1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng anh

228 274 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các thuật ngữ KHHS tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh, một mặt góp phần củng cố chặt chẽ lý luận KHHS, mặt khác thúc đẩy và nâng cao hiệu quả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

**************************

KHỔNG MINH HOÀNG VIỆT

THUẬT NGỮ KHOA HỌC HÌNH SỰ TIẾNG VIỆT

VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG DỊCH THUẬT CỦA CHÚNG

TRONG TIẾNG ANH

LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

**************************

KHỔNG MINH HOÀNG VIỆT

THUẬT NGỮ KHOA HỌC HÌNH SỰ TIẾNG VIỆT

VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG DỊCH THUẬT CỦA CHÚNG

TRONG TIẾNG ANH

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các vấn

đề được nghiên cứu, phân tích, mô tả và tổng kết trong luận án này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Khổng Minh Hoàng Việt

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hồng Cổn và GS.TS Nguyễn Xuân Yêm - những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận án này Trong suốt quá trình nghiên cứu, các thầy đã tạo mọi điều kiện, trợ giúp và động viên tôi rất nhiều Sự hiểu biết sâu sắc về khoa học cũng như những kinh nghiệm của các thầy chính là tiền đề giúp tôi đạt được những thành tựu và học hỏi những kinh nghiệm quý báu

Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, tôi cũng đã nhận được nhiều

sự giúp đỡ của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, cán bộ giảng viên, chuyên viên của Khoa Ngôn ngữ học, Khoa sau Đại học và các phòng, ban chức năng của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó

Nhân dịp này tôi cũng xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô, các anh chị em đồng nghiệp của tôi đang công tác tại Khoa Ngoại ngữ, Học viện Cảnh sát Nhân dân đã luôn tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án

Lời sau cùng, xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những người bạn, người thân trong gia đình Tôi đặc biệt cảm ơn bố tôi, người đã thổi hồn

và là nguồn cảm hứng cho tôi hoàn thành tốt luận án

Xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu này

Tác giả luận án

Khổng Minh Hoàng Việt

Trang 5

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

2.1 Đối tượng nghiên cứu 9

2.2 Phạm vi nghiên cứu 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

3.1 Mục đích nghiên cứu 9

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu 10

4.1 Phương pháp nghiên cứu 10

4.2 Tư liệu nghiên cứu 11

5 Đóng góp của luận án 11

6 Bố cục của luận án 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌ NH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 13

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ 13

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ khoa học hình sự 17

1.2 Một số cơ sở lý luận về thuật ngữ 19

1.2.1 Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ 19

1.2.2 Khái niệm thuật ngữ 23

1.2.3 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị liên quan 27

1.2.4 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ 31

1.3 Về khoa học hình sự và thuâ ̣t ngữ khoa ho ̣c hình sự 38

1.3.1 Về khoa học hình sự 38

1.3.2 Về thuật ngữ khoa học hình sự 45

Trang 6

2

1.4 Dịch thuâ ̣t và vấn đề chuyển dịch thuật ngữ 48

1.4.1 Khái niệm dịch thuật 48

1.4.2 Khái niệm tương đương di ̣ch thuật 51

1.4.3 Các kiểu tương đương dịch thuật 55

1.4.4 Một số phương pháp dịch thuật 56

1.4.5 Chuyển di ̣ch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Viê ̣t sang tiếng Anh 58

1.5 Tiểu kết 60

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬ T NGỮ KHOA HỌC HÌ NH SỰ TIẾNG VIỆT 61

2.1 Con đường và phương thức hình thành thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 61

2.1.1 Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường 62

2.1.2 Vay mượn thuật ngữ nước ngoài 67

2.1.3 Cấu tạo thuật ngữ mới qua phương thức ghép lai 72

2.2 Đặc điểm nguồn gốc của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 74

2.2.1 Thuật ngữ khoa học hình sự thuần Viê ̣t 74

2.2.2 Thuật ngữ khoa học hình sự Hán Viê ̣t 74

2.2.3 Thuật ngữ khoa học hình sự có nguồn gốc Ấn Âu 76

2.2.4 Thuật ngữ khoa học hình sự có nguồn gốc ghép lai 76

2.3 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 77

2.3.1 Thuật ngữ khoa học hình sự là từ 78

2.3.2 Thuật ngữ khoa học hình sự là ngữ 81

2.4 Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 87

2.4.1 Khái niệm định danh 87

2.4.2 Các tiểu loại thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 89

2.4.3 Các kiểu định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 94

2.4.4 Nhận xét về kiểu định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt 108 2.5 Tiểu kết 109

Trang 7

3

CHƯƠNG 3 TƯƠNG ĐƯƠNG VÀ CÁC THỦ PHÁP DI ̣CH THUẬT NGỮ

KHOA HỌC HÌNH SỰ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG ANH 111

3.1 Tương đương chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự Việt - Anh 111

3.1.1 Tương đương dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh xét về phương diện cấu tạo 113

3.1.2 Tương đương dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh xét về phương diện nội dung 121

3.2 Các thủ pháp chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh 124

3.2.1 Thủ pháp Trực dịch 125

3.2.2 Thủ pháp Sao phỏng (hay còn gọi là thủ pháp Calques) 128

3.2.3 Thủ pháp Dịch vay mượn 131

3.2.4 Thủ pháp Dịch chuyển loại 132

3.2.5 Thủ pháp Dịch nghĩa 135

3.3 Nhận xét 138

3.4 Tiểu kết 140

KẾT LUẬN 142

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147

TÀI LIỆU THAM KHẢO 148

PHỤ LỤC 158

Trang 8

4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thuật ngữ thuộc 05 bộ phận chuyên môn của khoa học hình sự 93

Bảng 2.2 Các kiểu định danh của thuật ngữ khoa học hình sự 106

Bảng 3.1 Tương đương 1:1 Việt - Anh (danh từ - danh từ) 125

Bảng 3.2 Tương đương 1:1 Việt - Anh (động từ - động từ) 126

Bảng 3.3 Tương đương 1:1 Việt - Anh (tính từ - tính từ) 126

Bảng 3.4 Tương đương 1:1 Việt - Anh (danh ngữ - danh ngữ) 126

Bảng 3.5 Tương đương 1:1 Việt - Anh (động ngữ - động ngữ) 127

Bảng 3.6 Tương đương 1:nhiều Việt - Anh 127

Bảng 3.7 Tương đương nhiều:1 Việt - Anh 128

Bảng 3.8 Tương đương nhiều:nhiều Việt - Anh 128

Bảng 3.9 Tương đương Việt - Anh (từ phái sinh) 129

Bảng 3.10 Tương đương Việt - Anh: từ ghép 129

Bảng 3.11 Tương đương Việt - Anh: ngữ 130

Bảng 3.12 Tương đương Việt - Anh: ngữ 131

Bảng 3.13 Tương đương Việt - Anh: từ ghép tương đương từ đơn 132

Bảng 3.14 Tương đương Việt - Anh: từ ghép tương đương từ phái sinh 133

Bảng 3.15 Tương đương Việt - Anh: ngữ tương đương từ đơn 133

Bảng 3.16 Tương đương Việt - Anh: ngữ tương đương từ phái sinh 134

Bảng 3.17 Tương đương Việt - Anh: ngữ tương đương từ ghép 134

Bảng 3.18 Tương đương Việt - Anh: danh ngữ tương đương từ đơn 135

Bảng 3.19 Tương đương Việt - Anh: danh ngữ tương đương từ ghép 135

Bảng 3.20 Tương đương Việt - Anh: danh ngữ tương đương danh ngữ 136

Bảng 3.21 Tương đương Việt - Anh: động ngữ tương đương từ đơn 136

Bảng 3.22 Tương đương Việt - Anh: động ngữ tương đương từ ghép 136

Bảng 3.23 Tương đương Việt - Anh: động ngữ tương đương ngữ 137

Bảng 3.24 Tương đương 1:nhiều Việt - Anh 137

Bảng 3.25 Tương đương nhiều:1 Việt - Anh 137

Bảng 3.26 Tương đương nhiều:nhiều Việt - Anh 137

Trang 9

5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Mô hình KHHS Xô Viết 43 Hình 2 Mô hình KHHS xã hội chủ nghĩa (Đức) 44

Trang 11

tế, lừa đảo quốc tế, tội phạm công nghệ cao, cướp biển

Văn kiện Đại hội Đảng X đã khẳng định “các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng phát triển” đã và đang đe dọa nghiêm trọng tới sự ổn định của thế giới, khu vực và Việt Nam Vì vậy, để giữ gìn trật tự an toàn xã hội thì hoạt động phòng ngừa và đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự đang là vấn đề cấp bách đặt ra đối với lực lượng công an nhân dân, trong đó khoa học hình sự (KHHS) đóng một vai trò then chốt, là vũ khí đấu tranh với các loại tội phạm hình sự Cùng với sự phát triển của ngành KHHS, thuật ngữ KHHS cũng không ngừng phát triển Thuật ngữ là một bộ phận rất quan trọng trong từ vựng của mỗi ngôn ngữ Trong hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ hiện đại và có trình

độ phát triển cao, thuật ngữ chiếm một tỷ lệ đáng kể, là bộ phận phát triển nhất và có một vai trò hết sức to lớn trong quá trình phát triển ngôn ngữ của các nước Thuật ngữ đóng vai trò là một công cụ của sự tiến bộ văn hóa của loài người, là phương tiện để phát triển khoa học kỹ thuật Mỗi một ngành khoa học khác nhau muốn phát triển đòi hỏi phải có một hệ thống thuật ngữ chặt chẽ phản ánh hệ thống khái niệm riêng mang tính chất đặc thù của ngành

đó để làm phương tiện nghiên cứu, giáo dục và trao đổi thông tin Đối với

Trang 12

8

thuật ngữ KHHS tiếng Việt, do được hình thành từ nhiều con đường khác nhau nên chúng rất đa dạng và phức tạp Việc nghiên cứu các thuật ngữ KHHS tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh, một mặt góp phần củng cố chặt chẽ lý luận KHHS, mặt khác thúc đẩy và nâng cao hiệu quả thực tiễn của việc áp dụng KHHS đối với công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự trong thời kỳ hội nhập quốc tế Chính vì vậy,

