Quan điểm dạy học tích hợp hiện nay đang là một trong những định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60140111
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Tuyết Hạnh
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn khóa 2015 – 2017 đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
TS Dương Tuyết Hạnh, người đã đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh trường THPT Gia Viễn A – Ninh Bình đã cộng tác và nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu
để hoàn thành luận văn
Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả
mong nhận được sự góp ý chân thành của quý thầy cô và đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 4Đối chứng Đại học sư phạm Giáo viên
Học sinh
Kĩ năng sống KTDH
: :
Kĩ thuật dạy học Phương pháp dạy học Sách giáo khoa
Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thực nghiệm
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hợp quốc
Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Khái quát về kĩ năng sống 10
1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 10
1.1.2 Phân loại kĩ năng sống 11
1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh 12
1.2 Vấn đề giảng dạy theo hướng tích hợp 13
1.2.1 Khái niệm “tích hợp” 13
1.2.2 Quan điểm dạy học tích hợp 13
1.2.3 Ý nghĩa của dạy học tích hợp 15
1.2.4 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn 16
1.3 Sự cần thiết của việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn 17
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Trung học phổ thông 17
1.3.2 Thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn 19
1.3.3 Các kĩ năng sống cơ bản hình thành cho HS trong môn Ngữ văn và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) 29
Tiểu kết Chương 1 35
Trang 6CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC THƠ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN 1975 (NGỮ VĂN 12, TẬP 1) THEO HƯỚNG TÍCH
HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 37
2.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 37
2.1.1 Đảm bảo tính giáo dục 37
2.1.2 Đảm bảo nguyên tắc về lượng 37
2.1.3 Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục 37
2.1.4 Đảm bảo tính tương tác 38
2.1.5 Dạy học bám sát đặc trưng thể loại thơ trữ tình 38
2.2 Đề xuất một số biện pháp dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong phần dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) 38
2.2.1 Quy trình tích hợp 38
2.2.2 Sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực 42
2.3 Các bước thực hiện một bài dạy tích hợp giáo dục kĩ năng sống 68
Tiểu kết Chương 2 71
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72
3.1 Mục đích thực nghiệm 72
3.2 Tổ chức thực nghiệm 72
3.2.1 Thời gian thực nghiệm 72
3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 72
3.2.3 Nội dung thực nghiệm 72
3.2.4 Thiết kế bài dạy thực nghiệm 73
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 95
3.3.1 Đánh giá giờ dạy học thực nghiệm 95
3.3.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm đối chứng 97
Tiểu kết Chương 3 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 105
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ
Bảng 1.1 Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua
dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) 21
Bảng 1.2 Cơ sở vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 22
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 22
Bảng 1.4 Kết quả khảo sát nhận thức của HS THPT về KNS 24
Bảng 1.5 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của HS THPT 25
Bảng 1.6 Phiếu khảo sát học sinh 26
Bảng 3.1 Ý kiến của giáo viên sau khi dự giờ dạy thực nghiệm 96
Bảng 3.2 Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh qua dạy học thực nghiệm tác phẩm Tây Tiến 96
Bảng 3.3 Kết quả bài kiểm tra của học sinh trường THPT Gia Viễn A 97
Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra 45 phút 97
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Một trong những giải pháp sư phạm nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn, lâu dài về mọi mặt và tạo mọi
cơ hội để phát triển năng lực người học là dạy học tích hợp Quan điểm dạy học tích hợp hiện nay đang là một trong những định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, là một bước chuyển từ cách tiếp cận nội dung giáo dục sang tiếp cận năng lực nhằm đào tạo con người có tri thức mới, năng động, sáng tạo khi giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống Với quan điểm này, dạy học tích hợp đã góp phần hiện thực hóa và thực hiện thành công đổi mới giáo dục
1.2 Cùng với các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho
học sinh trong nhà trường, giáo dục KNS cho học sinh là yêu cầu vô cùng quan trọng, một nội dung không thể tách rời của quá trình giáo dục Mục đích của quá trình giáo dục KNS là nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng cần thiết nhất
để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội thời hiện đại Có thể nói, việc giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường phổ thông là rất cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Nội dung giáo dục KNS đã được tích hợp trong một số môn học và hoạt động giáo dục có tiềm năng trong nhà trường phổ thông Các môn học đều hàm
ẩn nội dung giáo dục KNS với những mức độ khác nhau Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học
và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người Môn Ngữ văn còn giúp học sinh có năng lực sử dụng ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người Đồng thời môn Ngữ văn giúp học sinh bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ để hoàn thiện nhân
Trang 9cách Vì thế, môn Ngữ văn trong nhà trường THPT là môn học có nhiều ưu thế trong việc giáo dục KNS cho học sinh
Nhưng trên thực tế, vấn đề giáo dục KNS ở trường phổ thông mới được chú trọng từ những năm học 2010 – 2011 Hơn nữa, bản chất môn Ngữ văn là sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật Làm sao để học sinh vừa cảm thụ, rung động với tác phẩm văn chương lại vừa tích hợp được các kĩ năng sống cũng không phải là đơn giản Do vậy, việc làm thế nào để tích hợp nội dung giáo dục KNS trong nội dung bài học và thông qua các phương pháp triển khai nội dung bài học đến nay vẫn là sự trăn trở của các thầy cô giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng và của giáo viên nói chung
1.3 Trong quá trình giảng dạy Ngữ văn lớp 12, chúng tôi nhận thấy các
tác phẩm hiện đại Việt Nam khi được lựa chọn vào giảng dạy đều là những tác phẩm có giá trị nội dung và nghệ thuật, có tác dụng bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, nhân cách của học sinh Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy nhiều giáo viên vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của các tác phẩm nhất là việc giáo dục KNS cho học sinh Để qua mỗi tác phẩm văn học bên cạnh những cảm thụ về nghệ thuật, về vẻ đẹp của ngôn ngữ, học sinh còn có thể rút ra được kinh nghiệm sống cần thiết đủ tự tin bước vào đời
Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên và với mong muốn tìm ra một số biện pháp nhằm giáo dục cho học sinh những giá trị và KNS qua
mỗi tác phẩm văn học, chúng tôi lựa chọn đề tài: Tích hợp giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn
12, tập 1)
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu kĩ năng sống ở nước ngoài
Thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỉ XX, trong một số chương trình giáo dục của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
