1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giáo dục gia đình Nhật Bản giai đoạn 19902010

106 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tình hình nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản nói chung và giáo dục gia đình Nhật Bản nói riêng, các lý thuyết và quan điểm cơ bản. 2. Khái quát chính sách giáo dục của Nhật Bản, đặc biệt tập trung vào chính sách giáo dục gia đình . 3. Các nhân tố chính tác động đến giáo dục gia đình Nhật Bản trong giai đoạn 1990 2010. 4. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình được thực hiện ở Nhật Bản trong giai đoạn 1990 2010. 5. Một số đề xuất về giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam, đặc biệt là trong phạm vi giáo dục gia đình.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60 31 50

Người hướng dẫn khoa học: TS PHAN HẢI LINH

Hà Nội, 2013

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn “Giáo dục gia đình Nhật Bản giai đoạn

1990 - 2010” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Phan Hải Linh Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những cam kết cá nhân này.

Hà Nội, tháng 12 năm 2013

Học viên

Nguyễn Thị Thanh Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều thầy cô giáo thuộc các Trường đại học, Viện nghiên cứu trong và ngoài nước Tác giả đặc biệt muốn gửi lời cảm ơn tới TS Phan Hải Linh, Chủ nhiệm Bộ môn Nhật Bản Học, Khoa Đông Phương Học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Đông Phương học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thông tin Thư viện đại học Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Việt Nam là những người có nhiệt tình giúp tôi trong quá trình sưu tầm tài liệu hoàn thành bản luận văn này.

Hà Nội, ngày 1 tháng 12 năm 2013

Nguyễn Thị Thanh Tú

Trang 5

MỤC LỤC

39 教教教教 2002教 96

40 教教教教 2003教 96

41 教教教教 2004教 96

42 教教教教 2005教 96

43 教教教教 2009教 96

44.教教教教 2010教 96

45 教教 教教(1989, 1997): 教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 96

46.教教教教 (2000):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 96

47 教教教教教教教教教 (2000):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 96

48 教教教教教教教教(2006):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 教教教教教教教教教教 教教教教教教教教教教教教教教教教教,11,53-62教 96

49 教教教教教教教教教(2006):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 96

50 1997 教 (教教教): 教教教教教教教 96

51 1997 教, 教教教教教教教教教, 教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 96

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Gia đình là vấn đề trọng yếu của mọi dân tộc và thời đại Những năm gầnđây vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm được chính phủ, giới nghiên cứu

và các tổ chức xã hội đặc biệt quan tâm Ở Châu Á nói riêng, người ta nóinhiều đến gia đình, văn hoá gia đình như một giải pháp ngăn chặn sự xâm nhậpngày càng ồ ạt của văn hoá và lối sống phương Tây Vì vậy, gia đình và giáo dụcgia đình đã được bàn luận nhiều, là đề tài được chú ý trong nghiên cứu khoa họccũng như đường lối phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia châu Á Nhật Bản là mộtquốc gia phát triển hàng đầu thế giới, có nền kinh tế và địa vị chính trị vững chắctrên trường quốc tế, có nền giáo dục tiên tiến Từ một đất nước có điều kiện tựnhiên khắc nghiệt và chịu thất bại nặng nề sau chiến tranh, Nhật Bản đã vươn lêntrở thành một cường quốc, khiến cả thế giới kinh ngạc Trong thành công đó, giáodục đã đóng vai trò vô cùng quan trọng Tại Nhật Bản, giáo dục luôn đi trước mộtbước so với các chính sách xã hội khác Chính phủ Nhật Bản luôn ý thức tạo điềukiện để giáo dục phát triển hàng đầu, tập trung đầu tư của toàn xã hội cho phát triểngiáo dục Nền giáo dục của Nhật Bản được chú trọng phát triển trên rất nhiều

phương diện, trong đó giáo dục gia đình là một lĩnh vực được coi trọng.

Trong thời đại toàn cầu hóa, tất cả các nước đều phải đối mặt với vấn đề vừahội nhập vừa gìn giữ bản sắc, vừa tham gia các tổ chức khu vực và quốc tế, đồngthời nâng cao khả năng thích ứng và tự bảo vệ… Nhật Bản cũng không nằm ngoài

xu hướng đó Ngoài ra, Nhật Bản còn phải đối mặt với các vấn đề xã hội của mộtnước phát triển như cải cách chế độ phúc lợi xã hội phù hợp với tình trạng già hóadân số và tỉ lệ sinh giảm, đề cao giáo dục ý thức cộng đồng trong một xã hội đang

vô cảm hóa, chính sách đối với hộ độc thân… Các vấn đề này tác động đến mọi mặtcủa đời sống xã hội, bao gồm cả giáo dục Ngày nay, dưới ảnh hưởng của nhiều tácnhân bên ngoài như xã hội, chính sách của nhà nước, sự thay đổi nhận thức của các

Trang 7

cá nhân…, giáo dục gia đình hiện đại đã biến đổi quá xa so với giáo dục gia đình

truyền thống

Thập niên 1990 – 2010 là giai đoạn đầy sôi động, đổi thay trong kinh tế - xãhội của Nhật Bản Cuối những năm 1990, giống như các nước trong khu vực, NhậtBản phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ nặng nề mà ảnh hưởng của

nó kéo dài sang thập kỉ đầu thế kỉ XXI Trong giai đoạn này, giáo dục gia đình NhậtBản đã có không ít thay đổi Từ một quốc gia có nền giáo dục truyền thống từngđược thế giới khâm phục, có phương pháp giáo dục được đánh giá là toàn diện với

hệ thống giáo dục tiên tiến và thống nhất từ hệ mẫu giáo, phổ thông lên đến đại học

và sau đại học, Nhật Bản phải đối mặt với các chỉ trích trong và ngoài nước về khảnăng thích ứng của giáo dục trong thời đại mới Vậy cụ thể giáo dục Nhật Bản đã cónhững thay đổi gì? So với trước đây, giáo dục gia đình của Nhật Bản có gì mới?Vấn đề nào được bảo lưu? Yếu tố nào được thay đổi và hệ quả ra sao? Thế hệ trẻđược tiếp thu nền giáo dục như thế nào từ 3 môi trường: gia đình, nhà trường và xãhội? Luận văn mong muốn tìm ra những câu trả lời cụ thể cho các câu hỏi trên,đồng thời thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản bước đầu đưa ra được một vài đềxuất nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục gia đình ở Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: là cung cấp bức tranh toàn cảnh về mô hình

giáo dục gia đình Nhật Bản, từ đó bước đầu rút ra một số bài học cho giáo dục giađình của chúng ta hiện nay vốn đang có nhiều bất cập

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề giáo dục gia đình được nhiều nhà khoahọc quan tâm, nghiên cứu Nhiều công trình, bài viết, các hội thảo về vai trò củagia đình đối với sự hình thành, phát triển của trẻ đã được công bố Đặc biệt, đối vớimột nước vốn coi trọng giáo dục như Nhật Bản thì số lượng công trình nghiên cứu

về vấn đề này khá đồ sộ

Trước hết, phải kể đến nghiên cứu của Tago Akira, Tập quán giáo dục gia

đình quyết định tính cách của trẻ (教教教教教教教教教教教教教教教教, Nhà xuất bản PHP 2005)

Là một nhà nghiên cứu giáo dục, Tago Akira đã chứng minh giáo dục gia đình ảnhhưởng rất lớn đế tính cách giới trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ của cha mẹ sử dụng khi chỉ

Trang 8

dạy cho trẻ Tiếp đó, phải kể đến nghiên cứu của Ayano Chikara, Năng lực của cha

mẹ có thể quyết định sự phát triển toàn diện của trẻ (教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教,Nhà xuất bản: Takarajimasha, 2005) Đây là một công trình nghiên cứu khá côngphu về vai trò của cha mẹ trong việc giúp trẻ tạo lập năng lực học tập và tính cáchđộc lập Đây có thể coi là cẩm nang giáo dục của một người có 21 năm kinh nghiệmtrong lĩnh vực này Phương pháp truyền đạt của Ayako Chikara đơn giản, và có tínhhiệu quả cao Ngoài ra phải kể đến tuyển tập của tập thể tác giả nhà xuất bản

Honnoki, Thói quen sinh hoạt và những quy tắc trong gia đình việc cần làm và

không nên làm để giúp trẻ hướng tới một tương lai tươi đẹp (教教教教教教教教教教教教教教教教教教 教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 Nhà xuất bản Honnoki, 2005) Đây là một công trìnhkhoa học dày công của 14 chuyên gia đầu ngành ở Nhật Bản Họ giúp các bậc cha

mẹ có thể chỉ cho trẻ khả năng tự bảo vệ trước các nguy hiểm của xã hội, hướngdẫn về các vấn đề khác như tầm quan trọng của cuộc sống, tính giáo dục, an toànthực phẩm, cách phòng chống và năng lực phòng chống truyền thông bẩn, giáo dục

ở thời kỳ đầu của trẻ…

Nghiên cứu của Hirota Teruyuki, Giáo dục gia đình của người Nhật Bản đã

thoái trào (教教教教教教教教教教教?. Nhà xuất bản Kodasha, 1999) Đây có thể coi là sự hồiniệm về quá khứ đầy hào quang của giáo dục gia đình Nhật Bản thập niên 1960 –

1970, với những lý giải thích về nguyên nhân, thực trạng của sự suy thoái tronggiáo dục gia đình Nhật Bản đương đại Đồng thời sách cũng chỉ ra vai trò của giáodục gia đình trong xã hội hiện đại, trong bối cảnh tội phạm vị thành niên bạo lực giađình đang gia tăng, mối quan hệ giữa giáo dục gia đình, trường học, xã hội là gì

Cũng cùng chủ để đó Yamazoe Tadashi trong Trợ giúp việc phát triển tự nhiên của

người Nhật và nhìn lại giáo dục gia đình (教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教, Nhà xuấtbản: Buren, 1999), giúp chúng ta hiểu rõ được thực trạng giáo dục gia đình NhậtBản ngày nay trong bối cảnh Hikikomori (trẻ tự kỷ, thiếu kỹ năng giao tiếp) bỏ học,trốn học, bỏ học gia tăng quá nhanh Tác giả thông qua đó cũng đã đưa ra một sốbiện pháp cụ thể nhằm cải thiện tình hình trong phương án “Người lớn giáo dục chotrẻ nhỏ và khóa học đặc biệt về kỹ năng phòng vệ cho trẻ” [57].

Trang 9

Thực sự sẽ là thiếu sót lớn nếu không điểm đến những công trình nghiên cứucủa Sugihara Yoshiaki [46], như cuốn sách viết về quan điểm đa chiều trong quytắc, chuẩn mực giáo dục trẻ, sự khác biệt thế hệ và dung hòa thế hệ trong nuôi dạy

trẻ với nhan đề Nghĩ về giáo dục gia đình hiện đại, tại sao lại không thể như trước

kia (教教 教教教教教教教教教教教教教教教教, Nhà xuất bản: Thời báo kinh tế Nhật Bản, 2005) Tác

phẩm Vì không có lời dạy của mẹ ( 教教教教教教教教教教教, Nhà xuất bản Soshishabunko,

2005) [25] của Hasegawa Hirokazu cũng là một công trình nghiên cứu về vấn đề

của hậu giáo dục gia đình, là một công trình phản ánh giải thích cho vấn đề xã hội

đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Hirota Teruyuki và Yamazoe Tadashi ởtrên

Trên đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến đề tài luậnvăn Ở Việt Nam, đề tài này chưa được nghiên cứu chính thức dưới hình thức sáchhay luận văn nhưng đã được đề cập đến trong một số nghiên cứu như: Ngô Hương

Lan, Giáo dục nhà trường và gia đình Nhật Bản, Tạp chí Đông Bắc Á, Số 3, 2001; Ngô Hương Lan, Tình hình giáo dục Nhật Bản, Tạp chí Đông Bắc Á, Số 4, 2001;

Trong nghiên cứu của mình, Thạc sỹ Ngô Hương Lan đã phân tích tình hình, thựctrạng và nêu rõ những vấn đề cấp thiết đặt ra đối với nền giáo dục Nhật Bản hiệntại

Mohammad Reza Sarkar Aranil và Keisuke Fukaya Cải cách chuẩn chương

trình giáo dục quốc gia Nhật Bản học tập tích hợp và những thách thức, Viện khoa

học giáo dục, 2012 Thông tin giáo dục quốc tế Số 4 tháng 5 năm 2012, Tài liệu lưu

hành nội bộ Đây là một công trình nghiên cứu công phu bài bản đã được dịch ratiếng Việt Những chương trình cải cách giáo dục có tính quốc gia của Nhật Bản đãđược Mohammad Reza Sarkar Arail và Keisuke Fukaya phân tích cụ thể, qua đóđưa ra một số bài học kinh nghiệm hữu ích cho quốc gia nào đang tiến hành cảicách, đổi mới giáo dục trong đó có Việt Nam

Nguyễn Thị Thanh Tú, Về giáo dục trong gia đình ở Nhật Bản, Tạp chí Thông

tin Khoa học xã hội số 9 (369), 2013 Đây là công trình nghiên cứu của chính tácgiả trong đó nêu khái quát bức tranh chung về tình hình giáo dục gia đình Nhật Bản,

Trang 10

những vấn đề và thách thức đặt ra, những phương pháp, chính sách mà chính phủNhật Bản đã áp dụng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục gia đình ở Nhật Bản.