đề tài này vừa có tính cấp thiết, vừa có tính ứng dụng thực tiễn

Ở Việt Nam, KHHS đã trở thành một ngành khoa học trong hệ thống các ngành khoa học KHHS đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị và giữ gìn trật tự an toàn xã hội Trong quá trình phát triển của lực lượng Công an nhân dân, do nhu cầu đào tạo cán bộ ngành công an, một số cuốn từ điển thuật ngữ nghiệp vụ công an nhân dân đã được biên soạn như cuốn “Từ điể n nghiệp vụ phổ thông” của Viện nghiên cứu khoa học công an, năn 1977; cuốn “Từ điển Bách khoa công an nhân dân Việt Nam” của Nhà xuất bản (Nxb) Công an nhân dân, năm 2005 Các cuốn từ điển này phần nào có tác dụng từng bước chuẩn hóa thuật ngữ công an nói chung và KHHS nói riêng Bên cạnh đó, các giáo trình chính thống và chương trình đào tạo ở các trường đại học thuộc Bộ Công an cũng đưa ra các khái niệm thuật ngữ nghiệp vụ công an nhân dân nói chung và thuật ngữ KHHS nói riêng, góp phần cho công tác nghiên cứu thuật ngữ về mặt lý luận Tuy nhiên, chưa có một cuốn từ điển nào được biên soạn riêng cho thuật ngữ KHHS tiếng Việt cũng như song ngữ Việt - Anh Hơn nữa, thuật ngữ KHHS được xây dựng trong từ điển là kế thừa từ các nhà lý luận KHHS của Cộng hòa dân chủ Đức và Liên Xô cũ Các tài liệu lý luận về thuật ngữ KHHS dành cho công tác nghiên cứu, đào tạo và giảng dạy trong các trường Công an nhân dân còn hạn chế, thiếu sự thống nhất thậm chí nhiều tài liệu đã lạc hậu Nhiều vấn đề thuộc về lý luận của thuật ngữ KHHS chưa được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm như: lý luận thuật ngữ truy nguyên hình sự, lý luận về thuật ngữ chứng cứ, dấu vết hình sự, giả thuyết điều

Trang 13

9

tra… Nhiều thuật ngữ chưa có tương đương trong tiếng Anh Nhiều thuật ngữ đa nghĩa, đồng nghĩa, chưa bảo đảm được tính chính xác, tính hệ thống Những vấn

đề trên đây cho thấy những khó khăn đối với giáo viên khi giảng dạy, các học viên

sử dụng tài liệu khoa học, sách giáo khoa khi tra cứu cũng như công tác dịch tài liệu chuyên ngành Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh” là vô cùng cần thiết, nhằm góp phần xây dựng, chuẩn hóa thuật ngữ KHHS tiếng Việt và xác lập các tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh, từ đó, góp phần giúp cho cán bộ lực lượng công an nhân dân Việt Nam hội nhập quốc tế trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; cũng như giảng viên và học viên trong các trường công an nhân dân áp dụng vào giảng dạy, học tập, nghiên cứu, tra cứu tài liệu, đọc và dịch tài liệu chuyên ngành khoa học hình sự

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các thuật ngữ KHHS tiếng Việt và cách chuyển dịch tương đương các thuật ngữ này sang tiếng Anh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các thuâ ̣t ngữ KHHS tiếng Việt trong bộ sách 05 tập Khoa học hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2013; trong cuốn Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, năm 2005; các văn bản, tài liệu, giáo trình, từ điển, có liên quan đến KHHS trong lực lượng công an nhân dân Việt Nam, cũng như trong các bộ luật hình sự, bộ luật

tố tụng hình sự Việt Nam, đã được chuyển di ̣ch tương đương sang tiếng Anh

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là góp phần xây dựng hệ thống thuật ngữ KHHS tiếng Việt và xác lập các tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh

Trang 14

10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan tình hình nghiên c ứu về thuật ngữ, khái niệm và đặc điểm của thuật ngữ, khái niệm thuật ngữ KHHS, đặc biệt là rà soát xác lâ ̣p hê ̣ thống thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt, qua đó xác lập cơ sở ngữ liệu và lý luận cho đề tài nghiên cứu

- Phân tích con đư ờng hình thành, cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ KHHS tiếng Việt

- Tìm hiểu lý luâ ̣n d ịch thuật và cách d ịch thuật ngữ cũng như th ực tế việc chuyển dịch thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh

- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, chúng tôi xác lập các tương đương chuyển dịch thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh

4 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

4.1 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi áp dụng tổng hợp các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:

- Phương pháp điều tra thu thập ngữ liệu: Đây là phương pháp mà luận

án sử dụng để điều tra nghiên cứu, phân tích, thu thập và chọn lựa các thuật ngữ KHHS xuất hiện ở các tài liệu như từ điển, giáo trình chuyên ngành, sách, báo, tạp chí chuyên ngành

- Phương pháp mô tả: luận án sử dụng phương pháp này để miêu tả đặc điểm nguồn gốc, cấu tạo, đặc điểm định danh, cũng như con đường hình thành thuật ngữ KHHS tiếng Việt

- Phương pháp so sánh đối chiếu: đây là phương pháp được áp dụng để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ tiếng Việt và tiếng Anh trong lĩnh vực KHHS về các phương diện như cấu tạo, đặc điểm định danh và ngữ nghĩa

- Phương pháp đối chiếu chuyển dịch: phương pháp này được sử dụng để đối chiếu thuật ngữ KHHS Việt - Anh Từ đó tìm ra được đơn vị tương đương

Trang 15

11

và đơn vị không tương đương, cũng như các điểm tương đồng và dị biệt giữa hai hệ thuật ngữ để làm cơ sở cho việc chuyển dịch thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh đảm bảo chính xác, khoa học

- Thủ pháp thống kê được sử dụng trong đề tài nhằm thu thập những thông tin mang tính định lượng như việc thống kê số lượng thuật ngữ KHHS tiếng Việt theo cấu trúc và ngữ nghĩa Kết quả thống kê được liệt kê theo tỷ lệ phần trăm hoặc tổng hợp thành các bảng biểu

4.2 Tư liệu nghiên cứu

Để có tư liệu nghiên cứu hệ thống thuật ngữ KHHS tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh, chúng tôi dựa chủ yếu vào cuốn Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam của Viện chiến lược và khoa học Công an, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2005; bộ sách Khoa học hình sự Việt Nam của Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân, Bộ Công an biên soạn, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 2013, gồm 5 tập: Tập 1: Lý luận chung của Khoa học hình sự; Tập 2: Kỹ thuật hình sự; Tập 3: Chiến thuật hình sự; Tập 4: Phương pháp hình sự; Tập 5: Tâm lý học hình sự Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo một số tài liệu tiếng Anh như: cuốn Webster‟s New World - Law Dictionary của Susan Ellis Wild, Legal Editor, Nhà xuất bản Wiley Publishing, Inc., năm 2006; cuốn Dictionay of Legal Terms - A Simplified Guide to the Language of Law (Third Edition) của Steven

H Gifis, Nhà xuất bản Barron‟s Educational Series, Inc., năm 1998; cuốn Law Dictionary của W.J Stewart & Robert Burgess, Nhà xuất bản Harper Collins Publishers, Inc., năm 2002; và một số tạp chí chuyên môn như: Tạp chí Cảnh sát nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân; Tạp chí Cảnh sát phòng chống tội phạm, Cục Tham mưu Cảnh sát, Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an

Trang 16

12

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc xây dựng, chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ KHHS tiếng Việt và nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học môn tiếng Anh chuyên ngành tại các trường Công an nhân dân

Luận án cũng là tài liệu hữu ích để tiến tới việc biên soạn từ điển thuật ngữ KHHS Việt - Anh trong tương lai

6 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luâ ̣n

Trong chương này, chúng tôi tìm hiểu tình hình nghiên cứu chung về thuật ngữ, khái niệm và đặc điểm của thuật ngữ Trên cơ sở đó, khái niệm thuật ngữ KHHS, đặc điểm định danh của thuật ngữ KHHS được đưa ra Chúng tôi cũng nghiên cứu về di ̣ch thuâ ̣t và vấn đề tương đương di ̣ch thuâ ̣t thuâ ̣t ngữ, từ đó, xác

đi ̣nh các cách chuyển di ̣ch thuâ ̣t ngữ KHHS tiếng Viê ̣t sang tiếng Anh

Chương 2: Đặc điểm của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

Ở đây, đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của thuật ngữ KHHS tiếng Việt được xem xét và phân tích Về mặt cấu tạo, luận án tìm hiểu các phương thức

và hình thức cấu tạo của các thuật ngữ KHHS tiếng Việt Về mặt định danh, luận

án khảo sát các kiểu định danh của thuâ ̣t ngữ KHHS tiếng Việt dựa trên 05 tiểu loại cấu thành nhằm phu ̣c vụ cho cách chuyển dịch thuật ngữ KHHS Viê ̣t-Anh Chương 3: Các thủ pháp và các tương đương chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh

Trong chương này, chúng tôi sẽ khảo sát các thủ pháp chuyển dịch thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra cách chuyển dịch tương đương các thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh theo kết quả đối chiếu, phân tích

Cuối cùng là tài liê ̣u tham khảo và phu ̣ lu ̣c

Trang 17

13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ

Nghiên cứu thuật ngữ là vấn đề không mới trong nghiên cứu ngôn ngữ nói

chung Trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu

khác nhau về thuật ngữ Việc nghiên cứu thuật ngữ cơ bản được thực hiện theo

các hướng như lý luận về thuật ngữ, cấu tạo thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ

Có thể kể đến một số tác giả tiên phong như Carl von Linné (1736);

