Nội dung của bài viết đã xác lập một cách hiểu về đề mở, trình bày những vấn đề liên quan đến đề mở gắn với thực tiễn KTĐG và những có những gợi ý khá cụ thể về cách thực hiện một đề mở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ MINH DUYÊN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN
CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ MINH DUYÊN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN
CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học (bộ môn Ngữ văn)
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hồng Vân
HÀ NỘI - 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành
và lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Hồng Vân, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo, cán bộ quản lý của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và tổ chuyên môn Ngữ văn, trường THPT Chuyên Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang - nơi tôi đang công tác, đã động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn khó tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo
và các bạn đồng nghiệp để hoàn thiện đề tài nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Duyên
Trang 410 LATS Luận án Tiến sỹ
11 LL&PPDH Lý luận và phương pháp dạy học
Trang 5iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Biểu hiện của NL sáng tạo ở mỗi cá nhân 20
Bảng 1.2 Mô tả mức độ NL sáng tạo của HS chuyên Văn,
cấp THPT
28
Bảng 2.3 Rubric định tính cho đề bài minh họa 58
Bảng 2.4 Rubric định lượng cho đề bài minh họa 59
Bảng 3.2 Rubric hướng dẫn chấm đề thực nghiệm 86
Bảng 3.3 Thuyết minh tính khoa học của đề thực nghiệm 92
Bảng 3.5 Thống kê điểm số (X i ) của bài kiểm tra 103
Bảng 3.6 Điểm trung bình cộng của 2 nhóm TN và ĐC 103
Trang 7v
MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… i
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ……… ii
Danh mục các bảng……… iii
Danh mục các hình vẽ và biểu đồ……… iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề……… 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 8
5.2 Phương pháp điều tra……….9
5.3 Phương pháp thực nghiệm 9
6 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Đề mở 10
1.1.1 Quan niệm về đề mở 10
1.1.2 Phân loại……… 13
1.2 Năng lực sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT 15
1.2.1 Năng lực sáng tạo 15
1.2.2 Năng lực sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT 20
1.3 Ưu thế của đề mở trong việc phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT 29
1.3.1 Đề mở giúp phát triển NL tư duy sáng tạo ……… 29
1.3.2 Đề mở giúp phát triển NL liên tưởng, tưởng tượng ………31
Trang 8vi
1.3.3 Đề mở giúp phát triển NL diễn đạt sáng tạo……… 32
1.3.4 Đề mở giúp phát triển NL tò mò, yêu thích khám phá……… 33
1.4 Thực trạng của việc xây dựng và sử dụng đề mở hiện nay 35
1.4.1 Đề mở trong bối cảnh đổi mới KTĐG 35
1.4.2 Vấn đề xây dựng và sử dụng đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT 38
* Tiểu kết chương 1……….… 41
CHƯƠNG 2 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐỀ MỞ NHẰM PHÁT TRIỂN NL SÁNG TẠO CHO HS CHUYÊN VĂN CẤP THPT 43
2.1 Nguyên tắc xây dựng đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT………43
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học………… 43
2.1.2 Đảm bảo tính phù hợp……….46
2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục, phát triển……….47
2.1.4 Đảm bảo tính thẩm mỹ ……….……… ……48
2.2 Đề xuất quy trình xây dựng đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT 49
2.2.1 Xác định mục đích của việc ra đề……….… 49
2.2.2 Sàng lọc, hệ thống hóa các nội dung kiến thức và kĩ năng phù hợp với đối tượng ra đề……….… 51
2.2.3 Thiết kế đề thi/ đề kiểm tra….……… 52
2.2.4 Biên soạn đáp án và thang điểm….……… 53
2.2.5 Sửa chữa, hoàn thiện……….64
2.3 Giới thiệu một số đề mở phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT 65
2.3.1 Nhóm đề mở phát triển NL tư duy logic………65
2.3.2 Nhóm đề mở phát triển NL liên tưởng, tưởng tượng……… 70
2.3.3 Nhóm đề mở phát triển NL diễn đạt và trình bày văn bản………74
2.3.4 Nhóm đề mở phát triển NL tự học, bồi dưỡng đam mê sáng tạo…… 78
* Tiểu kết chương 2……… 83
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……… 84
3.1 Mục đích thực nghiệm………84
Trang 9vii
3.2 Thời gian và đối tượng thực nghiệm……… 84
3.2.1 Thời gian thực nghiệm……… 84
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm……… 85
3.3 Quy trình thực nghiệm……… 85
3.4 Tổ chức thực nghiệm……… 86
3.4.1 Thiết kế đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn……86
3.4.2 Tổ chức kiểm tra HS……… 97
3.4.3 Thu thập ý kiến đánh giá của HS về đề kiểm tra……… 98
3.5 Kết quả thực nghiệm………98
3.5.1 Phân tích định tính………98
3.5.2 Phân tích định lượng ……… 101
* Tiểu kết chương 3………104
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……… 105
1 Kết luận……… 105
2 Khuyến nghị……….106
Danh mục các công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến luận văn……….107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC……….113
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại ngày càng thoải
mái, tiện nghi; “thế giới phẳng” theo đúng nghĩa của nó không chỉ dừng lại ở
việc những thung lũng lấp đầy, những núi đồi được san phẳng; mà còn do khoảng cách về trình độ nhận thức của con người trên thế giới ngày càng được thu hẹp Gốc rễ của sự phát triển tích cực đó xuất phát từ chỗ năng lực (NL) của con người ngày càng được nâng cao Đó cũng là lí do khiến yêu cầu phát triển các NL cho con người trở thành mục tiêu giáo dục có ý nghĩa toàn cầu Trong các NL đó, không thể không nhắc NL sáng tạo Nhờ có NL sáng tạo con người có thể đối mă ̣t với những thử thách trong cuô ̣c sống NL sáng tạo cũng là điều kiện để con người vượt lên được những gì đã có ; chinh phu ̣c những thành tựu lớn lao hơn , thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Như Edward de
Bono từng phát biểu: Sáng tạo là một trong những nguồn lực quan trọng nhất
của loài người Không có sáng tạo, không có sự tiến bộ và chúng ta sẽ mãi mãi giẫm chân tại chỗ [65]
Tại Việt Nam , trong những năm gần đây , yêu cầu phát triển NL sáng tạo cho người học đã trở thành mô ̣t trong những mu ̣c tiêu quan tro ̣ng Luâ ̣t
Giáo dục năm 2005 (điều 28) quy đi ̣nh: Giáo dục phổ thông có mục tiêu giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức , trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản , phát triển năng lực cá nhân , tính năng động sáng tạo , hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội
nghị lần thứ VIII Ban chấp hành Trung ương khóa XI cũng khẳng định: Tiếp tục
đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc [16]
Trong năm 2017, Bộ GD&ĐT cũng đã giới thiệu Dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông, chương trình tổng thể [11] Theo đó, một trong
những quan điểm xây dựng Chương trình giáo dục phổ thông là: “Chương
Trang 112
trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết,
để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình” [11, tr 6] Bên cạnh đó, yêu
cầu cần đạt về phẩm chất và NL của HS cũng nhấn mạnh mục tiêu giúp HS:
“Hình thành, phát triển: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo” [11, tr 7] Những nội dung này
cho thấy: Chương trình giáo dục phổ thông tới đây cho phép GV và HS có cơ hội phát huy tính chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện chương trình; nhằm hướng tới mục tiêu phát triển NL sáng tạo cho HS