Điểm mới và dự kiến đóng góp của luận văn: Trên cơ sở tham khảo kết quả

nghiên cứu của các học giả đi trước, tác giả luận văn mong muốn đưa ra một cáchnhìn nhận tổng hợp và khách quan về tình hình giáo dục gia đình ở Nhật Bản giaiđoạn 1990 – 2010

Luận văn là khảo cứu chuyên sâu về quá trình chuyển hóa và tư duy giáo dụccủa chính quyền và xã hội Nhật Bản trong giáo dục gia đình Qua đó tác giả cũngmong muốn làm rõ những tác động nhiều mặt của một “xã hội học tập suốt đời”(1)

và nhu cầu ngày càng đa dạng, phức tạp của xã hội với giáo dục gia đình

Đặc biệt luận văn muốn rút ra những bài học từ những kinh nghiệm của NhậtBản bao gồm cả những bài học thành công và thất bại, từ đó giúp độc giả đánh giámột cách chính xác về giáo dục Nhật Bản và tìm ra những kinh nghiệm phù hợp vớithực tiễn tình hình giáo dục gia đình của Việt Nam hiện nay

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Như đã trình bày trên, trong khuôn khổ nghiên cứu này, tôi mong muốn đưa

ra một cách nhìn tổng hợp và khách quan về tình hình giáo dục gia đình Nhật Bảntrong hai thập niên vừa qua, bao gồm các vấn đề chính sau:

- Tình hình nghiên cứu về giáo dục Nhật Bản nói chung và giáo dục gia đìnhNhật Bản nói riêng, các lý thuyết và quan điểm cơ bản

- Khái quát chính sách giáo dục của Nhật Bản, đặc biệt tập trung vào chínhsách giáo dục gia đình

- Các nhân tố chính tác động đến giáo dục gia đình Nhật Bản trong giai đoạn

Trang 11

- Một số đề xuất về giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam, đặcbiệt là trong phạm vi giáo dục gia đình.

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là giáo dục gia đình ở NhậtBản, đặc biệt là giáo dục, nuôi dưỡng trẻ em trong lứa tuổi từ 0 đến tiểu học - lứatuổi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ giáo dục gia đình

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu về giáo dục gia đìnhNhật Bản trong phạm vi thời gian khoảng 1990-2010, đặc biệt nhấn mạnhvai trò, ý nghĩa của giáo dục gia đình trong việc hình thành nhân cách, tính nết thóiquen của trẻ em Nhật Bản, thực trạng và ý nghĩa của giáo dục gia đình đối với nềngiáo dục của Nhật Bản trong giai đoạn có nhiều biến động nhất đối với nước Nhật,

đặc biệt là sau thập niên mất mát.

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp nghiên cứutruyền thống như tổng hợp, phân tích, so sánh với các phương pháp liên ngành như

xã hội học, sử học…

Để thực hiện luận văn, tác giả đã thu thập thông tin từ các nguồn tư liệu chủyếu của Nhật Bản, bao gồm sách nghiên cứu, bài tạp chí, thống kê… , và một sốbuổi học tập và trao đổi ý kiến với các giáo sư Nhật Bản trong thời gian thực tập ởNhật Bản Các thông tin này được xử lý bằng phương pháp tổng hợp, thống kê, vàphân tích Ngoài ra, luận văn sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, bao gồm đốichiếu giữa lý luận về giáo dục với thực tiễn, giữa chính sách đề ra với hiệu quả thựchiện, đồng thời đối chiếu quan điểm của các nhà nghiên cứu khác nhau về cùng mộtvấn đề v.v, nhằm nhìn nhận vấn đề một cách đầy đủ và khách quan

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì nội dungchính của luận văn gồm có 3 chương chính sau:

Chương 1: Lý luận về giáo dục gia đình và khái quát tình hình giáo dục gia

đình Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2010 Chương này trước hết giới thiệu một số lý

Trang 12

luận cơ bản về giáo dục gia đình, một số học thuyết có liên quan, vai trò của giáodục gia đình đối với trẻ…

Chương 2: Các nhân tố tác động đến giáo dục gia đình Nhật Bản giai đoạn từ

1990 – 2010 Giới thiệu một các khái quát các nhân tố tác động đến tình hình giáodục gia đình như nhân tố xã hội, nhân tố trong gia đình, ảnh hưởng từ các tổ chức

xã hội v.v

Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục gia đình

Nhật Bản và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Những biện pháp chủ yếu như giảipháp đối với gia đình (tăng cường cung cấp cơ hội học tập cho mẹ, đa dạng hóahoạt động ), giải pháp xã hội như (xúc tiến giữa các cơ quan địa phương với giađình, địa phương, gia đình và xã hội ) trên cơ sở đó tác giả đã rút ra một số bài học

từ lý luận đến thực tiễn dùng áp dụng cho giáo dục gia đình của Việt Nam trong giaiđoạn hiện nay

Tác giả luận văn đang làm việc trong lĩnh vực giáo dục tiếng Nhật và đã cónhiều năm say sưa với đề tài Tuy nhiên, do chưa có điều kiện đi du học lâu ở NhậtBản và trực tiếp điều tra phỏng vấn các gia đình Nhật Bản về đề tài này nên chắcchắn luận văn còn nhiều hạn chế Tác giả chân thành mong muốn nhận được sựđóng góp hướng dẫn của các thày cô, đọc giả và bạn bè để có thể hoàn thiện hơnnữa đề tài

Trang 13

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC- GIÁO DỤC GIA ĐÌNH VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH GIÁO DỤC GIA ĐÌNH NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 1990 -

2010.

1.1 Một số lý luận về giáo dục và giáo dục gia đình

1.1.1 Khái niệm giáo dục, giáo dục gia đình và một số học thuyết liên quan

1.1.1.1 Khái niệm giáo dục

Về cơ bản, giáo trình giáo dục học của Việt Nam định nghĩa “Giáo dục làmột hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người [13; 9],” Như vậy định nghĩatrên nhấn mạnh đến sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tốdạy học, nhưng không nói đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc

đó là gì?

John Dewey, một nhà giáo dục học nổi tiếng cũng đề cập đến việc truyền đạt,nhưng ông đã nói rõ hơn mục đích cuối cùng của việc truyền đạt, việc dạy TheoJohn Dewey cá nhân con người không bao giờ vượt qua được quy luật của sự chết

và cùng với sự chết thì những kiến thức kinh nghiệm mà cá nhân mang theo cũng sẽbiến mất Tuy nhiên tồn tại xã hội là đòi hỏi những kiến thức, kinh nghiệm của conngười phải vượt qua được sự khống chế của sự chết để duy trì tính liên tục của sựsống xã hội Giáo dục là khả năng của loài người để đảm bảo tồn tại của xã hội.Hơn nữa, John Dewey cho rằng, xã hội không chỉ tồn tại nhờ truyền dạy, nhưng còntồn tại trong chính quá trình truyền dạy đó [ 5; 17 - 26]

Tuy nhiên cả hai cách hiểu hay định nghĩa trên về giáo dục đều chú trọng đếnkhía cạnh xã hội của giáo dục nhiều hơn, còn con người chúng ta thì sao? Và giáodục có vai trò như thế nào đối với đời sống của con người, với một cá nhân thì cáchhiểu trên chưa thỏa mãn cho chúng ta

Từ giáo dục trong tiếng Anh là “Education” (tương ứng tiếng Nhật là

“Kyōiku”) Đây là một từ có gốc Latinh ghép bởi hai từ ex và ducere, có nghĩa là

Trang 14

dẫn dắt ai đó vượt ra khỏi cái hiện tại ex của họ mà vươn tới cái hoàn hảo, hoànthiện và tốt hơn Cách định nghĩa này có cách nhìn căn bản hơn, nhấn mạnh sự hoànthiện của mỗi cá nhân là mục tiêu sâu xa của giáo dục Người giáo dục (ở đây là thế

hệ trước) có nghĩa vụ phải hướng dẫn, truyền tải cho người được giáo dục (thế hệsau) tất cả những gì để phát triển và hạnh phúc

Mục đích này lại được Từ điển giáo dục học định nghĩa như sau “nhằm

truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng

tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực,phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng thamgia lao động sản xuất và đời sống xã hội [12; 26]

Tác giả luận văn đặc biệt tâm đắc với quan niệm của John Dewey và xin khái

quát lại khái niệm giáo dục theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng giáo dục

được hiểu là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và đây làviệc giáo dục giữa người được giáo dục và người giáo dục là nhằm giúp người đượcgiáo dục chiếm lĩnh, học hỏi được kinh nghiệm xã hội và tri thức của loài người

Theo nghĩa hẹp, giáo dục là bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành

những cơ sở khoa học của thế giới quan, của niềm tin, lý tưởng, tình cảm, thái độ,tính cách, những hành vi thói quen và cách ứng xử trong cuộc sống kể cả việc pháttriển và nâng cao thể lực

1.1.1.2 Khái niệm giáo dục gia đình

Trước khi tìm hiểu khái niệm giáo dục gia đình, chúng ta cần tìm hiểu một

khái niệm khác có liên quan đó là khái niệm gia đình bởi vì đây là một nhân tố quan trọng cùng với giáo dục để đi tới lý giải thế nào là giáo dục gia đình.

Khái niệm gia đình

Hiện nay có rất nhiều khái niệm về gia đình, mỗi khái niệm đều nhằm mụcđích khái quát những yếu tố cơ bản, đặc thù của gia đình, nhưng chưa có một kháiniệm nào thật đầy đủ mà ngắn gọn Dưới đây là một số khái niệm cơ bản về giađình được lựa chọn theo ý chủ quan của tác giả luận văn

Trang 15

Trước hết, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (năm 2010) đưa ra định

nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệhuyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa

họ với nhau theo qui định của Luật này” [62] Theo định nghĩa này, gia đình đượchiểu là tập hợp những người cùng chung sống thành một đơn vị nhỏ nhất trong xãhội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu (thường gồm vợchồng, cha mẹ và con cái) và gia đình là nhóm người chung sống với nhau dưới mộtmái nhà, có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nền kinh tế chung

Nhà nghiên cứu nhân chủng học người Pháp Claude Lévi-Strauss cho rằng:

“Gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn

từ hôn nhân, bao gồm vợ chồng, con cái phát sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ;tuy nhiên trong gia đình có mặt của những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi Họgắn bó với nhau bởi các nghĩa vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấmđoán tình dục giữa các thành viên”(1)

Một học giả khác, P Durning lại định nghĩa về gia đình một cách đơn giảnnhư sau: “Gia đình là một nhóm người thường gồm vợ chồng và con cái có đặcđiểm là sống cùng nhà, có quan hệ vợ chồng, có sự hiện diện của con cái” [14; 160 -162]

Đến đây tác giả xin tổng kết lại khái niệm gia đình là một nhóm xã hội gắn

bó với nhau trước hết bởi quan hệ hôn phối, huyết thống và có các quyền lợi, nghĩa

vụ về kinh tế, xã hội Gia đình có tối thiểu là 1 thế hệ và có thể có nhiều thế hệtrong các đại gia đình

Khái niệm giáo dục gia đình

Xung quanh khái niệm giáo dục gia đình hiện có nhiều cách hiểu khác nhau

và chưa thống nhất Trong luận văn này, tôi xin đưa ra một số quan điểm giáo dụcgia đình của một số học giả tiêu biểu của Nhật Bản và Việt Nam, đồng thời trên cơ

 1) Claude Lévi-Strauss (1908 – 2009) là một nhà nhân chủng học và dân tộc học, triết gia người Pháp, và thường được gọi cùng vớ i James George Frazer là "cha đẻ nhân chủng học hiện đại" và định nghĩa này của tác giả này được sử dụng một cách rộng rãi.