(UNICEF) Trước tiên là chương trình Giáo dục những giá trị sống với 12 giá
Trang 10trị cơ bản của giáo dục cho thế hệ trẻ Tiếp đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Từ xuất phát điểm này, một số nhà nghiên cứu như J.H Fichter (nhà xã hội học người Mỹ), P Tugarinov (Liên Xô) hay Dramalier (Bungari) bắt đầu đề cập đến vấn
đề giá trị sống như những chuẩn mực trong giá trị đạo đức con người Từ đây, một số tài liệu nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ra đời
như: Tài liệu tập huấn về KNS của UNICEF (2004), Những hoạt động giá trị
sống cho thiếu niên (8 đến 14 tuổi) của Diane Tiuman (Nxb thành phố Hồ Chí
Minh – 2000), Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn của G
Bandzeladze (1985),…
Cũng vào những năm đầu thập niên 90, một số nước châu Á như: Ấn Độ, Lào, Campuchia,… đã nghiên cứu và triển khai chương trình dạy KNS ở các bậc học phổ thông từ mầm non cho đến THPT Ở hầu hết các quốc gia này, nội dung giáo dục chủ yếu là trang bị và hình thành cho thế hệ trẻ những KNS cần thiết để giúp họ thích nghi với cuộc sống sau này Như vậy, có thể nói mục tiêu chung của giáo dục KNS là nhằm nâng cao tiềm năng của con người
để có hành vi thích ứng và tích cực, đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống Vì vậy, nhiều nước đã đưa ra cách thiết kế chương trình giáo dục và trang bị KNS vào tất cả các môn học ở các mức độ khác nhau
Theo tài liệu Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường Trung
học phổ thông của nhóm tác giả Lê Minh Châu, Nguyễn Thúy Hồng, Trần Thị
Tố Oanh, Phạm Thị Thu Phương, Lưu Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân, Đào Vân Vi, Nguyễn Huệ Vi (2010), thống kê cho thấy có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc đưa KNS vào nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khóa ở Tiểu học và Trung học Việc giáo dục KNS cho học sinh ở các nước được thực hiện theo 3 hình thức:
Trang 11- Kĩ năng sống là môn học riêng biệt
- Kĩ năng sống được tích hợp vào một số môn học chính
- Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình [6, tr.12 – 13]
Tuy nhiên, chỉ có một số ít không đáng kể các nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt Ví dụ như: Malauy, Campuchia… Còn đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp giáo dục KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn xã hội như: Giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường… Một số nước đã sử dụng cách tiếp cận
“Whole School Approach” trong đó có hình thức xây dựng “Trường học thân thiện” nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS cho HS trong nhà trường [6, tr.13]
Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa
thật toàn diện và sâu sắc
2.2 Các nghiên cứu kĩ năng sống ở trong nước
Tại Việt Nam, KNS đang được cả xã hội quan tâm Từ những năm 1995
– 1996, tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đã phối hợp với Bộ
Giáo dục và Đào tạo cùng Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện dự án “Giáo dục
kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổ chức trong nước
và quốc tế đã tiến hành giáo dục KNS gắn liền với các vấn đề thực tiễn như phòng chống các tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm,…), bảo vệ trẻ em, bảo vệ môi trường sống, hạn chế vấn đề bạo lực học đường,… Thông qua quá trình thực hiện các chương trình này, nội dung giáo dục KNS ngày càng được mở rộng Trong khoảng một thập niên trở lại đây, đã có rất nhiều các trung tâm giáo dục KNS ra đời như Tâm Việt, TGM Corporation, Trung tâm KNS trực
thuộc Trung ương Hội khoa học tâm lí – Giáo dục Việt Nam, thu hút đông
đảo giới trẻ cũng như các bậc phụ huynh quan tâm Tuy nhiên, tác dụng của
Trang 12các khóa học này có được bền lâu hay không còn phụ thuộc nhiều vào sự tự rèn luyện của bản thân người học Ngoài ra, rất nhiều Website, các diễn đàn
về KNS trên internet cũng được thành lập nhằm đáp ứng nhu cầu của giới trẻ Đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục KNS
cho học sinh, một số công trình nghiên cứu đã ra đời như Giáo dục giá trị sống
và kĩ năng sống cho học sinh THCS [20] Trong cuốn sách này, các tác giả đã
dựa trên đặc điểm tâm lí của học sinh THCS để xác định những giá trị sống và KNS cần thiết cho lứa tuổi này Từ đó, chỉ ra vai trò của mỗi kĩ năng và đề xuất một số hoạt động giúp học sinh hình thành những KNS cho bản thân mình Cuốn sách cũng đưa ra một số trò chơi có tác dụng giáo dục giá trị sống và KNS cho
học sinh Tác giả Bùi Ngọc Diệp với cuốn Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh THPT (NXB Giáo dục, 2010) đã nêu những vấn đề chung về KNS và
các KNS cần giáo dục cho học sinh THPT, hướng dẫn tổ chức những hoạt động, kèm theo một số câu chuyện giáo dục KNS cho học sinh
Ngoài ra, để góp phần nâng cao kĩ năng sống cho các em học sinh, tác
giả Nguyễn Khánh Hà đã biên soạn bộ sách “Rèn kĩ năng sống cho học sinh”,
giới thiệu những kĩ năng sống cơ bản nhất với học sinh qua 8 chủ đề chính: kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng kiểm soát cảm xúc; kĩ năng làm chủ bản thân; kĩ năng giao tiếp; kĩ năng đặt mục tiêu; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy sáng tạo và tư duy tích cực; kĩ năng ra quyết định Thông qua những khái niệm
cơ bản, những câu chuyện và hoạt động khám phá, bộ sách không chỉ giúp học sinh nắm vững khái niệm mà còn được tham gia như người trong cuộc vào những tình huống cụ thể, cùng suy nghĩ tìm biện pháp xử lí các tình huống, qua đó rèn luyện và biết cách ứng dụng những kĩ năng sống vào thực tiễn [9]
Bên cạnh đó, tác giả Ngọc Linh đã biên soạn bộ sách “Kĩ năng sống dành cho
học sinh” bao gồm 7 cuốn: “Lòng biết ơn”, “Biết chấp nhận”, “Sự kiên
cường”, “Học cách sống”, “Biết lựa chọn”, “Học cách cho và nhận”, “Biết trân trọng” với nội dung sâu sắc, chứa đựng gam màu mới lạ, tràn đầy tính trí tuệ,
Trang 13triết lý và hàm súc, bồi dưỡng tâm hồn các bạn trẻ Những câu chuyện trong bộ sách như lời nhắn nhủ, chia sẻ với các em về những tình huống diễn ra trong cuộc sống xung quanh chúng ta, giúp các em trải nghiệm và thực hành kĩ năng sống để sống đẹp hơn, tốt hơn [19]
Để giúp các nhà trường, giáo viên thực hiện giáo dục KNS cho học sinh
có kết quả, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo Viện khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức biên soạn nhiều bộ tài liệu về giáo dục KNS cho học sinh qua một số môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp Trong dạy học Ngữ văn có
cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS và Giáo dục
kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT [6] Hai cuốn sách đã đề cập
đến tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, từ đó xây dựng những định hướng trong việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn và các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể rèn KNS cho học sinh Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đề cập đến giáo dục KNS cho học sinh THCS, THPT một cách khái quát
Song song với các công trình nghiên cứu nêu trên, trong thời gian gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, các hội thảo nhằm bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tích hợp giáo dục KNS qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học phổ thông, đặc biệt là môn Ngữ văn Tại đây, các giáo viên đã thảo luận sôi nổi về vai trò và sứ mệnh của văn chương trong việc bồi dưỡng nhân cách tâm hồn con người
mà chưa đưa ra những phương pháp cụ thể để tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học tác phẩm văn học
