Giả thuyết khoa học Nếu sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT theo định hướng từ bài tập ban đầu học sinh rèn luyện theo các bài tập tương đương, bài tập phát triển, kết hợp với việc sử dụng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NAM TRUNG
SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN OXI – LƯU HUỲNH NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NAM TRUNG
SỬ DỤNG BÀI TẬP HÓA HỌC PHẦN OXI – LƯU HUỲNH NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, đề tài “Sử dung bài tập hóa học phần Oxi –
lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 10 THPT” đã được
hoàn thành
Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiê ̣u trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Sư phạm, Phòng Đào tạo đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành được khóa học một cách tốt đẹp
Tôi chân thành cám ơn quý thầy cô giảng viên đã tận tình giảng dạy, truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm quí báu, mở rộng và khắc sâu kiến thức chuyên môn Hóa học, đã chuyển những hiểu biết hiện đại của nhân loại về giáo dục cho chúng tôi
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn PGS TS Lê Kim Long, thầy đã vạch ra
những định hướng sáng suốt, không quản ngại thời gian và công sức tận tình hướng dẫn giúp tác giả hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn quý thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Hồng Quang, THPT Hoàng Văn Thụ và nhiều trường THPT trong địa bàn Thành phố Hải Dương đã có nhiều giúp đỡ trong quá trình thực nghiệm đề tài
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để tiếp tục sự nghiệp dạy học của tôi được thành công hơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học 3
8 Những đóng góp của đề tài 3
9 Điểm mới của luận văn 3
10 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC, NĂNG LỰC TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới 5
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam 5
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn Hóa học 6
1.2 Tự học 7
1.2.1 Khái niệm tự học 7
1.2.2 Các hình thức tự học 8
1.2.3 Chu trình tự học 9
1.2.4 Những biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh 12
1.2.5 Đánh giá năng lực tự học của học sinh 14
1.2.6 Một số yêu cầu học sinh cần có để tự học tốt 14
1.3 Bài tập hóa học 15
Trang 61.3.2 Phân loại bài tập hoá học 15
1.3.3 Tác dụng của bài tập hoá học 15
1.3.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học 15
1.3.5 Bài tập hóa học theo định hướng năng lực 16
1.3.6 Một số lưu ý khi sử dụng bài tập hóa học 18
1.3.7 Xu hướng phát triển bài tập hóa học ngày nay 20
1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường trung học phổ thông 21
1.4.1 Mục đích điều tra 21
1.4.2 Đối tượng điều tra 21
1.4.3 Kết qủa điều tra 22
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
CHƯƠNG 2 PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC BÀI TẬP PHẦN OXI – LƯU HUỲNH HÓA HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32
2.1 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc chương oxi – lưu huỳnh hóa học 10 trung học phổ thông 32
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương oxi – lưu huỳnh hóa học 10 trung học phổ thông 32
2.1.2 Nội dung, cấu trúc chương oxi – lưu huỳnh hóa học 10 THPT 33
2.1.3 Một số lưu ý khi dạy học chương oxi – lưu huỳnh hóa học 10 34
2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập 36
2.2.1 Đảm bảo tính khoa học 36
2.2.2 Đảm bảo tính logic 37
2.2.3 Đảm bảo tính đầy đủ, đa dạng 37
2.2.4 Đảm bảo tính hệ thống của các dạng bài tập 37
2.2.5 Đảm bảo tính vừa sức 37
2.3 Nguyên tắc sắp xếp hệ thống bài tập hoá học để phát triển năng lực tự học cho học sinh 37
2.4 Điều kiện để thực hiện hiệu quả 38
Trang 72.4.2 Tạo điều kiện thuận lợi cho HS tự học 38
2.4.3 Bám sát nội dung dạy học 38
2.4.4 Chú trọng kiến thức trọng tâm 38
2.4.5 Gây hứng thú cho người học 39
2.5 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 39
2.6 Phát triển năng lực tự học của học sinh qua dạy học bài tập chương oxi – lưu huỳnh 40
2.7 Công cụ đánh giá năng lực tự học và hiệu quả sử dụng bài tập tự học 40
2.7.1.Tiêu chí đánh giá năng lực tự học 40
2.7.2 Công cụ đánh giá năng lực tự học 44
2.8 Xây dựng và tuyển chọn các dạng bài tập điển hình phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10 45
2.9 Xây dựng giáo án sử dụng bài tập phần oxi – lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự học cho HS 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 84
CHƯƠNG 3THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 85
3.1 Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 85
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 85
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 85
3.2 Phương pháp, nội dung và đối tượng thực nghiệm sư phạm 85
3.2.1 Phương pháp thực nghiệm 85
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 85
3.2.3 Đối tượng: HS lớp 10 ban cơ bản THPT 85
3.3 Tiến hành thực nghiệm 86
3.4 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.4.1 Phân tích định lượng kết quả thực nghiệm 87
3.4.2 Phân tích kết quả thực nghiệm 93
3.5 Nhận xét của giáo viên về hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học 93
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95
Trang 82 Khuyến nghị và đề xuất 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO 97 PHỤ LỤC 100
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.2 Kết quả điều tra năng lực tự học của học sinh 23
Bảng 1.3 Kết quả điều tra GV về những vấn đề liên quan đến 27
NLTH của HS 27
Bảng 1.4 Đánh giá mức độ biểu hiện NLTH của HS 28
(Mức độ biểu hiện tăng dần từ 0 – 3) 28
Bảng 1.5 Những biện pháp phát triển NLTH Hóa học cho HSTHPT 29
Bảng 3.1 Số HS đạt điểm X i 87
Bảng 3.2 % Số HS đạt điểm X i 88
Bảng 3.3 % Số HS đạt điểm X i trở xuống 88
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Đồ thị so sánh điểm lớp TN trước và sau khi tiến hành TNSP 89
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 1(Trước TN) 89
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 2(Sau TN) 90