Trang 16

sở lý thuyết ấy tìm hiểu vai trò, cũng như ý nghĩa của giáo dục gia đình Nhật Bảngiai đoạn 1990 – 2010

Tiến sỹ Nguyễn Mai Khanh viết: “Giáo dục gia đình được hiểu là hoạt độngnuôi dạy con cái của cha mẹ, hay người lớn chịu trách nhiệm về đứa trẻ Giáo dụcgia đình hiểu theo nghĩa rộng, là một mảng kiến thức bao gồm những can thiệp xãhội nhằm chuẩn bị, giúp đỡ, thay thế (cha mẹ) trong giáo dục con cái của họ” [7; 24

- 25]

Trong Từ điển xã hội học, tác giả người Nhật, Hirota Teruyuki định nghĩa về

giáo dục gia đình là: đây là một từ được sử dụng nhiều trong sinh hoạt hàng ngày,một cách cụ thể nhất đó là việc chỉ ra được vai trò cũng như ý nghĩa của gia đìnhtrong việc giáo dục cho cá nhân như thế nào [27, 88]

Giáo dục gia đình được một nhà nghiên cứu người Nhật khác, ôngHamushima Aki định nghĩa như sau: “Giáo dục gia đình là một hình thức xã hộihóa; là việc dạy cho trẻ những hiểu biết về cách thức hành động, thái độ, tập quán,thói quen cơ bản trong sinh hoạt hàng ngày và bao gồm cả những quan điểm giá trịkhông thể thay đổi” [24; 77] Đồng quan điểm trên, học giả Yamamura Yoshiaki đã

có cái nhìn tương đối giống Hamushima Aki trong việc tìm ra một chuẩn chung về

giáo dục gia đình: “Nhìn chung giáo dục gia đình được hiểu là một sự việc được xã

hội hóa, và là một ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày vềviệc chỉ dạy cho trẻ những thói quen, cách thức hành động cơ bản trong cuộc sốngsinh hoạt [24; 55 - 56]

Cuối cùng, theo Akiko Chiba, giáo dục gia đình là những hành động có tínhchất xã hội ở đó người lớn phải hỗ trợ, giúp đỡ trẻ em và trang bị cho chúng nhữngtri thức, hiểu biết về: cách thức hành động, cách thức phòng bị trong cuộc sống,những tri thức cơ bản sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, những hành động do giáodục mà có…, đây đều là những tri thức không thể thiếu được trong đời sống sinhhoạt hàng ngày [58; 3]

Qua đó có thể thấy, giáo dục gia đình là một lĩnh vực không mới, nhưngđược các học giả rất quan tâm, đặc biệt là Nhật Bản Tuy nhiên, ở đây có sự phân

Trang 17

biệt rõ ràng, nó là một lĩnh vực riêng biệt, khác với tâm lý học, xã hội học, hay giáodục học… Ở Việt Nam, cũng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu liên quanđến giáo dục gia đình, nhưng phần lớn mới dừng lại ở khía cạnh lý thuyết, tính thựctiễn chưa cao Có thể nói đây là ngành khoa học khá mới ở Việt Nam, cần đượcquan tâm nghiên cứu nhiều hơn.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về giáo dục gia đình nên tác giả luận văn xinphân chia các quan điểm đó thành một số khuynh hướng chủ yếu sau:

Thứ nhất là quan điểm truyền thống, mà tiêu biểu là các học giả Yamamura

Yoshiaki và Hamushima Aki cùng với Shibano Shozan [45; 33 - 66] Quan điểm này chorằng: Giáo dục gia đình Nhật Bản chủ trương coi trọng cái hình thức bên ngoài(ngoại): loại hình, hình dạng, cách thức giáo dục trẻ của cha mẹ, sau đó mới tậptrung nội dung bên trong (nội hàm): tập trung vào làm thế nào có thể giúp trẻ lĩnhhội được lời chỉ bảo của cha mẹ, và sự lĩnh hội đó được thể hiện như thế nào thôngqua các hành động thực tế của trẻ Đây là vấn đề quan trọng nhất của giáo dục gia

đình

Thứ hai là quan điểm hiện đại với Akiko Chiba là tiêu biểu Quan điểm này

coi giáo dục gia đình là những hành động có tính chất xã hội mà người lớn phải hỗtrợ, giúp đỡ trẻ em và trang bị cho chúng những tri thức, hiểu biết về: cách thứchành động, cách thức phòng bị trong cuộc sống, những tri thức cơ bản sử dụngtrong cuộc sống hàng ngày, những hành động do giáo dục mà có…, đây đều lànhững tri thức không thể thiếu được trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Vì vậy,

giáo dục gia đình nhìn chung là đã thâm nhập và trở thành một vai trò bắt buộc đối

với mỗi người lớn chúng ta, ăn sâu vào trong hệ ý thức Nó trở thành một yêu cầucần thiết, bắt chúng ta tập trung vào giải quyết những thay đổi, những vấn đề mới

phát sinh ra trong bối cảnh hiện nay Từ đó nâng cao vai trò, trách nhiệm của giáo

dục gia đình trong vấn đề giáo dục cho các công dân trẻ - thế hệ chủ nhân tương lai

của thế giới

Như vậy, dù theo quan điểm hẹp hay rộng thì giáo dục gia đình là một lĩnhvực đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với mỗi một cá nhân trong xã hội

Trang 18

1.1.1.3 Một số học thuyết về giáo dục gia đình

Giáo dục gia đình tập trung vào quá trình giáo dục trong gia đình dành chotrẻ và được xem như một ngành của giáo dục học Hiện nay đã có nhiều trườngphái, học thuyết nghiên cứu về nó Các học thuyết chủ yếu tìm hiểu vai trò, kết quảhành động, phương pháp dạy của cha mẹ trong việc giáo dục con cái Về cơ bản cómột số học thuyết như sau:

Thuyết học tập xã hội (Social learing theory) của Albert Bandura (1925 ?).

Thuyết này cho rằng trẻ sẽ học được mọi việc, mọi kỹ năng của cuộc sống trongmôi trường xã hội và học từ người bên cạnh, trẻ học qua quan sát các hành vi củangười khác Trẻ luôn bắt chiếc cha mẹ và cần một hình mẫu để học tập, cha mẹ vàngười gần gũi yêu thương bé chính là hình mẫu để trẻ học tập theo [14; 72 - 73]

Thuyết viện dẫn (Attribution theory) của Fritz Heidez (1896 – 1988) thuyết

này giải thích về các sự vật hiện tượng theo hai cách: từ những lý do, nguyên nhânbên ngoài đến những lý do và nguyên nhân bên trong Thuyết viện dẫn ứng dụngvào quá trình trẻ vận dụng, tiếp thu các giá trị mà chúng học được từ cha mẹ [79]

Thuyết tương tác (Interaction theory) của James Baldwin (1861 -1934) cho

rằng, trẻ cũng là một thành viên tham gia tích cực trong việc học tập từ cha mẹ vàchúng có ảnh hưởng lớn tới phương pháp giáo dục của cha mẹ Ngược lại, cha mẹcũng tác động đến việc trẻ học tập như thế nào từ cha mẹ Đây chính là mối qua hệtương tác, qua lại lẫn nhau [65]

1.1.1.4 Các mô hình giáo dục gia đình phổ biến

Mỗi một học giả nghiên cứu về giáo dục gia đình, tùy theo trường phái vàquan điểm cá nhân đã đưa ra mô hình khác nhau về giáo dục gia đình Dưới đây xinđơn cử một số mô hình của Diana Baumrind (1927 –?)

Mô hình độc đoán: Quyền lực thuộc về cha mẹ, con cái không được cãi cha

mẹ Mô hình này sử dụng hình phạt khi con không vâng lời, không đáp ứng tất cảnhu cầu khi trẻ đòi hỏi Nhược điểm của mô hình này là trẻ thiếu năng lực xã hội,

có xu hướng rút lui, thiếu tính khởi phát tự sướng, kém về ý thức lương tâm, xuhướng tại ngoại…

Trang 19

Mô hình dân chủ nghiêm minh: là mô hình giáo dục cha mẹ luôn mong trẻ

học được các cư xử với những quy tắc chuẩn mực rõ ràng Họ cương quyết, tôntrọng các quy tắc đã được đề ra, đặt ra mức kỷ luật, giới hạn cho trẻ, khuyến khíchtrẻ phát triển tính độc lập, tính cá nhân Cha mẹ luôn trao đổi cởi mở với con cái,tôn trọng quan điểm của trẻ, nhìn nhận quyền lợi của cả cha mẹ và con cái Kết quả

là con cái phát triển tâm lý tốt, có năng lực xã hội, có khả năng tự kiểm soát, tựquyết định, làm việc độc lập, có tinh thần trách nhiệm và có lòng tự trọng cao.Ngoài ra, trẻ còn có sức mạnh về thể xác lẫn tinh thần, không lo lắng thái quá,không căng thẳng hay trầm cảm

Mô hình dễ dãi nuông chiều: là mô hình cha mẹ dễ dãi chiều theo ý muốn

của trẻ, ít hình phạt, không thể hiện uy quyền hay kiểm soát trẻ chặt chẽ Họ cũng ítđòi hỏi trẻ phải có hành xử đúng đắn, ít có luật lệ quy định trong gia đình bắt trẻ

phải tuân theo, cho phép trẻ làm theo ý muốn Hậu quả là con cái thiếu tự tin, thiếu

chín chắn, thiếu trách nhiệm, khó kiểm soát

Mô hình thờ ơ không quan tâm: Là mô hình cha mẹ ít đòi hỏi, bắt buộc trẻ,

họ lơ là thậm chí chối bỏ nhiệm vụ, trách nhiệm làm cha mẹ; tránh sự phiền toái từ

trẻ Hậu quả là làm cho trẻ bất ổn về mặt tâm lý; ảnh hưởng đến quá trình phát triển,

hình thành nhân cách và bản ngã Khả năng kiểm soát bản thân ở trẻ rất thấp, địnhhướng học tập bấp bênh, tình cảm bất ổn định, dễ dẫn đến các hành vi có vấn đề, viphạm pháp luật [69]

1.1.1.5 Vai trò của giáo dục gia đình

Gia đình luôn đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành, phát triển nhâncách con người nói chung và sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ nói riêng Gia đình, làmôi trường xã hội hóa đầu tiên đối với trẻ em, môi trường giáo dục suốt đời đối vớiquá trình hình thành nhân cách, cũng như tính cách của một cá nhân Từ khi chàođời, trẻ đã được thừa hưởng văn hóa gia đình qua sự quan tâm chăm sóc của cha

mẹ, ông bà và những người sống xung quanh Trẻ em được giáo dục bằng tình cảm

và mối quan hệ giữa cá nhân trong gia đình Đó là sự yêu thương của người mẹ, uyquyền của cha, sự yêu quý của ông bà, sự ganh ghét của anh chị em… tất cả trở

Trang 20

thành một bầu không khí hòa thuận, đậm đặc yêu thương Những gì trẻ em nhìn,nghe, cảm nhận ở môi trường gia đình đều ghi sâu vào tâm trí của bé, khiến bé hànhđộng, bắt chước Tất cả điều đó trở thành bài học đầu đời của bé.