1.2 Giáo dục là sự nghiệp chung của mỗi cá nhân , mỗi nhà trường và của toàn xã hội Trong đó, các trường THPT Chuyên luôn đóng vai trò tiên phong trong quá trình đào ta ̣o nhân tài cho đất nước Viê ̣c đào ta ̣o, bồi dưỡng, phát triển tài năng của đất nước tại các trường Chuyên luôn có những điều kiê ̣n và yêu cầu đă ̣ c thù Với bô ̣ môn Ngữ văn ở trường THPT Chuyên , NL sáng tạo luôn là tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng văn học của một học sinh (HS) Có NL sáng tạo, HS sẽ không bi ̣ lê ̣ thuô ̣c vào lối cũ - nếp cũ, các
em cũng có thể làm chủ kiến thức và kĩ năng của bản thân, vượt lên những trở ngại trong quá trình đọc văn - viết văn để khẳng đi ̣nh bản lĩnh văn ho ̣c của mình Trong thực tế , những bài văn được đánh giá cao (trong các kì thi , nhất
là các kì thi học sinh giỏi) luôn là những sản phẩm sáng ta ̣o ở những mức đô ̣ khác nhau : có thể sáng tạo trong cách nhìn , cách cảm nhận về văn học và cuô ̣c sống; có thể sáng tạo trong khâu lập ý, hành văn, diễn đa ̣t…
Là một giáo viên (GV) Ngữ văn đang công tác ta ̣i trường THPT Chuyên Bắc Giang, tôi nhâ ̣n thấy: Viê ̣c phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn chính là yêu cầu tiên quyết để nâng cao chất lượng mũi nho ̣n ; đồng thời giúp cho các em trở nên tự tin, chủ động hơn trong cả học tập và cuộc sống
Trang 123
1.3 Việc đổi mới kiểm tra đánh giá (KTĐG) môn Ngữ văn đã và đang được tiến hành trong thời gian vừa qua và hứa he ̣n sẽ có những thay đổi rõ nét hơn sau năm 2018 Theo đó, các đề mở/ câu hỏi mở xuất hiê ̣n ngày càng nhiều trong các kì thi quan tro ̣ng như thi Tốt nghiê ̣p, Đa ̣i ho ̣c (trước 2014), thi THPT Quốc gia (từ 2014 đến nay), thi HSG các cấp… Đây là một trong những công cụ hữu hiệu để đánh giá NL sáng tạo của người học Tuy nhiên trên thực tế GV chưa có cách hiểu thống nhất về đề mở và chưa có kĩ năng xây dựng đề mở khoa học, phù hợp với yêu cầu phát triển NL cho HS Nghiên cứu để có những biện pháp thiết kế đề mở hợp lí, giúp HS thích ứng được với các dạng đề mở khác nhau… là nhiê ̣m vu ̣ của mỗi GV
Xuất phát từ đòi hỏi của xã hô ̣i , từ yêu cầu đổi mới PPDH và KTĐG môn Ngữ văn, từ thực tiễn bồi dưỡng HSG môn Văn ta ̣i trường THPT Chuyên Bắc Giang; với mong muốn phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn để
nâng cao hiê ̣u quả da ̣y ho ̣c… chúng tôi lựa cho ̣n nghiên cứu đề tài: Xây dựng
hệ thống đề mở nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT
2 Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây , khi KTĐG được xem là mô ̣t mắ t xích quan trọng, mô ̣t khâu tro ̣ng yếu của quá trình đổi mới PPDH Ngữ văn; đã có một số công trình nghiên cứu về đề mở và vấn đề phát triển NL sáng tạo cho HS
2.1 Những nghiên cứu về đề mở trong môn Ngữ văn
Đổi mới cách ra đề thi ở môn Ngữ văn là một nội dung đã được nhắc tới từ lâu, ít nhất là gắn liền với chương trình và SGK Ngữ văn từ năm 2006
Trong Hệ thống đề mở Ngữ văn lớp 10 [47], sau khi tiến hành khảo sát các
đề thi/ đề kiểm tra trong SGK Ngữ văn từ năm 2000 đến nay, các tác giả đã đi
đến nhận định: Điều đổi mới đáng ghi nhận nhất là việc tăng cường ra các đề
theo dạng mở đã kích thích được nhiều sự suy nghĩ độc lập, độc đáo và sáng tạo của HS [47, tr 5] Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã trình bày một
số vấn đề liên quan đến ưu điểm và hạn chế của đề mở: Cái hay của dạng đề
Trang 134
mở là phân hóa được HS rất rõ, người viết bài khó mà chép được văn mẫu, phảu tự mình suy nghĩ và viết ta những ý nghĩ của chính mình… Điểm hạn chế của dạng đề này là ở chỗ khá khó đối với HS có lực học trung bình GV chấm bài cũng phải rất vững tay vì đáp án khó làm cho rõ ràng, rành mạch
[47, tr 9]
Về đề mở trong môn Ngữ văn, không thể không kể tới những nghiên
cứu của tác giả Đỗ Ngọc Thống Trong cuốn Tài liệu chuyên Văn [45], tác giả có bài Đề mở - nhận diện và cách làm bài Nội dung của bài viết đã xác
lập một cách hiểu về đề mở, trình bày những vấn đề liên quan đến đề mở gắn với thực tiễn KTĐG và những có những gợi ý khá cụ thể về cách thực hiện một đề mở trong môn Ngữ văn
Từ góc nhìn của những người xây dựng chương trình SGK Ngữ văn,
Trần Đình Sử có bài viết Đề mở trong dạy học làm văn (2012) Bài viết đã
trình bày một số quan điểm của tác giả về đề mở và những khó khăn cần khắc phục để phát huy những ưu điểm của dạng đề này trong dạy học và KTĐG
môn Ngữ văn Tác giả cho rằng: Đề mở là một hướng tiến bộ trong dạy học
làm văn, những vẫn đang là một vấn đề mới, chưa được nghiên cứu sâu, còn
có những khía cạnh chưa rõ, phải qua thực tiễn thì mới nhìn thấy hết được Vấn đề này đòi hỏi các GV nghiên cứu, suy nghĩ, nhìn thấy chỗ mạnh, chỗ khó, thậm chí chỗ yếu của nó, nghiên cứu PPDH phù hợp thì phương hướng này mới phát huy được tác dụng tích cực của nó [39, tr.16]
Đồng quan điểm với nhà nghiên cứu Trần Đình Sử khi đề cập đến những khó khăn của việc triển khai sử dụng các đề mở trong môn Ngữ văn,
tác giả Phạm Mạnh Hà cũng cho rằng: Đề thi mở luôn luôn là đề thi khó Và hạn chế lớn nhất của đề văn mở trong bối cảnh hiện tại là: Chúng ta đang
thiếu đi những tiêu chuẩn đánh giá đề văn mở thế nào là tốt và việc đánh giá chất lượng bài làm HS như thế nào là chuẩn.[20]
Trong thực tế, đã có một số nghiên cứu tìm hiểu các biện pháp nâng cao chất lượng của các đề làm văn được ra theo hướng mở, khắc phục những
Trang 145
ngộ nhận liên quan đến dạng đề này Tác giả Ngô Văn Nghĩa trong LV thạc sĩ
Định hướng ra đề làm văn theo hướng mở ở cấp THPT [33] đã đóng góp
một số hướng ra đề mở môn Văn ở cấp THPT Xem đề mở, câu hỏi mở không chỉ là phương tiện để đo lường, đánh giá chất lượng học tập của HS mà còn là một dạng phương tiện dạy học, tác giả Trịnh Thị Ngọc Thúy trong LV Thạc sĩ
Xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn THPT [53] đi sâu
nghiên cứu về cách thức xây dựng những câu hỏi có tính chất gợi mở và việc ứng dụng những câu hỏi này trong quá trình dạy học Ngữ văn
Năm 2014, thực hiện nhiệm vụ đổi mới GDPT theo tinh thần Nghị
quyết 29/NQ-TW, Bộ GD&ĐT tổ chức hội thảo Đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong trường phổ thông Hội thảo nhằm
nghiên cứu cơ sở lý luận và xây dựng kế hoạch triển khai việc đổi mới phương thức KTĐG kết quả học tập môn Ngữ văn theo định hướng phát triển
NL người học với cách thức xây dựng đề thi/kiểm tra và đáp án theo hướng mở; tích hợp kiến thức liên môn; giải quyết vấn đề thực tiễn Hội thảo đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều CB-GV… tìm hiểu về đề mở nói riêng và hoạt động KTĐG trong môn Ngữ văn nói chung Kết quả của hội thảo có ý nghĩa định hướng không nhỏ cho hoạt động KTĐG trong môn Ngữ văn
Ngoài ra, còn có một số đầu sách giới thiệu đề thi và tuyển chọn những bài làm văn hay; một số bài viết trên các tạp chí nghiên cứu, ý kiến trao đổi trên các phương tiện truyền thông… ít nhiều đề cập đến đề mở và việc sử
dụng đề mở trong dạy học và KTĐG môn Ngữ văn Cuộc thi Ra đề, viết văn theo hướng phát triển NL và phẩm chất do tạp chí Văn học và tuổi trẻ tổ
chức, được các thầy cô giáo và các em HS tích cực hưởng ứng, đã tạo nên những hiệu ứng tích cực về đề mở trong thời gian gần đây
2.2 Những nghiên cứu về vấn đề phát triển NL sáng tạo cho HS
Ở Việt Nam, nghiên cứu về lĩnh vực sáng tạo có thể kể đến một số nhà nghiên cứu tiêu biểu như: Hoàng Chúng, Nguyễn Cảnh Toàn, Vũ Dương Thụy, Tôn Thân, Trần Thị Bích Liễu… Các công trình nghiên cứu về sáng tạo
Trang 156