Bên cạnh đó, là một số luận văn, luận án đã nghiên cứu về việc giáo dục KNS cho học sinh như: Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục của tác giả
Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường
THPT Trần Hưng Đạo – Nam Định trong giai đoạn hiện nay (Thông qua hoạt
Trang 14động giáo dục ngoài giờ lên lớp), Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội; Lê Kim Anh (2011), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tích
hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia
Hà Nội; Vũ Thị Bích Hằng (2015), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tổ
chức dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10 – tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội;
Nguyễn Hà Giang (2016), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Rèn luyện kĩ
năng sống cho học sinh lớp 12 trong dạy học văn nghị luận xã hội, Trường
Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội,…
Có thể nói, dạy học thơ nói chung và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến
1975 nói riêng từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đạt
được những thành tựu to lớn Có thể điểm qua một số công trình như : “Thơ và mấy
vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại” của tác giả Hà Minh Đức, “Thi pháp học và vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường” của tác giả Nguyễn Thị Dư Khánh
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành, nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng
đề cập, bàn luận về phương pháp dạy học thơ trong đó có thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) Các công trình nghiên cứu này đã đưa
ra các biện pháp tiếp cận các tác phẩm từ góc độ thể loại hoặc đề xuất một hướng dạy học hiện đại đối với các tác phẩm thơ ca
Như vậy, những công trình trước đó mới chủ yếu nghiên cứu về dạy học theo đặc trưng thể loại, thi pháp, phương pháp giảng dạy… mà chưa đề cập đến các vấn đề tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học Chính vì vậy, chúng
tôi đã lựa chọn đề tài “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy
học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)” nhằm đưa
môn Ngữ văn gắn liền với cuộc sống và mang tính giáo dục cao hơn
Trang 153 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về KNS, giáo dục KNS và phân tích thực trạng tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học Ngữ văn nói chung và qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn
12, tập 1) nói riêng, từ đó đề xuất một số biện pháp trong việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh Đề tài góp phần phát huy tính hữu dụng và thiết thực qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nhằm hình thành và phát triển những KNS cần thiết cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông Từ đó, góp phần giáo dục nhân cách cho học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng yêu cầu xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về KNS, tích hợp giáo dục KNS
- Khảo sát thực trạng tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nói riêng
- Đề xuất một số biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
- Thực nghiệm dạy học bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng để kiểm tra
tính khả thi của những đề xuất
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy
học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
Trang 16Luận văn tập trung nghiên cứu các KNS cơ bản để tích hợp giáo dục cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo,
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: sưu tầm, đọc tài liệu, phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát, khảo sát, điều tra, phỏng vấn, thống kê, phân tích, tổng hợp, đánh giá,…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thống kê, so sánh, đối chiếu, xử lí
số liệu,…
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Một số biện pháp dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến
1975 (Ngữ văn 12, tập 1) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát về kĩ năng sống
1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
1.1.1.1 Kĩ năng sống
Khi nói về KNS thì có nhiều quan niệm khác nhau:
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là những kĩ năng thiết thực
mà con người cần có để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Hiểu rộng hơn, KNS là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày [6, tr.7]
- Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng [6, tr.7]
- Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), KNS gắn liền với 4 trụ cột của giáo dục: học để biết (learning to know), học để khẳng định bản thân (learning to be), học để chung sống (learning to live together) và học để làm việc (learning to do) [6, tr.7 – 8] Tiếp cận theo 4 trụ cột trên thì KNS có thể hiểu là: kĩ năng học tập, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng thích ứng và hòa nhập với cuộc sống, kĩ năng làm việc
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy KNS bao gồm nhiều kĩ năng
cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người KNS là năng lực tâm lí – xã hội của mỗi cá nhân, năng lực này có được là do quá trình học tập
và lĩnh hội, được thể hiện thông qua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng và xã hội
Với cách phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm KNS
trong nghiên cứu với nội hàm: “KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi
Trang 18người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống ” [6, tr.8]
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những
hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ), những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống” [20, tr.108 – 109]
1.1.2 Phân loại kĩ năng sống
Có nhiều cách phân loại KNS:
- Theo UNESCO, WHO và UNICEF, có thể xem KNS gồm các kĩ năng cốt lõi sau :
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề (problem solving);
+ Kĩ năng suy nghĩ/ tư duy phê phán (critical thinking);
+ Kĩ năng giao tiếp hiệu quả (effective communication skills);
+ Kĩ năng ra quyết định (decision – making);
+ Kĩ năng tư duy sáng tạo (creative thinking);
+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân (interpersonal relationship skills); + Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị (selfawareness building skills, incl Self-awareness, self-esteem and self-confidence, angd values analysis);
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông (empathy) [6, tr 9]
Trang 19- Trong giáo dục ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được phân
loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau: nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình; nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác; nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả [6, tr.9 – 10] Trên đây chỉ là một số cách phân loại KNS Tuy nhiên, các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối Trong thực tế cuộc sống, các KNS có sự đan xen, tương hỗ lẫn nhau
Thống nhất với quan điểm trên, đồng thời xem xét sự tương thích với tính chất, đặc điểm của dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1), chúng tôi giới hạn các KNS được nghiên cứu trong luận văn để tích hợp chủ yếu là các kĩ năng xác định giá trị (lòng yêu nước, sự đồng cảm, tình yêu thương), kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng tự nhận thức,…
