Tập hợp và phân tích các văn kiện để làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa vận dụng đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam vào lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010. Luận văn dựng lại một cách có hệ thống về quá trình phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010. Luận văn đúc kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010.
Trang 1đại học quốc gia hà nội TRờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Trần Trọng Thơ.
Trang 3Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trongbất kì công trình nào, các số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác,đảm bảo tính khách quan, khoa học và dựa vào nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Hà nội, ngày 12 tháng 12 năm 2013
Tác giả luận văn
Phạm Thị Phương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 12
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn 12
6 Những đóng góp khoa học của luận văn 13
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 13
8 Kết cấu của luận văn 14
Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2005 15
1.1 Nguồn lực phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa và tình hình phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trước năm 2001 15
1.1.1 Những nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thanh Hóa 15
1.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch Thanh hóa trước năm 2001 23
1.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005 27
1.2.1 Đảng bộ Thanh Hóa vận dụng chủ trương của Đảng, xây dựng phương hướng phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005 27
1.2.2 Qúa trình phát triển du lịch theo chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa những năm 2001 - 2005 35
Chương 2: ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2006 - 2010 .44
Trang 52.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước và phương hướng của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch trong những
năm 2006 - 2010 44
2.1.1 Chủ trương chung của Đảng và Nhà nước 44
2.1.2 Phương hướng của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 48
2.2 Tổ chức chỉ đạo thực hiện chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch ở Thanh Hóa từ năm 2006 - 2010 56
2.2.1 Nâng cao công tác quản lý nhà nước về du lịch 56
2.2.2 Đẩy mạnh phát triển nhân lực ngành du lịch 59
2.2.3 Tăng cường đầu tư hạ tầng du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho phát triển du lịch 62
2.2.4 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, quảng bá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch 66
2.2.5 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch 72
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 78
3.1 Nhận xét chung 78
3.1.1 Thành tựu 78
3.1.2 Một số hạn chế 84
3.2 Một số kinh nghiệm 88
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 111
Trang 6NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BVHTT & DL: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
KHXH & NV: Khoa học xã hội và nhân văn
UN - WTO: Tổ chức Du lịch Thế giới
(World Tourist Organization)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Thanh Hóa 38
Bảng 1.2: Cơ sở lưu trú của ngành du lịch tỉnh Thanh Hóa 39
giai đoạn 2001 - 2005 39
Bảng 1.3: Các chỉ tiêu chủ yếu phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2005 40
Bảng 2.4: Lao động du lịch tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2010 59
Bảng 2.5: Hoạt động kinh doanh của các cơ sở lưu trú giai đoạn 2006 - 2009 65
Bảng 2.6: Công suất sử dụng phòng giai đoạn 2006 - 2010 65
Bảng 2.7: Lượng khách du lịch đến Thanh Hóa giai đoạn 2006 – 2010…… 72
Bảng 2.8: Ngày khách du lịch tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2010 74