Bảng 3.4 Kết quả điểm bài kiểm tra 1 tiết của HS 90
Bảng 3.5 Phân loại kết quả học tập của HS 91 Hình 3.4: Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra số 191 Hình 3.5 Đồ thị phân loại kết quả học tập của học sinh qua bài kiểm tra số 292
Trang 11“Phải khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Vì vậy, ngành giáo dục đang tiến hành việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh và bồi dưỡng phương pháp học tập mà cốt lõi là tự học để họ tự học suốt đời Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy Dạy cách học chủ yếu là dạy phương pháp tự học
Một trong những phương pháp bồi dưỡng học sinh tự học môn Hóa học ở trường Trung học phổ thông là sử dụng hệ thống bài tập Bài tập hoá học đóng vai trò vừa là nội dung vừa là phương tiện để chuyển tải kiến thức, phát triển tư duy và
kỹ năng thực hành bộ môn một cách hiệu quả nhất Bài tập hoá học không chỉ củng
cố nâng cao kiến thức, vận dụng kiến thức mà còn là phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thức mới
Mặt khác, do thời gian dạy học môn Hoá học trên lớp còn hạn hẹp, thời gian
ôn tập, hệ thống hoá kiến thức Hóa học 10 và giải bài tập chưa được nhiều, không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà giáo viên truyền thụ ở trên lớp Vì vậy, việc tự học ở nhà của học sinh là rất quan trọng và cần thiết
Đánh giá được tầm quan trọng của việc tự học, tôi quyết định lựa chọn và
nghiên cứu đề tài: “Sử dụng bài tập hóa học phần oxi – lưu huỳnh nhằm phát
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Bồi dưỡng, phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua hệ thống bài tập phần hóa học phần Oxi – lưu huỳnh lớp 10 trường Trung học phổ thông
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
3.2 Sưu tầm và xây dựng HTBT nhằm phát triển năng lực tự học phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10
3.3 Hướng dẫn HS sử dụng HTBT đã xây dựng một cách hợp lí và cóhiệu quả 3.4 TN sư phạm để đánh giá hiệu quả của HTBT đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng đối với HTBT đã đề xuất
3.5 Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng hệ thống BTHH phát triển năng lực tự học cho HS trong quá trình dạy học
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hóa học 10 ở trường THPT
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực tự học qua sử dụng HTBT bồi dưỡng năng lực tự học cho
HS phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10
5 Phương pháp nghiên cứu
Để quá trình thực hiện đề tài được thành công, và có sự đánh giá đúng đắn chúng tôi đã sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu lý luận và phương pháp dạy học cần cho dạy bài tập Phân loại, phân tích, tổng hợp, hệ thống các dạng bài tập vô cơ từ các nguồn tài liệu: SGK, SBT, STK có liên quan đến đề tài nhằm nâng cao năng lực tự học, khả năng sáng tạo cho HS
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra thực trạng tình hình sử dụng BTHH ở trường THPT trong việc phát triển khả năng tự học, sáng tạo của HS
Trang 13- Thăm dò ý kiến của HS sau khi giải bài tập hóa học theo phương pháp thực nghiệm của đề tài, sự sáng tạo của học sinh trong quá trình làm bài tập
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của việc sử dụng các biện pháp để phân loại và hệ thống các dạng bài tập đã đề xuất
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý các kết quả TNSP
6 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung kiến thức được giới hạn trong chương 6 Nhóm oxi Hóa học 10 ở trường THPT
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
Làm thế nào để thực hiện hiệu quả HTBT phát triển năng lực tự học cho học sinh bằng dạy bài tập phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10?
7.2 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng hợp lí, có hiệu quả HTBT theo định hướng từ bài tập ban đầu học sinh rèn luyện theo các bài tập tương đương, bài tập phát triển, kết hợp với việc sử dụng phương pháp dạy học tích cực sẽ góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10, nâng cao được chất lượng dạy học hóa học hiện nay ở trường THPT
- Nội dung của luận văn giúp giáo viên có thêm tư liệu bổ ích cho việc giảng
dạy hoá học phần oxi – lưu huỳnh thuộc Hóa học 10
- Giúp HS rèn luyện các kỹ năng giải BTHH góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
9 Điểm mới của luận văn
- Đi kèm với mỗi bài tập ban đầu (bài tập hay, chứa kiến thức trọng tâm, khái
Trang 14năng lực tư duy tổng hợp, so sánh, đặc biệt năng lực tự học một cách sáng tạo và chủ động Đây là điểm mới nhất của luận văn, chứa đựng triết lí về học tập, giúp học sinh tự học
- Luận văn tiếp cận đề án thay đổi chương trình, SGK của Bộ về phát triển năng lực cho học sinh, ở đây là năng lực tự học
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học, năng lực tự học và bài tập
hoá học Chương 2: Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học bài tập
chương oxi – lưu huỳnh Hóa học 10 THPT Chương 3:Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ HỌC, NĂNG LỰC
TỰ HỌC VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Quan điểm và tư tưởng về tự học trên thế giới
Vấn đề tự học đã được nghiên cứu từ rất sớm trong lịch sử giáo dục trên thế giới John Dewey (1859-1952) phát biểu: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy
tụ mọi phương tiện giáo dục” Một loạt các PPDH theo quan điểm này đã được sử dụng: “Phương pháp hợp tác”, “Phương pháp nêu vấn đề”, “Phương pháp tích cực” Nói chung, đây là các phương pháp mà GV đóng vai trò gợi sự chú ý, kích thích HS
tự hoạt động, tự tìm tòi để lĩnh hội kiến thức
T Makiguchi, nhà sư phạm nổi tiếng người Nhật Bản, trong những năm 30 của thế kỷ XX đã cho rằng: “Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập
và đặt trách nhiệm học tập vào tay mỗi học sinh Giáo dục xét như là một quá trình hướng dẫn học sinh tự học’’
Gần đây, nhiều cuốn sách cũng đề cập đến vấn đề tự học: “Hiểu biết là sức mạnh của thành công” do Klas Mellander chủ biên đã đề cập đến bí ẩn của việc học, trong đó nhấn mạnh vai trò của tự học, hướng dẫn 5 bước cần thực hiện để giúp chúng ta dễ dàng hơn trong quá trình học hỏi [35]