Khi lớn, quan hệ xã hội của trẻ được mở rộng, nhưng tình cảm gia đình vẫn

là động lực thôi thúc con người tự hoàn thiện nhân cách của mình Trong quá trìnhhình thành, phát triển nhân cách, định hình tính cách mỗi cá nhân, vai trò của gia

đình ở mỗi giai đoạn, lứa tuổi là khác nhau:

Giai đoạn ấu thơ: Gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con người,

gia đình là cầu nối của đứa trẻ với môi trường xung quanh, giúp trẻ làm quen vớithế giới đồ vật, hình thành các thói quen cần thiết

Giai đoạn tuổi mẫu giáo, nhi đồng: Gia đình có vai trò chăm sóc giáo dục

trẻ, tiếp tục hình thành, củng cố các thói quen tốt cho bé Tổ chức, hướng dẫn cáchoạt động giúp trẻ biết nhận thức đúng sai, được phép và không được phép làm gì

Giai đoạn thiếu niên và thanh niên mới lớn: Gia đình có nhiệm vụ giúp cho

trẻ khả năng thích nghi với yêu cầu của cuộc sống, hoạt động xã hội Giúp trẻ hìnhthành, thiết lập chuẩn mực trong mối quan hệ với người xung quanh, hình thànhphát triển năng lực tự chủ, tự ý thức về bản thân

Giai đoạn trưởng thành: Gia đình giúp cá nhân chuẩn bị quá trình bước vào

cuộc sống tự lập

Giai đoạn chuẩn bị kết hôn: Gia đình giúp cá nhân hiểu biết về ýthức trách

nhiệm của người làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ

Giai đoạn tuổi già: Gia đình có chức năng chăm sóc, kính trọng và chuẩn bị

đón nhận tuổi già

Bàn về vai trò của giáo dục đối với trẻ, mỗi một nhà nghiên cứu tùy theotừng lĩnh vực của mình sẽ có cách tiếp cận và lý giải khác nhau Nhưng ở đây tácgiả luận văn muốn tìm hiểu dưới góc độ giáo dục học, nên đã lựa chọn quan điểmcủa một số nhà nghiên cứu giáo dục nổi tiếng người Nhật Đó là quan điểm củaHirota Teruyuki, Akiko Chiba, Oshima Takehiro… Hầu hết quan điểm giáo dục của

họ đều đã được công nhận và sử dụng rộng rãi

Trang 21

Trước hết là quan điểm của Hirota Teruyuki: Giáo dục trường học hay xã hội không thể thay thế cho giáo dục gia đình trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi cá nhân [27; 24 - 26 và 28; 32 -36]

Giáo dục gia đình cho đến nay vẫn khẳng định vai trò to lớn và không thểthay thế được do những ưu thế của nó so với giáo dục xã hội Trước hết người tanhận thấy rằng, ở giai đoạn đầu, đứa trẻ tiếp thu văn hoá, kinh nghiệm xã hội khôngphải bằng lý trí tư duy mà đơn giản chỉ là bắt chước thông qua việc sao chép lạimẫu hành vi của bố mẹ và của những người xung quanh Sự chăm sóc, dạy dỗ của

bố mẹ chính là yếu tố đầu tiên trong quá trình thích nghi dần với đời sống xã hộicủa trẻ Xã hội vận động và phát triển không ngừng, song giáo dục gia đình vẫnluôn luôn ảnh hưởng lâu dài và toàn diện nhất đối với mỗi cá nhân trong suốt cuộcđời, đặc biệt đối với chế độ giáo dục đặc biệt “xã hội học tập suốt đời” của Nhật

Trẻ em là một chủ thể tự nhiên vừa là chủ thể của xã hội Cuộc sống của mỗitrẻ luôn bị tác động ảnh hưởng trong môi trường tự nhiên và xã hội nơi trẻ em đangsống và hoạt động trong đó Gia đình là xã hội thu nhỏ, môi trường cận kề đầu tiêncủa trẻ, có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành, phát triển nhâncách của trẻ Gia đình là môi trường nâng đỡ, gắn bó suốt cuộc đời của mỗi trẻ Cha

mẹ là người bạn, người thầy đầu tiên trong giáo dục cho trẻ Cha mẹ xây dựngnhững phẩm chất nhân cách ban đầu làm cơ sở trong quá trình giao tiếp, hoạt độngcùng các thành viên trong gia đình hay ngoài công đồng xã hội, để trẻ em phát triển

về năng lực, đạo đức, lao động cũng như hình thành các nét thẩm mỹ riêng

Giáo dục gia đình có những mặt mạnh, tích cực trong việc giáo dục trẻ Giáodục gia đình mang tính tích cực là dựa trên cơ sở huyết thống, sự yêu thương gắn bósâu sắc, lâu dài, bền vững và linh hoạt, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ Nhưnggiáo dục gia đình không thể thay thế hoàn toàn giáo dục nhà trường Trong từngmôi trường sống đã ảnh hưởng đến trẻ em sâu sắc, đặc biệt là văn hóa gia đình vàcộng đồng xã hội Thông qua giáo dục khác ngoài gia đình, nó đã giúp định hướng,chuyển giao những giá trị, tinh hoa của con người đến trẻ em ngắn nhất và hiệu quả,điều mà cha mẹ chưa thể thay thế được

Trang 22

Giáo dục gia đình đóng vai trò quan trọng và theo suốt suốt cuộc đời mỗi cá nhân [38; 23 - 34] Giáo dục gia đình không những có tác dụng mạnh mẽ ý nghĩa

sâu sắc đối với tuổi trẻ thơ, mà còn có ý nghĩa đối với cả cuộc đời của con người.Nghĩa là phẩm chất đạo đức, tính cách, năng lực chuyên biệt của cha mẹ thường ảnhhưởng rất lớn đối với con cái trong gia đình Nhiều nhà khoa học đã nhận định: "Cómột thực tế lạ lùng là phần lớn những thiên tài đều có bà mẹ tuyệt vời và họ nhậnđược ở người mẹ nhiều hơn là ở người cha” [3; 10] Như vậy, giáo dục gia đình làmột hoạt động vô cùng tinh tế, là sự hội tụ của toàn bộ sức mạnh truyền cảm, đồngcảm giữa cha mẹ và con cái Giáo dục là một trong những chức năng cơ bản của giađình, chuẩn bị cho trẻ những hiểu biết, những kỹ năng và thái độ cần thiết đối vớicác sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh để đứa trẻ gia nhập vào đời sống xãhội Xã hội càng phát triển càng làm tăng tầm quan trọng của giáo dục gia đình đốivới sự hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ Mục đích sâu xa của giáo dụcgia đình là hướng tới xây dựng nhân cách con người, đạo lý làm người Giáo dụcgia đình sẽ hướng dẫn cho trẻ nhận thức đúng đắn về những giá trị đích thực, nhữngchuẩn mực và khuôn mẫu xã hội, những bổn phận, nghĩa vụ và quyền lợi, cũng nhưnhững trật tự không chỉ trong gia đình mà ở cả ngoài xã hội

Giáo dục gia đình là một quá trình liên tục và lâu dài từ khi đứa trẻ hình thành ý thức đến tận tuổi già Nó có đặc trưng riêng xuất phát từ tình cảm và thông

qua tình cảm, thái độ, việc làm, hành vi ứng xử của người lớn mà trẻ học tập cáchsống, cách nghĩ Giáo dục gia đình có phương pháp đặc biệt là thuyết phục, giảnggiải, cùng trao đổi thân tình và làm gương trên cơ sở tình thương yêu của nhữngngười ruột thịt Những thông tin mà người lớn truyền thụ cho trẻ em trong gia đìnhđược thực hiện một cách tự nhiên, thân tình, giản đơn và thường được nhắc lại bằngnhiều cách khác nhau Một thông tin có khi được thể hiện qua lời nói, có khi đượcthể hiện qua những hành vi ứng sử, cũng có khi bằng thái độ và trẻ em học tập,

trưởng thành theo kiểu thấm nhuần dần Hơn nữa, giáo dục gia đình còn có nội

dung phong phú và đa dạng, bởi vì môi trường gia đình là một môi trường khôngthuần nhất (các thành viên của gia đình thường khác nhau về địa vị xã hội, vai trò,

Trang 23

kinh nghiệm sống, tuổi tác, giới tính, học vấn, nghề nghiệp và tính tình ), nhưng về

cơ bản giáo dục gia đình sẽ giúp cho thế hệ trẻ tiếp nhận những kinh nghiệm, nhữngchuẩn mực, những giá trị và những vai trò xã hội, mà những tri thức cốt yếu nàyđược truyền thụ bằng con đường tình cảm sau khi đã qua “bộ lọc” của các thànhviên trong gia đình [38; 28 - 34]

Giáo dục gia đình là một bộ phận không thể thiếu được trong quy trình: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội [29] Giáo dục con người là

sự nghiệp của toàn xã hội mà các thiết chế xã hội (trong đó có thiết chế gia đình) và

tổ chức xã hội có chức năng giáo dục đều phải tham gia giáo dục con người Cácthiết chế và các tổ chức giáo dục khác nhau không thể thay thế cho nhau trong việcgiáo dục con người Mỗi thiết chế và tổ chức giáo dục có đặc điểm, sức mạnh riêng,nội dung và phương pháp giáo dục riêng, nó có tác động bổ sung hỗ trợ cho nhautrong chức năng giáo dục, nhằm đạt mục tiêu chung Do đó, giáo dục gia đình trởthành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống: giáo dục gia đình, nhà trường

và giáo dục xã hội

Các nhà khoa học khẳng định rằng cấu trúc nhân cách gốc, nhân cách nềntảng của mỗi con người được định hình ở tuổi ấu thơ (từ 1 đến 6 tuổi) nghĩa là khiđứa trẻ còn ở trong gia đình Vì thế, tính cách của một người trưởng thành, thái độ,hành vi của họ đối với gia đình, đối với người khác và đối với xã hội như thế nàothường lặp lại hay mang nặng dấu ấn của những yếu tố tương ứng đã diễn ra trongquan hệ gia đình của họ mà họ được sống và tiếp nhận trong quá trình trưởng thành

Do đó, môi trường gia đình có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát truyển củamỗi con người Điều đó cho thấy, giáo dục gia đình có vai trò đặc biệt đối với sựhình thành và phát triển nhân cách của con người Ngoài ra giáo dục gia đình làhướng tới mục đích tổng quát, giáo dục nhà trường chủ yếu nhằm trang bị kiến thức

ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội cho trẻ Giáo dục của nhà trường và

xã hội chính là sự tiếp tục, bổ sung cho giáo dục gia đình nhằm giúp con người pháttriển toàn diện Do đó, giáo dục gia đình mối quan hệ đa chiều, mật thiết với nhàtrường, xã hội

Trang 24

Đối với bối cảnh Nhật Bản hiện nay, sự thay đổi nhanh chóng của xã đã gây

ra nhiều hệ lụy và vấn đề xã hội, tác động mạnh đến đời sống gia đình Nhiều hiệntượng xã hội mới liên quan đến trẻ em xảy ra: trẻ lang thang, trẻ không đến trường

(futoko/教教教), trẻ tự kỉ (hikikomori/教教教教), trẻ phạm pháp, trẻ bị lạm dụng, trẻ cóquan hệ tình dục và mang thai sớm, mại dâm trẻ em, nạn tự tử học đường… Điều đóđòi hỏi các gia đình cần tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ các hành vi của trẻ.Vai trò giáo dục gia đình là cùng với dạy dỗ, chăm sóc trẻ thì việc quản lý, kiểmsoát kịp thời sẽ giúp trẻ điều chỉnh và ngăn chặn chúng bị lôi cuốn vào các tệ nạn xãhội Đây quả thực là nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho giáo dục gia đình Nhật Bản trongbối cảnh hiện nay

1.2 Khái quát tình hình giáo dục Nhật Bản giai đoạn 1990 - 2010

1.2.1 Bối cảnh kinh tế xã hội

Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyểnsang thời kỳ trì trệ kéo dài và tình trạng này liên tục diễn ra suốt 10 năm sau đó Suythoái kinh tế của Nhật là do nhiều nguyên nhân, trong đó nổi lên là sự đổ vỡ nềnkinh tế bong bóng; khả năng đối ứng cứng nhắc và thiếu hiệu quả của hệ thống tàichính ngân hàng; sự già hoá dân số với mức chi quá lớn cho hệ thống phúc lợi xãhội; sự suy yếu của bộ máy nhà nước… Vì vậy, đòi hỏi Nhật Bản phải có một cuộccải cách sâu rộng và toàn diện, hầu như chuyển sang một thời kỳ kinh tế mới

Từ năm 1996, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) của Nhật sụt giảm và đến nayvẫn chưa hồi phục Các vụ phá sản, gánh nặng nợ nần của các tập đoàn cũng tănglên nhanh chóng Tình trạng đó buộc các công ty phải cắt giảm chi phí, sa thải laođộng, khiến tỉ lệ thất nghiệp tăng lên, gây ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội Tổngchi phí cho phúc lợi xã hội tăng từ 47.220 tỷ yên lên tới 81.400 tỷ yên vào năm