Bảng 2.9: Doanh thu của ngành du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2010 75
Bảng 2.10: Doanh thu ngoai tệ của ngành du lịch tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2010 75
Bảng 2.11: Đóng góp vào ngân sách nhà nước của ngành du lịch 76
tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2006 - 2010 76
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại ngày này, du lịch được xem là một trong nhữngngành kinh tế hàng đầu, phát triển với tốc độ cao, thu hút được nhiều quốcgia vì những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội, trở thành ngành kinh tế mũinhọn và chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của nhiều quốc gia.Theo thống kê của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) năm 2000, Mỹ lànước dẫn đầu với doanh thu du lịch quốc tế là 85,2 tỷ USD; ba điểm đếnquan trọng vùng Địa Trung Hải là Tây Ban Nha, Pháp, Italia, mỗi nước đạtkhoảng 30 tỷ; Anh đạt 30 tỷ và Đức, Trung Quốc, Áo, Canada mỗi nướcđạt trên 10 tỷ USD
Đối với Việt Nam, ngành du lịch được coi là “ngòi nổ để phát triển kinh tế”, mang lại nguồn thu nhập GDP cho nền kinh tế, giải quyết
công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh đấtnước ra toàn thế giới Ngay khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước (1986), Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đổi mới,
mở cửa và hội nhập tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế đốingoại nói chung và kinh tế du lịch nói riêng Trong nội dung các văn kiệnĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, X và các văn kiện của Trung ươngĐảng qua các nhiệm kì Đại hội đều thể hiện quan điểm, chủ trương, chiếnlược phát triển du lịch Việt Nam và xác định du lịch là ngành kinh tế tổnghợp quan trọng trong cơ cấu kinh tế - xã hội, đưa du lịch thực sự là ngànhkinh tế mũi nhọn trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước
Thanh Hóa từ lâu đã được biết đến và nổi tiếng là vùng địa linhnhân kiệt, sinh ra “ba dòng vua, hai dòng chúa”; là vùng hậu phương vữngchắc của Tổ quốc trong những năm kháng chiến ác liệt Với bề dày lịch sửlâu đời, Thanh Hóa đang gìn giữ một kho tàng quý giá các nguồn tài
Trang 9nguyên nhân văn nổi trội, đặc sắc của đất nước, như di sản văn hóa thế giớiThành nhà Hồ, Khu di tích văn hóa, lịch sử Lam Kinh Cùng với nhữnggiá trị lịch sử, nhân văn, Thanh Hóa còn là vùng đất có nguồn tài nguyên
du lịch tự nhiên, sinh thái phong phú, đa dạng, bao gồm cả rừng, núi vàbiển, với những địa chỉ nổi tiếng như Sầm Sơn, vườn quốc gia Bến En Những nguồn tài nguyên này tạo điều kiện thuận lợi cho Thanh Hóa pháttriển “một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, trong đó du lịch được coi là mộttrong những ngành có vai trò đặc biệt quan trọng” Chính vì vậy, Đảng bộtỉnh Thanh Hóa đã sớm có nhiều chủ trương phát triển kinh tế du lịch, đặcbiệt trong thời gian 2001 - 2010 góp phần vào sự phát triển kinh tế địaphương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân
Phát triển kinh tế du lịch trở thành nhiệm vụ lớn, được các cấp ủyĐảng trong tỉnh hết sức quan tâm Tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triểnkinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong những năm 2001 - 2010
sẽ giúp đánh giá đúng thực trạng phát triển, thành tựu, hạn chế và nhữngnguyên nhân, từ đó rút ra những kinh nghiệm góp phần đưa du lịch ThanhHóa phát triển đi lên, xứng đáng là ngành kinh tế quan trọng của địa
phương Với những ý nghĩa đó, tôi chọn đề tài “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010” làm luận
văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Du lịch đã và đang mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế, văn hóa
- xã hội, nên phát triển du lịch Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học trong
và ngoài nước nghiên cứu dưới các khía cạnh, cấp độ khác nhau