Trong cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế!” (Tựa tiếng Anh: I Am Gifted,
So Are You!) của tác giả Adam Khoo xuất bản năm 2008 chứng minh rằng khả năng trí tuệ tiềm ẩn và sự thông minh sáng tạo của con người vượt xa hơn những gì chúng ta nghĩ và thường được nghe tới [33]
1.1.2 Quan điểm và tư tưởng về tự học trong lịch sử giáo dục Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới từng nói: “Còn sống thì còn phải học” và “về cách học phải lấy tự học làm cốt”
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn một tấm gương sáng về tự học ở nước ta cho rằng:
“học bao giờ cũng gắn liền với tự học, tự rèn luyện, coi trọng việc tự học, nêu cao
Trang 16Từ lâu, việc khích lệ phát triển NLTH của HS đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng về định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất
là thanh niên”
1.1.3 Quan điểm và tư tưởng về tự học đối với môn Hóa học
Hóa học là một môn khoa học có những đặc trưng riêng nên đòi hỏi người học phải có tư duy thích hợp, đó là năng lực quan sát, phân tích các hiện tượng tự nhiên, năng lực khái quát, tổng hợp thành quy luật và phải có phong cách học tập độc lập sáng tạo Để rèn luyện các năng lực này không thể không kể tới vai trò rất lớn của BTHH Gần đây, có nhiều tài liệu, luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về xây dựng hệ thống BTHH nhằm bồi dưỡng NLTH cho học sinh THPT
Nguyễn Thị Vân (2012), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
phần kim loại thuộc hóa học 12 nâng cao nhằm bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trường THPT, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh
Trần Tuấn Anh (2013), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập
nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THCS tỉnh Lạng Sơn (phần Vô cơ - Hóa học 9), Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phạm Thị Thảo (2013), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ
học sinh tự học phần phi kim hóa học 10 THPT, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Giáo
Dục
Nguyễn Thị Lan Phương (2014), Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh
trong dạy học bài tập hóa học của chương 5 - Đại cương kim loại chương trình hóa học 12 nâng cao, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Giáo Dục
Ngô Mạnh Lượng (2015), Sử dụng hệ thống bài tập phần Nitơ và hợp chất hỗ
trợ cho học sinh yếu kém tự học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
Trang 17Đỗ Thị Ánh Tuyết (2015), Phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua
sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim hóa học lớp 10 THPT, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Giáo Dục
Kết quả nghiên cứu của các tác giả đều khẳng định: Cần phải đưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học, trong đó BT là phương tiện quan trọng để người dạy tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho HS Đồng thời đã đưa ra nguyên tắc, qui trình xây dựng và biện pháp sử dụng BT nói chung và bài tập bồi dưỡng NLTH nói riêng Những thành công này của các tác giả sẽ được chúng tôi nghiên cứu, kế thừa trong luận văn này
Trong các đề tài trên, đề tài của tác giả Đỗ Thị Ánh Tuyết đã nghiên cứu BT phần phi kim hóa học 10 THPT để phát triển NLTH cho HS Còn với đề
tài “Sử dụng bài tập hóa học phần oxi – lưu huỳnh nhằm phát triển năng lực tự
học cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông” tôi có cách tiếp cận hoàn toàn khác
, đó là đi kèm với mỗi bài tập ban đầu (bài tập hay, chứa kiến thức trọng tâm, khái quát) là bài tập biến đổi tương đương, biến đổi phát triển và đa chiều qua đó hình thành cho học sinh năng lực tư duy tổng hợp, so sánh, đặc biệt năng lực tự học một cách sáng tạo và chủ động Đây là điểm mới nhất của luận văn, chứa đựng triết lí về học tập, giúp học sinh tự học
1.2 Tự học
1.2.1 Khái niệm tự học
Có nhiều quan niệm khác nhau khái niệm tự học Xin điểm qua một số đề xuất:
Tự học là khả năng tự lo cho việc học của chính mình (Henri Holec)
Tự học là tình huống trong đó người học hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi quyết định liên quan đến việc học và thực hiện những quyết định đó (Leslie Dickinson)
“Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát,
so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [22, tr 59, 60]
Trang 18trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành”
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực tự học được xếp
số 1 trong trong 8 năng lực chung cần đạt Năng lực tự học có vai trò quan trọng vì
tự học là chìa khoá tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả năng lực cơ bắp, động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình[14] Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao [24]
Như vậy, tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo,
kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học
Đó là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, chủ động, tự giác, phát huy cao độ vai trò của người học với sự hợp tác của thầy cô, bạn bè và các điều kiện học tập
1.2.2 Các hình thức tự học [39]
Theo http://webdayhoc.net, tự học có các hình thức sau :
- Tự học hoàn toàn (không có GV): thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học
kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức,
HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập : thí dụ như học bài hay làm bài
tập ở nhà là công việc thường xuyên của HS Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa) : HS được nghe GV giảng giải
minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn : Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây
dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
Trang 19- Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp
Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn sử dụng SGK hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
1.2.3 Chu trình tự học