2001 Các vụ phạm pháp cũng tăng khá nhanh, từ 1.637.000 vụ vào năm 1990 lênđến 2.790.000 vụ vào năm 2003 [18; 206 - 235] Nền kinh tế suy thoái hơn một thậpniên cùng với ba cuộc khủng hoảng (1998, 2008, 2010) đã ảnh hưởng lớn vị thếkinh tế, chính trị của Nhật Bản trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên có thể chia nó ralàm hai dấu mốc cụ thể từ 1990 – 2000 và từ 2000- 2010

Trang 25

Kinh tế đi xuống nên đời sống văn hóa - xã hội cũng có nhiều thay đổi Tronggiai đoạn nửa đầu thập niên 1990 – 2000 nạn thất nghiệp xảy ra trầm trọng, đặc biệt

là giới trẻ, nhiều sinh viên ra trường không kiếm được việc làm, họ loay hoay khônglối thoát, tỉ lệ người trẻ tuổi sống phụ thuộc vào cha mẹ tăng lên, một số vấn đề xãhội xảy ra Tuy nhiên trong giai đoạn 2000 – 2010, nhiều vấn đề xã hội mới nảysinh như: tỉ lệ thất nghiệp tăng cao, xã hội già hóa với tỉ lệ sinh thực âm không đủtái cơ cấu dân số, nguy cơ bùng nổ vỡ quỹ phúc lợi xã hội, xã hội thông tin thay đổi,

xu hướng giáo dục bậc cao, yêu cầu cải cách về kinh tế, chính trị và giáo dục đượcđặt ra với mục đích cải thiện tình hình trên Đặc biệt, vấn đề trong giáo dục như nạn

tự tử, bắt nạn học đường, trốn học, thất học…gia tăng khiến cho xã hội Nhật Bảncàng trở nên khó khăn trong việc tìm ra hướng giải quyết

Đặc biệt trong những năm gần đây, ở Nhật Bản, sự chuyển biến mạnh mẽ về

cơ cấu xã hội, sự phát triển vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tincùng với sự thay đổi về quan niệm sống, các giá trị quan và nhân sinh quan đòi hỏimỗi con người cần phải không ngừng học tập để trau dồi, nâng cao tri thức đáp ứngnhững đòi hỏi ngày càng cao của xã hội hiện đại Bên cạnh đó, vấn đề xóa bỏ cănbệnh xã hội bằng cấp, làm tăng thêm ý nghĩa cuộc sống và phong phú thêm đờisống tinh thần của người dân Nhật Bản trong bối cảnh xã hội già hóa dân số đã đặt

vấn đề cần phải xây dựng một “xã hội học tập suốt đời” - có khả năng cung cấp cho

mọi người, mọi lứa tuổi cơ hội được chủ động tiếp thu trình độ học vấn mình mongmuốn và thành quả học tập đó được công nhận và sử dụng một cách thích đáng Vìvậy, trong bối cảnh kinh tế xã hội trên, giáo dục Nhật Bản đứng trước những tháchthức lớn, đòi hỏi cải cách một cách sâu rộng

1.2.2 Chính sách và thực trạng giáo dục Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2010

1.2.2.1 Khái quát về giáo dục Nhật Bản

Nhật Bản, là một trong số các quốc gia có nền giáo dục phát triển trên thếgiới với tỷ lệ người mù chữ thực tế bằng không, tỉ lệ học tiếp nên trung học phổthông khoảng 95%, 72,5% số học sinh theo học lên đến bậc đại học, cao đẳng vàtrung cấp Đây là một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội một số nước châu Âu

Trang 26

[44; 11] Nguồn lao động có tri lực này đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh

tế - công nghiệp Nhật Bản hiện đại

Hệ thống giáo dục Nhật Bản được thiết lập ngay sau khi Chiến tranh thế giớithứ hai kết thúc, nghĩa là vào giữa những năm 1947, lấy hệ thống giáo dục của Mỹ

làm chuẩn Theo quy định của Luật giáo dục ban hành năm 1947, hệ thống giáo dục

của Nhật bao gồm 9 năm giáo dục bắt buộc (6 năm tiểu học và 3 năm trung học cơsở), 3 năm phổ thông trung học không bắt buộc, hệ thống đại học dài hạn 4 năm,ngắn hạn 2 – 3 năm (tương đương cao đẳng và học nghề) và sau đại học

Trong quá trình hoàn thiện hệ thống các cấp bậc giáo dục, có một khoảngthời gian Nhật Bản rất chú trọng phát triển nhanh các trường trung học bậc cao (phổthông trung học) Hiện nay, trong 9 năm học đầu tiên, hơn 90% trẻ em Nhật Bảntrong nhóm tuổi tương ứng, sẽ theo học ở trường công hoặc tư Tỷ lệ học sinh tiếptục học lên trung học bậc cao là khoảng 94%, và con số này đã ổn duy trì ổn định vàgiữ vững [20; 61] Khoảng nửa đầu thập niên 1990, giáo dục tiểu học và trung họcNhật Bản phần lớn tập trung ở các trường công, nhưng ngày nay tình trạng đó đãthay đổi do điều kiện xã hội, chính sách giáo dục của nhà nước

Chương trình giảng dạy, sinh hoạt tại hầu hết các trường tiểu học, trung học

cơ sở được biên soạn thống nhất và phù hợp với các cấp học trên phạm vi toànquốc Tuy nhiên, quy mô lớp học, số học sinh trong một lớp, chương trình ngoạikhóa, hoạt động xã hội… tùy thuộc vào địa điểm trường học và từng địa phương.Trên toàn quốc, Bộ Giáo dục Nhật Bản quy định thống nhất số giờ học hàng nămcho mỗi khối lớp Hiện nay, số giờ học quy định cho khối lớp 1, 2 và 3 là 850, 910

và 980, khối lớp 4 đến lớp 6 và khối trung học bậc thấp, số giờ học đều là 1.015[59] Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, tất cả các trường công và tư phải có tổng số ngàygiảng dạy trên lớp ít nhất là 210 ngày, hơn 35 tuần So với trước khi thực thi chương

trình Yurui kyoiku (nới lỏng giáo dục)(1), số tiết học đã giảm đến 4 tuần (trước đây là

39 tuần/năm) Tất cả các trường tiểu học công đều cung cấp bữa ăn trưa miễn phí

 1) Chương trình nới lỏng giáo dục ở Nhật Bản được thực thi bắt đầu từ thập niên 1990 nghĩa là giảm các giờ học bắt buộc, nâng cao giờ học các môn tự chọn cho học sinh

Trang 27

cho học sinh Tuy nhiên, ở trung học phổ thông và trung học cơ sở, việc cung cấpbữa ăn trưa là tùy ý, phụ thuộc vào chính sách của từng địa phương

Theo truyền thống, hàng ngày học sinh phải tự làm vệ sinh trường lớp Một

số trường làm vệ sinh sau bữa ăn trưa, hoặc tiến hành sau khi kết thúc giờ học.Ngoài các buổi học, hoạt động vệ sinh trường lớp, học sinh còn tham gia các hoạtđộng khác: dã ngoại, thể thao, ca nhạc, thể thao mùa đông và cắm trại mùa hè

Vấn đề học thêm là một vấn nạn của giáo dục phổ thông Nhật Bản Nhật

Bản có nhiều juku (các cơ sở giáo dục tư nhân) và các trung tâm ngoại ngữ như

Eikaiwa (Hội thoại tiếng Anh)… Các cơ sở kiểu này thường được phân thành ba

loại: dạy học sinh từ cơ bản; nâng cao trình độ (các khóa hoàn thiện, bổ sung vànâng cao) và chuẩn bị thi (ôn tập trước các kỳ thi tuyển vào trường, vào công ty, duhọc…) Phần lớn học sinh, do áp lực phải vào trường tốt nên sau giờ học hoặc vào

ngày nghỉ phải theo học tại cơ sở này Đây là hệ quả của cái gọi là kyoso kyoiku

(giáo dục cạnh tranh) và là điểm khác hẳn so với mô hình giáo dục của các nướcPhương Tây

1.2.2.2 Chính sách giáo dục Nhật Bản giai đoạn từ 1990 đến 2010.

Chính sách giáo dục cơ bản và các nguyên tắc, chi tiết cụ thể được ghi trong

Luật giáo dục (1947) Đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng, bắt buộc phổ cập đến

bậc phổ thông trung học, không phân biệt giới tính, nghiêm cấm tuyên truyền chínhtrị, đảng phái hoặc giáo dục tôn giáo, bè phái trong các trường công, nghiêm cấmđiều hành giáo dục sai lệch…v.v

Kể từ khi được ban hành đến nay, các chính sách giáo dục cơ bản của Nhậtluôn luôn đảm bảo các nguyên tắc trên Trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, cuộc cảicách giáo dục theo mô hình phương Tây bắt đầu từ thời Minh Trị, được coi là cảicách cơ bản tạo dựng nền tảng cho một cường quốc Nhật Bản thời cận hiện đại.Trong cải cách giáo dục, Thiên Hoàng Minh Trị đã tiến hành cải cách theo hai thời

kỳ là: Cải cách cơ bản (1868 - 1885) và Đổi mới (1885 - 1912) Trong giai đoạn cảicách cơ bản, chế độ giáo dục cũ dành cho nhà giàu bị xóa bỏ mà thay vào đó là giáodục toàn dân, cải cách hệ thống giáo dục ở các cấp từ tiểu học cho đến cấp cao hơn

Trang 28

như trung học, cao đẳng và đại học Từ năm 1885 Thiên Hoàng Minh Trị quyết địnhxây dựng đất nước theo mô hình Phương Tây, vì thế giáo dục được cải cách theohướng này và đã đem lại nhiều thành công cho nền giáo dục Nhật Bản Bắc đầu từ

đó, mô hình giáo dục Nhật Bản là mô hình theo kiểu Phương Tây Trong một sốthập niên gần đây, để bắt kịp phát triển kinh tế văn hóa xã hội nền giáo dục NhậtBản đã liên tục cải cách, đổi mới giáo dục

Giáo dục Nhật Bản trong giai đoạn 1990 – 2010 được coi là giai đoạn đặcbiệt mang tính bản lề, đánh dấu những thay đổi lớn trong quan điểm về giáo dụcNhật Bản Cũng chính trong giai đoạn này nhiều bứt phá và vấn đề tồn tại trong môhình giáo dục Nhật Bản ngày càng được bộc lộ rõ Một trong những đặc điểm lớncủa quá trình phát triển giáo dục Nhật Bản giai đoạn này là các chính sách phát triểngiáo dục được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ thông qua hệ thống các hội đồng, ủy ban tưvấn cấp cao, được thể chế hóa bằng các đạo luật, hệ thống các văn bản, pháp quy vềquản lý giáo dục Ngoài các điều khoản cơ bản liên quan đến giáo dục đã được ghitrong Hiến pháp, hàng loạt các đạo luật chi tiết cũng đã được tổ chức ban hành,quản lý các hoạt động giáo dục và hệ thống giáo dục Bước sang thế kỉ XXI, xã hộiNhật Bản phải đối diện với rất nhiều thay đổi nhanh chóng của xã hội, sự bùng nổcủa công nghệ thông tin, toàn cầu hóa, dân số già hóa trong khi kinh tế ngày càngsuy thoái Những diễn biến này đòi hỏi phải cái cách toàn bộ hệ thống xã hội, trong

đó có giáo dục

Chương trình 6 cải cách được chính phủ Nhật Bản công bố năm 1997, trong

đó giáo dục là một nội dung cải cách quan trọng được đặc biệt quan tâm Từ năm

1995, để chuẩn bị cho cải cách, Chính phủ, Bộ giáo dục Nhật Bản đã huy động Hộiđồng giáo dục Trung ương, các trường đại học, các viện nghiên cứu và các cơ quan

tư vấn tham gia xây dựng chiến lược giáo dục mới và đưa ra những giải pháp cơ bảncho giáo dục Tuy nhiên, những nội dung về cải cách giáo dục được đề ra trong nửa

sau thập kỉ 1990 bị đánh giá là chưa thực sự có hiệu quả Năm 2000, Ủy ban Quốc

gia về cải cách giáo dục (Kyōiku kaikaku kokumin kaigi/教教教教教教教教) được thành lập,với tư cách là cơ quan pháp nhân độc lập, có chức năng tư vấn cho Thủ tướng và