1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Theo UNESCO, ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: kiến thức, kĩ năng và thái độ Hai yếu tố sau thuộc về KNS, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách con người
Lứa tuổi học sinh là giai đoạn hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ song còn thiếu kinh nghiệm sống nên dễ bị lôi kéo hoặc dễ học theo, bắt chước một số thói hư, tật xấu du nhập từ thế giới bên ngoài,
từ mạng internet
Sống trong xã hội phát triển, với xu thế toàn cầu hóa, con người cần phải sớm được trang bị những kĩ năng cần thiết để hòa nhập với cộng đồng Rèn kĩ năng sống lại càng cần thiết đối với thế hệ trẻ vì các em là những chủ nhân tương lai của đất nước Giáo dục kĩ năng sống góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh Kĩ năng sống tốt sẽ giúp học sinh vững vàng đối diện với mọi hoàn cảnh, là chìa khóa để các em mở ra cánh cửa thành công Vì vậy, việc giáo dục KNS cho HS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trang 201.2 Vấn đề giảng dạy theo hướng tích hợp
1.2.1 Khái niệm “tích hợp”
Tích hợp ban đầu có các tên gọi là: liên hệ (permeation), kết hợp (combination), phối hợp (coordination), tích hợp (intergration) Về khái niệm tích hợp, có nhiều cách định nghĩa, quan niệm khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động,
chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp” [33]
Theo Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là những hành động liên
kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [11, tr.15]
Như vậy trong dạy học, tích hợp là sự liên kết các đối tượng trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa
1.2.2 Quan điểm dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và được áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Hơn nữa, đây cũng là một trong những quan điểm chỉ đạo trong việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông nước ta sau năm 2015
Các hình thức dạy học tích hợp bao gồm: tích hợp trong nội bộ môn học, liên môn, xuyên môn
Tích hợp trong nội bộ môn học là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí trong 1 tiết học hay trong một bài tập gồm nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục Có thể tích hợp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học theo nguyên tắc đồng quy: tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch, phân môn này với mạch/ phân môn khác Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với
Trang 21những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể là: kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới [32]
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung sau: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn Hoặc lồng ghép các nội dung giáo dục cần thiết nhưng không thành một môn học (như các nội dung về môi trường, năng lượng, biến đổi khí hậu, kĩ năng sống, dân số, sức khỏe sinh sản ), vào nội dung của mỗi môn học tùy theo đặc trưng của từng môn [31]
Tích hợp xuyên môn là tích hợp bằng cách thiết kế các môn học tích hợp nhiều lĩnh vực khoa học, ví dụ: Vật lí, Hóa học, Sinh học thành môn Khoa học
tự nhiên và các kiến thức về khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lí, Đạo đức, Giáo dục công dân thành môn Tìm hiểu xã hội hoặc Khoa học xã hội [31]
Với nhu cầu của xã hội hiện đại đòi hỏi nhà trường phải hướng tới hai quan điểm liên môn và xuyên môn trong dạy học Trong đó, quan điểm liên môn có sự phối hợp đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết mọi tình huống, còn quan điểm xuyên môn lại tìm cách phát triển ở học sinh những kĩ năng có thể áp dụng ở mọi nơi
Theo Trần Trung Ninh: “Tích hợp chương trình giảng dạy nhằm tạo mối
liên hệ chặt chẽ giữa các môn học khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, hình thành hệ thống kiến thức thống nhất, từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và kĩ năng sống cho học sinh, tạo hứng thú và động lực cho việc học” [30] Bên
cạnh đó, nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập cũng quan niệm rằng “dạy học tích
hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong nhiều phần khác của cùng môn học” [17]
Trong bài phỏng vấn với báo Giáo dục và Thời đại, tác giả Đinh Quang Báo, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐHSP Hà Nội, Ủy viên Hội đồng Quốc gia
Trang 22Giáo dục và Phát triển nhân lực đã đưa ra cách hiểu ngắn gọn về việc dạy học
tích hợp: “Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ
chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” [31]
Khẳng định tích hợp là yêu cầu chung của quá trình dạy học, nguyên
Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Giáo dục
tích hợp được quán triệt khi thiết kế và thực hiện các yếu tố cấu thành quá trình với các mức độ khác nhau dựa trên logic phát triển năng lực ở học sinh Tích hợp kết hợp với phân hóa sâu dần để có một chương trình giảm số môn học bắt buộc, tăng các môn học, chủ đề tự chọn, nhưng học sinh lại có được nguồn tri thức rộng, gắn với thực tiễn và được rèn luyện kĩ năng, chuẩn bị tâm thế hướng nghiệp, hướng nghề, hướng đến phát triển trình độ cao” [30]
Vì thế, dạy học tích hợp là một bước tiến quan trọng trong xây dựng chương trình giáo dục, từ hướng tiếp cận nội dung chuyển sang hướng tiếp cận năng lực người học Đây là xu hướng góp phần rèn luyện và phát triển kĩ năng tư duy, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa cho học sinh
1.2.3 Ý nghĩa của dạy học tích hợp
Thế giới đang có những thay đổi mạnh mẽ trên mọi mặt và tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Trong bối cảnh đó, việc dạy học tích hợp có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp học sinh biết cách thu thập, chọn lọc thông tin, đặc biệt là biết vận dụng các kiến thức đã học để xử lý các tình huống của đời sống thực tế
- Dạy học tích hợp sẽ kích thích giáo viên tư duy và không ngừng trau dồi kiến thức ở nhiều lĩnh vực, bộ môn khác nhau để có kiến thức sâu, rộng đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của dạy học hiện nay Đồng thời,
Trang 23hạn chế cách học khép kín, tránh trùng lặp kiến thức phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh
1.2.4 Tích hợp trong dạy học Ngữ văn
Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng vào đổi mới chương trình, sách giáo khoa Trung học phổ thông Đối với môn Ngữ văn, nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn
Với đặc trưng của mình, môn Ngữ văn cho phép thực hiện việc tích hợp như một yêu cầu tự thân Bởi mỗi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ Mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Quan điểm tích hợp sẽ dẫn đến những thay đổi trong việc xác định mục tiêu môn học Với quan điểm này, ba phân môn trên sẽ được phối hợp triển khai cùng hướng tới một mục đích chung là nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, cụ thể là hình thành bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Từ đó, giúp các em hình thành năng lực phân tích, bình giá, cảm thụ văn học nghệ thuật một cách chủ động, tích cực, từng bước hình thành, phát triển năng lực tư duy
và giao tiếp Với quan điểm tích hợp, hệ thống các văn bản đưa vào chương
trình giáo dục sẽ là ngữ liệu để gắn kết nội dung học tập của các phân môn
Trong chương trình Ngữ văn THCS, trục tích hợp được lấy chủ yếu là các kiểu văn bản giúp học sinh hiểu đặc điểm nội dung, nghệ thuật và tạo lập được các văn bản theo kiểu loại Còn chương trình Ngữ văn THPT, lại lấy trục tích hợp là hai mạch nội dung đọc hiểu và tạo lập văn bản nhằm giúp học sinh phát triển, nâng cao năng lực thưởng thức Văn học, năng lực sử dụng