Beckmann (1780), từ thế kỷ 18, đã bắt đầu những hoạt động nghiên cứu thuật

ngữ như việc xây dựng và tạo lập thuật ngữ Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 20

việc nghiên cứu thuật ngữ thực sự phát triển mạnh mẽ và rõ nét Tính từ thập

niên 1930, các học giả Âu-Mỹ như Đức, Áo, Mỹ và Liên Xô cũ đã cho ra đời

nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ Cụ thể, người đứng đầu trung tâm

nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Áo (trước chiến tranh thế giới lần thứ

hai, trung tâm này đóng ở Đức) - È Vjuster đã có những đóng góp to lớn

trong việc soạn thảo bản chỉ dẫn biên soạn các cuốn từ điển thuật ngữ quốc tế,

chỉ dẫn về sự phối hợp công tác thuật ngữ học trên toàn thế giới, khởi thảo ra

vấn đề chỉnh lý các hệ thống thuật ngữ dựa trên các nguyên tắc thuật ngữ học

và từ điển học Bên cạnh đó, các học giả như E Wuster (Đức), J.C Boulanger

(Anh), R.W Brown (Mỹ), W.E Flood (Mỹ), J.C Segen (Mỹ) ngoài việc định

nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, còn có xu

hướng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ

Trong khi ở Áo, các nhà nghiên cứu thuật ngữ quan tâm đến cách xử lý dữ

liê ̣u thuâ ̣t ngữ, thì các nhà khoa học Liên bang Xô Viết từ những năm 1930 đến

1960 đã đưa ra những quan điểm về thuâ ̣t ngữ Đây là thời kỳ mà các lý thuyết và

những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học trên cơ sở đào tạo kỹ thuật của hai

chuyên gia D.S Lotte và E.K Drezen ra đời, góp phần to lớn vào hoạt động thực

Trang 18

rõ chủ thể và khách thể của thuật ngữ học Trong giai đoạn này, ở Cộng hòa Liên bang Xô Viết có hàng chục chuyên khảo nghiên cứu về thuật ngữ học được công

bố, hơn 100 luận án tiến sỹ về thuật ngữ học được bảo vệ và trên 20 tập các bài báo được xuất bản Bên cạnh đó, còn có hàng nghìn cuốn từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ học, từ điển thuật ngữ kỹ thuật tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ và từ điển chuyên ngành được biên soạn Thời kỳ này phải kể đến

sự đóng góp của các nhà khoa học như L.I Borisova, L.N Beljaeva, A.S Gerd, B.N Golovin, S.V Grinev, A.V Superanskaja, T.L Kandenlaki, R.J Kobrin, Z.I Komarova, O.N Trbachev, N.V Vasilieva, v.v Vào thập niên cuối cùng của thế

kỷ XX, thời kỳ này việc nghiên cứu thuật ngữ được thực hiện trong bối cảnh sau khi Liên Xô sụp đổ với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và khoa học [49, tr 13-14]

Ở Việt Nam, thuâ ̣t ngữ xuất hiê ̣n muô ̣n hơn so với các nước phương Tây Phải đến đầu thế kỷ XX, viê ̣c hình thành và xây dựng thuâ ̣t ngữ mới được chú ý nghiên cứu Trên báo Nam Phong đã có các ý kiến bàn ba ̣c về danh từ khoa ho ̣c Đầu tiên là Dương Quảng Hàm (1919) ông đề cập đến việc vay mượn thuật ngữ nước ngoài với chủ trương “nên mượn chữ nho” (tức chữ Hán) vì “về triết học, khoa ho ̣c, kỹ nghệ Tàu dịch đúng và gần đủ, tiếng Tàu đồng chủng với tiếng ta”

Từ những năm 30 của thế kỷ XX, Khoa ho ̣c ta ̣p chí (1931- 1933) đã có những đóng góp đáng kể về viê ̣c xây dựng thuâ ̣t ngữ khoa kỹ thuâ ̣t với

Trang 19

15

khuynh hướng chủ yếu là tiếp nhâ ̣n dưới da ̣ng phiên âm mô ̣t số ít thuâ ̣t ngữ của tiếng Hán và tiếng Pháp Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thi ̣nh (1932) lại hoàn toàn không tán thành quan điểm dùng chữ Hán để đă ̣t thuâ ̣t ngữ hóa ho ̣c Ông chủ trương “mượn tiếng Latin hay Hi Lạp như các tiếng trong thế giới mà phiên

âm ra”, không mượn tiếng Pháp, vì tiếng Pháp cũng mượn tiếng Latin hay Hi Lạp, ta nên đi tới cô ̣i nguồn phải tốt hơn” [Dẫn theo 21] Đến thâ ̣p niên 40, có thể coi Hoàng Xuân Hãn (1942) là người tiên phong trong việc xây dựng một hệ thống thuâ ̣t ngữ khoa ho ̣c về những khái niê ̣m trong toán ho ̣c, vâ ̣t lý, hóa học, cơ học và thiên văn học dựa trên cơ sở tiếng Pháp “Cuốn Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn không chỉ cung cấp tư liệu từ ngữ mới, tri thức mới mà cả phương pháp, cách thức sáng tạo thuật ngữ tiếng Việt hiện đại Đóng góp lớn của công trình này không chỉ ở vốn thuật ngữ một số ngành khoa học cơ bản lần đầu được xây dựng cấu tạo mà còn là lí luận về hệ thuật ngữ, về nguyên tắc và phương pháp xây dựng hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại” [65, tr 190]

Do điều kiện lịch sử và xã hội, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề thuật ngữ mới thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam Năm 1960, Ban Sử Địa Văn (tiền thân của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành

“Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” Hàng loạt các hội nghị, hội thảo bàn về vấn đề thuật ngữ (Hội nghị bàn về vấn

đề xây dựng thuật ngữ khoa học, 28 - 29/12/1964; Hội nghị trưng cầu ý kiến

về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học tháng 5/1965) Một Hội đồng Thuật ngữ -

Từ điển khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời Vào tháng 6/1966, Ủy ban Khoa học Nhà nước đã công bố áp dụng tạm thời bản “Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt” Những năm 90 của thế kỉ XX về sau, một số bài viết, công trình nghiên cứu về cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt ra đời như: Vấn đề phương thức cấu tạo thuật ngữ trong một số công trình xuất bản tại Việt Nam thời kì 1954 - 1975 Cũng từ đây, nhiều sản

Trang 20

Đến thế kỷ XXI, con đường phát triển của tiếng Việt đã được chỉ rõ, con đường hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng được xác định Các vấn đề lý luận về thuật ngữ như việc xây dựng thuật ngữ, vấn đề định danh ngôn ngữ, việc vay mượn thuật ngữ nước ngoài, việc áp dụng lý thuyết điển mẫu và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt được tập trung nghiên cứu Những vấn đề lý luận và phương pháp luận để biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ cũng được bàn luận Cụ thể,

đã có những công trình bàn về những vấn đề trên như “Sự phát triển từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX” năm 2009, và “Thuật ngữ học - những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2012, do Hà Quang Năng làm chủ biên; “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” năm 2011, do Vũ Kim Bảng và Nguyễn Đức Tồn làm đồng chủ nhiệm Bên ca ̣nh những công trình nghiên cứu , bài viết về thuâ ̣t ngữ, cũng có nhiều cuốn từ điển thuật ngữ ra đời Chu Bích Thu (2001) đã thống kê có 118 cuốn từ điển song ngữ, trong đó có tới 55 cuốn từ điển đối di ̣ch thuâ ̣t ngữ, ví dụ như: “Danh từ sinh vật học Nga - Việt” (1963); “Danh từ toán học Anh - Việt” (1960); “Danh từ Y dược Pháp - Việt” (1964); “Thuật ngữ tâm

lý và giáo dục học Nga - Pháp - Việt” (1967); “Thuật ngữ ngôn ngữ học Nga - Việt” (1970); “Thuật ngữ văn học - mỹ học Nga - Pháp - Việt” (1970); “Từ điển

Y học Anh-Việt” của Lâm Phương Thảo (2003); “Từ điển Y dược Pháp - Việt” của Bộ Y tế (1976); “Từ điển Thuật ngữ khoa học kỹ thuật giao thông vận tải Anh-Việt” của nhiều tác giả (2001), “Từ điển Kỹ thuật xây dựng Anh - Việt” của Nguyễn Văn Bình (1994) Bên cạnh đó còn có “Từ điển Pháp-Việt, Việt-Pháp, Chính-Kinh-Tài-Xã hội” của Vũ Văn Mẫu (1970) và cuốn “Danh từ pháp luật lược giải” của Trần Thúc Linh (1974)

Trang 21

17

Từ năm 1991 đến 2015, đã có nhiều luâ ̣n án tiến sỹ nghiên cứu về thuâ ̣t

ngữ được bảo vê ̣ thành công, cụ thể như: Vũ Quang Hào (1991), Hê ̣ thuật ngữ

Quân sự tiếng Viê ̣t: Đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ ; Nguyễn Thi ̣ Bích Hà

(2000), So sánh cách cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật

và tiếng Việt hiện đại ; Nguyễn Thi ̣ Kim Thanh (2005), Khảo sát hệ thuật ngữ tin học - viễn thông tiếng Viê ̣t ; Vương Thi ̣ Thu Minh (2005), Khảo sát thuật

(2012), Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa luật sở hữu trí tuệ tiếng Việt; Ngô Phi Hùng (2013), Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ khoa học tự

nhiên tiếng Việt (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học - Vật lí); Quách

Thị Gấm (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Viê ̣t ; Lê Thanh Hà

(2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh

Như vâ ̣y, thuâ ̣t ngữ đã từng bước được quan tâm nghiên cứu Hê ̣ thống thuâ ̣t ngữ ngày càng phát triển với những khái niê ̣m , tên go ̣i đến hê ̣ thống tri thức trong mô ̣t ngành khoa ho ̣c nhất đi ̣nh

1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ khoa học hình sự

KHHS bao gồm nhiều lĩnh vực và có liên quan đến các ngành khoa học khác như tự nhiên, xã hội, tâm lý Do đó, thuật ngữ KHHS cũng rất đa dạng, phong phú và phức tạp Việc nghiên cứu thuật ngữ KHHS tuy đã được quan tâm, song vẫn chưa có nhiều công trình bao quát tổng thể Về từ điển, cho đến nay chúng tôi thấy các thuật ngữ KHHS đã được đưa vào nhiều quyển từ điển như: “Từ điển pháp luật Anh - Việt” của nhóm tác giả Nguyễn Thế Kỳ, Phạm Quốc Toản và Lương Hữu Định (1991); “Từ điển pháp luật Anh - Việt” của