Về các công trình đã xuất bản, có thể kể đến một số ấn phẩm sau
đây: Cuốn sách Du lịch và kinh doanh du lịch của Trần Nhạn, Nxb Văn hóa
thông tin, Hà Nội, năm 1996 Tác phẩm trình bày khái niệm về du lịch;
Trang 10nguồn lực để phát triển và các thể loại du lịch; kinh doanh du lịch và chân
dung một số chủ doanh nghiệp du lịch Tác phẩm Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam do Phạm Trung Lương (chủ biên), Nxb Giáo dục,
Hà Nội, năm 2001 Cuốn sách trình bày một số kiến thức về tài nguyên vàmôi trường du lịch; tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môitrường; ứng dụng cộng nghệ hệ thông tin địa lý trong quản lý tài nguyên vàmôi trường du lịch; phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài
nguyên và môi trường Cuốn sách Du lịch và du lịch sinh thái của Thế Đạt,
Nxb Lao Động, Hà Nội, năm 2003, nêu một số vấn đề về du lịch và du lịch
sinh thái Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam của Đinh Trung Kiên,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2004 Tác phẩm tìm hiểu những chặngđường du lịch; nguồn tài nguyên du lịch vật thể ở Hà Nam Ninh và việckhai thác cho hoạt động du lịch; đào tạo du lịch cho dân tộc Việt Nam
Cuốn Tuyến điểm du lịch Việt Nam của Bùi Hải Yến, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, năm 2009 Tác phẩm khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên dulịch và kết cấu hạ tầng Việt Nam cùng một số tuyến, điểm du lịch các vùngBắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ Ngoài ra còn có các tác
phẩm, như Du lịch ba miền của tác giả Bửu Ngôn Nxb Thanh Niên, Hà Nội, năm 2009 Địa danh du lịch Việt Nam của Thạc sỹ Nguyễn Thị Thu
Hiền, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, năm 2009
Về những bài viết đề cập đến phát triển kinh tế du lịch đăng tải trên
các báo và tạp chí, có thể kể đến: Sự phát triển du lịch dưới đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam” của tác giả Trần Đức Thanh, Tạp chí
Du lịch Việt Nam, số 2- 2005, tr.20-21 Bài viết nêu lên đường lối pháttriển du lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới và những thành tựu du lịch
Việt Nam đạt được dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chính phủ Du lịch Việt Nam trước cơ hội mới của Thúy Mơ, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình
Trang 11Dương, số 02- 2007, tr.15-16 Bài viết khái quát những thành tựu của dulịch Việt Nam năm 2006 và những mục tiêu, khó khăn, thách thức của
ngành năm 2007 Để du lịch Việt Nam không mãi là tiềm ẩn (2008) của
Phạm Hạnh, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, số 3- 2008, tr.36-37 Bài viếtnêu lên những đóng góp của ngành du lịch Việt Nam trong sự phát triểnkinh tế - xã hội Ngành du lịch Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam Á.Bước tiến của ngành khi Việt Nam gia nhập thị trường du lịch quốc tế vàViệt Nam là thành viên của WTO; một số yêu cầu đặt ra đối với các doanh
nghiệp du lịch Du lịch Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
của Hoàng Tuấn Anh, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 144- 2008, tr.22-26.Bài viết trình bày những bước tăng trưởng của ngành du lịch Việt Nam cả
về quy mô và chất lượng trong hơn 1 thập kỷ qua và những nhiệm vụ trọngtâm của ngành thời gian tới: nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch và tínhchuyên nghiệp của công tác xúc tiến du lịch; nâng cao trình độ cho đội ngũcán bộ, nhân viên; mở rộng hợp tác quốc tế
Về các Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế liên quan đến
du lịch, có thể kể đến: Kỷ yếu hội thảo khoa học “70 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930-3-2-2000)”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội,
2000 Trong đó đăng các bài viết đề cập đến đường lối phát triển kinh tế du