chủ yếu tập trung vào hai mảng là: tâm lý học và lý luận dạy học Ở mảng lý luận dạy học, có các công trình khoa học tiêu biểu như: Tác giả Hoàng Chúng
trong cuốn Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông
[12], đã tập trung nghiên cứu vấn đề rèn luyện cho HS phát triển các phương pháp suy nghĩ cơ bản trong sáng tạo toán học như đặc biệt hóa, tổng quát hóa, tương tự hóa và cho rằng các phương pháp này có thể vận dụng trong giải để
mở rộng, đào sâu và hệ thống hóa kiến thức Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn
trong Tập cho HS giỏi toán làm quen dần với nghiên cứu toán học [40] đã
đặt trọng tâm vào việc rèn luyện khả năng “phát hiện vấn đề”, rèn luyện tư duy sáng tạo và khả năng tìm tòi “cái mới”… Tuy nhiên đúng như tác giả
Nguyễn Huy Tú nhận định: “nhìn chung, việc nghiên cứu về tính sáng tạo ở
nước ta mới chỉ là manh nha Điều này tất yếu gây những hạn chế nhất định đến chất lượng GD&ĐT” [41, tr 3]
Nội dung dạy học và KTĐG trong môn Ngữ văn theo định hướng phát triển NL đã được nhắc tới khá nhiều, nhất là trong thời gian gần đây; song những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề phát triển NL sáng tạo cho
HS trong môn Ngữ văn thì rất hạn chế Cuốn sách Dạy học phát triển NL sáng tạo cho HS phổ thông: Lý thuyết và thực hành [28] của tác giả Trần
Thị Bích Liễu là một trong số ít đầu sách có dành một phần nội dung đề cập đến vấn đề phát triển NL sáng tạo cho HS trong môn Ngữ văn Tuy vậy, phần nội dung này lại chủ yếu được cụ thể hóa thông qua việc hướng dẫn GV thiết
kế giáo án để phát triển NL sáng tạo cho HS, chứ không đề cập đến vấn đề KTĐG, nhất là việc ra đề mở môn Văn nhằm phát triển NL sáng tạo Trong
bài viết Xác định cấu trúc và đường phát triển một số NL trong môn học Ngữ văn ở trường phổ thông [57], tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân đã nghiên
cứu về các thành tố cấu trúc của NL thẩm mỹ và NL sáng tạo; qua đó phác thảo đường phát triển của các NL này Đây là nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc cụ thể hóa những biểu hiện của NL sáng tạo văn học ở HS
Tuy vậy, đúng như tác giả nhận định: Nghiên cứu mới là những phác thảo
Trang 16người học, nhất là với HS chuyên Văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cƣ́u
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đề mở, đề xuất hướng biên soạn hệ thống đề mở nhằm phát triển NL sáng ta ̣o cho HS chuyên Văn cấp THPT
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn hướng đến làm rõ những vấn đề sau:
- Tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về đề mở, ưu thế của đề mở trong việc phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn, cấp THPT
- Xác định các nguyên tắc xây dựng đề mở trong môn Ngữ văn, đề xuất quy trình xây dựng đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn, cấp THPT Giới thiệu hệ thống đề mở phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn, cấp THPT
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính phù hợp, khả thi của hệ thống đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn, cấp THPT
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề xây dựng đề mở trong môn Ngữ văn, nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn, cấp THPT
Trang 178
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vì NL nói chung và NL sáng tạo nói riêng của HS được thể hiện rõ nhất thông qua các hoạt động học tập; nên trong đề tài này chúng tôi chủ trương nghiên cứu việc xây dựng hệ thống đề mở gắn liền với hoạt động dạy học và KTĐG nhằm đánh giá được mức độ phát triển NL sáng tạo ở HS chuyên Văn cấp THPT
Thực tế cho thấy đề mở vẫn là công cụ được sử dụng chủ yếu trong hoạt động đánh giá Với HS chuyên Văn cấp THPT, các đề thi hiện nay, nhất
là thi HSG thường gồm hai câu hỏi nghị luận xã hội và nghị luận văn học Yêu cầu đọc hiểu văn bản, nếu có sẽ nằm trong hai câu nghị luận nói trên Vì vậy, để phục vụ thiết thực cho công tác dạy học và phát triển NL sáng tạo cho
HS chuyên Văn, đề tài của chúng tôi chủ trương tập trung nhiều hơn vào việc nghiên cứu xây dựng các đề mở cho yêu cầu tạo lập văn bản nghị luận
Để dễ dàng thực hiện việc nghiên cứu và kiểm chứng về hiệu quả của
đề mở trong việc phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn; chúng tôi lựa chọn phạm vi nghiên cứu thực tiễn là hoạt động dạy học của GV và HS chuyên Văn, trường THPT Chuyên Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để thấy rõ ưu thế của đề mở trong hoạt động dạy học và KTĐG môn Văn, nhất là với mục tiêu phát triển NL sáng tạo cho đối tượng HS chuyên Văn; chúng tôi tiến hành tập hợp tư liệu liên quan đến đề mở, vấn đề phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn Trên cơ sở tổng hợp những tài liệu đã
có, chúng tôi nêu quan điểm về nguyên tắc biên soạn đề mở và đề xuất biện pháp thiết kế đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS Chuyên Văn
5.2 Nhóm phương pháp điều tra
Trang 189
Chúng tôi sử dụng bảng hỏi in sẵn các câu hỏi liên quan đến đặc điểm tâm lý, trí tuệ, NL học tập, khả năng xử lý đề thi… của HS chuyên Văn và thực hiện việc trưng cầu ý kiến của các Thầy/ Cô giáo đang trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn ở một số trường THPT Chuyên Đồng thời tổ chức trưng cầu ý kiến của HS chuyên Văn về đề mở và việc thực hiện đề mở
Để xử lý dữ liệu: Chúng tôi dùng phương pháp thống kê – phân loại, so sánh – đối chiếu, tổng hợp… sau khi đưa ra các chỉ số cụ thể và phân tích các chỉ số đó
5.3 Phương pháp thực nghiệm
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm trên hai nhóm HS chuyên Văn với hai dạng đề kiểm tra môn Văn (dạng đề truyền thống và đề mở) Trong đó:
- Nhóm đối tượng thực nghiệm thực hiện bài kiểm tra với đề mở
- Nhóm đối chứng có cùng trình độ, thực hiện bài kiểm tra với dạng đề truyền thống
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tư liệu tham khảo, phụ lục; nội dung
đề tài của chúng tôi được cấu tạo gồm có ba chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Chương II: Đề xuất biện pháp xây dựng hệ thống đề mở nhằm phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT
- Chương III: Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Khái niệm đề mở, xét về nguồn gốc, có thể liên quan đ ến tên go ̣i của
mô ̣t da ̣ng bài kiểm tra ở nước Mỹ Đó là da ̣ng Test / examination with open books, open notes (bài kiểm tra cho phép đư ợc mở sách vở); phân biê ̣t với dạng Test/ examination with closed books, closed notes (kiểm tra không được
mở sách, mở vở)
Sau này, khái niệm đề mở được hiểu mở rô ̣ng hơn ý nghĩa là mô ̣t loa ̣i
đề cho phép mở tài liệu khi làm bài Chữ mở trong đề mở có thể được hiểu
như là một đặc điểm, một phẩm chất của đề; nó quy định sự khác nhau giữa
đề mở và đề truyền thống (còn gọi là đề đóng) Nếu đề truyền thống là những
đề bài có yêu cầu cụ thể về nội dung, cách thức thực hiện, phạm vi tư liệu; thì
đề mở là dạng đề chỉ có những gợi dẫn nhất định, tùy theo từng trường hợp
HS được tự lựa chọn vấn đề, cách triển khai hoặc nguồn tư liệu để thực hiện
đề bài một cách hiệu quả nhất theo quan điểm của mình
Dưới đây là ví dụ về đề mở trong tương quan so sánh với đề truyền thống:
Đề 1 Phân tích bài thơ Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) để làm rõ tâm sự của nhà thơ
Đề 2 Bài thơ Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến) là nỗi đau mất bạn
hay nỗi cô đơn thống thiết của nhà thơ trước cuộc đời?