tiếng Việt trong giao tiếp
Mặt khác, tính tích hợp của chương trình và SGK Ngữ văn còn thể hiện
ở mối liên thông giữa kiến thức sách vở và kiến thức đời sống; liên thông giữa
Trang 24kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các môn học thuộc ngành khoa học
xã hội và nhân văn với các ngành học khác
Để thực hiện các mục tiêu trong môn Ngữ văn, học sinh cần vận dụng tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa, Văn học, Lịch sử, Địa lí, phong tục, vốn sống, vốn tri thức và kinh nghiệm của bản thân Qua đó, giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng để giải quyết các tình
huống đặt ra trong cuộc sống
1.3 Sự cần thiết của việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học môn Ngữ văn
1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh Trung học phổ thông
Học sinh THPT là độ tuổi từ 16 – 18 Đây là giai đoạn phát triển đặc
biệt, xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi về thể chất, tâm lí và các mối quan hệ xã hội Giai đoạn này có nhiều biến đổi trong cấu tạo của cơ thể khiến các em cảm thấy mình đã trở thành người lớn và xuất hiện những rung cảm mới Vị trí của các em trong gia đình và xã hội bắt đầu được nâng lên Đời sống tình cảm của lứa tuổi học sinh THPT khá phong phú và phức tạp Đây là giai đoạn các em nỗ lực tìm kiếm những mối quan hệ ngoài gia đình, hướng tới những người bạn đồng lứa, để khẳng định cái tôi của mình Vì thế, lứa tuổi này dễ xúc động, khó kiềm chế cảm xúc, dễ bị tổn thương Trạng thái tình cảm của các em thất thường, không ổn định, thoắt vui lại thoắt buồn,
dễ bị kích động, dễ bị lợi dụng Các em hay có những hành động bột phát, thích thể hiện mình, nhưng nhiều khi không lường trước đến những hậu quả
có thể do hành vi của mình mang lại
Ở lứa tuổi này, mối quan hệ bạn bè có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đối với các em, tình cảm bạn bè có thể vượt được mọi thử thách và kéo dài suốt cuộc đời Việc kết bạn của các em có thể dựa trên các yếu tố như có chung sở thích, tính cách tương đồng hoặc tương phản,…
Trang 25Đối với học sinh THPT, hoạt động học tập giữ một vai trò quan trọng Cách thức dạy học của GV và học tập của HS ở độ tuổi này khác xa so với thời kì trước Mỗi giáo viên chỉ dạy một môn với trình độ chuyên môn, thái
độ, phong cách giao tiếp riêng Vì thế, các em có dịp so sánh, đánh giá và nhận ra sự đa dạng về phong cách giảng dạy và giao tiếp của giáo viên Sự yêu thích một môn học nào đó hoàn toàn có thể bắt đầu bằng sự yêu mến, quý trọng thầy cô Các em có thể chán ghét môn học này, yêu thích môn học kia Hứng thú học tập của các em dễ bị phân hóa một phần là từ sự khác biệt về phương pháp, kĩ năng, cách cư xử của thầy cô
Trong thời kì này, khả năng chú ý của học sinh tăng lên rõ rệt song sự chú ý đó còn phụ thuộc vào tâm trạng, thái độ, hứng thú của các em Vì vậy, giáo viên phải biết cách gây hứng thú để tạo sự chú ý và duy trì chú ý của các em Ở lứa tuổi này, hoạt động tư duy cũng có những biến đổi cơ bản, tư duy sáng tạo, tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là tư duy phê phán Các em biết đánh giá các thông tin mà giáo viên cung cấp cũng như đánh giá chính giáo viên Đối với một số em ham học thì sách vở và kiến thức là cái chủ yếu trong cuộc sống Một số em khác cũng có hứng thú với
“tri thức” có được từ lớp học, còn khi ở nhà các em thích đọc những bài báo,
chơi điện tử và xem các chương trình vô tuyến Một số ít học sinh ở trên lớp thì không chú ý học tập mà luôn bận rộn về vấn đề thời trang và coi trọng việc giao tiếp với bạn bè
Khả năng ngôn ngữ của lứa tuổi THPT khá phát triển Các em có thể sử dụng ngôn ngữ lưu loát để diễn đạt suy nghĩ của mình và hiểu người khác Vốn từ của học sinh THPT cũng được mở rộng, việc học tập môn Ngữ văn giúp các em phát triển ngôn ngữ chính xác, giàu hình tượng
Ở lứa tuổi này, quá trình phát triển tự ý thức của các em diễn ra mạnh
mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng Các em có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lí của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống
Trang 26và hoài bão Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm
lí, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiện tại như ở lứa tuổi trước, mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai (Tôi cần trở thành người như thế nào? Tôi cần làm gì để tốt hơn? )
Tóm lại, lứa tuổi này chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý con người Các em ý thức được mình không còn trẻ con nữa, muốn hành động, muốn thử sức mình, muốn khám phá những điều mới lạ Sự phát triển của các em được phản ánh bằng các tên gọi khác nhau: thời kì quá
độ, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị… Các nghiên cứu gần đây về tâm lý lứa tuổi này ở Việt Nam cho thấy, các em có những khoảng trống đáng ngại về giá trị, có nhiều thiếu hụt về KNS và đây được coi là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng bạo lực học đường và các tệ nạn xã hội Vì thế, ở lứa tuổi này rất cần có sự định hướng, uốn nắn từ thầy cô, nhà trường, gia đình, trong đó vấn đề giáo dục KNS dưới nhiều hình thức để trang
bị cho các em những kĩ năng cần thiết là vô cùng quan trọng
1.3.2 Thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
1.3.2.1 Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học hiện nay
Để giúp cho các nhà trường thực hiện giáo dục, rèn luyện KNS cho học sinh có hiệu quả, trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về việc xây dựng chương trình giáo dục KNS cho học sinh các cấp học Tổng kết thực tiễn và kinh nghiệm của một số nhà nghiên cứu cho thấy, có ba phương án thực hiện giáo dục KNS cho học sinh là:
- Xây dựng môn học về giáo dục KNS đưa vào chương trình học tập của học sinh
- Lồng ghép các nội dung giáo dục KNS và các môn học có ưu thế và các hoạt động giáo dục khác
Trang 27- Tích hợp giáo dục KNS vào các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp
- Theo quan điểm của tác giả luận văn, do KNS được hình thành và phát triển thông qua trải nghiệm và gắn liền với hoạt động sống của học sinh nên việc giáo dục KNS cho học sinh theo phương án hình thành một môn học riêng là ít khả thi, hiệu quả không cao Cũng như với giáo dục đạo đức vậy, học sinh có được học bao nhiêu tiết về đạo đức cũng chưa đủ cơ sở để khẳng định học sinh đó đạt được những yêu cầu chuẩn mực chung về đạo đức Do
đó, nếu hình thành một môn học riêng, không rõ môn học này cần thiết kế trong bao nhiêu tiết để học sinh thực sự có KNS và vận dụng những kĩ năng
đó trong hoạt động và cuộc sống
Phương thức lồng ghép cũng đã được thực hiện với một số nội dung cần cập nhật vào chương trình giáo dục phổ thông như giáo dục dân số, giáo dục môi trường, pháp luật,… Tuy nhiên, trong giáo dục KNS, phương thức này còn gặp không ít khó khăn:
- Khó khăn thứ nhất là việc xác định môn học để lồng ghép Những môn học này phải đảm bảo có những yếu tố tương đồng với đặc trưng của giáo dục KNS
- Khó khăn thứ hai là việc đảm bảo nội dung giáo dục KNS để lồng ghép Bởi vì do tính chất của lồng ghép, nội dung giáo dục KNS có tính độc lập nhất định so với nội dung của môn học được sử dụng để lồng ghép Ví dụ,
ngoài các nội dung trong chương trình, môn Giáo dục công dân phải “gánh”