lịch của Đảng trong thời kỳ đổi mới Kỷ yếu hội thảo khoa học “Tối ưu hóa các dịch vụ du lịch: Triển vọng tương lai cho Việt Nam”, tổ chức bởi
Chương trình Hỗ trợ Phát triển vùng tại Việt Nam (DIREG), tháng 6-2005tại Hà Nội, bao gồm các bài nghiên cứu liên quan đến vấn đề phát triển dulịch và dịch vụ du lịch ở Việt Nam thời gian trước năm 2005 cũng nhưnhững giải pháp tối ưu hóa các dịch vụ du lịch trong tương lai Kỷ yếu hội
thảo khoa học “Nghiên cứu và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” do Trường Đại học KHXH & NV tổ chức ngày 8-5-
Trang 122007; bao gồm các báo cáo tham luận với 2 mảng nội dung chính là nghiêncứu du lịch và đào tạo du lịch ở Việt Nam trong quá trình hội nhập Kỷ yếu
hội thảo “Nhu cầu xã hội về đào tạo nhân lực du lịch và sự cần thiết mở
mã ngành du lịch” Trường Đại học KHXH & NV tổ chức ngày
Đình Thụy, bảo vệ năm 1996, tại Đại học Kinh tế quốc dân Đề tài nêu lên
cơ sở lý luận và thực tiễn đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọntrong nền kinh tế quốc dân; tiềm năng và thực trạng của ngành du lịch ViệtNam; định hướng và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam
thành ngành kinh tế mũi nhọn Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trong kinh doanh du lịch Việt Nam” của Hoàng Văn
Hoan, bảo vệ năm 2002, tại Đại học Kinh tế quốc dân Luận án trình bày cơ
sở lý luận của nội dung quản lý nhà nước đối với kinh doanh du lịch Thựctrạng quản lý nhà nước đối với lao động trong kinh doanh du lịch Việt Nam
và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với lao động
trong ngành này Luận án tiến sĩ kinh tế: “Các giải pháp tài chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010” của Chu Văn Yêm, bảo vệ năm
2004, tại Học viện Tài chính Đề tài nghiên cứu thực trạng du lịch ViệtNam, thực trạng sử dụng các giải pháp tài chính đối với hoạt động du lịchnhằm chỉ ra những tác động tích cực và những hạn chế của chúng, qua đó
đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các giải pháp tài chính nhằmđẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam đến 2010 Luận văn thạc sỹ lịch sử:
“ Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch thời kỳ đổi mới (1986 - 2001)” của Nguyễn Văn Tài, bảo vệ năm 2007 tại Trung tâm
Trang 13đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Luận văn đã khái quát tìnhhình kinh tế du lịch qua các giai đoạn khác nhau của thời kỳ đổi mới, thời
kỳ đầu (1986 1996) và giai đoạn phát triển quan trọng của du lịch (1996 2001); đề cập các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng trong lãnhđạo và phát triển kinh tế du lịch thời kỳ này; phân tích đánh giá các kết quảđạt được và những thành tựu bước đầu của kinh tế du lịch, rút ra những bàihọc kinh nghiệm về lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong 15 năm đổimới của Đảng; nêu lên một số giải pháp cơ bản đối với sự phát triển củangành
-Đối với vấn đề phát triển du lịch Thanh Hóa, đến nay, đã có một số
công trình nghiên cứu đề cập như: sách Du lịch Bắc Miền Trung - Nxb
Thuận Hóa - Nghệ An - Thanh Hóa Cuốn sách giới thiệu các điểm du lịch
và cụm du lịch nổi tiếng ở các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, QuảngBình, Hà Tĩnh, Nghệ An đến Thanh Hóa thuộc khu vực Bắc Trung Bộ.Phần địa danh tỉnh Thanh Hóa do tác giả Trần Quốc Chấn biên soạn, giớithiệu những địa danh du lịch nổi tiếng của tỉnh Thanh Hóa như núi Đọ,động Từ Thức và cụm thắng cảnh ở Nga Sơn, đền Bà Triệu, khu du lịch vàthắng cảnh Hàm Rồng, biển Sầm Sơn, bia mộ các vua Lê ở Lam Kinh,Vườn quốc gia Bến En, động Kim Sơn, Thành nhà Hồ, động Hồ Công, suối
cá Cẩm Lương Sách Địa chí Thanh Hóa (2010) gồm tập I, tập II, tập III, Nxb Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2010 Cuốn Việt Nam 63 tỉnh thành
và các địa danh du lịch của Thanh Bình - Hồng Yến, Nxb Lao động, năm