Vũ Trọng Hùng (chủ biên) (1999); “Từ điển luật học” của Nguyễn Đình Lộc (2009); “Từ điển Pháp luật Việt - Anh” của tác giả Vũ Quốc Tuấn (2002) Các cuốn từ điển trên tập trung chủ yếu vào các từ ngữ thuộc các ngành luật như luật hình sự, dân sự, hành chính, cũng như các hoạt động đặc thù của pháp luật như quá trình xét xử và tố tụng Riêng cuốn “Từ điển Bách khoa thư

Trang 22

18

Công an nhân dân Việt Nam” của Viện chiến lược và khoa học công an (2005) tập hợp các thuật ngữ của tất cả các lĩnh vực của ngành công an Đây

là cuốn từ điển giải thích thuật ngữ của các lĩnh vực của ngành công an

Ở phạm vi hẹp hơn, có các công trình: “Từ điển Thuật ngữ về ma túy Anh

- Việt” của tác giả Nguyễn Tường Dũng (2004) tập hợp các thuật ngữ liên quan

đến ma túy - một trong những lĩnh vực chuyên ngành hẹp của KHHS; cuốn từ điển bằng tiếng Anh “Common legal terms you should know” của tác giả Joseph Phạm Xuân Vinh (2011) gồm các thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong các phiên tòa hình sự ở Mỹ

Về nghiên cứu thuật ngữ có liên quan đến KHHS, chúng tôi thấy có luận

án tiến sỹ ngữ văn của tác giả Nguyễn Thị Bích Hường (2014) “Cách dịch thuật ngữ Anh-Việt chuyên ngành cảnh sát” và luận án tiến sỹ ngữ văn của tác giả Nguyễn Quang Hùng (2016) với đề tài: “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa hệ thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt” Luận án của Nguyễn Thị Bích Hường nghiên cứu thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành cảnh sát về nguồn gốc, cấu tạo, ngữ nghĩa và cách sử dụng, khảo sát thực trạng dịch thuật ngữ Anh-Việt chuyên ngành cảnh sát ở Việt Nam hiện nay và đề xuất cách dịch thuật ngữ cảnh sát từ tiếng Anh sang tiếng Việt Luận án của Nguyễn Quang Hùng chỉ nghiên cứu các đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh của hệ thuật ngữ KHHS tiếng Việt

Như vậy cho đến nay, theo hiểu biết của chúng tôi vẫn chưa có một cuốn

từ điển riêng về thuật ngữ KHHS tiếng Việt Còn về việc nghiên cứu thuật ngữ KHHS tiếng Việt, mặc dù 2 tác giả Nguyễn Thị Bích Hường và Nguyễn Quang Hùng đã nghiên cứu ít nhiều, nhưng cả hai đều chưa khảo sát các tương đương dịch thuật của thuật ngữ KHHS tiếng Việt qua tiếng Anh Khác với hai luận án trên, trong luận án này, chúng tôi không chỉ khảo sát đặc điểm của thuật ngữ KHHS tiếng Việt mà cả cách chuyển dịch tương đương các thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh Vì vậy, có thể coi đây là một trong số ít ỏi luận án nghiên cứu về thuật ngữ và chuyển dịch tương đương Việt - Anh nói chung và là

Trang 23

19

luận án đầu tiên nghiên cứu thuật ngữ KHHS tiếng Việt chuyển sang tiếng Anh nói riêng Đây chính là điểm mới và riêng biệt của luận án này

1.2 Một số cơ sở lý luận về thuật ngữ

1.2.1 Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ

Theo quan niệm thông thường, thuật ngữ là một lớp từ vựng chuyên ngành trong vốn từ vựng ngôn ngữ phổ thông Trước hết, thuật ngữ là thành phần chủ yếu của ngôn ngữ khoa học Ngôn ngữ là phương tiê ̣n cơ bản để con người giao tiếp trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hô ̣i Tùy thuô ̣c vào mu ̣c đích giao tiếp khác nhau mà con người lựa cho ̣n các phương tiê ̣n ngôn ngữ sao cho thích hợp Xét ở khía cạnh mục đích và phạm vi sử dụng, chúng ta có thể phân chia ngôn ngữ thành ngôn ngữ toàn dân và ngôn ngữ chuyên du ̣ng (như ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ nghệ thuật) Ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ “được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày , không bi ̣ ha ̣n chế bởi phong cách và pha ̣m vi sử du ̣ng ; ngôn ngữ được mo ̣i người trong quốc gia biết, chấp nhâ ̣n và sử du ̣ng” [86, tr 171] Còn ngôn ngữ chuyên du ̣ng (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ nghệ thuật) “là ngôn ngữ được sử dụng với những mục đích cụ thể khác nhau : dùng trong công việc hằng ngày , dùng cho mục đích nghiên cứu, học tập, dùng để thể hiện những ý tưởng nghê ̣ thuâ ̣t Nó là một bộ phận của ngôn ngữ chung nhưng không phải l à ngôn ngữ toàn dân vì nó có chứa đựng những nội dung chuyên môn mà không phải tất

cả mọi người đều hiểu” [95, tr 16]

Ngôn ngữ khoa ho ̣c , theo IU.V Rozdextvenski (1997) được hiểu là ngôn ngữ “phu ̣c vu ̣ cho quá trình nghiên cứu v à truyền bá tri thức khoa học ,

kỹ thuật, công nghê ̣ của con người để duy trì cuô ̣c sống và phát triển xã hô ̣i , trong đó có vấn đề thuâ ̣t ngữ , từ vựng khoa ho ̣c chung , mối tương quan giữa ngôn ngữ và phong cách trình bày khoa h ọc” [57, tr 369] Thuâ ̣t ngữ “ngôn ngữ khoa ho ̣c” còn có mô ̣t vài cách go ̣i khác như thuâ ̣t ngữ “ngôn ngữ chuyên ngành”, “ngôn ngữ chuyên môn” đều là bô ̣ phâ ̣n của “ngôn ngữ chuyên

Trang 24

20

dụng” Theo M Teresa Cabré (1999) ngôn ngữ chuyên ngà nh được xác đi ̣nh qua 7 tiêu chí sau: 1) Những lĩnh vực chủ đề chuyên môn gồm những lĩnh vực không phải là một bộ phận trong khối kiến thức chung của người nói ; chúng

là đối tượng của một quá trình học t ập cụ thể 2) Người nói có kiến thức chuyên môn là những người sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành , nói cách khác

là các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn , mặc dù ở đây chúng ta có sự phân biệt giữa người sáng tạo và người tiếp nhận trong giao tiếp chuyên

ngành Người sáng tạo ta ̣o ra giao ti ếp chuyên ngành phải có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực chuyên ngành đó mà ho ̣ có được thông qua đào ta ̣o Ngược lại, người tiếp nhận có thể là những chuyên gia hoă ̣c công chúng nói chung, tiếp nhận giao tiếp chuyên ngành một cách thụ động tron g khi thu nhận kiến thức 3) Giao tiếp sử dụng ngôn ngữ chuyên ngành thường mang tính nghi thức và diễn ra trong những tình huống bị chi phối bởi các tiêu chuẩn chuyên môn hoặc tiêu chuẩn khoa học 4) Ngôn ngữ chuyên ngành được miêu tả bởi một số đặc điểm ngôn ngữ (các đơn vị và quy tắc) và những

đă ̣c điểm văn bản (các loại văn bản và tài liệu ) 5) Ngôn ngữ chuyên ngành không phải là tập hợp con đã được cố định về cấu trúc, mà ngôn ngữ chuyên ngành cho phép các biến thể sau đây phụ thuộc vào cách sử dụng và tình huống giao tiếp: a Mức độ trừu xuất, điều này phụ thuộc vào lĩnh vực chủ đề, người nhận thông tin và mu ̣c đích giao tiếp của người gửi thông tin ; b Mục đích giao tiếp sẽ xác đi ̣nh các biến thể trong loa ̣i văn bản ; c Các phương ngữ

đi ̣a lý, lịch sử và xã h ội; d Phong cách cá nhân 6) Ngôn ngữ chuyên ngành

có cùng một số đặc điểm ngôn ngữ và ngữ dụng , điều này cho phép chúng ta xem xét chúng như một tập hợp con của ngôn ngữ chung mà thể hi ện được cấp độ đồng nhất 7) Các ngôn ngữ chuyên ngành là một tập hợp con của ngôn ngữ nói chung Chúng có liên quan đến mục đích chung của ngôn ngữ

và với mục đích này ngôn ngữ chuyên ngành không những có cùng đặc điểm

mà còn duy trì sự trao đổi liên tu ̣c các đơn vi ̣ và ước lê ̣

Trang 25

21

Vâ ̣y, ngôn ngữ khoa ho ̣c, có thể được hiểu là ngôn ngữ dùng trong một lĩnh vực chuyên môn , mô ̣t ngành khoa ho ̣c cu ̣ thể nhằm biểu thi ̣ các khái niê ̣m, kiến thức khoa ho ̣c trong lĩnh vực chuyên ngành [87, tr 65]

Thuật ngữ được xem là bộ phận quan trọng nhất của ngôn ngữ khoa học Đó là ngôn ngữ chuyên dùng trong phạm vi của các ngành khoa học và trong các lĩnh vực chuyên môn Chức năng cơ bản của ngôn ngữ khoa học không chỉ là thông báo các sự kiện mà điều quan trọng là phải giải thích, chứng minh tính chân thực của thông báo nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của chúng với tư cách là cơ sở cho một luận điểm hay một quan niệm lý thuyết

nhất định [13, tr.142] Như vậy, thông báo-chứng minh là chức năng quan

trọng nhất của ngôn ngữ khoa học, trong đó “chứng minh được coi là đặc trưng khu biệt của phong cách khoa học, làm cho nó không giống với các

phong cách khác” [37, tr 57-59] Ngôn ngữ khoa học có vai trò rất quan

trọng đối với cuộc sống của con người, chúng phục vụ cho quá trình nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ của con người để duy trì cuộc sống và phát triển xã hội [54]