thêm nhiều nội dung không có trong chương trình như giáo dục trật tự an toàn giao thông, thi làm tiểu phẩm để tuyên truyền giáo dục văn hóa cho học sinh Bên cạnh đó, các nội dung về giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục KNS… đều được lồng ghép trong môn học này Một số giáo viên cho rằng: Giáo dục công dân hiện nay được xem là môn học ôm đồm, vì quá nhiều nội dung khiến việc giảng dạy không đạt hiệu quả Trong các địa chỉ tích hợp giáo dục KNS, thì Giáo dục công dân là môn gần gũi và có đất nhất Nhưng với đủ món tích hợp, lồng ghép như hiện nay khó mà đạt được
Trang 28hiệu quả mong muốn Vì thế, việc khai thác nội dung giáo dục KNS phụ thuộc vào từng giáo viên, thậm chí từng tiết học của môn học được lồng ghép
Từ những phân tích trên, tác giả luận văn cho rằng, tích hợp giáo dục KNS là một trong những mục đích của giáo dục Theo đó, tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục trong nhà trường phải hướng đến giáo dục KNS cho học sinh Có như vậy, giáo dục KNS cho học sinh mới được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và đồng bộ
1.3.2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
* Thực trạng giáo dục kĩ năng sống của giáo viên qua môn Ngữ văn
Để đánh giá thực trạng giáo dục KNS của GV qua môn Ngữ văn, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn tại trường THPT Gia Viễn A – tỉnh Ninh Bình Chúng tôi đưa ra hệ thống câu hỏi cho giáo viên lựa chọn, dự giờ thao giảng, trao đổi trực tiếp với đồng nghiệp để chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế trong việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam
từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) Kết quả khảo sát được thể hiện
qua số liệu thống kê sau:
Bảng 1.1 Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
1 Chưa bao giờ thực hiện tích hợp kĩ năng sống cho
học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945
đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
(0 GV) 0%
2 Thỉnh thoảng có thực hiện tích hợp kĩ năng sống
cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm
1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
(8 GV) 72,8%
3 Thường xuyên thực hiện tích hợp kĩ năng sống cho
học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945
đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
(3 GV) 27,2%
Trang 29Bảng 1.2 Cơ sở vận dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975
(Ngữ văn 12, tập 1)
1 Bằng kinh nghiệm của bản thân (6 GV) 54,5%
2 Bằng cách học từ đồng nghiệp (2 GV) 18,2%
3 Bằng các phương pháp được đào tạo (3 GV) 27,3%
Bảng 1.3 Mức độ sử dụng các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975
(Ngữ văn 12, tập 1)
thường xuyên
Không sử dụng thường xuyên
* Phân tích kết quả khảo sát
Đối với giáo viên, chúng tôi nhận thấy một thực trạng chung là hầu hết giáo viên chưa thực sự quan tâm hoặc còn nhiều lúng túng trong việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học Ngữ văn Khi dạy học, giáo viên chủ yếu hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu, khám phá những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm và sau mỗi bài học thì điều mà học sinh có được cũng chỉ mới dừng lại ở việc cảm nhận được giá trị nội dung và nghệ thuật đó
Trang 30Bảng 1.1 thống kê số liệu cho thấy, nhìn chung giáo viên có thực hiện
tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ 1945 đến
1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nhưng vẫn còn ở mức độ thấp Số lượng giáo viên thỉnh thoảng thực hiện chiếm tới 72,8%, thực hiện thường xuyên chiếm tỉ lệ thấp là 27,2%
Kết quả điều tra ở bảng 1.2 cho thấy thực trạng về cơ sở vận dụng
biện pháp tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam
từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) Trong số 11 giáo viên khi được hỏi chỉ có 3 người trả lời là họ sử dụng các biện pháp đã được đào tạo để giáo dục KNS cho học sinh, còn 2 người nói rằng các biện pháp giáo dục hiện tại của họ là do học được từ các bạn đồng nghiệp; còn lại đa số giáo viên (6 người) cho rằng họ sử dụng các biện pháp giáo dục hiện tại là dựa vào kinh nghiệm của cá nhân
Kết quả khảo sát ở bảng 1.3 cho thấy, tất cả giáo viên đều có những hiểu
biết về các phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực để tích hợp giáo dục KNS cho học sinh Tuy vậy, mức độ hiểu biết về các phương pháp/ kĩ thuật dạy học tích cực có sự khác nhau Phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp vấn đáp
là nhiều người sử dụng nhất Đứng thứ hai là kĩ thuật trình bày một phút, thứ ba
là kĩ thuật động não và phương pháp trực quan, thứ tư là tổ chức trò chơi và kĩ thuật viết tích cực Như vậy, có thể thấy kĩ thuật dạy học ít được sử dụng nhất là
kĩ thuật khăn trải bàn
* Thực trạng học kĩ năng sống của học sinh qua môn Ngữ văn
Qua khảo sát của viện nghiên cứu môi trường và các vấn đề xã hội trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học kĩ thuật Việt Nam đối với học sinh một số trường trên cả nước cho thấy, một bộ phận học sinh còn thiếu KNS và đa phần các em có nhu cầu được giáo dục KNS Do thiếu KNS nên những hành
vi lệch chuẩn của học sinh có chiều hướng gia tăng với các biểu hiện rất đa dạng như chán sống, bạo lực học đường, dễ tìm đến cái chết khi gặp khó
Trang 31khăn, bế tắc… gây nhức nhối cho nhà trường, gia đình và xã hội Một vài biểu hiện về cách giao tiếp ứng xử của học sinh hiện nay cũng khiến người lớn không khỏi giật mình: gặp giáo viên không chào hỏi, học sinh chửi tục, đánh thầy cô giáo, nói xấu thầy cô trên mạng xã hội,
Để đánh giá thực trạng giáo dục KNS của HS, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tiễn tại trường THPT Gia Viễn A – tỉnh Ninh Bình thông qua phiếu điều tra, đề nghị học sinh trả lời một cách khách quan Ngoài ra, chúng tôi đã phỏng vấn trực tiếp một số HS để bổ sung những thông tin liên quan đến nội dung khảo sát, tổng hợp kết quả khảo sát, thống kê, phân loại, đánh giá về hứng thú học tập, khả năng được giáo dục KNS qua dạy học Ngữ văn nói chung và thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn
1 KNS là những kĩ năng giúp con người thực hiện
2
KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi
người, khả năng ứng xử phù hợp với những
người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích
cực trước các tình huống của cuộc sống
3 KNS là khả năng con người có thể tham gia vào
tất cả các hoạt động và quan hệ xã hội 20 22,2
4 KNS là kĩ năng tối thiểu của con người để tồn
5 KNS là phẩm chất và năng lực của con người
Trang 32Kết quả bảng 1.4 cho thấy: Tỉ lệ học sinh có ý kiến đúng chỉ có 15,6 %
Như vậy, phần lớn học sinh THPT chưa có nhận thức đúng về KNS
Bảng 1.5 Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến KNS của HS THPT
Theo số liệu bảng 1.5 có 63,3% số HS tiếp nhận thông tin về KNS ở
mức độ thỉnh thoảng Có 11,1% số HS thường xuyên được tiếp nhận thông tin về KNS Có tới 25,6% HS cho rằng chưa bao giờ nghe thấy khái niệm KNS và tên các KNS cụ thể Trong đó, các KNS như: kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng, kĩ năng xác định giá trị có tỉ lệ HS khẳng định “chưa bao giờ nghe thấy” cao nhất (45,5% và 52,2% ) Từ kết quả
bảng 1.4 và bảng 1.5 có thể nhận thấy: HS THPT ít tiếp cận với thông tin
về KNS nói chung, từng KNS nói riêng Nhận thức của HS THPT về KNS còn hạn chế Có một số kĩ năng cụ thể, mặc dù HS thường xuyên được
nghe nhắc đến nhưng các em không hiểu rõ bản chất của kĩ năng đó
Trang 33Bảng 1.6 Phiếu khảo sát học sinh
1 Em có thích học môn Ngữ
văn không?
Thích (58/90 HS) 64,4%
Không thích (32/90HS) 35,6%
2 Theo em học Văn có ý nghĩa
và cần thiết không?
Cần thiết (84/90HS) 93,3%
Không cần thiết (6/90 HS) 6,7%
3 Theo em có cần thiết phải
giáo dục kĩ năng sống qua
môn Ngữ văn không?
Cần thiết (83/90 HS) 92,2%
Không cần thiết (7/90 HS) 7,8%
4 Đi thư viện em thường đọc
sách gì?