Trong hai đề bài trên, đề 1 là đề truyền thống, đề 2 là đề mở Đề 1 có yêu cầu cụ thể về thao tác lập luận, nội dung vấn đề và phạm vi tư liệu Để triển khai bài viết, HS nhất thiết phải bám sát văn bản, sử dụng thao tác lập luận phân tích để làm rõ những tâm sự của nhà thơ trong tác phẩm Trong khi
đó, đề 2 lại cho phép HS thoải mái hơn trong việc sử dụng thao tác lập luận cũng như xác định nội dung trọng tâm để triển khai bài viết Ngoài thao tác
Trang 2011
lập luận phân tích, các em có thể sử dụng kết hợp các thao tác giải thích, chứng minh, so sánh, bình luận, bác bỏ để bài viết tự nhiên và thuyết phục hơn Về nội dung, các em có thể cảm nhận về bài thơ để thấy nỗi đau mất bạn hoặc nỗi cô đơn của nhà thơ, cũng có thể làm sáng tỏ cả hai nội dung đó hoặc nêu cảm nhận của mình về bài thơ bằng những luận điểm riêng…
Có thể thấy: Hai đề bài cùng hỏi về bài thơ Khóc Dương Khuê, nhưng
so với đề truyền thống thì rõ ràng đề mở đã“tạo được không gian thoáng cho
HS suy nghĩ” [39; tr.15]
Nhận định về đề mở, tác giả Đinh Văn Thiê ̣n (2015) cho rằng: Đề mở
không còn bị đóng khung một cách cứng nhắc vào một số câu, chữ, một số tác phẩm trong chương trình quy đi ̣nh, cũng không bị gò bó vào một vài quan điểm, nhận đi ̣nh có sẵn muôn thuở đối với những tác phẩm học trích ấy [44]
Trong cuốn Hê ̣ thống đề mở Ngữ văn 10, tác giả Đỗ Ngọc Thống và
cộng sự từ phương diê ̣n hình thức cũng nêu quan niê ̣m về đề mở như sau: Đề
mở là loại đề chỉ nêu vấn đề cần bàn luận trong bài nghị luận hoặc chỉ nêu đề tài để viết văn tự sự, miêu tả… không nêu mê ̣nh lê ̣nh gì về thao tác lập luận như kiểu: hãy chứng minh, hãy giải thích, hãy phân tích… hoặc phương thức biểu đạt như: hãy kể, hãy phát biểu cảm nghĩ,… [47, tr 8]
Có thể thấy các quan niệm trên đều th ống nhất ở chỗ đề cao tính không hạn định của đề mở Các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận tính mở của đề mở ở nhiều phương diện khác nhau, tùy thuộc vào tính chất và yêu cầu của kì thi/ kì kiểm tra và của đối tượng làm bài Cụ thể:
- Về nội dung: Đề mở là dạng đề mà nội dung có tính gợi mở cao, không bị áp đặt vào một vấn đề bó buộc nào Nội dung của đề mở có thể là những vấn đề tương đối rộng, chứ không nhất thiết phải thuộc phần kiến thức
mà HS đã được học Đề mở vì vậy cho phép đánh giá khả năng xâu chuỗi, tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn, nhiều góc độ của HS; đồng thời kích thích khả năng trình bày vấn đề theo ý hiểu và theo cá tính của người học
- Về hình thức trình bày và quan điểm đánh giá:
Trang 21tra viết như sau: Hôm nay chúng ta sẽ viết một bài văn tự sự hoặc một truyện
ngắn Ý tưởng cho câu chuyện của bạn là "Chiếc hộp" Cái gì đang nằm ở bên trong chiếc hộp? Làm thế nào để tìm ra nó? Nó có giá trị hay không? Có thể nó là một vật sống! Trong hộp có thể còn xuất hiện một lời nhắn hoặc một vật gì đó rất bí ẩn Cái gì sẽ xảy ra trong câu chuyện bạn kể nếu chiếc hộp được mở ra? Với đề bài này, mỗi HS ở các lớp khác nhau, các trình độ khác
nhau đều có thể tưởng tượng, suy nghĩ và thể hiện NL cá nhân trong khi viết bài theo gợi ý của đề bài Mặc dầu sử dụng chung một đề thi nhưng mức độ phân hóa rất rõ theo từng đối tượng
Tóm lại:
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về đề mở, song điểm thống nhất
là các ý kiến đều khẳng định tính mở và ưu thế của đề mở so với các dạng đề
truyền thống
Tính mở của đề mở được quy định trên các phương diện:
(1) Nội dung: không bó buộc vào một vấn đề cụ thể hoặc chỉ nêu chủ
đề, HS phải tự xác định vấn đề
(2) Thao tác lập luận: không bắt buộc HS thực hiện yêu cầu của đề
bằng các mệnh lệnh như: Hãy giải thích, hãy chứng minh, hãy bình luận…
mà cho các em được linh hoạt vận dụng các thao tác lập luận để làm sáng tỏ vấn đề
Trang 2213
(3) Phạm vi tư liệu: không giới hạn trong một khuôn khổ nhất định, mà cho phép HS có cơ hội huy động kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau để làm sáng tỏ yêu cầu của đề
Chính tính mở đã tạo ra ưu thế của đề mở so với đề truyền thống: đề
mở cho phép HS tự do, linh hoạt hơn khi xử lý yêu cầu của đề bài Nó trở thành mảnh đất gieo trồng cho những tư tưởng, quan điểm mới; những cách diễn đạt/ khả năng thể hiện cái mới; những cách ứng xử linh hoạt, nhạy bén của người học trước một vấn đề/ một tình huống được đặt ra
Hình thức của các đề mở về phương diện nội dung khá phong phú Dưới đây là một số cách hỏi thường gặp:
- Đề ra dưới dạng một mệnh lệnh yêu cầu triển khai chủ đề sẵn có
Ví dụ: Hãy viết một bài văn với chủ đề: Người khuyết tật
- Đề bài yêu cầu HS viết tiếp một mệnh đề còn bỏ trống
Ví dụ: Thất bại thực sự là…
- Đề ra dưới hình thức một câu hỏi, yêu cầu HS viết một bài văn để trả lời câu hỏi đó bằng suy nghĩ của bản thân
Ví dụ: Phải chăng vấp ngã là đặc quyền của tuổi trẻ?
- Đề bài cung cấp thông tin/ ngữ liệu, yêu cầu HS tự lựa chọn vấn đề trên cơ sở đọc hiểu thông tin/ ngữ liệu đó để triển khai thành một bài văn Thông tin/ ngữ liệu được cho trong đề bài có thể là một bức tranh, một câu
Trang 23Năm ngoái được thăng chức giám đốc, cha thay đổi thói quen đột ngột: cha vặn đồng cho chạy chậm năm phút Tôi thắc mắc, hỏi tại sao, cha trả lời:
“Phải nghiêm khắc với chính mình nhưng lại rộng lượng với người khác!”
(Truyện cực ngắn về cuộc sống, Phạm Quốc)
1.1.2.2 Đề mở về thao tác
Đề mở về thao tác là những đề bài không ấn định cụ thể về cách thức
thực hiện bài viết bằng những mệnh lệnh như: Hãy chứng minh, hãy giải
thích, hãy bình luận…
Ví dụ:
- Nhân vật người vợ nhặt (Vợ nhặt, Kim Lân) trong suy nghĩ của tôi
- Câu chuyện giàu và nghèo trong xã hội hiện nay
Với những đề mở này, HS có thể tự do lựa chọn thao tác lập luận và các phương thức biểu đạt phù hợp để làm bài Các em cũng có thể sử dụng kết hợp nhiều thao tác lập luận khác nhau để tăng tính thuyết phục cho bài viết
1.1.2.3 Đề mở về phạm vi tư liệu
Đề mở về phạm vi tư liệu là những đề bài không khoanh vùng tư liệu
cụ thể mà HS cần sử dụng để thực hiện bài viết Với đặc điểm này, các đề bài
sẽ trao cho HS cơ hội được tự huy động, lựa chọn những tri thức từ nhiều nguồn khác nhau để triển khai bài viết
Trang 2415
Ví dụ: Sức sống của một tác phẩm văn học mà anh/chị yêu thích
Với đề bài trên, HS có thể lựa chọn một tác phẩm văn học bất kì (trong hoặc ngoài chương trình, thuộc bộ phận văn học dân gian hoặc văn học viết, tác phẩm văn học Việt Nam hoặc tác phẩm văn học nước ngoài…) để làm sáng tỏ yêu cầu của đề bài
Lưu ý: Trong thực tế, có những đề mở mang tính chất giao thoa của cả
3 dạng trên Đó là những đề bài vừa cho phép HS được triển khai bài viết bằng nhận thức của bản thân, vừa không bó buộc về cách thức trình bày văn bản Với những cách hỏi đa dạng như: Viết tiếp một câu chuyện còn dang dở, viết lại câu chuyện từ vai một nhân vật nào đó, trình bày cảm nghĩ về một bức tranh… các đề này đã tạo không gian mở tối đa cho HS phát huy NL văn học
của mình
* Tóm lại:
Sự phong phú, đa dạng về nội dung và hình thức của đề mở là một tín hiệu khả quan trong hoạt động dạy học và KTĐG môn Ngữ văn Sự đa dạng
đó là bảo hiểm cho sáng tạo, có khả năng khơi gợi hứng thú của cả GV và HS