Trang 29

chính phủ về giáo dục và cải cách giáo dục Ủy ban này đã đệ trình lên Thủ tướngNhật Bản, ông Yoshiro Mori, một bản danh sách những vấn đề cần cải cách vànhững đề xuất cụ thể cho thực trạng giáo dục Chương trình cải cách do Ủy ban đềxuất đã đưa ra ba mục tiêu cơ bản:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục tinh thần, bồi dưỡng cảm xúc trong giáo dục,

nuôi dưỡng học sinh thành những con người toàn diện về cảm xúc, hạn chế chủnghĩa cá nhân, chống lại thái độ thờ ơ xã hội, tình trạng suy thoái ngày càng giatăng đối với giáo dục học đường như bắt nạt, cúp học, gây rối trật tự trong lớp, nạn

bè phái chia nhóm, phân biệt đẳng cấp, bạo lực thanh thiếu niên, thậm chí tự sátthiếu nhi

Thứ hai, xây dựng một hệ thống trường học ở đó trẻ được phát triển cá tính

và tài năng, khắc phục chủ nghĩa bình quân, xây dựng một hệ thống giáo dục dadạng, mềm dẻo, khuyến khích sự phát triển nhân cách, nuôi dưỡng nguồn lực sángtạo của mỗi cá nhân

Thứ ba, tăng cường hệ thống giáo dục, trong đó quyền tự chủ của nhà trường

được tôn trọng, đẩy mạnh phân cấp trong quản lý giáo dục, nâng cao quyền tự chủcủa hội đồng giáo dục cấp địa phương [17; 28 - 35] Năm 1998, Nhật Bản đã phêchuẩn một chương trình cải cách mà theo đó cắt giảm chương trình bắt buộc 30% vàcho phép các trường có thể tự quyết định một số nội dung giảng dạy cho phù hợp.Thực hiện giảm số lượng học sinh trong mỗi lớp chỉ còn 20-25 em nhằm nâng caohiệu quả học tập và giảng dạy

Bên cạnh đó để theo kịp xu hướng phát triển của thời đại, trong công cuộc thìcải cách các trường đại học và phát triển công tác nghiên cứu nhằm nâng cao nănglực phấn đấu, cạnh tranh với các quốc gia khác trên thế giới cũng được đặt ra Cáctrường đại học mở rộng việc tiếp nhận sinh viên nước ngoài Việc tuyển sinh cũng

có những cải tiến, một số trường chuyển sang thí điểm xét tuyển nhằm giảm nhẹkhâu thi cử

Như vậy về cơ bản các mục tiêu đề ra đã được giải quyết khá triệt để, đặcbiệt trong lần chỉnh sửa năm 2006, mục tiêu giảm số giờ học, gia tăng các giờ tự

Trang 30

học tự nghiên cứu, gia tăng số môn học tự chọn cho học sinh đã trở thành một mụctiêu mới quan trọng nhất Kết quả của cuộc cải cách giáo dục diễn ra trong giai đoạn

1990 - 2010 trước hết phải kể đến là sự đa dạng hóa trường học Một số trường học

kiểu mới được thành lập, đồng thời các trường học cũ cũng đa dạng hóa hoạt động.Trường học mang tính tổng hợp, đào tạo liên thông theo chế độ tín chỉ, trường quốc

tế, trường trung học chất lượng cao, trường trung học đa năng, kiểu trường liêndoanh liên kết giữa cao đẳng và trung học, trường giáo dục từ xa thông qua internet,trường học xây dựng từ nguồn quỹ phúc lợi xã hội

Chất lượng giáo dục được cải cách, một số môn học mới được đưa vào chương trình giảng dạy Khoa địa lý, lịch sử được thành lập trong chương trình

giảng dạy ở tiểu học, THCS và PTTH xây dựng môn mới là môn sinh hoạt khoa họccho lớp cuối ở bậc tiểu học, xây dựng chủ đề giáo dục trường học dành cho khốiTHCS và tiểu học; xây dựng môn học mới là Phúc lợi xã hội cho các cấp học…Đồng thời với mục tiêu cải cách giáo dục, bình đẳng nam nữ, toàn cầu hóa giáo dục,

Bộ giáo dục Nhật Bản cũng đưa ra một số môn học bắt buộc đối với học sinh cáccấp như môn tiếng Anh ở cấp bậc tiểu học, lịch sử thế giới đối với học sinh trunghọc Để thực hiện mục tiêu bình đẳng nam nữ trong xã hội, các trường học cấpTHCS và THPT tổ chức các chương trình bắt buộc giáo dục ý thức bình đẳng chonam sinh Như vậy, công cuộc cải cách đã làm thay đổi nhiều trong tư tưởng giáo

dục, tạo nên một phong trào tự do hóa giáo dục theo mô hình quan điểm giáo dục

kiểu Mỹ [4; 32].

Một trong những chính sách đóng vai trò quan trọng trong thành công của

cải cách giáo dục Nhật Bản giai đoạn này là Nới lỏng giáo dục Chính sách nới lỏng

giáo dục là chính sách giảm giờ học và giảm nội dung dành cho bậc tiểu học.Nguồn gốc của chính sách này bắt đầu từ thập niên 1970, khi nạn bắt nạt học đường

và tình trạng thiếu hiệu quả trong kỷ luật lớp học ngày càng gia tăng Năm 1984,

thủ tướng Nakasone Yasuhiro đã cho thành lập Hiệp hội giáo dục đặc biệt (Nihon

tokushu kyōiku kyōkai/教教教教教教教教) với mục đích tư vấn cho chính phủ về giáo dục

Năm 1987, Hiệp hội đổi tên thành Hội đồng thẩm tra giáo dục Nhật Bản (Nihon

Trang 31

kyōiku katei shingikai/教教教教教教教教教) Hiệp hội đã đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản để cải

thiện tình trạng giáo dục, đặc biệt đối với hệ thống trường mẫu giáo, tiểu học, trunghọc cơ sở và phổ thông trung học là:

- Xây dựng, hình thành cho học sinh sức mạnh, sự tự tin trong giao tiếp xãhội, thái độ cởi mở

- Xây dựng cho học sinh tính năng động để có thể thích nghi với mọi sự thayđổi xã hội

- Dạy cho trẻ biết những kiến thức cơ bản cần thiết và khả năng làm giàu cóthêm tri thức, với quan điểm giáo dục coi trọng cá tính và nhân cách

- Xây dựng và giáo dục trẻ thành người có hiểu biết quốc tế, biết giao tiếpquốc tế trên cơ sở biết tôn trọng văn hóa truyền thống của Nhật Bản [49; 27 - 34]

Bắt đầu từ 1990, nội dung giảng dạy được cải cách toàn phần theo hướng

trên và chính sách Nới lỏng giáo dục đã được thực thi trên toàn quốc Cụ thể, ở bậc

tiểu học năm thứ 1 và thứ 2, các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội đượcgộp chung lại thành môn “kinh nghiệm sống” Tại các lớp cuối cấp THCS, thời giancủa các môn học tự chọn được tăng gấp đôi, từ 140 giờ lên 280 giờ Nhưng tổng sốthời gian học ở trường lại giảm, từ 1015 giờ xuống 945 giờ (bậc tiểu học), từ 1050xuống 980 giờ (bậc THCS) Nội dung bài giảng cũng được giảm 30% ở cả hai cấp.Tại bậc THPT, điều kiện để tốt nghiệp cũng được nới lỏng, từ quy định phải có trên

80 đơn vị học trình xuống chỉ còn trên 74 đơn vị học trình Từ năm 1991, chế độnghỉ 2 ngày/tuần được thí điểm tại một số trường tiểu học và THCS và chế độ nàychỉ được thực hiện toàn phần vào năm 2002 Đây cũng là một trong những cải cáchnhằm tạo cho trẻ em có những khoảng không gian và thời gian thoải mái để tự họctập, tự tư duy, tiến tới xóa bỏ hình thức dạy học kiểu nhồi nhét kiến thức một chiều,thay đổi cách nhìn nhận năng lực bằng điểm số [39; 35 - 46] Như vậy có thể nói,chính sách nới lỏng giáo dục đã góp phần làm giảm tải việc học và gia thêm sứcsống mới cho học sinh Nhật Bản

Cuối cùng phải nói đến một sự kiện quan trọng trong thời gian này của giáo

dục Nhật Bản là việc ban hành Luật giáo dục sửa đổi (Kaisei gimukyōiku-hō/教教教教教

Trang 32

教教 sau gọi tắt là Luật sửa đổi Kaisei-hō /教教教) vào tháng 12 năm 2006 Việc xác định

Kế hoạch cơ bản chấn hưng giáo dục (Kyōiku shinkō kihon keikaku/教教教教教教教教),trong đó các phương hướng, chính sách và phương châm cơ bản để chấn hưng giáodục được quy định tại chương 1 điều 17 của Luật Ngày 1/7/2008, chính phủ ban

hành Chiến lược cơ bản về phát triển giáo dục (Kyōiku kaihatsu ni kansuru kihon

senryaku /教教教教教教教教教教教教) Chiến lược này không chỉ đưa ra mô hình giáo dục màNhật Bản hướng tới trong 10 năm tiếp theo, mà còn chỉ ra các biện pháp cụ thể

trong 5 năm (2008 - 2012) với khẩu hiệu Giáo dục lập quốc (Kenkoku kyōiku /教教教

教) [70] Chiến lược thể hiện kì vọng của chính phủ vào sự đóng góp của giáo dụctrong việc tạo nên kì tích như trước kia đã từng góp phần giúp Nhật Bản vươn lêntrở thành cường quốc trên thế giới

1.2.2.3 Thực trạng giáo dục Nhật Bản giai đoạn 1990 đến 2010

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh, Nhật Bảnđứng trước một thách thức mới: phải tự tìm đường đi tiếp cho mình và thay máu nềngiáo dục Trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học

và công nghệ, quá trình toàn cầu hoá kinh tế…, đặt ra yêu cầu mới cho nền giáo dụcNhật Bản, phải làm sao đuổi kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật sang làm sao dẫnđầu đầu sự phát triển đó Tuy nhiên cũng chính từ đây hàng loạt vấn đề đã xuất hiện.Nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, một mặt tạo ra sức mạnh tài chính, song cũng dẫn tới sựcạnh tranh trong thi cử, chạy theo bằng cấp, làm lệch lạc ý nghĩa của thi cử, nó xa rời vớiquy chuẩn và quan điểm truyền thống Sự chi phối của các yếu tố văn hoá, quá trình đôthị hoá, sự gia tăng của các gia đình hạt nhân và áp lực của xã hội hiện tại đã tác động tớitâm lý và thể trạng, tinh thần học sinh, gây ra nạn bạo lực học đường, một điều mà tronggiai đoạn trước đây hiếm gặp, nhưng trong giai đoạn này nó trở thành một vấn nạn, lantruyền với tộc độ chóng mặt do chịu ảnh hưởng từ nhiều mặt Đặc biệt mối quan tâm của

xã hội và cha mẹ trong giáo dục gia đình giảm sút, gia đình phó mặc cho nhà trường, cáccơn sốt học thêm trở thành một trào lưu xã hội, cạnh tranh gay gắt trong học tập gia tăng.Đây cũng là một phần nguyên nhân chính của nạn trốn học và tự sát trong thanh thiếu

Trang 33

niên Nhật Bản Tình trạng chán, bỏ học, không chú trọng đạo đức và tình yêu với conngười, thiên nhiên, đất nước cũng đang là những tồn tại phải xem xét.