Các sách quan tâm (76/90 HS) 84,4%
Sách Văn học (14/90 HS) 15,6%
5 Các thầy cô giáo có giáo dục
KNS cho các em qua dạy
học phần thơ Việt Nam từ
năm 1945 đến 1975 (Ngữ
văn 12, tập 1) không?
Có (73/90 HS) 81,1%
Không (17/90 HS) 18,9 %
Từ bảng 1.6 chúng tôi nhận thấy mặc dù môn Ngữ văn có vị trí và chức
năng quan trọng nhưng hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn này Qua khảo sát cũng cho thấy, học sinh chưa nhận thức đầy đủ về môn học, chưa có ý thức tự giác và hứng thú đọc sách Văn học Có tới 93,3% học sinh nhận định Ngữ văn là môn học bổ ích, cần thiết,
có ý nghĩa quan trọng nhưng khi phỏng vấn trực tiếp, có 36% học sinh cho rằng môn Ngữ văn là thứ bay bổng, giáo viên chỉ ưu ái cho điểm cao những bạn có năng khiếu về ngôn ngữ Trong thực tế, môn Ngữ văn tuy học nhiều tiết trong tuần so với các môn học khác nhưng quên cũng rất nhanh, điểm số chỉ đạt ở mức trên dưới trung bình Các ngành nghề thuộc khối Khoa học xã hội không phải là những ngành “hot”, khả năng tìm việc có thu nhập cao là ít
Trang 34Mặc dù 92,2% học sinh cho rằng, việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến
1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nói riêng là rất cần thiết, nhưng các em vẫn mơ hồ
về khả năng áp dụng thực tiễn
1.3.2.3 Nguyên nhân của những tồn tại
- Về phía giáo viên
Thời gian gần đây, khi thực tế đặt ra nhiều yêu cầu cho việc giáo dục KNS để trang bị cho học sinh những kĩ năng cơ bản giúp các em biết ứng phó với các tình huống xảy ra trong cuộc sống thì việc tích hợp KNS trong dạy
học Ngữ văn mới thực sự được quan tâm
Việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua môn Ngữ văn chưa có tính đồng bộ Với đặc trưng của thơ, một số giáo viên đã có ý thức giáo dục cho học sinh những tình cảm, biết hướng cho học sinh liên hệ với các tình huống trong
cuộc sống Nhưng những thao tác này chủ yếu được thực hiện sau khi đọc – hiểu
xong một văn bản mà chưa được tích hợp một cách nhuần nhuyễn trong từng hoạt động dạy học Vì thế, việc giáo dục KNS nhiều khi còn gò bó, chưa thực sự đạt hiệu quả cao Các phương pháp để tích hợp giáo dục KNS cũng được giáo viên bước đầu vận dụng như đặt ra những câu hỏi liên hệ để học sinh tự bộc lộ, tạo tình huống để học sinh đưa ra cách giải quyết, hoạt động nhóm để học sinh được giáo dục KNS… việc làm này đã tạo được nhiều hứng thú cho HS trong giờ học Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì e rằng vẫn chưa thực sự hiệu quả
Việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh trong dạy học Văn nói chung
và dạy học thơ Việt Nam từ 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nói riêng gặp nhiều khó khăn
Thứ nhất, đội ngũ GV chưa được đào tạo, bồi dưỡng bài bản để có thể tiếp cận và dạy học lồng ghép KNS một cách hiệu quả
Thứ hai, một trong những yêu cầu quan trọng để thực hiện việc lồng ghép giáo dục KNS vào bài học trên lớp là giáo viên phải tìm ra được mối liên hệ giữa
Trang 35các kĩ thuật dạy học với nội dung rèn luyện KNS Để làm tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm và khả năng sáng tạo Vì thế, không phải giáo viên nào cũng có đủ năng lực để lồng ghép những nội dung KNS vào bài học Hơn nữa một tiết học với 45 phút, GV chỉ đủ thời gian tập trung dạy kiến thức cơ bản nên việc dành thời gian tích hợp kiến thức bên ngoài là rất khó Việc tích hợp gượng ép sẽ làm cho bài học trở nên rời rạc, thiếu logic, nhiều giáo viên bị “cháy giáo án” khi lồng ghép tích hợp giáo dục KNS
Thứ ba, GV còn thiếu các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học và tích hợp giáo dục KNS cho học sinh Để việc tích hợp hiệu quả, giáo viên phải chủ động chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học Công việc này cũng tốn không
ít thời gian và công sức
Thứ tư, nhiều GV chưa có phương pháp phù hợp để tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học môn Ngữ văn Trên báo Giáo dục và Thời đại
(12 – 2012), thầy Hồ Văn Liên, Trưởng khoa Tâm lý – Giáo dục, trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh nói rằng: “Trong 10 giáo viên hiện nay
chỉ có khoảng 2 – 3 người đáp ứng được yêu cầu về giảng dạy kĩ năng sống
Đa số giáo viên còn lại dù tâm huyết nhưng không phải ai cũng dạy được vì
họ chưa được đào tạo” [18, tr.8 – 9] Điều này sẽ làm cho chương trình trở
nên xơ cứng và việc giảng dạy chỉ là chuyện nhồi nhét cho xong bổn phận Hơn nữa, đa số giáo viên chưa hiểu hết mục tiêu của việc giáo dục KNS nên mới chỉ dừng lại ở việc cho học sinh liên hệ tới cuộc sống, bồi dưỡng tình cảm mà chưa hướng học sinh tới những giá trị sống để các em tự nhận thức, từ
đó học tập và noi theo
Thứ năm, việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) còn gặp không ít khó khăn Nhiều tác phẩm được sáng tác cách đây mấy chục năm với hoàn cảnh sống và lối tư duy khác xa hiện tại Để việc tích hợp có hiệu quả đòi hỏi người thầy phải có một bản lĩnh đứng lớp vững vàng, biết thổi hồn vào từng bài giảng
Trang 36- Về phía học sinh
Nhận thức của học sinh về KNS còn nhiều hạn chế Các em ít được tiếp cận những thông tin về KNS nói chung và từng KNS cụ thể nói riêng Có một
số KNS mặc dù học sinh thường xuyên được nghe nhắc đến nhưng các em
không hiểu rõ bản chất của kĩ năng đó
Trong hoạt động học tập, HS ít được giao các nhiệm vụ cụ thể, ít có cơ hội được rèn luyện để khẳng định bản thân Các em còn e ngại, rụt rè trong
các hoạt động nên hiệu quả tích hợp giáo dục KNS chưa cao
Ngoài ra, hình thức và nội dung tích hợp giáo dục KNS chưa phong phú, chưa thực sự hấp dẫn lôi cuốn người học
Như vậy, có thể thấy việc tích hợp giáo dục KNS trong dạy học văn nói chung và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) nói riêng đã bắt đầu được ngành giáo dục và xã hội quan tâm Để thực hiện có hiệu
quả, đòi hỏi trí óc và tâm huyết của nhiều người, đặc biệt là giáo viên – những
người trực tiếp định hướng, giáo dục cho học sinh những KNS cần thiết
1.3.3 Các kĩ năng sống cơ bản hình thành cho HS trong môn Ngữ văn và dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)
1.3.3.1 Các kĩ năng sống cơ bản hình thành cho học sinh trong môn Ngữ Văn
Giáo dục KNS là một nội dung giáo dục hết sức quan trọng cần được thực hiện một cách có hệ thống và thường xuyên trong nhà trường Việc đưa giáo dục KNS vào nhà trường có ý nghĩa quan trọng nhằm thức tỉnh giáo viên chú ý nhiều hơn tính hữu dụng, thiết thực của chương trình giáo dục Đồng thời đáp ứng yêu cầu đào tạo con người mới năng động, tích cực, tự tin, đạt được thành công trong cuộc sống
Một trong những đặc điểm của môn Ngữ văn ở trường THPT, là môn học công cụ có thể kết hợp nhiều nội dung giáo dục trong quá trình dạy học Bên cạnh nội dung cốt lõi, mang tính chất đặc trưng của bộ môn là các nội dung giáo dục mang tính chất thời sự, xã hội (giáo dục tình cảm nhân văn,