Chu trình dạy – tự học là một hệ thống toàn vẹn gồm ba thành tố cơ bản: thầy (dạy), trò (tự học), tri thức Ba thành tố đó luôn tương tác với nhau thâm nhập vào nhau, quy định lẫn nhau theo những quy luật riêng nhằm kết hợp chu trình dạy với chu trình tự học, làm cho dạy và tự học cộng hưởng với nhau tạo ra chất lượng tốt, hiệu quả cao
Người học tự thể hiện mình bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn
đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân của mình, tự thể hiện qua
sự hợp tác, trao đổi, giao tiếp các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội
của cộng đồng lớp học
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học (tri thức)
Trang 20Chu trình dạy của thầy nhằm tác động hợp lý, phù hợp và cộng hưởng với chu trình tự học của trò, cũng là chu trình ba thời tương ứng với chu trình tự học ba thời của trò
- Hướng dẫn
Thầy hướng dẫn cho từng học sinh về các tình huống học, về các vấn đề cần phải giải quyết, về các nhiệm vụ phải thực hiện trong tập thể học sinh
Học sinh tự nghiên cứu, tìm tòi cách xử lý các tình huống, cách giải quyết vấn
đề để tự mình tìm ra kiến thức, chân lý bằng hành động của chính mình, tạo ra sản phẩm ban đầu
- Tổ chức
Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn: tổ chức các cuộc tranh luận, trao đổi trò – trò, trò – thầy, sinh hoạt nhóm, các hoạt động tập thể trong
và ngoài nhà trường nhằm tăng cường mối quan hệ giao tiếp trò – trò, trò – thầy và
sự hợp tác cùng nhau tìm ra kiến thức, chân lý
- Trọng tài, cố vấn, kết luận, kiểm tra
Thầy là trọng tài, cố vấn, kết luận về cuộc tranh luận đối thoại, trò – trò, trò – thầy để khẳng định về mặt khoa học kiến thức do người học tự tìm ra
Cuối cùng, thầy là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của trò trên cơ sở trò tự đánh giá, tự điều chỉnh…
1.2.3.3 Chu trình dạy - tự học [34]
Dựa vào sơ đồ trên hình 1.1 ta thấy:
- Hình tròn bên trong tượng trưng cho nội lực – năng lực tự học
- Đường tròn giữa tượng trưng cho ngoại lực – tác động dạy của thầy
- Đường tròn ngoài cùng tượng trưng cho tri thức người học cần chiếm lĩnh
- Các mũi tên trong sơ đồ ở vào từng thời đều xuất phát từ cực “thầy”; sáng kiến điều hành chung cả chu trình dạy – tự học đều thuộc về thầy; Thầy là người khởi xướng, người dẫn chương trình tự học của trò
Trang 21Hình 1.1 Sơ đồ chu trình dạy - tự học
(1) Thầy hướng dẫn cho trò tự nghiên cứu để tự tìm ra tri thức có tính chất cá nhân (2) Thầy tổ chức cho trò tự thể hiện, hợp tác với nhau để làm cho sản phẩm ban đầu của người học được khách quan hơn, tri thức có tính chất xã hội
(3) Thầy là trọng tài cố vấn, kết luận về cuộc đối thoại và hoạt động của trò, làm cơ
sở cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh sản phẩm ban đầu của mình, tri thức người học
tự tìm ra giờ đây mới có tính chất khoa học
Chu trình dạy – tự học là quá trình kết hợp hữu cơ giữa chu trình dạy của thầy và chu trình tự học của trò Vì vậy muốn đạt kết quả cao nhất trong chu trình trên thì dạy học phải cộng hưởng với tự học
1.2.3.4 Vai trò của tự học
Năng lực tự học có 4 vai trò chính sau: Tự tìm ra ý nghĩa, làm chủ các kĩ xảo nhận thức, tạo ra cầu nối nhận thức trong tình huống học; Tự làm chủ tri thức hiện diện trong chương trình học và tri thức siêu nhận thức qua các tình huống học; Tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lí thông tin từ môi trường xung quanh mình; Tự học, tự nghiên cứu, tự mình tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình, cá nhân hóa việc học, đồng thời hợp tác với bạn trong
Tự học
Trò chơi
Tự thể hiện
Tự điều chỉnh chỉnhchỉchỉ
nh chỉnh
Hướng dẫn (1) )
Tổ chức
Trọng tài
Cố vấn (3)
(2)
Tri thức (cá nhân)
Tri thức (xã hội)
Tri thức
(khoa học)
học )
Trang 22Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người,
là con đường tự khẳng định của mỗi người; con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người Tự học khắc phục nghịch lí: Học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì giới hạn Tự học góp phần dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục một cách hiệu quả nhằm phát huy, tận dụng tiềm năng to lớn của mỗi thành viên trong cộng đồng [5]
Có thể nêu vai trò của tự học theo cách khác [3]: Tự học là phương thức tạo
ra chất lượng thực sự lâu bền, là điều kiện quyết định trực tiếp đến chất lượng học tập của người học Chỉ có tự học mới giúp người học thông hiểu, bổ sung, hoàn thiện vào vốn tri thức và vốn kinh nghiệm của mình, giúp họ vững vàng hơn trong học tập
và công tác sau này Tự học còn là cơ sở cho tính tích cực nhận thức của người học
Tự học sẽ rèn luyện cho người học đức kiên trì, lòng dũng cảm vượt khó, tính tự lực, chủ động trong công việc Tự học còn giúp người học khắc phục được những nét tính cách không phù hợp, tiến hành được hoạt động học tập ở mức độ khó khăn hơn
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có năng lực đặc biệt đó là NLTH, tự nâng cao, hoàn thiện và những khả năng này phải được tích lũy từ cấp tiểu học Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hóa, khoa học kỹ thuật và hiện đại hóa vốn tri thức của mình để trở thành công dân với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống
1.2.4 Những biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh
1.2.4.1 Vì sao phải phát triển năng lực tự học cho học sinh?
Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nâng cao chất lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục là: Học bằng hoạt động tự học, tự nghiên cứu của HS Từ đó đặt ra vấn đề: quá trình tổ chức đào tạo phải làm chohoạt động học của HS thực sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình tự học, tự nghiên
cứu của HS Trong hình thức dạy học tập trung, người GV trực tiếp tổ chức và hướng
dẫn quá trình nhận thức của HS, còn HS đóng vai trò chủ thể nhận thức, tích cực huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân của mình để tiến hành hoạt động học tập nhằm
Trang 23động tích cực các thao tác tư duy của bản thân, th́ì không thể chiếm lĩnh được tri thức
và không thể hoàn thành nhân cách được
1.2.4.2 Những biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh
Thực chất của việc phát triển NLTH là hình thành và phát triển năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực xác định những kết luận đúng (kiến thức, cách thức, giải pháp, biện pháp) Từ quá trình giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn hoặc vào nhận thức kiến thức mới, năng lực đánh giá và tự đánh giá
Để HS có ý thức tự học thì phải làm cho HS phải yêu thích môn học đó Vì vậy, GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học Giáo viên có thể giới thiệu về môn
học, những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ minh họa cụ thể
nhằm kích thích động cơ học tập ở các em
Giáo viên cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu
Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, GV giới thiệu về chương trình, nội dung, phương pháp học một cách khái quát nhất để HS hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình
kế hoạch học tập phù hợp Giáo viên viên phải làm cho HS hiểu mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể và HS hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời gian được xây dựng chi tiết
Giáo viên hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến môn học Giáo viên cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ
có trong sách giáo khoa, bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau
Giáo viên nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là những kỹ năng
học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của HS GV phải rèn luyện cho HS cách nghe, kết hợp với ghi chép, có thể gạch chân, tóm lược bằng sơ
đồ hình vẽ những ý chính Đối với các vấn đề quan trọng, GV cần nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần để HS tiếp thu và ghi chép
Giáo viên hướng dẫn cách học bài GV nên giới thiệu và hướng dẫn cho HS
tự học theo mô hình: học cách phân tích, tổng hợp, vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học cách nhận xét, đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức
Trang 24duy trừu tượng và phát triển tư duy sáng tạo trong việc tìm ra những hướng tiếp cận mới đối với các vấn đề khoa học
Giáo viên cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS ở tiết học tiếp theo Để phát huy tối
đa NLTH và thúc đẩy HS tận dụng hết thời gian tự học, GV cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS Có như thế, các em mới định hướng được cụ thể các nhiệm vụ mình cần làm tiếp theo Khi có sự chuẩn bị trước ở nhà, việc học trên lớp sẽ trở nên có hiệu quả hơn
Vấn đề tự học ở HS là một vấn đề không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập đạt kết quả cao, đòi hỏi HS phải tự giác, không ngừng tìm tòi học hỏi Ngoài ra,
sự định hướng của người thầy đóng vai trò quyết định thúc đẩy sự thành công trong việc chiếm lĩnh tri thức của người học
1.2.5 Đánh giá năng lực tự học của học sinh
Để đánh giá NLTH của HS, GV có thể sử dụng những phương pháp đánh giá được như: Đánh giá qua quan sát, đánh giá qua hồ sơ học tập của HS, HS tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng Ngoài ra còn đánh giá qua các bài kiểm tra kiến thức, kĩ năng với những hình thức phổ biến như kiểm tra viết, kiểm tra nói (kiểm tra miệng), với các câu hỏi/BT thuộc dạng tự luận hay trắc nghiệm khách quan có các nội dung
ở các mức độ nhận thức khác nhau…
1.2.6 Một số yêu cầu học sinh cần có để tự học tốt
Thứ nhất Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi khi không hiểu bài
Thứ hai Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số của BT mà phải biết rút ra những điều bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, luôn suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một vài dữ kiện của bài toán để xem bài toán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết một cách khoa học…
Thứ ba Phải dành thời gian cho việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức một cách sâu sắc thì mới vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, mềm dẻo và giải quyết được các vấn đề mà bài toán đặt ra
Tóm lại, để có thể tự học tốt người HS phải tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồn khác nhau
Trang 251.3 Bài tập hóa học
1.3.1 Khái niệm về bài tập hoá học
Bài tập hóa học là những bài toán hoặc những câu hỏi mà thông qua việc hoàn thành chúng, học sinh sẽ lĩnh hội được nội dung các định nghĩa, khái niệm, tính chất của chất hoặc hình thành các kĩ năng thí nghiệm thực hành, kĩ năng quan sát hoặc hoàn thiện các kĩ năng đó Việc giải quyết các bài toán hóa học cho phép
HS thực hiện những mối liên hệ qua lại giữa các kiến thức đã và đang được học
1.3.2 Phân loại bài tập hoá học
Có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên các cơ sở khác nhau: Dựa vào mức độ kiến thức (cơ bản, nâng cao); Tính chất bài tập (định tính, định lượng); hình thái hoạt động của học sinh (lý thuyết, thực nghiệm); Mục đích dạy học (ôn tập, luyện tập, kiểm tra); Cách tiến hành trả lời (trắc nghiệm khách quan, tự luận);
Kĩ năng, phương pháp giải bài tập (lập công thức, hỗn hợp, tổng hợp chất, xác định cấu trúc); Loại kiến thức trong chương trình (dung dịch, điện hoá, phản ứng oxi hoá
- khử) và dựa vào năng lực của học sinh (năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng vào thực tiễn, năng lực sáng tạo)
1.3.3 Tác dụng của bài tập hoá học
Theo các tài liệu [13], [28] BTHH có ý nghĩa rất quan trọng, là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của mình
Bài tập hóa học có tác dụng như: Giúp HS hiểu sâu và nhớ lâu kiến thức thu được; đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú; chỉ có vận dụng kiến thức vào giải BT học sinh mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc; là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất; rèn luyện
kĩ năng hóa học cho HS như kĩ năng viết và cân bằng PT hóa học (PTHH), kĩ năng tính toán theo công thức và PTHH, kĩ năng thực hành như cân, đo, đun nóng, nung, sấy, lọc, nhận biết hóa chất; phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn)
1.3.4 Xu hướng phát triển bài tập hóa học
Trang 26độ sau đây:
Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội Kến thức phải gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăng cường thí nghiệm hóa học trong nội dung học tập Bài tập hóa học phải đa dạng, có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học THPT, xu hướng phát triển chung của BTHH trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
Nội dung BT phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các năng lực nhận thức, tư duy hóa học và hành động cho HS Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học
Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng trong thực tiễn Thông qua các dạng BT làm cho HS thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống Giáo viên cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và các hiện tượng tự nhiên, để xây dựng các BT hóa học một cách đa dạng kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập bộ môn
Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học
Cần sử dụng BT trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạng BT tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan
Đa dạng hóa các loại hình BT như BT bằng hình vẽ, BT vẽ sơ đồ, đồ thị, BT lắp dụng cụ thí nghiệm
Như vậy, xu hướng phát triển của BTHH hiện nay hướng đến rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức, phát triển năng lực tư duy hóa học cho HS ở các mặt: Lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những BT có tính chất học thuộc trong các câu hỏi lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các câu hỏi đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi
1.3.5 Bài tập hóa học theo định hướng năng lực
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực được xây dựng trên cơ
sở chuẩn năng lực của môn học Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động học của HS Hệ thống BT định hướng năng lực chính là công cụ để HS luyện tập nhằm
Trang 27đánh giá năng lực của HS và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người GV cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người GV cần biết tuyển chọn, xây dựng và
sử dụng các BT định hướng phát triển năng lực HS
a) Những đặc điểm của bài tập theo định hướng năng lực
Các thành tố quan trọng trong đánh giá việc đổi mới xây dựng BT là: Sự đa dạng của BT, chất lượng BT, sự lồng ghép BT vào giờ học và sự liên kết với nhau của các BT BT để đánh giá năng lực thường có những đặc điểm sau [34]:
Yêu cầu của BT: Có mức độ khó khác nhau Mô tả tri thức và kỹ năng yêu
cầu Định hướng theo kết quả
Hỗ trợ học tích lũy: Liên kết các nội dung qua suốt các năm học Nhận biết
được sự gia tăng của năng lực Vận dụng thường xuyên cái đã học
Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập: Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân Tạo khả
năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân Sử dụng sai lầm như là cơ hội học
Xây dựng BT trên cơ sở chuẩn: BT luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở Thay
đổi BT đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thức thông minh) Thử các hình thức luyện tập khác nhau
Bao gồm cả những BT cho hợp tác và giao tiếp: Tăng cường năng lực xã hội
thông qua làm việc nhóm Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức
Tích cực hóa hoạt động nhận thức: BT giải quyết vấn đề và vận dụng Kết
nối với kinh nghiệm đời sống Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề
Có những con đường và giải pháp khác nhau: Nuôi dưỡng sự đa dạng của
các con đường, giải pháp, đặt vấn đề mở, độc lập tìm hiểu, không gian cho các ý tưởng khác thường, diễn biến mở của giờ học
Phân hóa nội tại: Con đường tiếp cận khác nhau, phân hóa bên trong, gắn
với các tình huống và bối cảnh
b) Các bậc trình độ trong bài tập theo định hướng năng lực
Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức và các bậc trình độ nhận thức tương ứng như sau [34]:
Trang 28Nhận biết lại cái gì đã học theo cách thức không thay đổi Tái tạo lại cái đã học theo cách thức không thay đổi
2 Xử lý
thông tin
Hiểu và vận dụng, nắm bắt ý nghĩa, vận dụng
Phản ánh theo ý nghĩa cái đã học
Vận dụng các cấu trúc đã học trong tình huống tương tự
3 Tạo thông
tin
Xử lí, giải quyết vấn đề
Nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng
Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình huống mới
Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu chí riêng
Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng năng lực, có thể xây dựng BT theo các dạng:
Các BT dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức BT tái hiện không
phải trọng tâm của BT định hướng năng lực
Các BT vận dụng:Các BT vận dụng những kiến thức trong các tình huống không thay đổi Các BT này nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
Các BT giải quyết vấn đề:Các BT này đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giải quyết vấn đề Dạng BT này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
Các BT gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn:Các BT vận dụng và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với bối cảnh và tình huống thực tiễn Những BT này là
BT mở, tạo cơ hội cho nhiều cách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.3.6 Một số lưu ý khi sử dụng bài tập hóa học
Trang 29Việc học là nhiệm vụ của người HS và không ai có thể thay thế được Để học tốt môn hóa nói riêng và các môn khác nói chung, điều đầu tiên phải là sự nỗ lực của bản thân người học, phải tích cực học tập, mong muốn học giỏi, học giỏi hôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai
Luôn luôn tìm phương pháp học tập tốt nhất cho mình Đồng thời có ý chí quyết tâm cao độ, thoát khỏi những tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức, đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học được nâng lên
HS phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình và viết theo ý của mình không dập khuôn từng câu chữ của GV
Phải thường xuyên dành thời gian cho việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học để thấy được sự logic đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức một cách sâu sắc thì mới vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, mềm dẻo và giải quyết được các vấn đề mà bài toán đặt ra