2009, giới thiệu về các lĩnh vực vị trí địa lí, diện tích và dân số, danh thắng
du lịch và các sản vật của 63 tỉnh thành trong cả nước trong đó có tỉnh
Thanh Hóa
Những công trình nghiên cứu trên đây cung cấp nhiều thông tin,những nhận xét, đánh giá về tiềm năng và tình hình phát triển kinh tế dulịch Thanh Hóa, song, chưa có công trình nào xem xét nội dung Đảng bộ
Trang 14tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm
2010 như một đề tài nghiên cứu độc lập, dưới góc độ nghiên cứu chuyênngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tuy nhiên, ngoài việc chứa đựngthông tin bổ ích về du lịch, các công trình trên cũng gợi mở nhiều vấn đềthuộc về nội dung, về phương pháp tiếp cận để tác giả sử dụng thực hiệnluận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ một cách toàn diện và kháchquan quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đối với phát triểnkinh tế du lịch từ năm 2001 đến 2010, đúc kết một số kinh nghiệm về sựlãnh đạo của Đảng bộ trong việc đưa du lịch thành ngành kinh tế quantrọng, góp phần cung cấp những cơ sở khoa học cho việc định hướng pháttriển du lịch của tỉnh trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu “Qúa trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triểnkinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010” đề tài hướng đến giải quyếtnhững nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ những tiềm năng để phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hóa
- Xuất phát từ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà Nước,luận văn tập trung đi sâu vào phân tích phương hướng, biện pháp của Đảng
bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch từ năm 2001 đến năm 2010
- Tái hiện và luận giải quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạophát triển kinh tế du lịch từ năm 2001 đến năm 2010
- Nhận định khoa học về những thành tựu và những hạn chế trongquá trình lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
- Đúc kết những kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnhThanh Hóa về phát triển kinh tế du lịch của tỉnh từ năm 2001 đến năm 2010
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng
- Đề tài tập trung nghiên cứu những chủ trương, chính sách, chỉ thịcủa Trung ương Đảng; phương hướng, biện pháp của Đảng bộ tỉnh ThanhHóa về lãnh đạo kinh tế du lịch
- Qúa trình thực hiện chỉ đạo của các cấp, các ngành về phát triểnkinh tế du lịch ở Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010
- Kết quả đạt được trong lĩnh vực du lịch dưới sự lãnh đạo củaĐảng bộ tỉnh Thanh Hóa từ năm 2001 đến năm 2010
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung: Du lịch là một lĩnh vực rộng, có thể đượcnghiên cứu ở nhiều khía cạnh, trong luận văn này chỉ nghiên cứu về lĩnh vựcĐảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch tại địa bàn tỉnhThanh Hóa
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2010
- Phạm vi về không gian: Địa bàn tỉnh Thanh Hóa
5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những chủ trương, đường lối vềphát triển kinh tế du lịch của Đảng cộng sản Việt Nam
- Nguồn tài liệu: Thực hiện luận văn, tác giả chủ yếu dựa vào các
nguồn tài liệu sau:
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng sản Việt Namlần thứ IX, X
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa
- Các Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo hàng năm của Tỉnh ủy, UBNDtỉnh Thanh Hóa
Trang 16- Các báo cáo hàng năm của Sở VHTT & DL Thanh Hóa và một sốbài nghiên cứu, bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về dulịch và kinh tế du lịch Thanh Hóa trên sách báo và tạp chí.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp
nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic, kết hợp phương pháp điều tra,phân tích, so sánh, đối chứng tài liệu, xử lí số liệu, tiếp cận lý thuyết dulịch và tiếp cận thực tiễn của Thanh Hóa để làm sáng tỏ vấn đề cầnnghiên cứu