Ngôn ngữ khoa ho ̣c có những đă ̣c trưng về từ vựng , ngữ pháp, những

đă ̣c điểm ta ̣o nên sắc thái riêng cho ngôn ngữ khoa ho ̣c và phân biê ̣t nó với ngôn ngữ nghề nghiê ̣p, ngôn ngữ nghê ̣ thuâ ̣t Do đó, ngôn ngữ khoa học có những đặc

điểm nổi bật đã được thừa nhận như là tính trừu tượng-khái quát cao, tính logic

nghiêm ngặt, tính chính xác-khách quan Bên cạnh những đặc trưng nổi bật này,

ngôn ngữ khoa học còn có một số đặc điểm đáng chú ý về mặt phong cách, cú pháp, từ ngữ Cụ thể, ngôn ngữ khoa học thuộc về phong cách viết và đó là phong cách gọt rũa Về mặt cú pháp, ngôn ngữ khoa học chủ yếu sử dụng các câu tường thuật, giải thích và câu hỏi chính danh Đặc biệt ngôn ngữ khoa học sử dụng nhiều các loại câu ghép, câu mở rộng thành phần phụ như bổ ngữ, trạng

ngữ Về mặt từ ngữ, trong ba thành phần của từ ngữ ngôn ngữ khoa học: thuật

ngữ, từ ngữ khoa học chung và lớp từ ngữ đa phong cách, thì thuật ngữ được coi

Trang 26

là phần từ vựng bị chi phối nhiều nhất trong hệ thống từ vựng Thuật ngữ là những từ ngữ đặc biệt chủ yếu do con người tạo ra một cách có ý thức, là sản phẩm của lao động trí tuệ bởi vì thuật ngữ ra đời cùng với với sự lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức “Thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại được chung đúc qua hình thức ngôn ngữ” [67, tr 1-10] Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và đội ngũ trí thức, thuật ngữ ngày càng phát triển Thuật ngữ hiện nay được nhìn nhận không phải chỉ là một lớp từ giống lớp

từ địa phương, từ nghề nghiệp… như quan niệm trước kia, bởi vì so với các lớp

từ này, thuật ngữ là bộ phận từ vựng rất lớn trong hệ thống ngôn ngữ Đinh Trọng Lạc cho rằng từ ngữ khoa học gồm có thuật ngữ, từ ngữ khoa học chung,

và lớp từ ngữ đa phong cách Thuật ngữ là thành tố quan trọng nhất của từ ngữ trong phong cách khoa học Nó là bộ phận cấu thành không thể thiếu trong ngôn ngữ khoa học nói riêng và ngôn ngữ nói chung [37] Khi khoa học càng phát triển thì thuật ngữ cũng càng được phát triển không ngừng, đồng thời khi hệ thống thuật ngữ càng phát triển và được hoàn thiện, chuẩn hóa đến lượt nó sẽ tác

động và thúc đẩy cho sự phát triển của chính ngành khoa học đó

Như vậy, các nhà khoa học đã coi thuật ngữ là một bộ phận của từ vựng học

Thứ ba, thuật ngữ là đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học Thuật ngữ hiện nay rất phát triển và trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới Đối tượng của

Trang 27

23

thuật ngữ học là thuật ngữ với các lớp, loại khác nhau và hệ thống thuật ngữ hiểu theo nghĩa rộng Thuật ngữ học là chuyên ngành độc lập, ra đời và phát triển từ ngôn ngữ học trong thế kỷ XX, gồm hai lĩnh vực chính: thuật ngữ học

lý thuyết và thuật ngữ học ứng dụng [dẫn theo 42, tr 21-31]

Như vậy, có thể hiểu rằng thuật ngữ là một trong các đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học - một ngành khoa học còn mới mẻ [xem thêm 41]

1.2.2 Khái niệm thuật ngữ

Vấn đề thuật ngữ luôn được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà ngôn ngữ học cũng như các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa hay một quan niệm thuật ngữ nào được tất cả mọi người cùng thừa nhận vì hầu hết các nhà nghiên cứu tiếp cận thuật ngữ từ nhiều góc nhìn khác nhau và có quan niệm khác nhau về thuật ngữ Chẳng hạn, trong bài báo năm 1970, B.N Golovin đã đưa ra 7 định nghĩa khác nhau về thuật ngữ; năm 1977 trong cuốn sách của mình, V.P Danilenko đưa ra 19 định nghĩa và nói rằng chưa hết, còn có thể kể

thêm nữa [dẫn theo 62] Thậm chí A.A Reformatxki khẳng định có thể viết

hẳn một cuốn sách về vấn đề thế nào là thuật ngữ [dẫn theo 25] Giải thích điều này A.V Superanskaja (2007) cho rằng vì khi đó bộ môn thuật ngữ học chưa hình thành và vì thuật ngữ là đối tượng của nhiều ngành khoa học khác nhau nên mỗi ngành khoa học thường nhấn mạnh một đặc điểm, hoặc

có những cách tiếp cận khác nhau với thuật ngữ

1.2.2.1 Thuật ngữ theo quan niệm truyền thống (từ góc độ ngôn ngữ học)

Thuật ngữ theo quan niệm truyền thống được các nhà nghiên cứu tổng kết trong 3 xu hướng chính sau đây:

a Thuật ngữ được định nghĩa trong sự phân biệt với từ thông thường

Một số nhà nghiên cứu nước ngoài khi định nghĩa thuật ngữ đã quan

tâm tới việc chỉ ra sự khác biệt giữa thuật ngữ với từ thông thường

Trang 28

24

N.P Kuz'kin (1962) cho rằng: “Nếu như từ thông thường, từ phi

chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại

tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến” [dẫn theo 19] Tương tự, A.I Moiseev (1970) khẳng

định: “Chính biên giới giữa thuật ngữ và phi thuật ngữ không nằm giữa các

loại từ và cụm từ khác nhau mà nằm trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định

danh” [dẫn theo 19] Thuật ngữ được định nghĩa gắn với khái niệm

Phần lớn các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước khi định nghĩa thuật

ngữ đã tập trung đến việc xác định thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm

Ở nước ngoài, một số nhà ngôn ngữ học Nga khi đưa ra định nghĩa, nhấn mạnh đến khái niệm và đối tượng chuyên môn thuật ngữ biểu thị Chẳng hạn, O.S Akhmanova (1966) định nghĩa: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật) được sáng tạo

ra (được tiếp nhận, được vay mượn) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn” [dẫn theo 72, tr 1-9]

A.C Gerd (1978) cho rằng: “Thuâ ̣t ngữ là từ mà mô ̣t đi ̣nh nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức Đi ̣nh nghĩa này có liên quan với mô ̣t khái niệm khoa học nào đó” [15, tr 101] J.C Sager (1990) viết: “Thuâ ̣t ngữ liên quan tới khái niê ̣m, đi ̣nh nghĩa các khái niê ̣m và tên go ̣i của chúng” [108, tr 2]

Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tu và các tác giả (1960) đi ̣nh nghĩa: “Thuâ ̣t ngữ là từ hoă ̣c nhóm từ dùng trong các ngành khoa ho ̣c , kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghê ̣ thuâ ̣t và có một ý nghĩa đặc biệt , biểu thi ̣ chính xác các khái niê ̣m và tên các sự vâ ̣t thuô ̣c ngành nói trên” [75, tr 176]

Đỗ Hữu Châu (1981) viết: “Thuâ ̣t ngữ không chỉ biểu thi ̣ khái niê ̣m khoa ho ̣c mà còn chỉ tên mô ̣t sự vâ ̣t, mô ̣t hiê ̣n tượng khoa ho ̣c nhất đi ̣nh, thuâ ̣t ngữ là những từ chuyên môn được sử du ̣ng trong mô ̣t pha ̣m vi mô ̣t khoa học,

mô ̣t nghề nghiê ̣p hoă ̣c mô ̣t ngành kỹ thuâ ̣t nào đấy” [8, tr 167]

Trang 29

25

Hoàng Văn Hành (2010) cho rằng: “Thuâ ̣t ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thi ̣ mô ̣t khái niê ̣m xác đi ̣nh thuô ̣c hê ̣ thống những khái niê ̣m của mô ̣t ngành khoa h ọc nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ” [22, tr 269]

Nguyễn Thiê ̣n Giáp (1998) có đưa ra: “Thuâ ̣t ngữ là bô ̣ phâ ̣n từ ngữ đă ̣c biê ̣t của ngôn ngữ Nó bao gồm nhữ ng từ và cu ̣m từ cố đi ̣nh là tên go ̣i chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [17, tr 308-309]

Như vậy, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đều chỉ rõ thuật ngữ không chỉ

biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên cả sự vật, hiện tượng khoa học Các định nghĩa về thuật ngữ đều nhấn mạnh đến tính chính xác của khái niệm và mối

quan hệ với khái niệm và đối tượng chuyên môn mà thuật ngữ biểu thị

b Thuật ngữ được định nghĩa gắn với chức năng

Bên cạnh đó, khá nhiều nhà nghiên cứu khi định nghĩa thuật ngữ lại

chú ý đến chức năng mà thuật ngữ đảm nhiệm

G.O Vinnokur khẳng định: “Thuâ ̣t ngữ - đấy không phải là những từ

đă ̣c biê ̣t, mà chỉ là những từ có chức năng đặc biệt - chức năng đă ̣c biê ̣t mà trong đó từ đóng vai trò là thuâ ̣t ngữ là chức năng go ̣i tên” [31, tr 133] Đồng thời ông cho rằng bất cứ từ nào cũng được cấu tạo để có vai trò là một thuật ngữ Quan niệm của G.O Vinokur cho thấy nền tảng của thuật ngữ chính là ngôn ngữ, cụ thể là các đơn vị từ vựng

Tương tự , A.I Moixeev (1978) viết: “Có thể xác đi ̣nh chức năng ngôn ngữ của thuâ ̣t ngữ như là mô ̣t chức năng go ̣i tên , đi ̣nh danh Thuâ ̣t ngữ đi ̣nh danh sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng trong hiê ̣n thực v à định danh những khái niệm về chúng” [46, tr 21] Vinogradov cũng cho rằng : “Từ đảm nhiê ̣m chức năng

