9m và tối thiểu 0,3m đến 0,5m
Mực nước triều lớn nhất nhiều năm có thể đạt 4,0m và thấp nhất khoảng 0,08m Mực nước triều và biên độ lớn nhất là ở khu vực ven biển cửa sông Quảng Ninh, càng dần về phía Nam trị số mực nước triều và biên độ dao động nhỏ dần Theo không gian, từ Bắc xuống Nam và ở cửa sông từ ngoài khơi vào sâu trong đồng bằng tính chất nhật triều thuần nhất giảm đi khá nhanh do ảnh hưởng của yếu tố địa hình Số liệu mực nước thực đo trong thời gian 22 năm từ 1970-1991 tại các trạm cửa sông