6 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa nguồn sử liệu thuộc lĩnh vực Đảng lãnhđạo phát triển kinh tế du lịch tại một địa phương cụ thể là Thanh Hóa
- Luận văn phân tích sâu những nguồn lực phát triển du lịch tỉnhThanh Hóa, những phương hướng, biện pháp mang tính chủ động, sáng tạocủa Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa về phát triển du lịch, những kết quả mà dulịch Thanh Hóa đạt được trong 10 năm
- Luận văn phân tích những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân củanhững thành công và hạn chế trong lĩnh vực du lịch ở Thanh Hóa; đồngthời, rút ra những kinh nghiệm trong quá trình Đảng bộ tỉnh Thanh Hóalãnh đạo phát triển kinh tế du lịch
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn cung cấp những luận cứ khoa học có thể tham khảo, sửdụng vào việc hoạch định phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy trongTrường chính trị, các trường trung cấp dạy nghề, cao đẳng, đại học của tỉnh
về văn hóa, du lịch; trong biên soạn lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa thời
kỳ đổi mới và là tài liệu giúp ích cho các doanh nghiệp kinh doanh tronglĩnh vực du lịch xác định phương hướng phát triển
Trang 178 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh
Trang 18Chương 1 ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM 2001 - 2005
1.1 Nguồn lực phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa và tình hình phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trước năm 2001
1.1.1 Những nguồn lực phát triển kinh tế du lịch của tỉnh Thanh Hóa
1.1.1.1 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
Thanh Hóa nằm ở vị trí cầu nối giữa miền Bắc và miền Trung, ởphía Nam vùng Du lịch Bắc Bộ; phía Bắc giáp với các tỉnh Hòa Bình, Sơn
La và Ninh Bình, phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, phía Tây giáp tỉnh HủaPhăn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và phía Đông giáp biển Đôngvới đường bờ biển dài 102 km; là một trong 6 tỉnh rộng hàng đầu cả nướcvới diện tích 11.168km2 Thành phố tỉnh lỵ Thanh Hóa cách Thủ đô HàNội trên 150Km về phía Bắc
Thành Hóa có địa hình khá phong phú: miền núi và trung du, miềnđồng bằng, miền biển, chứa đựng những tiềm năng về phát triển kinh tế du lịch
Bờ biển Thanh Hóa tương đối bằng phẳng, thuận lợi phát triển kinh
tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh với những vũng Gầm, vũng Thủy,vũng Biện; các cửa lạch như Lạch Sung, Lạch Trường, Lạch Hới, LạchBạng và Lạch Ghép; các điểm nghỉ mát nổi tiếng như Sầm Sơn, Hải tiến(Hoằng Hóa), Hải Hòa (Tĩnh Gia) Ngoài khơi vùng biển Thanh Hóa cómột số đảo nhỏ như Hòn Mê, Hòn Nẹ, đảo Nghi Sơn là những điểm đến dulịch hấp dẫn
Trang 19Ngoài ra, vùng ven biển có nhiều bãi sú, vẹt, các bãi bồi rộng lớnthuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản, tạo nguồn thức ăn đặc sản cho
cư dân và du khách; thuận lợi cho việc trồng cói phát triển các làng nghềtruyền thống, đồng thời cho phát triển du lịch
Với lãnh hải rộng 1,7 vạn km2, có nhiều bãi cá lớn có giá trị dinhdưỡng cao như cá Hồng, cá Mối, cá Phèn , rất nhiều đàn tôm thuộc hệ tôm
He ở Việt Nam và trữ lượng lớn về Mực, Sứa, Cua, Ghẹ, đặc biệt là ốcHương hiện đang ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế, ThanhHóa ngày càng trở thành nơi hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế
Tài nguyên rừng ở Thanh Hóa chủ yếu là rừng nhiệt đới lá rộngthường xanh quanh năm, có hệ thống thực vật phong phú về loài và họ nhưLát hoa, Giổi, Táu Trong rừng có nhiều song, mây, tre, nứa và các dượcliệu như quế, cánh kiến đỏ Bên cạnh đó, hệ thống rừng trồng khá phát triểnvới các loại cây luồng, bạch đàn, phi lao, thông nhựa và nhiều loại cây ănquả khác Động vật rừng hiện còn xuất hiện các loại voi, bò, nai, hoẵng,vượn, khỉ, lợn rừng các loại bò sát như trăn, rắn, kỳ đà, các loại chim vàong rừng