đi ̣nh danh hay chức năng đi ̣nh nghĩa, tức là hoă ̣c nó là phương tiê ̣n biểu thi ̣ rõ ràng và bấy giờ thì nó là một ký hiệu gi ản đơn, hoă ̣c là mô ̣t đơn vi ̣ đi ̣nh nghĩa theo logic, bấy giờ thì nó là một thuật ngữ khoa học” [46, tr 12-13] Các tác giả

Trang 30

26

trên còn chỉ rõ thuật ngữ không chỉ có chức năng gọi tên mà còn có chức năng

định danh, định nghĩa A.X Gerd (1968) trong định nghĩa của mình cũng nhấn

mạnh chức năng định nghĩa của thuật ngữ: “Thuật ngữ là một đơn vị từ vựng ngữ nghĩa có chức năng định nghĩa và được khu biệt một cách nghiêm ngặt bởi

các đặc trưng như tính hệ thống, tính đơn nghĩa” [dẫn theo 63]

1.2.2.2 Thuật ngữ theo quan niệm của thuật ngữ học

Hiện nay, thuật ngữ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của thuật ngữ học, một ngành khoa học đã được công nhận ở trên thế giới Các nhà nghiên cứu theo quan điểm thuật ngữ học xác định, đối tượng của thuật ngữ học không chỉ là thuật ngữ như là đơn vị từ vựng có mục đích chuyên biệt, mà là hệ thống thuật ngữ, vốn nghĩa không hoàn toàn là một phạm trù ngôn ngữ học Vì vậy, khái niệm thuật ngữ được xác định theo quan điểm của thuật ngữ học rất được chú ý Trong số này, định thuật ngữ do Leitchik mang tính toàn diện nhất: Thuật ngữ là một sản phẩm kết hợp đa tầng, gồm tầng nền là ngôn ngữ tự nhiên và tầng thượng thuộc về logic Trong đó, tầng thượng (superstratum) ở trên và tầng nền (substratum) ở dưới, bao bọc hạt nhân thuật ngữ, gồm cấu trúc hình thức, cấu trúc chức năng, cấu trúc khái niệm chuyên ngành Ba cấu trúc này tác động qua lại với tầng nền ngôn ngữ và tầng thượng logic [dẫn theo 42]

Nói về tầng nền ngôn ngữ tự nhiên, Leichik chỉ rõ, xét về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ là từ hay tổ hợp từ của một ngôn ngữ tự nhiên nào đó [dẫn theo

42] Tương tự, nói về vai trò của tầng nền ngôn ngữ tự nhiên, Superanskaja

cho rằng, vì thuật ngữ là ở dạng đơn vị từ vựng, đơn vị ngôn ngữ, cho nên có thể khẳng định đơn vị từ vựng của ngôn ngữ tự nhiên là tầng nền ngôn ngữ tự nhiên của thuật ngữ Thuật ngữ trưởng thành lên từ đơn vị từ vựng của một ngôn ngữ tự nhiên nhất định Từ đó, Superanskaja cũng đi đến kết luận rằng, thuật ngữ là một đơn vị từ vựng tam cấp phức tạp của một ngôn ngữ dùng cho những mục đích chuyên biệt nhất định Tác giả khẳng định, với quan niệm như trên về các phương diện ngôn ngữ của thuật ngữ chúng ta mới giải quyết

Trang 31

27

được nhiều vấn đề về phương pháp luận của thuật ngữ, trước hết là vấn đề truyền thống về bản chất ngôn ngữ của thuật ngữ, hay vấn đề đặc thù của thuật ngữ Bởi vì nếu chỉ đứng trong khuôn khổ thuần túy của ngôn ngữ học thì không thể phát lộ ra các nét đặc trưng, cơ bản của thuật ngữ phân biệt với các đơn vị từ vựng khác, vốn thường tập hợp dưới tên gọi phi thuật ngữ [62]

Như vâ ̣y, có nhiều quan điểm về thuật ngữ cả trong nước cũng như thế giới Định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm truyền thống giúp chúng ta có một cái nhìn cụ thể về thuật ngữ như về hình thức, thuật ngữ là những từ và cụm từ; về nội dung, thuật ngữ biểu thị các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn Ngược lại, định nghĩa thuật ngữ theo quan niệm mới - quan niệm của thuật ngữ học giúp chúng ta có một cái nhìn bao quát, toàn diện về bản chất của thuật ngữ Thuật ngữ không chỉ là phạm trù của ngôn ngữ học mà nó còn là phạm trù của logic học và khoa học liên ngành

Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam, trong luận án này, thuật ngữ được hiểu là “những từ, ngữ cố định, biểu thị các khái niệm, sự vật, hiện tượng chuyên môn thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật”

1.2.3 Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị liên quan

1.2.3.1 Thuật ngữ và danh pháp

Thuâ ̣t ngữ, như đã bàn ở trên, đã được nghiên cứu kỹ về khái niê ̣m, đă ̣c điểm Nay, thuâ ̣t ngữ được đă ̣t trong mối quan hê ̣ với danh pháp Có thể khái quát rằng các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam đều thống nhất thuâ ̣t ngữ và danh pháp có khác biê ̣t và cần được phân tích làm rõ

Trước hết, danh pháp được hiểu là “mô ̣t hê ̣ thống phù hiê ̣u hoàn toàn trừu tượng và ước lê ̣ , có công cụ duy nhất là cung cấp những phương tiện thuâ ̣n lợi nhất xét dưới góc đô ̣ thực tiễn nhằm biểu đa ̣t sự vâ ̣t mà không quan

hê ̣ trực tiếp với những đòi hỏi tư duy lý luâ ̣n của sự vâ ̣t ấy” [78] Hay nói cách khác, “danh pháp là những quy tắc đă ̣t tên trong mô ̣t ngành khoa ho ̣c hay tổng thể những tên go ̣i biểu đa ̣t những sự vâ ̣t đơn nhất , không gắn với hê ̣ thống

Trang 32

28

khái niê ̣m của mô ̣t khoa ho ̣c cu ̣ thể mà chỉ dán n hãn cho đối tượng của nó” [88] Cũng cùng quan điểm này, K.S Palamarchuk (1975), cho rằng “danh pháp chỉ dán nhãn đối tượng của khoa học thôi Vì vậy, danh pháp có thể coi là thể liên tu ̣c của các chữ cái hay là thể liên tu ̣c của các con số và của mo ̣i thứ dấu hiê ̣u có tính ước lê ̣, tùy tiện khác, danh pháp không tương quan với các khái niê ̣m của khoa ho ̣c, vì vậy danh pháp không tiêu biểu cho hệ khái niê ̣m của khoa học” [52, tr 89-90] Ví dụ: “mô ̣t cái máy có đến hàng ngàn chi tiết và và mỗi chi tiết trong số đó đều có tên go ̣i của nó thì điều đó không có nghĩa là có đến bấy nhiêu khái niê ̣m Đó chính là những tên gọi nằm trong mô ̣t danh pháp” [55]

Theo A.A Reformatxki (1961): “hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niê ̣m của mô ̣t khoa ho ̣c cụ thể, còn danh pháp chỉ „dán nhãn‟ cho đối tượng của nó” và “danh pháp không có quan hê ̣ trực tiếp với khái niê ̣m khoa ho ̣c” Nguyễn Thiê ̣n Giáp (1998) cũng cho rằng: “hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hê ̣ thống các khái niê ̣m của mô ̣t khoa ho ̣c nhất đi ̣nh Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng t rong mô ̣t ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi”

Như vậy, theo các nhà nghiên cứu trên, danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học như thuật ngữ , danh pháp chỉ là tên gọi các

sự vật, hiện tượng cụ thể trong một ngành khoa học nhất định Có thể hiểu rằng, giữa thuâ ̣t ngữ và danh pháp có sự khác biê ̣t nhất đi ̣nh Thuâ ̣t ngữ gắn với hê ̣ thống khái niê ̣m của mô ̣t khoa ho ̣c cu ̣ thể và ở thuâ ̣t ngữ , chức năng

đi ̣nh nghĩa là quan tro ̣ng Trong khi đó, danh pháp không có quan hê ̣ trực tiếp với khái niê ̣m của khoa ho ̣c mà nó chỉ gắn với sự vâ ̣t , đối tượng cu ̣ thể của

mô ̣t lĩnh vực khoa học và ở danh pháp, chức năng go ̣i tên là quan tro ̣ng Theo A.V Superanskaja (1976) “tính khái niê ̣m là đă ̣c trưng quan tro ̣ng nhất của thuâ ̣t ngữ Cái quan trọng đối với danh pháp là tính vật chất , hay tính đối tượng của nó, tùy thuô ̣c vào các đă ̣c trưng của đối tượng được go ̣i tên”

Trang 33

29

Tuy nhiên, thuâ ̣t ngữ và danh pháp không phải là hoàn toàn khác biê ̣t

mà danh pháp có liên quan nhất định với hệ thuật ngữ mà nó phục vụ vì danh pháp có thể làm cho ng ười ta liên tưởng tới những khái niệm về sự vật , hiê ̣n tượng được biểu đa ̣t nô ̣i dung qua hê ̣ thuâ ̣t ngữ Cũng theo A.V Superanskaja (1976): “giữa thuâ ̣t ngữ và danh pháp không có ranh giới tuyê ̣t đối , hai lớp từ vựng này tác đô ̣ng qua la ̣i lẫn nhau , danh pháp, trong những trường hợp nhất

đi ̣nh có thể chuyển thành thuâ ̣t ngữ khi mà nó rơi vào t rong hê ̣ thống từ vựng khác” Theo Hà Quang Năng giữa thuật ngữ và danh pháp cũng có điểm giống nhau duy nhất đó là “tính độc lập của danh pháp và của thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói” [48, tr.1-13]

1.2.3.2 Thuật ngữ và từ nghề nghiệp

Từ nghề nghiệp đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến và có một số quan điểm khác nhau về loại từ này Từ nghề nghiệp và thuật ngữ có một số điểm tương đồng và khác biệt sau đây

Trước tiên, có một số quan niệm khác nhau về từ nghề nghiệp Tác giả Nguyễn Như Ý và các đồng sự đưa ra quan điểm: “từ nghề nghiệp là các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của nhóm người thuộc cùng một ngành nghề hoặc cùng một lĩnh vực nào đó” [88]