Đề mở không chỉ tạo điều kiện cho HS phát huy những NL chuyên biệt như cảm thụ, phân tích, lí giải và đánh giá các hiện tượng văn học; rèn luyện cho các em cách thức và quy trình tạo lập văn bản; mà còn phát triển NL sáng tạo cho các em trong quá trình làm bài Việc ra đề mở vì thế trở thành một xu thế
tất yếu trong dạy học Ngữ văn hiện nay
1.2 Năng lực sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT
1.2.1 Năng lực sáng tạo
1.2.1.1 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ tâm lý học
* Năng lực
Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia”
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực
Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là: Khả năng, điều kiện chủ quan
hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và
Trang 2516
sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [36, tr 660-661]
Nghiên cứu về năng lực ở bình diện tâm lý học, Trần Việt Dũng (2013)
cho rằng: Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá
nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định (…); là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt” [14; tr 107]
Như vậy: Năng lực là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết
chắc chắn, kĩ năng thuần thục và thái độ phù hợp; là những kiến thức, kĩ năng
và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi
cá nhân Khác với “tiềm năng”, “năng lực” chủ yếu hiện ra trong hiện thực chứ không phải ở dạng tiềm tàng Khác với “khả năng” nói chung, “năng lực”
là “một mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị ở việc hoàn thành
có kết quả một hoạt động nào đó” “Năng lực” cũng không giống “tài năng”
vì “tài năng” là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành một cách sáng tạo một hoạt động nào đó và càng khác với “năng khiếu” – khả năng sẵn
có, có tính bẩm sinh Còn so với “kĩ năng”, “năng lực” lại có phạm vi nghĩa rộng hơn, “năng lực” bao gồm khả năng đáp ứng các yêu cầu phức tạp dựa trên việc huy động cả kĩ năng và thái độ trong một hoàn cảnh cụ thể Gắn với
hoạt động giáo dục, có thể thấy: Năng lực chính là đích đến cuối cùng, là mục
tiêu mà giáo dục cần hướng đến
* Sáng tạo
Sáng tạo là một yếu tố đặc trưng của con người trong hoạt động nhận
thức Đó là một trong các phẩm chất của trí tuệ Theo những nghiên cứu của
Trần Thị Bích Liễu trong cuốn sách Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo
(2016): Đã có nhiều nghiên cứu đề cập đến sáng tạo Tác giả Henry Gleiman cho rằng: Sáng tạo, đó là năng lực tạo ra những giải pháp mới hoặc duy nhất
cho một vấn đề thực tiễn và hữu ích F.Raynay và A.Rieunier cũng khẳng
Trang 2617
định: Tính sáng tạo là năng lực tưởng tượng nhanh, nhiều lời giải độc đáo khi
đối đầu với một vấn đề [27]
Cuốn Từ điển về sáng tạo (2007) nêu: Sáng tạo được hiểu là khả năng
của một con người, của một tổ chức đưa ra những ý tưởng mới, có chất lượng cao và có giá trị cao; là sự tư duy theo cách mới, là sự nhìn thấy vấn đề mới trong các vấn đề cũ Sáng tạo là sản phẩm của các phẩm chất và năng lực trí tuệ [60] Đồng quan điểm này, nhà nghiên cứu Phan Đình Diệu diễn đạt về
sáng tạo như sau: Cái chung nhất của sáng tạo là tìm kiếm những cái mới,
một tri thức mới hay một cách vận dụng mới của những tri thức đã có, một phương pháp mới hay một giải pháp mới cho vấn đề tưởng rằng đã cũ [64]
Các tài liệu Tâm lý học giáo dục cơ bản thống nhất trong việc xác định
cấu trúc của sáng tạo bao gồm:
- Sự mềm dẻo, linh hoạt (Flexibility) Sự mềm dẻo là khả năng chủ thể
biến đổi thông tin, kiến thức đã tiếp thu được một cách dễ dàng, nhanh chóng
từ góc độ, quan niệm này sang góc độ và quan niệm khác, chuyển đổi sơ đồ tư duy có sẵn trong đầu sang một hệ tư duy khác, chuyển đổi từ phương pháp cũ sang hệ thống phương pháp mới, chuyển đổi từ hành động trở thành thói quen sang một hành động mới, gạt bỏ sự cứng nhắc mà con người đã có để thay đổi
sự nhận thức dưới một góc độ mới, thay đổi cả những thái độ đã cố hữu trong hoạt động tinh thần, trí tuệ
- Sự lưu loát, trôi chảy (Fluency): Sự trôi chảy lưu loát là NL tổ hợp,
tạo ý tưởng mới, kết hợp các yếu tố riêng lẻ của tình huống, hoàn cảnh, sự vật nhanh chóng
- Sự độc đáo (Originality): Sự độc đáo là NL tư duy độc lập trong quá
trình giải quyết vấn đề, nó cho phép con người nhìn nhận các sự vật, hiện tượng, vấn đề theo cách khác, mới lạ so với những cách trước
- Sự chế tạo mới (Elaboration): Sự chế tạo mới nghĩa là từ các thông tin
đã biết, từ những ý tưởng đã có chủ thể xây dựng được một cấu trúc mới, một
Trang 2718
kế hoạch mới với các bước tổ chức, hành động liên tiếp và phù hợp, phối hợp các ý tưởng, các câu nói, các cử động…
- Sự nhạy cảm (Sensitivity): Sự nhạy cảm là năng lực nhanh chóng phát
hiện sai lầm, mâu thuẫn, thiếu hụt hoặc thiếu logic, thiếu ngắn gọn…; NL nắm bắt dễ dàng nhanh chóng các vấn đề, nhận ra các ý nghĩa mới của sự vật
từ những thông tin còn thiếu hụt của bản thân
* Năng lực sáng tạo
Tổng hợp các nghiên cứu về NL và sáng tạo, có thể đi tới khái quát:
Năng lực sáng tạo là khả năng của một người khi sản sinh các ý tưởng mới, nhìn nhận vấn đề theo cách mới, phát hiện cái mới trong cái cũ, để tạo ra các sản phẩm mới
1.2.1.2 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ lí luận dạy học hiện đại
* Việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động của HS:
Các lý thuyết, phương pháp và kĩ thuật dạy học hiện đại như: Thuyết kiến tạo, thuyết nhận thức, thuyết hành vi, phương pháp bàn tay nặn bột… đều có điểm chung là giúp người học kiến tạo tri thức một cách chủ động và sáng tạo Lấy HS làm trung tâm, tích cực hóa các hoạt động học tập của người học… đã trở thành tinh thần của việc đổi mới phương pháp dạy học
Tính tích cực trong nhận thức của người học có nhiều biểu hiện phong phú như: hào hứng tìm hiểu, khám phá các đơn vị kiến thức; tích cực tham gia xây dựng bài trong giờ học, tích cực trình bày những quan điểm của bản thân trong quá trình học tập; suy nghĩ một cách độc lập, sáng tạo; biết vận dụng những tri thức đã được học để giải quyết những vấn đề phức tạp trong học tập
và cuộc sống… Chúng tôi cho rằng: Những biểu hiện của việc tích cực hóa hoạt động của người học theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, chính là tiền đề quan trọng để phát triển các NL cần thiết cho người học, trong đó hạt nhân là NL sáng tạo
Trong môn Ngữ văn, việc đổi mới phương pháp dạy học càng có liên quan mật thiết đến việc phát triển NL sáng tạo của người học Nếu trong quá
Trang 2819
trình dạy học văn trước đây người GV đóng vai trò trung tâm, HS chỉ là đối tượng thụ động tiếp nhận tri thức từ thầy cô… thì trong dạy học tích cực theo tinh thần đổi mới phương pháp hiện nay, HS trở thành trung tâm của quá trình học tập Mỗi giờ học văn trở thành một cơ hội tương tác đa chiều giữa HS với thầy cô giáo, với tài liệu, với bạn học… để kiến tạo kiến thức HS được coi là bạn đọc sáng tạo, tham gia tích cực vào quá trình “đồng sáng tạo” với nhà văn, cùng đối thoại với thầy cô và bạn bè để mở rộng hiểu biết