Theo giáo sư Kanda Yoshinobu, một chuyên gia giáo dục học của trường đạihọc Kagoshima thì trong giai đoạn hiện tại, thực trạng ở các trường đang có nhữngnhững quan ngại cần ngại, ảnh hưởng lớn đến giáo dục Nhật Bản trên mọi cấp độ:

“Sau khi phát triển thành cường quốc về kinh tế, xã hội Nhật Bản cũng biến thành

xã hội tiêu thụ sản phẩm Các trường công nghiệp và khoa học tự nhiên không cònhấp dẫn với giới trẻ Nhật Bản Không thích, xa lánh khoa học tự nhiên trong trẻ emNhật Bản trở thành vấn đề xã hội trầm trọng Việc học đi đôi với hành, giáo dục gắnliền với lao động mất dần Xu hướng vừa muốn nhàn nhã vừa muốn có thu nhập ổnđịnh ngày càng tăng trong giới trẻ Rất nhiều thanh niên không muốn làm nhữngcông việc nặng nhọc Lương giáo viên cao hơn hẳn so với lương các công chứckhác trong xã hội nên các cuộc thi tuyển giáo viên cũng rất ngặt nghèo”(1) Trướctình hình đó Nhật Bản đã phải đẩy mạnh các chương trình cải cách giáo dục vớinhững chính sách cụ thể như trên và kể từ khi thi hành những chính sách này, bộmặt nền giáo dục Nhật Bản đã có những thay đổi đáng kể

Tiểu kết chương 1

Có thể nói hai thập niên cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI là khoảng thời gianđầy biến động trong đời sống kinh tế cũng như xã hội của Nhật Bản Nền kinh tếcủa nước Nhật trong giai đoạn này với những nốt trầm nhiều hơn nốt thăng đã dẫnđến những biến đổi lớn trong lĩnh vực về văn hóa xã hội và giáo dục Trong khoảngthời gian này, giáo dục Nhật Bản đã trải qua hàng loạt các cuộc cải cách, những lần

“thay máu” nhằm đem lại nguồn sinh lực mới cho nền giáo dục Nhật Bản Những cải cách tiêu biểu như Nới lỏng giáo dục, xây dựng hệ thống các trường học kiểu mới đa năng, thành lập Ủy ban về cải cách giáo dục, đầu tư thêm ngân sách công

cho giáo dục, cải cách giáo dục theo mô hình Phương Tây, quốc tế hóa giáo dục…

là một trong hàng loạt các cải cách đã phần nào đem lại nguồn sinh khí mới cho nềngiáo dục nước này

 1) Kandra Yoshinobu (Đại học Kagoshime Nhật Bản) Vai trò của giáo dục với sự phát triển kinh tế Nhật Bản

Hội thảo Quốc tế “30 năm quan hệ Nhật Việt ngày 11-12/9 năm 2003

Trang 34

Thập niên 1990 – 2010 là khoảng thời gian bản lề cho giáo dục của Nhật Bảnthay đổi hòa mình vào cùng dòng chảy quốc tế trong xu cảnh toàn cầu hóa như hiện nay.Hòa trong sự thay đổi chung của nền giáo dục vừa đáp ứng những biến đổi trong nướcvừa hướng tới quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa giáo dục Đặc biệt trong những nămđầu thế kỷ XXI, mô hình, phương thức trong giáo dục Nhật Bản ngày càng xa rời truyềnthống và tiến gần tới xu thế chung của toàn cầu Nhận định về sự thay đổi này, phần lớncác nhà nghiên cứu, giáo dục học Nhật Bản đều cho rằng đây vừa là thách thức vừa làđiểm mạnh của giáo dục thời kì này so với đầu thế kỉ XX Điều này đưa giáo dục NhậtBản, một nền giáo dục vốn từng là kiểu mẫu cho nhiều quốc gia học tập trong thời kì cậnđại hóa, một cách tự nhiên tiến gần với thế giới, tạo nên nhiều khả năng học hỏi và ảnhhưởng ra bên ngoài, nhưng đồng thời đòi hỏi những chính sách vừa sáng tạo vừa bảnlĩnh hơn trong việc xây dựng một mô hình phù hợp cho thế kỉ XXI Tuy nhiên đấy là bứctranh chung của nền giáo dục Nhật Bản, còn trong một phạm vi nhỏ hơn, tác giả luận văndựa trên nguồn tài liệu quan sát được thấy rằng giáo dục gia đình Nhật Bản cũng có thayđổi nhiều so với mô hình giáo dục gia đình truyền thống Những thay đổi này phần lớn là

do chịu tác động của nhiều nhân tố như gia đình, xã hội… Chương hai của luận văn sẽphân tích cụ thể những nhân tố tác động đến giáo dục gia đình Nhật Bản trong giai đoạnnày

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIÁO DỤC GIA

ĐÌNH NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN 1990 – 2010

2.1 Đặc điểm mô hình giáo dục gia đình Nhật Bản

Về giáo dục, Nhật Bản là một trong số những quốc gia phát triển trên thếgiới với thực tế tỉ lệ người mù chữ bằng không và khoảng 2/3 số học sinh sau tốtnghiệp cấp ba học lên lên đến bậc đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp(học nghề), một con số ngang hàng với Mỹ và vượt trội hơn so với các quốc giaChâu Âu Điều này đã tạo cơ sở cho phát triển kinh tế và công nghiệp Nhật Bảntrong thời kì hiện đại

Đóng góp cho sự thành công đó là chung tay của chính phủ Nhật Bản, các

cơ quan đoàn thể và mỗi gia đình và công dân Nhật Bản Đặc biệt là giáo dục giađình, nơi trẻ em được tiếp nhận sự giáo dục, chỉ bảo đầu tiên trước khi tiếp nhận cácnền giáo dục khác như nhà trường và xã hội Như vậy đối với mỗi cá nhân, giáo dụcgia đình đóng vai trò rất quan trọng suốt cuộc đời của họ Trong sự thành công củanền giáo dục Nhật Bản hôm nay không thể không nói đến vai trò của giáo dục giađình Vậy, mô hình giáo dục gia đình của Nhật Bản là một mô hình giáo dục như thếnào? So với mô hình giáo dục gia đình của các nước Phương Tây thì có đặc điểm gìkhác? Nó có ưu khuyết điểm gì nổi trội hơn Đặc biệt so với mô hình giáo dục giađình theo kiểu truyền thống thì mô hình giáo dục gia đình Nhật Bản giai đoạn 1990– 2010 có đặc điểm gì?

Trước thập niên 1980, ở Nhật Bản khái niệm kyoiku-mama (người mẹ giáo

dục) rất phổ biến Họ là những người mẹ ngày ngày hy sinh hết cả thời gian củamình vào việc sưu tầm tài liệu, chuẩn bị thức ăn, nước uống, đưa đón các cô chiêucậu ấm của mình tới lớp học buổi tối, hy vọng trẻ sẽ vào được những trường học tốt,chìa khóa đảm bảo cho một công việc tốt, tương lai vững vàng Chính những bà mẹnày là những người đã góp phần thúc đẩy nhiều trào lưu giáo dục ở Nhật Tronggiáo dục gia đình, những bà mẹ đóng vai trò vô cùng quan trọng, họ sẽ là người

Trang 36

định hướng, đặt nền móng, niềm tin giúp trẻ, phát hiện và phát triển nuôi dưỡngnhững ước mơ của trẻ, giúp trẻ đi tới thành công trong tương lai Tuy nhiên, đây làmột phần của mô hình giáo dục gia đình truyền thống ở Nhật, cha mẹ giao phó sựgiảng dạy trẻ cho nhà trường, họ chỉ là người thực thi và tạo điều kiện tốt nhất chotrẻ trong bước đường hoàn thiện tri thức cũng như nhân cách của mình.

Trong giai đoạn 1990 – 2010, cùng với biến đổi thăng trầm của xã hội, thayđổi trong kết cấu gia đình, quan niệm xã hội và nhiều tác nhân khác đã tác động đến

mô hình giáo dục gia đình kiểu truyền thống và hình thành nên mô hình giáo dục

gia đình kiểu mới với những đặc điểm riêng Trong gia đoạn này, khái niệm bà mẹ

giáo dục (kyōiku mama/教教教教) cũng thay đổi Sự thay đổi này do chịu tác động từnhiều phía như thay đổi trong quan niệm, giá trị đạo đức, trào lưu xã hội và dochính họ cũng phải gia nhập thị trường lao động, không còn là những người phụ nữtruyền thống, chỉ quẩn quanh với công việc và nuôi dậy con cái, thay đổi khi chứcnăng xã hội của họ đã thay đổi hoàn toàn so với trước

Theo quan điểm văn hóa - giáo dục của Nhật Bản trước đây, trong giáo dục

gia đình người ta tập trung vào là chế độ xây dựng mối quan hệ giữa cha mẹ và con

cái (Karioyaseido/教教教教) Đây là một mô hình giáo dục đặc biệt phát triển vào từthời Edo Theo quan điểm này, mối kết nối giữa cha mẹ với con cái sẽ luôn luôn làhình thức cha mẹ bao bọc con cái, lo lắng sao cho chúng có thể trưởng thành bình

an Ngày nay do sự thay đổi trong điều kiện kinh tế, văn hóa và cả nhận thức củacon người, vai trò của gia đình, đặc biệt là các bậc cha mẹ, đã được đẩy lên mộttầng nhận thức mới Nhìn nhận về giáo dục gia đình Nhật Bản trong xã hội hiện đại,nhà nghiên cứu giáo dục Hirota Teruyuki đã viết: “quá trình tiếp xúc với gia đình vàgiáo dục gia đình là xuất phát điểm ban đầu của tất cả các nền giáo dục liên quanđến khả năng và phát triển những phẩm chất cơ bản của trẻ, sau đó mới đến giáodục nhà trường mà ở đây, điểm khởi đầu của giáo dục nhà trường chính là giáo dụcmầm non Vì vậy, có thể nói giáo dục gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọngtrong quá trình phát triển của một cá nhân” [72] Đồng quan điểm đó, nhóm nghiêncứu Yamanochi Kenshi và Hara Kiyoharu, cũng cho rằng: “giáo dục gia đình chiếm

Trang 37

vị trí và vai trò quan trọng nhất trong quá trình phát triển của trẻ” [49; 56 - 59] Nhưvậy có thể thấy định nghĩa, quan điểm và nhận thức về giáo dục gia đình đã thay đổinhiều so với truyền thống Đặc biệt giai đoạn 1990 – 2010 là một giai đoạn bản lềcủa giáo dục Nhật Bản nên giáo dục gia đình cũng có nhiều biến đổi cả về chất và

lượng Trong mô hình giáo dục gia đình theo kiểu mới này, đặc điểm của giáo dục

gia đình cũng có sự chuyển hóa về chất và lượng Tác giả luận văn dựa trên nguồn

tài liệu quan sát được xin mạnh dạn tổng kết các nhóm vấn đề chính, đồng thời cũng

là đặc điểm nổi bật của giáo dục gia đình Nhật Bản, giai đoạn 1990 - 2010 như sau:

Thứ nhất, mô hình giáo dục gia đình trong giai đoạn này đã thay đổi khác xa

so với truyền thống cả trong chất và lượng (kiểu mô hình giáo dục gia đình nửa

phương Tây kết hợp với truyền thống)

Những thay đổi về mô hình xã hội dẫn đến thay đổi trong quan niệm giáodục và mô hình giáo dục Sự thay đổi này thể hiện trong cả chất và lượng Như đãphân tích trong các phần trước, gia đình chính là điểm khởi đầu của tất cả các nềngiáo dục cũng như liên quan đến việc hình hành phẩm chất, tư cách cá nhân saunày Bắt đầu từ thập niên 1970, quá trình đô thị hóa ở Nhật đã diễn ra mạnh mẽ, dẫnđến mô hình gia đình cũng thay đổi so với trước đây Từ thập niên 1990, khi nềnkinh tế Nhật Bản trải qua nhiều biến động và bước vào giai đoạn suy thoái, cácchuyển biến xã hội nảy sinh đã ảnh hưởng không ít tới gia đình và giáo dục giađình Mô hình đại gia đình truyền thống gồm tam đại đồng đường, tứ đại đồngđường gần như biến mất, thay vào là sự phát triển nhanh, mạnh của hộ gia đình hạtnhân và kiểu gia đình mở, đặc biệt là sự gia tăng nhanh chóng số hộ gia đình đơnthân Mối quan hệ giữa các thành viên gia đình cũng trở nên lỏng lẻo hơn, khoảngcách và sự lạc điệu giữa các cá nhân trong gia đình ngày càng lớn hơn so với nhữngthập niên trước Các bậc cha mẹ ít có cơ hội tiếp xúc và học hỏi tri thức kinhnghiệm nuôi dạy trẻ từ thế hệ trước, trẻ ít có cơ hội trao đổi với cha mẹ Tình trạngkết hôn muộn, li hôn, li thân, mẹ đơn thân trở nên phổ biến Sự thiếu quan tâm sănsóc, tình trạng, bỏ bê không chăm sóc trẻ hay ngược lại quá nuông chiều trẻ trở

Trang 38

thành vấn nạn trong giáo dục gia đình Nhật Bản hiện nay Những vấn đề này khôngphải bây giờ mới xảy ra, nhưng hiện nay đang được gia tăng nhanh chóng.