Trang 37trách nhiệm của thanh niên học sinh trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giáo dục về truyền thống dân tộc, về tình bạn, tình yêu và gia đình,…) Từ đó, hình thành ở học sinh cách ứng xử đúng đắn với những vấn đề của cuộc sống, đất nước, thời đại; giúp học sinh có đủ bản lĩnh hội nhập trong
xu thế toàn cầu hóa Vì vậy, việc tích hợp giáo dục KNS vào môn Ngữ văn là điều có thể thực hiện và phù hợp với xu thế dạy học Ngữ văn hiện nay
Theo giới hạn nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung vào một số
KNS sau:
* Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc khó khăn gặp phải
- Để phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề, chúng ta cần phải nắm được những kĩ năng sống quan trọng như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ và kĩ năng kiên định
- Kĩ năng giải quyết vấn đề giúp con người tự tin và thành công trong cuộc sống
* Kĩ năng giao tiếp
- Kĩ năng giao tiếp là kĩ năng bày tỏ ý kiến của cá nhân đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm Bày tỏ ý kiến bao gồm bày tỏ về nhu cầu, mong muốn và cả sự lo sợ, đồng thời nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần
- Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống và điều chỉnh giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác Kĩ năng này là sự kết hợp của nhiều KNS khác như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thương lượng, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng chia sẻ, cảm thông, kĩ năng kiềm chế cảm xúc, [6, tr.18]
Trang 38- Người có kĩ năng giao tiếp tốt biết dung hòa các mối quan hệ xã hội, có cách ứng xử phù hợp khi làm việc và ở cùng người khác trong một môi trường tập thể Họ biết quan tâm và giúp đỡ mọi người
* Kĩ năng tƣ duy sáng tạo
- Tư duy sáng tạo là khả năng đưa ra các giải pháp độc đáo và hiệu quả Nhà tâm lí học Edward de Bono cho rằng “Tư duy sáng tạo không phải là một tài năng, đó là một kĩ năng có thể học được”
Trong quá trình tư duy cần chấp nhận sự tồn tại song song của nhiều ý tưởng để mở ra các khả năng và loại bỏ các giả định sai về vấn đề cần thảo luận Tuy nhiên, chỉ nên tổng hợp lại các ý tưởng ở cuối quá trình tư duy Vì thế, sự tư duy rất cần thiết trong hầu hết những vấn đề quan trọng
- Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động, biết cách phán đoán và có thể ứng phó linh hoạt trong mọi hoàn cảnh Tư duy càng linh hoạt và hiệu quả thì con người càng thành công trong cuộc sống
* Kĩ năng tự nhận thức
- Kĩ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình
- Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp và hiệu quả cũng như có thể cảm thông được với người khác Ngoài
ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những
sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực
tế và yêu cầu của xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống [6, tr.15]
* Kĩ năng xác định giá trị
- Giá trị là những gì con người cho là có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân mình; có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…
Trang 39- Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, văn hóa, môi trường sống, học tập và làm việc của mỗi cá nhân
- Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kĩ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình
ra quyết định và giải quyết vấn đề của mỗi người [6, tr.16]
*Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
- Thể hiện sự cảm thông là khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm, đồng thời cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
- Kĩ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp Kĩ năng thể hiện sự cảm thông nhằm khuyến khích thái độ quan tâm và giúp đỡ mọi người [6, tr.19]
- Bên cạnh những kĩ năng nói trên, các kĩ năng khác như: kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng kiên định, kĩ năng ra quyết định… cũng có ý nghĩa rất quan trọng
1.3.3.2 Các kĩ năng sống cơ bản hình thành cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975
Thơ hiện đa ̣i Việt Nam trải qua nhiều giai đoa ̣n phát triển cùng với cảm xúc của bao thế hệ thi nhân Trong sách Ngữ văn 12, chương trình Chuẩn, thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là một nội dung đặc biệt quan tro ̣ng , được
giảng dạy thông qua những tác phẩm tiêu biểu : Tây Tiến (Quang Dũng), Việt
Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), Sóng (Xuân Quỳnh) Ngoài
ra, còn có nhiều tác phẩm được đưa vào phần đọc thêm như: Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Dọn về làng (Nông Quốc Chấn), Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên), Bác ơi (Tố Hữu)…
Trang 40Trong chương trình Ngữ văn 12, thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 chiếm 43,5% tổng số tiết Văn học Việt Nam Tỉ lệ này cho thấy, thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 có một vị trí quan trọng trong chương trình Ngữ văn nói chung và chương trình Ngữ văn 12 nói riêng
Các tác phẩm thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) đã tái hiện cuộc sống, đất nước và hình ảnh con người Việt Nam trong suốt thời kì lịch sử này Điều chủ yếu mà các tác phẩm thể hiện là hiện thực đất nước trong thời kì lịch sử đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng hết sức vẻ vang của dân tộc ta, thực sự là tấm gương phản chiếu những phương diện cơ bản nhất của tâm hồn dân tộc Với hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, thơ thể hiện được lẽ sống lớn, khát vọng lớn của toàn dân tộc Các tác giả đã sáng tạo những hình tượng cao đẹp về đất nước, về nhân dân, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống, vừa mang đậm những nét mới của thời đại
Như vậy, thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1) đã thể hiện những lí tưởng sống; tình yêu lứa đôi, tình cảm quê hương đất nước
mà các nội dung đó đều có thể tích hợp KNS cho học sinh.Việc dạy học thơ trữ tình sẽ nâng cao hiểu biết và nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm tốt đẹp cho học sinh qua giờ học văn Những tác phẩm thơ Việt Nam từ năm 1945 đến
1975 (Ngữ văn 12, tập 1) không chỉ giúp cho con người có những hiểu biết phong phú, đa da ̣ng về thế giới xung quanh mà còn có khả năng lay động con tim, thức tỉnh trí tuệ đem đến những bài ho ̣c , những xúc cảm thẩm mĩ cao đẹp, sâu lắng để từ đó mỗi người có cách ứng xử nhân văn trong cuộc sống Tuy vậy, việc tích hợp giáo dục KNS cho học sinh cần bám sát mục tiêu của từng bài học, giờ học Chúng tôi xin đưa ra các địa chỉ có thể tích hợp giáo dục KNS cho học sinh qua dạy học thơ Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 (Ngữ văn 12, tập 1)