Tóm lại, để có thể tự học tốt người HS phải học tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo
+ Một số lưu ý khi sử dụng bài tập hóa học
1 Nắm chắc lý thuyết: các định luật, quy tắc, các quá trình hóa học, tính chất lý hóa học của các chất
2 Nắm được các dạng bài tập cơ bản, nhanh chóng xác định bài tập cần giải thuộc dạng bài tập nào
3 Nắm được một số phương pháp giải thích hợp với từng dạng bài tập
4 Nắm được các bước giải một bài toán hỗn hợp nói chung và với từng dạng bài nói riêng
5 Biết được một số thủ thuật và phép biến đổi toán học, cách giải phương trình và
hệ phương trình bậc 1,2, …
+ Các nguyên nhân làm học sinh lúng túng và sai lầm khi giải bài tập hóa học
- Chưa hiểu một cách chính xác các khái niệm, ngôn ngữ hóa học (ví dụ như : nồng
độ mol, dd loãng, đặc, vừa đủ, … )
- Chưa thuộc hay hiểu để có thể viết đúng các phương trình phản ứng, chưa nắm
Trang 30- Chưa thành thạo những kĩ năng cơ bản về hóa học, toán học (cân bằng phản ứng, đổi số mol, V, nồng độ, lập tỉ lệ, …)
- Không nhìn ra được mối tương quan giữa các giả thiết, giả thiết với kết luận để có thể lựa chọn và sử dụng phương pháp thích hợp đối với từng bài cụ thể
+ Các bước giải bài tập trên lớp
1 Tóm tắt ngắn gọn đầu bài trên bảng Có thể dùng sơ đồ để tóm tắt bài tập về các quá trình hóa học
2 Xử lý các số liệu
3 Viết các phương trình phản ứng xảy ra hoặc sơ đồ (nếu có)
4 Gợi ý và hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm lời giải:
- Phân tích dữ kiện của đề bài xem từ đó cho ta biết được những gì
- Liên hệ với các dạng bài tập cơ bản đã giải
- Suy luận ngược từ yêu cầu của bài toán
5 Trình bày lời giải (có thể dùng các phương pháp giải nhanh)
6 Tóm tắt, hệ thống những vấn đề cần thiết, quan trọng rút ra từ bài tập (về kiến thức, kĩ năng, phương pháp)
1.3.7 Xu hướng phát triển bài tập hóa học ngày nay
Thực tế cho thấy có nhiều bài tập hóa học còn quá nặng nề về thuật toán, nghèo nàn về kiến thức hóa học và không có liên hệ với thực tế hoặc mô tả không đúng với các quy trình hóa học Khi giải các bài tập này thường mất thời gian tính toán toán học, kiến thức hóa học lĩnh hội được không nhiều và hạn chế khả năng sáng tạo, nghiên cứu khoa học hóa học của học sinh Các dạng bài tập này dễ tạo lối mòn trong suy nghĩ hoặc nhiều khi lại quá phức tạp, rối rắm với học sinh làm cho các em thiếu tự tin vào khả năng của bản thân dẫn đến chán học, học kém
Nội dung kiến thức hóa học phải gắn liền với thực tiễn đời sống, xã hội; gắn với thực hành, thí nghiệm hóa học và tăng cường thí nghiệm hóa học
Bài tập hóa học phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học Phổ thông thì xu hướng phát triển chung của bài tập hóa học trong giai đoạn hiện nay cần đảm bảo các yêu cầu:
+ Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà
Trang 31học và hành động cho học sinh Kiến thức mới hoặc kiểm nghiệm các dự đoán khoa học
+ Bài tập hóa học cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho học sinh thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi thiết thực với cuộc sống
+Bài tập hóa học định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học
+ Cần sử dụng bài tập trắc nghiệm khách quan, chuyển hóa một số dạng bài tập tự luận, tính toán định lượng sang dạng trắc nghiệm khách quan
Như vậy xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay hướng đến rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức, phát triển khả năng tư duy hóa học cho học sinh
ở các mặt: lí thuyết, thực hành và ứng dụng Những bài tập có tính chất học thuộc trong các bài tập lí thuyết sẽ giảm dần mà được thay bằng các bài tập đòi hỏi sự tư duy, tìm tòi
1.4 Thực trạng về việc sử dụng hệ thống bài tập và việc tự học của học sinh ở trường trung học phổ thông
Đối với giáo viên: Tìm hiểu về tình hình xây dựng HTBT của GV; cách nhìn nhận và suy nghĩ của GV về vai trò của BTHH trong dạy học hóa học; tình hình dạy BTHH ở trường THPT; mức độ thành công, những khó khăn gặp phải khi dạy BTHH; về biện pháp xây dựng và sử dụng hệ thống BTHH phát triển năng lực tự học và sáng tạo cho HS
1.4.2 Đối tượng điều tra
Trang 32Điều tra bằng phiếu tham khảo ý kiến 43 GV hoá học ở các trường THPT khác nhau ở Thành phố Hải Dương
Điều tra đến 480 HS (11 lớp) ở các trường THPT trên địa thành phố Hải Dương: Trường THPT Hồng Quang và trường THPT Hoàng Văn Thụ
1.4.3 Kết qủa điều tra
Thông qua khảo sát một số thông tin liên quan đến năng lực tự học của HS Chúng tôi đã thực hiện khảo sát ở 11 lớp 10 trên tổng số 480 HS Trong đó đa phần
là HS có hạnh kiểm tốt, lực học trung bình, khá trở lên Kết quả chi tiết được trình bày ở Bảng 1.2
Kết quả điều tra cho thấy đa số HS đều xác định được mục đích học tập của mình là “học tập để có kiến thức, cách giải quyết vấn đề, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn là hành trang bước vàocuộc sống ” (87%) Đây là mục tiêu đúng đắn của việc học tập Tuy nhiên cũng có một số nhỏ HS lựa chọn “ thực dụng” hơn là nhằm mục tiêu thi đỗ đại học, điều đó làm ảnh hưởng tới hứng thú, động cơ học tập của các em ở các môn khác không thi đại học
Đa số các em lựa chọn lượng kiến thức mà em tiếp thu được trong quá trình học tập trên lớp khoảng 50- 70% (52%), ở các đối tượng HS khá, giỏi tỉ lệ tiếp thu được cao hơn là 75-95% (35,9%) Trong đó nguyên nhân khiến các em chưa đạt được hiệu quả tập trung chủ yếu vào 3 nội dung: Bản thân chưa có cách học phù hợp (56,5%); lượng kiến thức học tập nhiều quá mức cần thiết (18,33 %) ; bản thân quá thụ động không tích cực trong học tập (13,5%) Điều đó cho thấy PP học tập của HS quyết định rất nhiều đến hiệu quả học tập của HS, đồng thời hệ thống kiến thức học tập do GV cung cấp cho HS rất quan trọng cần có sự chắt lọc, lựa chọn kĩ càng phù hợp với năng lực của HS tránh tình trạng quá tải làm mất đi hứng thú học tập ở HS
Trang 33Bảng 1.2 Kết quả điều tra năng lực tự học của học sinh
(480)
PHẦN TRĂM
Học tập để có kiến thức, cách giải quyết vấn đề, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn là hành trang cho bản thân
Lượng kiến thức mà em tiếp thu được trong quá trình học tập trên lớp
+Bản thân chưa có cách học phù hợp