* Vấn đề đổi mới KTĐG:
Đánh giá theo mục tiêu phát triển NL người học trở thành điểm trọng tâm của việc đổi mới KTĐG hiện nay Việc đổi mới KTĐG môn Ngữ văn được quy định trên cả hai phương diện là nội dung và cách thức đánh giá
Những định hướng về đổi mới nội dung đánh giá tập trung vào một số điểm như:
(i) KTĐG một cách toàn diện các kiến thức và kĩ năng đã học của ba phân môn theo tinh thần tích hợp;
(ii) KTĐG theo quá trình, dựa trên khả năng nghe, nói, đọc viết các kiểu văn bản cũng như thực hành phân tích, bình giá tác phẩm;
(iii) Khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS;
(iv) Đánh giá trình độ HS chủ yếu qua kĩ năng nhận diện và vận dụng các đơn vị tri thức đã học hơn là trình bày lại những đơn vị kiến thức một cách thuần túy
Bên cạnh những đổi mới về nội dung, cách thức KTĐG trong môn Ngữ văn cũng có những đổi mới quan trọng Theo đó, để việc KTĐG được khách quan, toàn diện và có tác dụng phát triển NL người học thì việc đổi mới cách thức ra đề, nhất là việc sử dụng các đề mở trở thành một trong những giải pháp quan trọng nhất Vì đề mở sẽ hạn chế được tính chủ quan trong KTĐG, tạo điều kiện cho người học bộc lộ phẩm chất và NL toàn diện của mình, khơi gợi cảm hứng và động lực học tập môn Ngữ văn Đề mở chính là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sự phát triển của NL sáng tạo ở HS
Trang 2920
1.2.1.3 Năng lực sáng tạo nhìn từ góc độ giáo dục học
NL sáng tạo đã được đề cập trong Đề án đổi mới Chương trình, sách giáo khoa (2014) Theo đó: NL sáng tạo của HS phổ thông Việt Nam được
xác định là các khả năng của HS hình thành ý tưởng mới, đề xuất được các giải pháp mới hay cải tiến làm mới một sự vật, có các giải pháp khác nhau để giải quyết một vấn đề, sự tò mò, thích đặt các câu hỏi để khám phá sự thật xung quanh, năng lực tưởng tượng và tư duy sáng tạo.[9]
Tác giả Trần Thị Bích Liễu trong cuốn sách Giáo dục phát triển năng lực sáng tạo (2016), đã chỉ ra những đặc tính tư duy cụ thể của cá nhân sáng
tạo Dưới đây, chúng tôi tóm lược một số đặc điểm nổi bật ở người có NL sáng tạo mà cuốn sách đã chỉ ra:
- Người có NL sáng tạo thường là những người có khả năng tổng hợp
thông tin/ vấn đề theo cách mới, nhìn vấn đề với triển vọng mới và trong sự biến đổi
- Có các kĩ năng tư duy logic (có NL đưa ra các minh chứng, kết luận)
- Có NL nhận biết, đánh giá và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo
- Thích ứng tốt với những điểm mới và độc lập khi đánh giá vấn đề
- Có khả năng tưởng tượng tốt
- Linh hoạt, khéo léo trong việc đưa ra các quyết định
- Tìm thấy trật tự trong sự hỗn loạn; tinh tế, nhạy bén trong tư duy
Có thể đi đến khái quát về đặc điểm của mỗi cá nhân sáng tạo như sau:
Bảng 1.1 Biểu hiện của NL sáng tạo ở mỗi cá nhân
Trí tuệ Giàu kiến thức, thông thạo, giàu tưởng tượng, có nhiều ý tưởng
độc đáo, tinh tế, nhạy cảm…
Thái độ Tò mò, mạo hiểm, say mê khám phá…
Hành vi Linh hoạt, thích ứng tốt với những điểm mới, có các câu trả lời
sáng tạo
1.2.2 Năng lực sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT
Trang 3021
1.2.2.1 Học sinh chuyên Văn cấp THPT - những nét đặc thù
HS ở các trường THPT Chuyên là những em đã được tuyển chọn khắt khe qua kì thi đầu vào, nên đa phần có tư chất thông minh, có khả năng tiếp thu tốt, chịu khó học hỏi và tìm tòi nghiên cứu Bên cạnh đó, do ý thức được
về khả năng học tập của mình, nên các học sinh trường chuyên thường rất tự tin, thoải mái trong việc bộc lộ cá tính và quan điểm riêng Điều này vừa giúp cho các em có tinh thần tự chủ trong học tập, dễ dàng phát huy năng khiếu, sở trường của bản thân; vừa dẫn tới sự nóng vội, chủ quan trong học tập
HS chuyên Văn, bên cạnh những đặc điểm của một HS trường Chuyên còn bộc lộ những nét riêng về tâm lý, trí tuệ, khả năng ngôn ngữ… Để nhìn nhận những đặc điểm riêng của HS chuyên Văn so với các HS ở các lớp chuyên khác, chúng tôi đã tiến hành khảo sát qua phiếu hỏi với đối tượng là các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy các lớp chuyên Văn ở một số trường THPT Chuyên (Phụ lục: 1)
Bằng thao tác tổng hợp, thống kê (Phụ lục 2), có thể rút ra một số nhận định về đặc điểm riêng của HS chuyên Văn cấp THPT như sau:
- Thứ nhất: Về tâm lý
Do đặc thù HS khối chuyên Văn đa phần là nữ (ở trường THPT Chuyên Bắc Giang, trong 8 năm học gần đây chỉ có duy nhất một nam học sinh ở lớp chuyên Văn), có lòng say mê đặc biệt với môn Văn (100% các em được hỏi đều khẳng định môn Văn là môn học yêu thích nhất trong nhà trường của mình)… nên các em HS chuyên Văn thường sống nội tâm hơn bạn
bè cùng trang lứa Các em rất nhạy cảm, dễ xúc động trước các tình huống trong văn học và cuộc sống Đặc điểm này vừa tạo nên ưu điểm cho HS chuyên Văn là sự sâu sắc, chín chắn và khả năng đồng cảm với người khác; vừa khiến các em dễ bị cảm xúc chi phối trong quá trình học tập Chất lượng học tập vì vậy phụ thuộc khá nhiều vào môi trường giáo dục và cảm hứng học tập của các em
- Thứ hai: Về tư duy
Trang 3122
HS chuyên Văn không mạnh về tư duy lo-gic như HS ở các lớp chuyên Toán, chuyên Lý, chuyên Hóa… nhưng bù lại các em lại có khả năng suy tư
đa chiều, sâu sắc về một vấn đề nào đó Đặc điểm này khiến cho sự sáng tạo
về ý trong bài làm của HS chuyên Văn thường không phải là sản phẩm của tư duy trực tiếp, tức thì mà phải là kết quả của một quá trình nghiền ngẫm, được định hướng trước về cách thức thực hiện
- Thứ ba: Khả năng diễn đạt
Ưu thế của HS chuyên Văn là có vốn từ phong phú, có khả năng diễn đạt một cách tương đối tự nhiên và nhuần nhuyễn những nội dung mình cần thể hiện Nhiều em có thể diễn đạt một cách giàu hình ảnh và cảm xúc bằng việc sử dụng đa dạng các kiểu câu, các phương thức biểu đạt và biện pháp tu
từ trong quá trình viết văn Tuy nhiên, cũng vì ngôn ngữ khá linh hoạt nên nhiều HS chuyên Văn thường mắc lỗi dài dòng, lan man, dây cà dây muống;
ôm đồm khi diễn đạt một nội dung nào đó Điều này khiến cho nhiều bài viết
sa vào bình tán, hành văn lỏng lẻo, thiếu chắc chắn
- Thứ tư: Khả năng cảm thụ văn học
Nét riêng dễ thấy của HS chuyên Văn so với HS ở các lớp chuyên khác còn là khả năng cảm thụ văn học Mặc dù không phải em HS chuyên Văn nào cũng có thể cảm thụ một cách sâu sắc và mới mẻ; song hầu hết các em đều thể hiện hứng thú tìm hiểu và sự nhạy cảm, tinh tế khi tiếp xúc với các văn bản văn học Nhiều em có những phát hiện độc đáo, bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với nhân vật và thông điệp tư tưởng mà nhà văn gửi gắm trong các tác phẩm văn học Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho những ý tưởng sáng tạo trong quá trình học tập của HS chuyên Văn
1.2.2.2 Những biểu hiện của NL sáng tạo ở HS chuyên Văn cấp THPT
Gắn với môn học Ngữ văn, NL sáng tạo ở người học thường có một số
biểu hiện nổi bật như: năng lực tư duy sáng tạo; năng lực diễn đạt sáng tạo;
tâm lý tò mò, yêu thích khám phá và tưởng tượng; thái độ tích cực đối với sự sáng tạo…
Trang 3223
* Năng lực tư duy sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT
Trong những biểu hiện của NL sáng tạo, trước tiên phải kể tới NL tư duy sáng tạo Từ năm 1956 Benjamin S.Bloom đã xây dựng thang tư duy với
6 cấp độ, được miêu tả như hình một kim tự tháp Các cấp độ (từ dưới lên) lần
lượt là: Biết (Knowledge), Hiểu (Comprehension), Vận dụng (Application),
Phân tích (Analysis), Tổng hợp (Synthesis) và Đánh giá (Evaluation)
Hình 1.1 Thang cấp độ tư duy của Bloom
Theo đó, hai cấp độ Biết và Thông hiểu được coi là tư duy bậc thấp,
bốn cấp độ còn lại là tư duy bậc cao Nhận thấy thang tư duy trên chưa thật sự hoàn chỉnh, sau này Lorin Anderson, một học trò của B S Bloom đã cùng các cộng sự đề xuất sự điều chỉnh cho thang đo tư duy của Bloom Sau khi được điều chỉnh gọi là Thang Bloom tu chính (Bloom's Revised Taxonomy)
Hình 1.2 Thang Bloom tu chính
Đánh giá (Evaluating) Phân tích Vận dụng Hiểu Nhớ Sáng tạo
Trang 3324
Có ba sự thay đổi đáng lưu ý trong sự điều chỉnh này so với Thang
Bloom: cấp độ tư duy thấp nhất là Nhớ thay vì Biết, cấp Tổng hợp được bỏ đi
và đưa thêm Sáng tạo vào mức cao nhất
Phân tích sự thay đổi, ta sẽ thấy sự điều chỉnh này có ý nghĩa đề cao hơn NL sáng tạo của người học Cụ thể:
Mức độ Nhớ tức là có thể nhắc lại, mô tả, gọi tên, nhận diện, liệt kê… các thông tin đã được tiếp nhận trước đó Trong việc học văn, mức độ Nhớ có
thể hiểu là khả năng tái hiện các kiến thức về văn bản, tiếng Việt, làm văn mà
HS được trang bị Mức độ này chưa cho thấy NL tư duy sáng tạo của HS
Mức độ Hiểu thể hiện ở khả năng diễn dịch, giảng giải, cắt nghĩa của
HS về một vấn đề nào đó Cơ sở của việc giảng giải, cắt nghĩa được vấn đề là
HS nắm chắc, hiểu sâu về đối tượng đang tìm hiểu Mức độ này cũng chưa phải là biểu hiện của tư duy sáng tạo
Vận dụng là mức độ tư duy đòi hỏi NL sử dụng thông tin và chuyển đổi
kiến thức từ dạng này sang dạng khác để thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ học tập nào đó Đây là mức độ đòi hỏi người học phải có khả năng sử dụng
những kiến thức đã học vào trong một hoàn cảnh mới Vì vậy, Vận dụng là
mức độ tư duy đã cho thấy NL sáng tạo của người học
Phân tích là khả năng nhận biết các chi tiết, phát hiện và phân biệt các
bộ phận cấu thành của thông tin, chỉ ra và giải thích mối quan hệ giữa các thành phần với tổng thể Tư duy phân tích đòi hỏi HS cần biết cách phân chia, sắp xếp, tổng hợp các thông tin để thể hiện sự hiểu biết thấu đáo về một đối tượng nào đó Đây cũng là mức độ tư duy cho thấy rõ NL sáng tạo của HS
Cao hơn Phân tích là Đánh giá Đánh giá đòi hỏi khả năng phán xét giá
trị của đối tượng hoặc sử dụng thông tin để bình luận theo các tiêu chí thích hợp Để đạt đến mức độ tư duy này, HS phải sử dụng những gì đã học để đánh giá, tổng hợp, so sánh, cắt nghĩa, dùng lập luận để bảo vệ quan điểm của mình Đánh giá rõ ràng cho thấy tầm trí tuệ, sự làm chủ kiến thức và kĩ năng của HS Nó là một bậc thang quan trọng cho thấy khả năng sáng tạo của HS
Trang 3425
Mức độ tư duy cao nhất, khó nhất đối với người học là tư duy Sáng tạo
Tư duy Sáng tạo trong việc học văn có những biểu hiện cụ thể là: Người học
có ý tưởng mới, có góc nhìn riêng về vấn đề, có khả năng nêu những quan điểm phản biện sắc sảo… Đây là chỗ cho thấy rõ nhất NL sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT
Như vậy: Khả năng tư duy sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT được thể hiện tập trung ở NL phát hiện những ý tưởng mới, thể hiện góc nhìn riêng về một vấn đề nào đó và NL đề xuất những giải pháp mới, cách lí giải riêng về vấn đề trên cơ sở của những liên tưởng, tưởng tượng phong phú
* Năng lực diễn đạt sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT
NL diễn đạt là khả năng hiện thực hóa những tri thức về ngôn ngữ và quy tắc sử dụng ngôn ngữ bằng câu chữ, ngôn từ, hình ảnh… sao cho mạch lạc, phù hợp với mục đích, yêu cầu của hoạt động giao tiếp NL diễn đạt một mặt gắn với NL sử dụng ngôn ngữ, một mặt lại liên quan trực tiếp đến khả năng tư duy của HS Biểu hiện của NL diễn đạt sáng tạo ở HS chuyên Văn là:
- Khả năng làm chủ ngôn ngữ, sáng tạo trong sử dụng ngôn ngữ:
Từ việc nắm chắc các quy tắc sử dụng ngôn ngữ; trên cơ sở vốn từ phong phú… khả năng làm chủ về ngôn ngữ của HS chuyên Văn trước tiên thể hiện ở khả năng lựa chọn và sử dụng những từ ngữ một cách chuẩn xác, phù hợp với văn cảnh mà không bị trùng lặp, sáo mòn Đặc biệt, ở nhiều HS chuyên Văn, sự sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ còn thể hiện ở khả năng gieo vần, tạo nhịp điệu cho câu văn, lối chơi chữ, ẩn dụ, kết hợp từ để tạo ra ý nghĩa mới cho từ, sử dụng giọng điệu đa thanh trong khi viết văn, cách đan xen các kiểu câu trong sử dụng…
- Khả năng diễn đạt những cảm nhận, quan điểm của bản thân một cách độc đáo, mới mẻ: Trong làm văn nghị luận, màu sắc cá nhân trong lập luận của người diễn đạt là một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên sức thuyết phục cho bài văn Do đó, sự sáng tạo của HS chuyên Văn không thể không kể tới NL diễn đạt những ý tưởng mới, khả năng bộc lộ, bày tỏ quan điểm của
Trang 3526
bản thân người viết một cách thuyết phục Sau đây là một đoạn trong bài văn
do Hà Minh Ngọc (HS khối Chuyên THPT, trường ĐH Sư phạm Hà Nội) viết vào thời điểm em đang học lớp 10:“Thành công là khi bố và con trai có dũng khí bước vào bếp, nấu những món ăn mẹ thích nhân ngày 8-3 Món canh có thể hơi mặn, món cá sốt đáng lẽ phải có màu đỏ sậm thì lại ngả sang màu… đen cháy Nhưng nhìn mâm cơm, mẹ vẫn cười Bởi vì hai bố con không thể thành công trên “chiến trường” bếp núc, nhưng lại thành công khi tặng mẹ
“đoá hồng” của tình yêu Một món quà ý nghĩa hơn cả những món quà quý giá, hạnh phúc ấy long lanh in trong mắt mẹ”. Rõ ràng, người viết đã lựa chọn cách viết thiên về biểu cảm kết hợp với các thao tác lập luận như giải thích, chứng minh để diễn đạt ý tưởng, quan điểm của mình một cách rất sâu sắc, độc đáo Những biện pháp tu từ như ẩn dụ, liệt kê được Minh Ngọc sử dụng nhuần nhị, tự nhiên, đạt hiệu quả cao
* Tâm lý tò mò, yêu thích khám phá và tưởng tượng; thái độ tích cực đối với sự sáng tạo
Biểu hiện của NL sáng tạo dễ thấy nhất ở HS chuyên Văn là thái độ yêu thích khám phá, tìm hiểu các tác phẩm văn học; khát vọng được giải mã ý nghĩa ẩn chứa trong các hình tượng văn học Với niềm say mê, yêu thích văn học; các em HS chuyên Văn thường không dừng lại ở việc lắng nghe lời giảng giải, phân tích từ phía GV mà có xu hướng quan sát, liên tưởng, tưởng tượng theo hình dung của mình; đặt ra các câu hỏi giả định xoay quanh tác
phẩm như: Vì sao lại thế? Có điều gì đặc biệt? Nếu như…thì… và liên hệ với
những trải nghiệm của bản thân để hiểu sâu sắc hơn về đối tượng Thái độ tích cực đối với sự sáng tạo cũng là một tiền đề để phát triển NL sáng tạo ở HS chuyên Văn Ví dụ: Tiếp xúc với một tác phẩm hay (độc đáo về hình thức, sâu sắc về tư tưởng); nếu HS cảm thấy hào hứng, tâm đắc với mới lạ đó thì sẽ có động lực để sáng tạo trong việc học tập môn Văn Thái độ tích cực này sẽ duy trì cảm hứng cho HS, để các em phát triển những liên tưởng, tưởng tượng của bản thân về tác phẩm, qua đó học tập hiệu quả hơn
Trang 3627
Xác định được biểu hiện của NL sáng tạo ở HS chuyên Văn cấp THPT