Như vậy, có những quan niệm riêng từ nghề nghiệp, tuy nhiên các tác giả đều cho rằng từ nghề nghiệp là các từ vựng được sử dụng hạn chế, chỉ giữa những người thuộc cùng một ngành nghề cụ thể

Thuâ ̣t ngữ thuộc một ngành khoa học nhất định , do đó nó diễn đạt những khái niệm chuyên môn của ngành khoa học và chỉ có các nhà khoa học thuộc chuyên môn đó mới hiểu được Từ nghề nghiệp là “những từ ngữ có tính chuyên môn cao mà chỉ có những người làm nghề mới có thể hiểu được” [33] Vậy, thuật ngữ giống như từ nghề nghiệp đều là lớp từ được dùng hạn chế, trong phạm vi chuyên môn hẹp Một điểm giống nhau nữa giữa thuật ngữ

Trang 34

30

và từ nghề nghiệp là cả hai đều có thể “chuyển hóa thành từ thông thường khi những khái niệm của chúng được sử dụng phổ biến trong xã hội, làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc” [17]

Thuật ngữ có tính đơn nghĩa, không có từ đồng nghĩa và không mang sắc thái tình cảm Tuy nhiên, từ nghề nghiệp gắn liền với những hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể nên có tính gợi cảm cao, gợi hình ảnh cao,

có nhiều sắc thái Đây là một điểm khác biệt giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp Một điểm khác biệt khá quan trọng giữa thuật ngữ và từ nghề nghiệp

là từ nghề nghiệp “không bao giờ tạo thành một hệ thống khép kín, đó là những đơn vị rời rạc không liên kết với nhau” [31]

Ngoài những điểm giống và khác nhau trên, thuật ngữ và từ nghề nghiệp còn có sự xâm nhập và chuyển hóa cho nhau Từ nghề nghiệp có thể chuyển hóa thành thuật ngữ trong điều kiện các ngành nghề thủ công đó được công nghiệp hóa, hiện đại hóa nâng cấp thành ngành khoa học Thuật ngữ được tiếp nhận để trở thành từ nghề nghiệp làm phong phú thêm cho ngành nghề thủ công của mình

1.2.3.3 Thuật ngữ và từ thông thường

Trước hết, về bản chất khái niệm của hai đơn vị này rất khác nhau So với từ thông thường, thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn

và được biểu thị một cách logic chặt chẽ hơn [9] Điều này cũng có nghĩa là

“nghĩa biểu vật của thuật ngữ trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực tế của ngành kĩ thuật tương ứng Và ý nghĩa biểu niệm của thuật ngữ cũng là những khái niệm về các sự vật hiện tượng này đúng như chúng

tồn tại trong tư duy” [8] Vì vậy, mặc dù cả hai đơn vị này đều có chức năng

định danh, nhưng định danh ở từ thông thường chỉ là gọi tên sự vật, còn ở thuật ngữ là gọi tên khái niệm

Vì ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa một cách logic khái niệm, chứa đựng nội dung thuần lý trí, nên thuật ngữ không mang tính biểu cảm, biểu thị

Trang 35

là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể Từ thông thường được

sử dụng trong những tình huống khác nhau, trong khi việc sử dụng thuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên ngành lại chỉ giới hạn trong lĩnh vực chuyên ngành

đó Thuật ngữ thường được sử dụng để nói về những chủ đề chuyên môn, còn

từ thông thường được sử dụng để nói về bất kỳ chủ đề nào trong cuộc sống

hàng ngày, để diễn đạt cảm xúc

Tuy nhiên, trong một số trường hợp thuật ngữ có thể trở thành từ thông thường và từ thông thường có thể được thuật ngữ hóa [92] Trong lĩnh vực khoa học hình sự, chúng tôi nhận thấy một số từ thông thường đã đi vào hệ

thống thuật ngữ báo chí như bắt, đối tượng, ẩn nấp, bồi thường Ngược lại

cũng có những thuật ngữ khoa học hình sự đã đi vào ngôn ngữ toàn dân và

ngày càng trở lên quen thuộc với đời sống hàng ngày như ảnh chân dung,

cộng tác viên, giới hạn tốc độ, tín hiệu giao thông

1.2.4 Các tiêu chuẩn của thuật ngữ

Việc xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học liên quan chặt chẽ tới việc xác định các tiêu chuẩn của thuật ngữ Vì vậy, đây là một trong những vấn đề được các nhà nghiên cứu rất quan tâm

Ở Việt Nam , Hoàng Xuân Hãn (1942), đã nêu ra những yêu cầu về thuâ ̣t ngữ như: tính chính xác, tính đơn nghĩa, tính dễ nhớ, tính hệ thống, tính ngắn go ̣n, tính dân tộc

Tại Hội nghị năm 1964 của Ủy ban khoa học Nhà nước diễn ra ở Hà

Nô ̣i, đã có nhiều ý kiến tán thành quan niê ̣m về các đ ặc điểm của thuật ngữ

mà bản báo cáo chính đã đưa ra : (1) Tính khoa học, cụ thể phải chính xác, có

hê ̣ thống, ngắn go ̣n; (2) Tính dân tộc, nghĩa là có màu sắc ngôn ngữ dân tộc ,

Trang 36

Có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho

thuật ngữ Nhưng có thể khái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn: tính khoa

học, tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng Trong đó, tính khoa học được

tất cả các nhà nghiên cứu từ trước đến nay coi đó là tiêu chuẩn quan trọng bậc

nhất Còn các tiêu chuẩn tính quốc tế, tính dân tộc, tính đại chúng không

được các nhà nghiên cứu chú trọng như nhau Nhìn chung, quan niệm của các

nhà nghiên cứu thời kỳ đầu (những năm 60-70), ngoài tính khoa học họ rất quan tâm đến tính dân tộc và tính đại chúng, còn tính quốc tế thì chưa được

chú ý và ít được đề cập đến Trong giai đoạn hiện nay, hầu như tất cả các nhà

nghiên cứu đều khẳng định: tính quốc tế là một trong những phẩm chất bắt buộc của thuật ngữ, bên cạnh tính khoa học Tuy nhiên, tính dân tộc và tính

đại chúng thì lại không được chú ý nhiều

Như vậy, có thể thấy có nhiều quan điểm về tiêu chí của thuật ngữ Trong

nô ̣i dung luâ ̣n án này, chúng tôi đồng ý và tiếp thu quan điểm của một số tác giả như Đỗ Hữu Châu (1981), Nguyễn Thiện Giáp (1985), Nguyễn Đức Tồn (2010)… cho rằng, cần phân biệt những tính chất với tư cách là những đặc trưng phân biệt thuật ngữ với những lớp từ vựng khác và những yêu cầu khi xây dựng

thuật ngữ Cụ thể, thuật ngữ phải có tính khoa học; tính quốc tế và tính dân tộc

1.2.4.1 Tính khoa học

Thuật ngữ có tính khoa học nghĩa là thuật ngữ phải mang tính chính

xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn

a Tính chính xác

Tính chính xác được tất cả các nhà khoa học trong và ngoài nước từ

trước đến nay thừa nhận là một yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với thuật

Trang 37

33

ngữ Tính chính xác đòi hỏi phải biểu hiện đúng khái niệm một cách rõ ràng , không gây hiểu lầm sai lệch Thuâ ̣t ngữ cần đảm bảo được sự chính xác Tính

Theo D.S Lotte (1978) “tình tra ̣ng mô ̣t thuâ ̣t ngữ dùng để chỉ nhiều khái niê ̣m

khác nhau, hoă ̣c nhiều thuâ ̣t ngữ khác nhau dùng để chỉ mô ̣t khái niê ̣m sẽ làm cho thuâ ̣t ngữ khoa ho ̣c mất tính ch ính xác khoa học chặt chẽ” [43, tr 20] Ông còn quan niệm, một thuật ngữ chính xác nếu thuật ngữ đó chứa đựng

những đặc trưng bản chất của khái niệm do nó biểu đạt [dẫn theo 39] Tương

tự, Lê Khả Kế cũng chỉ rõ “lý tưởng nhất là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm” [32, tr 33]

A.A Reformatxki (1978) đưa ra quan điểm rằng: “thuâ ̣t ngữ của mỗi số hạng của hệ thống khái niệm cần phải tương ứng với khái niệm đó , với nội hàm của nó, hoă ̣c là trong bất cứ trường hợp nào cũng không được mâu thuẫn với nó, tức là thuâ ̣t ngữ phải chính xác” [54, tr 257]

Tính chính xác đòi hỏi thuật ngữ phải có tính một nghĩa, tức là trong

cùng một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn mỗi khái niệm chỉ

có một thuật ngữ Nói cách khác, mỗi thuật ngữ chỉ biểu đạt một khái niệm

Về vấn đề này, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh trong thực tế “có những thuật ngữ gọi tên khái niệm đúng, có những thuật ngữ gọi tên khái niệm sai lầm Điều quan trọng là ở chỗ các thuật ngữ phải biểu thị cho đúng các khái niệm (đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói

ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học

(đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi [8]

Như vâ ̣y, để đảm bảo tính một nghĩa của thuật ngữ đòi hỏi phải loại bỏ hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa trong hệ thống thuật ngữ của cùng một ngành khoa học Mô ̣t thuâ ̣t ngữ lý tưởng là thuâ ̣t ngữ phản ánh được đă ̣c trưng cơ bản,

nô ̣i dung bản chất của khái niê ̣m, tuy nhiên không thể đòi hỏi thuâ ̣t ngữ phải phản