+ Kiến thức học tập nhiều quá mức cần thiết
+ Bản thân quá thụ động không tích cực trong học tập
272
88
66
56,66% 18,33 % 13,75%
HS tham gia học thêm các lớp học phụ đạo nhằm cho chắc kiến thức, lấp đầy lỗ hổng, theo kịp chương trình
học
294 61,2%
Em thường học dưới hình thức nào chủ yếu
+ Học có hướng dẫn trực tiếp ( có GV, PH hướng dẫn)
+ Học có hướng dẫn gián tiếp ( tài liệu từ GV)
Trang 34Tự học là “ tự tìm tòi, học hỏi kiến thức từ các nguồn kiến thức khác nhau để bổ sung tri thức” 460 95,8% Thời gian dành cho tự học
+ Phụ thuộc vào lượng bài tập
+ Thời gian học không ổn định
Lý do bản thân HS phải tự phát triển năng lực tự học
+ Giúp bản thân hiểu bài trên lớp sâu sắc hơn
+ Giúp bản thân nhớ bài lâu hơn
+ Kích thích hứng thú tìm tòi nâng cao mở rộng kiến thức
+ tập và trải nghiệm thói quen tự học, tự nghiên cứu suốt đời
+ Tài liệu tham khảo, sách tham khảo (mượn ở thư viện, tìm mua trên thị trường, …)
+ Tài liệu hướng dẫn do giáo viên biên soạn, photo
144
200
30,0% 41,66%
Trang 35+ Tư liệu internet (các thông tin tìm kiếm được trên mạng từ các trang web như google.com, violet.vn,
facebook.com …)
122 25,41%
Nếu có một bộ tài liệu “TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN” thì các các nội dung em mong muốncần thiết là:
+ Có hướng dẫn cụ thể, chi tiết để học chi tiết để học sinh TH
+ Tóm tắt lý thuyết SGK
+ Có nhiều bài tập từ cơ bản đến nâng cao
+ Hình thức bài tập đa dạng
+ Có đề kiểm tra cho HS tự đánh giá
+ Có đáp án, đáp số, hướng dẫn giải bài tập
452 94,16%
Trang 36Cũng vì lí do đó mà số đông HS tham gia học thêm các lớp học phụ đạo nhằm cho chắc kiến thức, lấp đầy lỗ hổng, theo kịp chương trình học (61,2%) Xét mặt tích cực qua đây ta thấy HS muốn mình được hoàn thiện hơn về mặt tri thức, có hứng thú học và vượt qua các bài kiểm tra, bài thi với kết quả cao Xét mặt tiêu cực học thêm tốn một thời gian khá nhiều với học sinh (trung bình mỗi ca học thêm kéo dài từ 90 phút đến 120 phút) còn chưa kể có những em học một ngày vài ca Chính
vì thế nên nó giảm thời gian tự học của HS, đồng thời HS không có thời gian ôn tập lại những gì đã học, và với lượng kiến thức học quá nhiều trong 1 ngày HS trở lên thụ động không biết lựa chọn kiến thức nào để ôn tập lại
Theo thống kê từ đánh giá của HS thì phần lớn HS đã biết đến thuật ngữ tự học ( 97%) Ở những HS khá, giỏi và thường là HS lớp 12 thì đánh giá là có NLTH (51,7%) Tuy nhiên lại 1 lượng không nhỏ HS không xác định được mình có NLTH hay không (32,9%) Điều này có thể do các em chưa được rèn luyện nhiều về khả năng TH nên chưa đáng giá được năng lực của mình Mặc dù vậy HS đều cho rằng
tự học là “ tự tìm tòi, học hỏi kiến thức từ các nguồn kiến thức khác nhau để bổ sung tri thức” (95,8%) Thời gian dành cho TH ở HS cũng không giống nhau, phần lớn phụ thuộc vào lượng bài tập (32,9%) hoặc thời gian học không ổn định (18,33%)
Thực trạng cho thấy ở trường THPT HS học tập chủ yếu dưới hình thức là GV hướng dẫn trực tiếp và học từ tài liệu do GV biên soạn ( chủ yếu là bài tập) nên chưa phát huy cao được năng lực TH của HS vì vậy đa phần HS đều mong muốn có thêm tài liệu tự học có hướng dẫn với nội dung chi tiết, bài tập đa dạng … để hỗ trợ các em chủ động chiếm lĩnh tri thức
Kết quả điều tra từ giáo viên
Trang 37STT Nội dung điều tra Số GV
2 Khả năng TH môn Hóa học của HS chỉ phù hợp với trình độ HS
4 Tác dụng của rèn luyện NLTH của HS THPT:
+ Giúp HS hiểu và nhớ bài lâu hơn
+ Phát huy tính tích cực, tự lập của HS
+ Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức
+ Mở rộng và nâng cao kiến thức
+ Tập thói quen tự học, tự nghiên cứu suốt đời
Bảng 1.3 Kết quả điều tra GV về những vấn đề liên quan đến
NLTH của HS
Trang 385 Công cụ GV đã dùng để đánh giá NLTH của HS
+ Bảng kiểm quan sát của GV để đánh các hoạt động trên lớp của HS
+ Bài kiểm tra sau tiết học
51,2 88,4
Bảng 1.4 Đánh giá mức độ biểu hiện NLTH của HS
(Mức độ biểu hiện tăng dần từ 0 – 3)
3 So sánh đối chiếu được kết quả học tập từ đó tự đánh giá, nhận thức bản thân 0 16,3 44,2 39,5
Trang 395 Biết cách tìm kiếm, khai thác và chế biến thông tin từ nhiều nguồn khác nhau 0 0 34,9 65,1
Bảng 1.5 Những biện pháp phát triển NLTH Hóa học cho HS THPT
(Mức độ tăng từ 0 đến 3: chưa thực hiện, thỉnh thoảng, thường xuyên, rất thường xuyên)
1 Thông báo trước nội dung cần học cho HS và yêu cầu HS chuẩn bị ở nhà 0 7 20,9 72,1
3 Chuẩn bị bài tập đã được hệ thống từng bài (hoặc từng chương cho HS) 0 4,6 81,4 14,0
5 Hướng dẫn và rèn luyện cho các em kĩ năng lập dàn bài, lập đề cương 0 67,4 30,2 2,4
Trang 40Nhận xét: Qua thực tế điều tra cho thấy, đa số GV điều thấy việc phát triển NLTH
cho HS là rất cần thiết (81,4%) và phù hợp với đối tượng HS trung bình, khá trở lên (74,4%) Việc rèn luyện kĩ năng TH sẽ giúp HS phát huy được tính tích cực tự lập của HS (88,4%), nhiều GV cho rằng việc này giúp HS tập thói quen TH, tự nghiên cứu suốt đời (76,7%) và giúp HS hiểu, nhớ bài lâu hơn (62,8%) Tuy nhiên, khả năng TH Hóa học của đại đa số HS THPT chưa tốt (100%) Do đó, việc phát triển NLTH cho HS là cần thiết
Theo đại đa số GV thì biểu hiện cao nhất của NLTH là xác định được mục tiêu, nhiệm vụ học tập (56,6%); lên kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập đó (65,1%); tự rút kinh nghiệm, tự điều chỉnh, bổ sung (41,9%); biết cách tìm kiếm, khai thác và chế biến thông tin từ các nguồn khác nhau (65,1%)
Để phát triển NLTH cho HS, GV đã sử dụng rất nhiều biện pháp khác nhau Trong đó, việc thông báo trước nội dung cần học cho HS và yêu cầu HS chuẩn bị ở nhà được GV sử dụng rất thường xuyên (72,1%); Bên cạnh đó, GV cũng thường xuyên đưa ra một số câu hỏi về bài mới để HS soạn trước ở nhà (55,8%) hay GV chuẩn bị bài tập đã được hệ thống từng bài (hoặc từng chương cho HS) (81,4%)
Còn những giải pháp còn lại như tổ chức theo định hướng mô hình THM, hướng dẫn HS lập kế hoạch TH ở nhà, hướng dẫn và rèn luyện cho các em kĩ năng lập dàn bài, lập đề cương, hướng dẫn HS cách tự làm việc theo nhóm (trao đổi, chia
sẻ thông tin) được ít GV sử dụng vì nhiều lí do khác nhau như: lớp học còn quá đông, chương trình học nặng nề, tốn quá nhiều thời gian,…