là cơ sở để tổ chức các biện pháp phù hợp nhằm phát triển NL này cho người học Tuy nhiên, thực tế cho thấy: NL là một khái niệm trừu tượng, vì vậy ngoài mục tiêu thấy được những biểu hiện, còn cần phải mô tả được những biểu hiện bằng các chỉ số hành vi cụ thể ở HS; lấy đó làm căn cứ để theo dõi mức độ phát triển NL sáng tạo Vận dụng cách miêu tả các thành tố cấu trúc
và đường phát triển một số NL cơ bản trong môn Ngữ văn của tác giả Nguyễn
Thị Hồng Vân ở bài viết Xác định cấu trúc và đường phát triển của một số
NL trong môn Ngữ văn ở trường phổ thông [57] chúng tôi phác họa sơ đồ
thể hiện các biểu hiện của NL sáng tạo Ngữ văn ở HS chuyên Văn cấp THPT, qua những chỉ số hành vi cụ thể của từng biểu hiện trong Hình 1.3:
Hình 1.3 Mô hình cấu trúc NL sáng tạo ở HS chuyên Văn THPT
NL sáng tạo ở
HS chuyên Văn THPT
NL tư duy sáng tạo
NL diễn đạt và trình bày văn bản
Thái độ tò mò, say mê khám phá
Ngôn ngữ, biểu đạt riêng phù hợp
Liên tưởng, tưởng tượng phong phú
Cách thức trình bày
ấn tượng, hấp dẫn
Tạo ra sản phẩm mang đậm dấu ấn cá
nhân
Tự đặt ra các câu hỏi khi xem xét vấn đề
Tiếp cận vấn đề nhiều chiều, nhiều góc nhìn
Say sưa, tập trung khi thực hiện sản phẩm
Truyền cảm hứng sáng tạo đến người khác
Đề xuất ý tưởng mới
Trang 3728
Sắp xếp các chỉ số trong sơ đồ trên theo mức độ từ thấp đến cao, có thể lập được bảng mô tả đường phát triển NL sáng tạo của HS chuyên Văn cấp THPT trong môn học Ngữ văn như sau:
Bảng 1.2 Mô tả mức độ NL sáng tạo của HS chuyên Văn, cấp THPT
để triển khai một vấn đề nào đó; có thể trao đổi, chia sẻ để bảo vệ hoặc điều chỉnh ý kiến cá nhân
Trang 38HS có thể xác định được một số thông tin ban đầu và đề xuất
ý tưởng mới đối với với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn; nêu được ý kiến của cá nhân về vấn đề
xã hội và văn học; biết nêu câu hỏi theo nhu cầu cá nhân để tìm hiểu các thông tin khác nhau về các vấn đề được thể hiện trong các tài liệu được tiếp nhận
Trong các mức độ của NL sáng tạo trên đây, thông thường HS chuyên Văn cấp THPT có thể đạt tới các mức cao như mức 4, mức 5; thậm chí nhiều
em với năng khiếu văn học sẵn có còn có thể đạt tới những mức độ cao hơn, vượt ra ngoài các mức độ sáng tạo đã được thể hiện trong thang mô tả trên
1.3 Ƣu thế của đề mở trong việc phát triển NL sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT
1.3.1 Đề mở giúp phát triển NL tư duy sáng tạo cho HS chuyên Văn cấp THPT
Đề mở với đặc điểm không bị đóng khung mô ̣t cách cứng nhắc vào những quan điểm, nhâ ̣n đi ̣nh có sẵn và không bị gò bó bởi những yêu cầu buộc phải thực hiện kiểu mệnh lệnh… nên đứng trước một đề mở đồng nghĩa với việc người làm bài đứng trước một sự lựa chọn, một sự tìm đường đầy gian nan mà cũng đầy hứng thú Vì không có những chỉ dẫn tận nơi kiểu bày
cỗ, nên người làm bài sẽ phải tự suy nghĩ, cân nhắc cách thức triển khai bài viết sao cho hiệu quả, phù hợp với vấn đề mà đề đã gợi mở Ở HS chuyên Văn cấp THPT; chính việc tìm ý, triển khai ý cho các đề mở sẽ là một trong
số những biện pháp rèn tư duy hiệu quả Các em sẽ tránh được cách tư duy máy móc, vụn vặt; thay vào đó là khả năng khái quát vấn đề, lựa chọn những luận điểm then chốt để triển khai bài làm sao cho hiệu quả
Xét đề bài ví dụ:
Hãy viết một bài văn với tiêu đề: Lời xin lỗi
Trang 3930
Với đề bài trên, rõ ràng HS không có những chỉ dẫn cụ thể về thao tác lập luận, phương thức biểu đạt hay được định hướng, khoanh vùng phạm vi tư liệu thật cụ thể Song, chính điều đó sẽ giúp cho các em buộc phải động não, suy tư để phát triển ý thành một bài viết thể hiện quan điểm cá nhân Từ yêu
cầu viết một bài văn với tiêu đề Lời xin lỗi - HS sẽ tự xác định được vấn đề
mình cần bàn luận trong bài là một biểu hiện của văn hóa ứng xử Đó là lời nói và hành động của con người khi nhận thức được những sai lầm của bản thân, thể hiện mong muốn được khắc phục những sai lầm đó Từ đây, những ý tưởng sáng tạo trong mỗi cá nhân sẽ có cơ hội được nảy nở Liên quan đến lời xin lỗi trong cuộc sống, HS chuyên Văn có thể phát triển ý cho bài văn bằng
những câu hỏi như: Lời xin lỗi của đối tượng nào hướng đến đối tượng nào?
Lời xin lỗi được thể hiện ra sao? Lời xin lỗi có ý nghĩa thế nào với người nói
và người nhận? Làm thế nào để lời xin lỗi thực sự là một biểu hiện của văn hóa ứng xử? Trong khi tự đặt ra những câu hỏi liên quan đến vấn đề cần
nghị luận, tùy thuộc vào vốn sống và khả năng tư duy, mỗi HS chuyên Văn sẽ
có câu trả lời riêng để tạo nên dấu ấn cá nhân đậm nét trong bài viết của mình
Ví dụ: Về cách thể hiện lời xin lỗi của con người trong cuộc sống, có thể có
HS sẽ nghĩ đến những lời xin lỗi chân thành, thể hiện thái độ ăn năn của người mắc lỗi; có HS sẽ hình dung về những lời xin lỗi thầm kín, gián tiếp được thể hiện trong từng cử chỉ, thái độ, hành vi của con người; có HS lại nghĩ đến những lời xin lỗi giả tạo với mục đích xấu xa… HS cũng có thể luận bàn về đối tượng cần nói lên lời xin lỗi trong cuộc sống và về cách đón nhận lời xin lỗi của người khác Bên cạnh đó, HS cũng có thể lựa chọn một cách bố cục bài văn độc đáo, tổ chức các luận điểm theo một trình tự hợp lý, để việc trình bày vấn đề trở nên ấn tượng và thuyết phục hơn
Như vậy: Đề mở có thể làm giảm đi phần nào sự cụ thể, rõ ràng so với cách ra đề truyền thống nhưng bù lại sẽ tạo cảm hứng và động lực cho sự phát triển tư duy lo-gic, khả năng suy luận, khái quát vấn đề Đây là nền tảng quan trọng cho sự hình thành, phát triển NL sáng tạo ở HS chuyên Văn THPT
Trang 40Về mặt thuật ngữ, liên tưởng được hiểu là một hoạt động tâm lí, từ việc
này nghĩ đến việc kia, người này liên hệ đến người nọ, do trong thực tế các sự
vật, hiện tượng tồn tại không tách rời mà có quan hệ với nhau Còn tưởng
tượng là hoạt động tâm lí nhằm tái tạo, biến đổi các biểu tượng trong trí nhớ
và sáng tạo ra hình tượng mới Có thể nói, các hình tượng văn học xưa nay xuất hiện trong các sáng tác của nhà văn và sống trong cảm nhận của độc giả đều gắn liền khả năng liên tưởng và tưởng tượng: Một An Dương Vương cầm sừng tê rẽ nước về biển cả, một Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời, một Ngô
Tử Văn có thể đấu tranh với ma quỷ ở âm phủ, một Hồn Trương Ba sống trong thân xác anh hàng thịt đã chết… NL văn học của một HS chuyên Văn, nhất là NL sáng tạo vì thế phần nào được quyết định bởi khả năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú Nhờ có khả năng liên tưởng, tưởng tượng mà HS có thể tạo nên những bài viết sáng tạo không trùng lặp với người khác
Để thấy hiệu quả của đề mở trong việc phát triển NL liên tưởng, tưởng tượng cho HS chuyên Văn; ta xét đề bài ví dụ:
“Về những tiếng thì thầm trong cuộc sống…”
Đề bài trên rõ ràng đã trao cho HS cơ hội lắng nghe bản thân, lắng nghe
tự nhiên và xã hội từ một khoảng cách gần nhất, thật nhất; để cảm nhận những cung bậc, những âm giai khác nhau trong bản đàn cuộc sống Các em HS chuyên Văn với tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu cảm xúc trong cuộc sống… chắc chắn sẽ có nhiều suy nghĩ, liên tưởng phong phú về những tiếng thì