Trang 38

34

ánh đầy đủ mọi phương diện, mọi khía cạnh của khái niệm Cá biệt có trường hợp thuâ ̣t ngữ phản ánh mô ̣t đă ̣c trưng không cơ bản Song, đó là đă ̣c trưng đủ để khu biê ̣t thuâ ̣t ngữ ấy với thuâ ̣t ngữ khác Cho nên, trong mỗi mô ̣t hê ̣ thống khoa ho ̣c, mỗi khái niê ̣m có mô ̣t thuâ ̣t ngữ và mỗi thuâ ̣t ngữ chỉ mô ̣t khái niê ̣m

b Tính hệ thống

Tính hệ thống là một tiêu chuẩn cần thiết đối với thuật ngữ Mỗi ngành

khoa học đều có một hệ thống các khái niệm được thể hiện bằng hệ thống các thuật ngữ, trong đó mỗi thuật ngữ bao giờ cũng là yếu tố của hệ thống thuật ngữ và chiếm một vị trí trong hệ thống thuật ngữ nhất định nào đó [17] Trong khoa học, hệ thống khái niệm được thể hiện ở chỗ “các khái niệm được tổ chức thành hệ thống, có tầng, có lớp, có bậc hẳn hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp nhiều khái niệm khác thành từng trường khái niệm, thành từng nhóm, từng cụm Mỗi trường khái niệm có thể là một hệ thống con Mỗi hệ thống nhỏ có một khái niệm hạt nhân” [39]

Hầu hết các tác giả đều cho rằng tính hệ thống của thuật ngữ cần phải

được chú ý trên cả hai mặt, đó là hệ thống khái niệm (mặt nội dung) và hệ thống ký hiệu (mặt hình thức) Lưu Vân Lăng [39] là người phân tích khá kỹ

tính hệ thống của thuật ngữ Theo ông, khi xây dựng hệ thống thuật ngữ, cần

phải xác định được hệ thống khái niệm trước khi đặt hệ thống ký hiệu cho chúng Thậm chí nhiều khi nội dung khái niệm phải đặt lên hàng đầu Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm mà phải xác định vị trí của thuật ngữ đó trong toàn bộ hệ thống khái niệm

Budagov (1965) [ dẫn theo 70] viết: “thuâ ̣t ngữ có tính hê ̣ thống hai

mă ̣t: mô ̣t mă ̣t, nó là yếu tố của hệ thống thuật ngữ , mă ̣t khác, nó lại là yếu tố của hệ thống ngôn ngữ”

D.S Lotte (1978) cũng đưa ra quan điểm rằng : “nói đến tính chất hệ thống của thuâ ̣t ngữ khoa ho ̣c, chúng ta cần phải chú ý đến cả hai mă ̣t: hê ̣ thống thuâ ̣t ngữ và hê ̣ thống ký hiê ̣u… Nói đến viê ̣c xây dựng mô ̣t hê ̣ thống thuâ ̣t ngữ

Trang 39

ký hiệu, cần phải dựa vào thế đối lập giữa các tín hiệu trong hệ thống Bởi vì mỗi thuật ngữ có một giá trị nhất định về nội dung chính là do sự đối lập tín

hiệu này với tín hiệu khác trong cùng một hệ thống [39] Như vậy, nhờ vào

tính hệ thống mà người ta thấy được khả năng phái sinh của thuật ngữ là rất lớn

Vâ ̣y, khi nói đến tính hê ̣ thống của thuâ ̣t ngữ , người ta cần phải quan tâm đến cả hai mă ̣t : hê ̣ thống khái niê ̣m - mă ̣t nô ̣i dung và hê ̣ thống ký hiê ̣u -

mă ̣t hình thức Tính hệ thống về nô ̣i dung của thuâ ̣t ngữ kéo theo tính hê ̣

thống về hình thức của nó Do đó, tính hệ thống của thuật ngữ giúp người ta

hiểu thuâ ̣t ngữ mô ̣t cách chính xác và rõ ràng

c Tính ngắn gọn

Tính chính xác về mặt ngữ nghĩa của thuật ngữ còn đòi hỏi về mặt hình

thức của thuật ngữ phải ngắn gọn, chặt chẽ Nghĩa là, các yếu tố hợp thành phải phù hợp tối đa với khái niệm được biểu thị, không có yếu tố dư thừa dễ

gây hiểu lầm dù sự hiện diện của các yếu tố này làm cho thuật ngữ có vẻ phù

hợp với các quy luật cấu tạo của ngôn ngữ hơn [8], [51] Quan điểm của các nhà Việt ngữ học trên hoàn toàn phù hợp với quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga: “tính ngắn gọn của thuật ngữ cần được hiểu là, trong thành phần cấu tạo thuật ngữ, chỉ cần chứa một số lượng đặc trưng tối thiểu cần thiết, nhưng vẫn

đủ để đồng nhất hóa và khu biệt hóa các khái niệm được phản ánh bằng thuật ngữ đó” [4] Đây cũng là điều hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc định danh thuật ngữ, đó là chỉ lựa chọn những đặc trưng đủ để khu biệt sự vật, khái niệm này với các sự vật, khái niệm khác, chứ không thể đưa tất cả đặc trưng của đối tượng cần

định danh vào bên trong tên gọi của nó Xét ở khía cạnh này tính ngắn gọn

Trang 40

36

không mâu thuẫn với tính chính xác của thuật ngữ Mặt khác tính ngắn gọn của

thuật ngữ cũng rất phù hợp với quy luật tiết kiệm trong ngôn ngữ

Liên quan đến tính ngắn gọn của thuật ngữ, một số nhà nghiên cứu còn

đưa ra tiêu chuẩn cụ thể về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ Chẳng hạn, Reformatxki cho rằng đối với thuật ngữ là từ ghép hay cụm từ chỉ có thể gồm hai, ba hoặc tối đa là bốn yếu tố bởi vì nếu thuật ngữ quá dài sẽ không được

chấp nhận trong thực tế [54]

Tuy nhiên, gần đây một số nhà nghiên cứu Nga đưa ra tiêu chuẩn về độ dài tối ưu của thuật ngữ [dẫn theo 62] Điều cốt lõi của khái niệm này là sự phù hợp giữa cấu trúc hình thức với các đặc trưng của khái niệm mà không giới hạn thuật ngữ chỉ gồm bao nhiêu yếu tố Theo chúng tôi đây là khái niệm phù hợp với thời đại ngày nay, bởi vì do tính chất chuyên sâu trong khoa học ngày càng cao, nên thuật ngữ có thể bao gồm một tập hợp các đặc trưng của khái niệm Vì vậy, phải cần đến khá nhiều yếu tố để thể hiện các đặc trưng của khái niệm đó Cho nên, sẽ

có những thuật ngữ gồm nhiều yếu tố nhưng vẫn được coi là chuẩn

1.2.4.2 Tính quốc tế

Thuâ ̣t ngữ là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n từ ngữ của ngôn ngữ biểu đa ̣t các khái niê ̣m khoa ho ̣c Khoa ho ̣c là tri thức chung của toàn nhân loa ̣i Do đó, thuâ ̣t ngữ

mang tính quốc tế Nhưng khi biểu thị những khái niệm khoa học chung đó,

mỗi dân tộc sử dụng các yếu tố và phương thức cấu tạo từ vốn có trong mỗi

ngôn ngữ khác nhau Vì vậy, thuật ngữ vừa mang tính quốc tế vừa mang tính

dân tộc Tính quốc tế thực ra không mâu thuẫn với tính dân tộc bởi vì khi nói

đến tính quốc tế là người ta nhấn mạnh đến mặt nội dung của thuật ngữ, còn nói đến tính dân tộc là người ta chú ý đến mặt hình thức của thuật ngữ

Nguyễn Đức Tồn (2011) đưa ra quan điểm rằng: “tính quốc tế của thuật

ngữ không phải chỉ được thể hiê ̣n ở mă ̣t hình thức cấu ta ̣o ngữ âm hoă ̣c chữ viết, mà đặc biệt là còn được thể hiện ở mặt hình thái bên trong của nó (nghĩa

là cách chọn đặc tr ưng của sự vâ ̣t , khái niệm làm cơ sở định danh khi đặt

Ngày đăng: 13/11/2017, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hoài Ân (2005), “Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ”, Tạp chí ngôn ngữ (5), tr. 36-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ"”, Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Lê Hoài Ân
Năm: 2005
4. Belakhov L.Ju. (1976), Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ, Nhƣ Ý dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ
Tác giả: Belakhov L.Ju
Năm: 1976
5. Phan Văn Các (2003), Từ điển Hán -Viê ̣t , Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán -Viê ̣t
Tác giả: Phan Văn Các
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
6. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng - từ ghép - đoản ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng - từ ghép - đoản ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
7. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1975
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1981
9. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1990), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1990
10. Nguyễn Hồng Cổn (2001), “Vấn đề tương đương trong dịch thuật”, Tạp chí Ngôn ngữ (11), tr. 36-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tương đương trong dịch thuật”, "Tạp chí Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
11. Nguyễn Tường Dũng (2004), Từ điển Thuật ngữ về ma túy Anh- Việt, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Thuật ngữ về ma túy Anh-Việt
Tác giả: Nguyễn Tường Dũng
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
12. Vũ Văn Đại (2004), Kỹ năng dịch cơ sở lý thuyết và phương pháp rèn luyện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng dịch cơ sở lý thuyết và phương pháp rèn luyện
Tác giả: Vũ Văn Đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
13. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Quách Thị Gấm (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Viê ̣t , Luâ ̣n án tiến sỹ ngƣ̃ văn , Học viện Khoa học xã hội , Viê ̣n hàn lâm Khoa ho ̣c xã hô ̣i Viê ̣t Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Viê ̣t
Tác giả: Quách Thị Gấm
Năm: 2014
15. Gerd A.C. (1978), Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ , Lê Ngo ̣c Văn dịch, tài liệu Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ
Tác giả: Gerd A.C
Năm: 1978
16. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
17. Nguyễn Thiê ̣n Giáp (1998), Từ vựng tiếng Viê ̣t , Nxb Giáo du ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Viê ̣t
Tác giả: Nguyễn Thiê ̣n Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 1998
18. Nguyễn Thiê ̣n Giáp (2010), Các phương pháp đối chiếu ngôn ngữ, Nxb Giáo du ̣c, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đối chiếu ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiê ̣n Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo du ̣c
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Bích Hà (2004), Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại Nhật Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ thương mại Nhật Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
21. Lê Thanh Hà (2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh, Luận án tiến sỹ ngôn ngữ học, Học viện khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh
Tác giả: Lê Thanh Hà
Năm: 2014
22. Hoàng Văn Hành (2010), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2010
23. Hoàng Xuân Hãn (1942), Danh từ khoa học , Nxb Minh Tân, Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ khoa học
Tác giả: Hoàng Xuân Hãn
Nhà XB: Nxb Minh Tân
Năm: 1942

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w