Do tình trạng kinh tế giảm sút, để đảm bảo cuộc sống, số lượng các bà mẹphải tham gia thị trường lao động nhiều hơn, vì vậy vai trò của người mẹ Nhật Bảntrong nuôi dạy con cái ở giai đoạn này đã thay đổi so với trước Nguyên nhân là do

họ vừa phải đảm đương công việc xã hội, vừa phải chăm sóc nuôi dưỡng con nhỏnên thời gian dành để trò chuyện, chăm sóc trẻ bị giảm Ngược lại, vị trí của ngườicha trong việc nuôi dạy con cái, hầu như không thay đổi so với truyền thống Trongkhi đó khuynh hướng đầu tư giáo dục sớm cho trẻ lại gia tăng Như vậy so với quan

điểm truyền thống Karioya thì mối quan hệ giữa cha mẹ con cái và các thành viên

trong gia đình trở nên lỏng lẻo, mức độ bao bọc của cha mẹ đối với con giảm hơntrước do chịu tác động từ nhiều phía

Thứ hai, trong mô hình giáo dục gia đình kiểu mới quan điểm về tiêu chí đạo đức và tiêu trí trí lực trong giáo dục gia đình Nhật Bản cũng thay đổi.

Trong nhiều hội thảo và nghiên cứu gần đây, người ta đặc biệt quan tâm đếnvấn đề bạo lực học đường, nạn trốn học, bắt nạt, tỉ lệ tội phạm thanh thiếu niên ởNhật bản đang ngày càng gia tăng Qua tìm hiểu về một số nguyên nhân tội phạm ởtrẻ em cho thấy: số em có hoàn cảnh nghèo, cha mẹ không có việc làm ổn định, cha

mẹ không có thời gian quan tâm đến con cái… chiếm tỉ lệ nhiều nhất trong số trẻphạm tội Cách nuôi dậy trong gia đình hiện nay thường ở một số gia đình tạo chotrẻ thói tham lam, ích kỷ, lười biếng ỷ lại và chúng sẽ tạo thành thói quen khó sửa.Trẻ em Nhật Bản ngày nay ít có khả năng tự lập tự chủ hơn thế hệ cha mẹ, rụt rè, engại thiếu năng động, khó hòa nhập xã hội, không đủ năng lực xã hội Một phần docha mẹ ít thời gian chăm lo và chỉ bảo con cái hơn trước, do cả cha mẹ đều phải đilàm, đảm bảo cuộc sống [56; 16 - 25] Những bà mẹ trong xã hội hiện đại không

còn là các bà mẹ Kyoiku mama toàn tâm toàn ý trong việc giáo dục con cái như

trước đây khi chức năng gia đình và chức nay xã hội của họ thay đổi

Ngoài thay đổi trong tiêu chí đạo đức thì tiêu trí về trí lực cũng thay đổi Áplực cạnh tranh trong học tập, thi cử để có vào một suất vào được trường học tốt,

Trang 39

đảm bảo tương lai cũng đã thay đổi Thế hệ trẻ Nhật bản ngày càng hướng nội hơn

so với trước đây Một công việc đảm bảo ở một công ty tốt không còn là lựa chọn

của nhiều người, xu hướng người trẻ tuổi làm nghề tự do furita (教教教教) gia tăng Trẻđược cha mẹ cho tự do lựa chọn tương lai , ít áp lực hơn trước Mục tiêu và ý nghĩacuộc sống của lớp trẻ ngày nay cũng thay đổi, sự thỏa mãn cái tôi cá nhân được đặtnên hàng đầu, mục tiêu trở thành một con người tốt, góp phần xây dựng nên đấtnước tốt đẹp, một công dân tốt trong tương lai cũng được nhìn nhận dưới một lăngkính khác, cái tôi cá nhân là cao nhất, đôi khi đứng trên cả xã hội Tuy nhiên, sựkhai phóng những ý nghĩa xã hội và đề cao cái tôi cá nhân trong khoảng 10 năm đầu(1990 – 2000), không được cởi mở bằng thời kỳ sau, giai đoạn từ 2000 – 2010, vàđặc biệt càng cởi mở hơn trong những năm gần đây đến mức gần như bị phươngTây hóa trong cái vỏ bọc Nhật Bản

Thứ ba, những thay đổi của chính sách nhà nước cũng tác động đến giáo dục gia đình (đặc biệt là chi phí giáo dục) Nghĩa là chi phí cho giáo dục gia đình hiện nay ảnh hưởng lớn đến đầu tư cho trẻ và chênh lệch giáo dục gia đình cũng đang bị nới rộng khoảng cách.

Sự thay đổi trong chính sách công của nhà nước ảnh hưởng lớn đến gia đìnhcũng như kinh tế hộ gia đình Điều này, dù trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởngđến quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc, đầu tư kinh phí cho trẻ Gánh nặng chi phí giáodục lớn làm cho các gia đình có thu nhập thấp càng thêm khó khăn Sự chênh lệch

về điều kiện kinh tế gắn liền với sự chênh lệch về cơ hội được tiếp nhận giáo dục

Vì vậy, trong giai đoạn kinh tế không ổn định với ba lần khủng hoảng kinh tế 1998,

2008, 2010, đầu tư cho giáo dục gia đình của Nhật Bản đã giảm sút nhiều hơn sovới những thập niên trước, khi Nhật Bản đang ở thời kỳ cường thịnh kinh tế, ảnhhướng lớn đến chất lượng giáo dục gia đình Sự chênh lệnh này được thể hiện rõtrong tiếp nhận đầu tư giáo dục tư của trẻ trong mỗi gia đình, số lượng trẻ khôngđến trường gia tăng, sự chênh lệch trong thụ hưởng các điều kiện kinh tế, vật chất,giáo dục…Những phân tích và ví dụ chứng minh cho đặc trưng này sẽ được làm rõtrong phần tác động xã hội đối với giáo dục gia đình

Trang 40

Thứ tư, là thay đổi xã hội dẫn đến thay đổi trong giáo dục gia đình, nghĩa là mối quan hệ giữa biến đổi xã hội và giáo dục gia đình có tính gắn kết cao và có mối quan hệ hai chiều (điều này có thể thấy rõ ở mô hình giáo dục gia đình nửa Phương

Tây nửa truyền thống như hiện nay hơn là mô hình giáo dục gia đình kiểu truyềnthống)

Trong suốt hai thập niên cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, cùng với quá trình

đô thị hóa, mối quan hệ và tinh thần tương trợ giữa người với người trong xã hội trởnên lỏng lẻo và mờ nhạt Điều này đã tác động không nhỏ đến nhận thức của cha

mẹ trong việc nuôi dạy con cái, nhiều gia đình bỏ bê hoặc ngược lại can thiệp quá

sâu vào đời sống của trẻ Shitsuke (教/giáo dục trẻ em), hiện nay đi quá xa so vớinhững quy chuẩn và quan niệm truyền thống Việc gia tăng các hộ gia đình hạt nhântrong những năm qua cùng với giảm số hộ gia đình có ba thế hệ trở lên cũng cónhững tác động không nhỏ Ngày nay, cha mẹ có xu hướng ỷ lại, thậm chí phụthuộc vào khoa học kỹ thuật, công nghệ, máy móc trong việc nuôi dạy trẻ vì họkhông có thời gian, không có điều kiện học tập kinh nghiệm của các thế hệ đi trước,hơn nữa các phương tiện công nghệ giúp việc nuôi dưỡng chăm sóc trẻ dễ dàng vàtiện dụng hơn Điều này ngược lại khiến họ trở nên lười biếng hơn trong việc mởrộng giao tiếp, tìm kiếm kinh nghiệm trực tiếp từ người khác so với thế hệ trước,đặc biệt là thế hệ ông bà

Nghiên cứu của Sugawara Masumi cho thấy, trong thập niên gần đây, ngàycàng gia tăng số lượng các bà mẹ có cảm giác lo lắng, bất an, bi kịch hóa việc chămsóc trẻ, thậm chí một số bậc cha mẹ bị trầm cảm hay rối loạn thần kinh trong thờigian chăm sóc trẻ Điều này đồng nghĩa với sự suy giảm trong năng lực nuôi dưỡngtrẻ Nếu cha mẹ không được tập huấn, đào tạo các kỹ năng nuôi dưỡng, kỹ năngsống, làm việc, giao tiếp với trẻ, thì hệ quả chính là tình trạng giảm kỹ năng xã hội

và năng lực giao tiếp của trẻ Có thể nói năng lực giáo dục của các bậc cha mẹ đangtrở thành bài toán không lời giải đối với tình trạng hiện nay của giáo dục Nhật Bản

[72] Như vậy so với trước đây tính gắn kết theo chiều thuận giữa biến đổi xã hội

với giáo dục gia đình được thể hiện tương đối cao và có ảnh hưởng rất lớn

Ngày đăng: 13/11/2017, 10:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Xuân Bình, Hồ Việt Hạnh (2002): Nhật Bản năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Ngô Xuân Bình, Hồ Việt Hạnh
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 2002
2. Trần Mạnh Cát (2005): Gia đình Nhật Bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Nhật Bản
Tác giả: Trần Mạnh Cát
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
5. J. Dewey (2008). Dân chủ và giáo dục. H. Nxb Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: J. Dewey
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
6. Kenichi Onno (1997): Phát triển kinh tế của Nhật Bản, Diễn dàn phát triển Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển kinh tế của Nhật Bản
Tác giả: Kenichi Onno
Năm: 1997
7. Nguyễn Mai Khanh (2004): Ảnh hưởng giáo dục của cha mẹ đến tính tự lập tự chủ ở trẻ, Tạp chí Phát triển giáo dục 8 (68), tr 24 - 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng giáo dục của cha mẹ đến tính tựlập tự chủ ở tr
Tác giả: Nguyễn Mai Khanh
Năm: 2004
12. Nhóm biên soạn (2001): Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển Báck khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Tác giả: Nhóm biên soạn
Nhà XB: NXB Từ điển Báck khoa
Năm: 2001
13. Phạm Viết Vượng (2000). Giáo dục học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ). Giáo dục học
Tác giả: Phạm Viết Vượng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14. Bandura, A. (1977): Social Learning Theory, General Learning Press, New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Learning Theory
Tác giả: Bandura, A
Năm: 1977
15. Bloomington, Ind and Masako kamizo (2008): Education in Japan, Educational Journal, Japan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education in Japan
Tác giả: Bloomington, Ind and Masako kamizo
Năm: 2008
16. During. P (1995): Education Familale, Acteurs Processus at enjeux, Paris: PUF Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education Familale
Tác giả: During. P
Năm: 1995
17. Ellington, Lucien (2001): Japaneses education in Grades K12., ERIC Clearinghouse for Social Studies/Social Science Education Bloomington IN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Japaneses education in Grades K12
Tác giả: Ellington, Lucien
Năm: 2001
18. Hayashi, Fumiko and Prescott E. C. (2002): The 1990s in Japan: A Lost Decade. Review of Economic Dynamics, Economic Dynamics, volume (2002), Page 206 – 235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 1990s in Japan: A LostDecade. Review of Economic Dynamics
Tác giả: Hayashi, Fumiko and Prescott E. C. (2002): The 1990s in Japan: A Lost Decade. Review of Economic Dynamics, Economic Dynamics, volume
Năm: 2002
19. Kassin, Fein, Markus (2008): Social Psychology, Wadsworth: Cengage Learning Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Psychology
Tác giả: Kassin, Fein, Markus
Năm: 2008
20. Masako Kamizo (2008): Education in Japan, Educational Journal, Japan, Page: 56 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Education in Japan
Tác giả: Masako Kamizo
Năm: 2008
21. Neugarten, Bernice and Karol K. Weinstein (1964): The Changing American Grandparent, Journal of Marriage and the Family 26(May), Page: 199 - 204.TÀI LIỆU TIẾNG NHẬT   22. 教教教教教教教教教教教教教教教 Sách, tạp chí
Tiêu đề: and "Karol K. Weinstein (1964)": The ChangingAmerican Grandparent, "Journal of Marriage and the Family "26(May
Tác giả: Neugarten, Bernice and Karol K. Weinstein
Năm: 1964
23. 教教教教教教教教教教2012教:教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 – 87 教教教教 Khác
24. 教教教教教教教教教教教教教教教(1997): 教教教教教教教教教教教教教教教 Khác
25. 教教 教教教教(2005):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教 57 教 Vol.15 No.1教教教教 Khác
27. 教教教教教(1999):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教28. 教教教教教(2006):教教教教教教教教教教教教教教教教教教 Khác
29. 教教教教教, 教教教教, 教教教教教教教教教2006):教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教教30. 教教教教教(2009):教教教教教教教教教教Fushoshashinsho教 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w