Khu BTTN Pù Luông thuộc huyện Bá Thước với các vùng rừng tựnhiên quý, hiếm, có hệ sinh thái điển hình với tính năng đa dạng sinh họccao, tồn tại những loại sinh vật đặc hữu có giá trị lớn cho khoa học, thamquan và nghiên cứu Cùng với Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu ThácMuốn thuộc xã Điền Quang hàng năm có hằng trăm lượt khách trong vàngoài tỉnh đến thăm và nghỉ dưỡng
Vườn quốc gia Bến En (huyện Như Thanh) được xếp vào mộttrong mười vườn quốc gia bảo tồn thiên nhiên quý hiếm của Việt Nam
Thanh Hóa có vùng núi đá vôi với nhiều danh thắng hang động gắnvới các truyền thuyết, di tích lịch sử văn hóa hấp dẫn du khách như động
Từ Thức (Nga Sơn), động Long Quang trên núi Hàm Rồng (thành phố
Trang 20Thanh Hóa), động Hồ Công ở Vĩnh Lộc, quần thể hang động ở Tĩnh Gia,động Tiên Sơn (Vĩnh Lộc) - một hang động có quy mô lớn và đẹp, độngBàn Bù hay còn gọi là Hang Ngán (Ngọc Lặc) Ngoài ra một số hang, độngkhác như hang Con Moong (Thạch Thành), động Cây Đăng (Cẩm Thủy),
Lò Cao kháng chiến ở khu vực Bến En, hang Phi (động Ma) thuộc huyệnQuan Hóa , là những điểm du lịch ngày càng hấp dẫn
Thanh Hóa còn có một số nguồn nước khoáng xã Xuân Cẩm(Thường Xuân), Thạch Thành, Quan Hóa, Bá Thước, Quảng Yên (QuảngXương) đây là nguồn tài nguyên hấp dẫn khách du lịch đến nghỉ ngơi, chữabệnh
Có thể thấy, cảnh quan Thanh Hóa có những lợi thế để phát triểnđầy đủ các loại hình du lịch: tắm biển, thể thao nước, leo núi mạo hiểm,đặc biệt là du lịch thăm quan, nghỉ dưỡng ở miền biển, miền núi, gópphần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế du lịch nói riêng và kinh tế toàntỉnh nói chung
1.1.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Thanh Hóa vốn là một miền đất cổ của Việt Nam, có nền văn hóalâu đời, phát triển rực rỡ qua nhiều thời đại cho đến ngày nay, nhiều vị anhhùng dân tộc, danh nhân văn hóa nổi tiếng Trên địa bàn hiện có hàngnghìn di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có những di tích có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng như Di tích Thành nhà Hồ, được xây dựng năm 1397 dưới
triều Hồ Qúy Ly, nay thuộc địa phận xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyệnVĩnh Lộc; Khu Di tích Lam Kinh thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, lànơi có đền thờ, mộ chí Lê Lợi và điện Lam Kinh được xây dựng từ năm1433; Di tích Đông Sơn thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa,
là nơi phát hiện nhiều hiện vật quan trọng thuộc thời đại đồng thau và khu
mộ cách đây khoảng 3.000 năm, dấu tích về nền văn hóa đầu tiên ở ViệtNam, địa danh Đông Sơn đã được đặt tên cho nền văn hóa tiêu biểu của
Trang 21dân tộc Việt Nam thời kỳ dựng nước Theo số liệu thống kê đến tháng 9năm 2008, Thanh Hóa có 1.535 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đượcphân bố đều trên phạm vi toàn tỉnh Trong đó có 135 di tích được xếp hạngcấp quốc gia, chiếm 5,25% tổng số di tích xếp hạng quốc gia của cả nước(hiện cả nước có 2.569 di tích được xếp hạng quốc gia) và 412 di tích xếphạng cấp tỉnh Phần lớn các di tích này tập trung ở vùng đồng bằng và trung
du So với một số tỉnh lân cận, Thanh Hóa nổi lên như một quần thể di tíchlịch sử - văn hóa không những có giá trị đặc trưng mà còn khá đa dạng vềthể loại Các di tích lịch sử - văn hóa là một nguồn tài nguyên du lịch quantrọng giữ vai trò thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế
Thanh Hóa còn là vùng đất của các lễ hội truyền thống, nhiều lễ hội
có ý nghĩa lớn về mặt lịch sử, văn hóa, có tác dụng tích cực trong việc giáodục truyền thống yêu nước và khôi phục phát triển những nét đẹp trongsinh hoạt văn hóa cổ truyền Hằng năm, ở khắp các địa phương trên toàntỉnh đều tổ chức long trọng các lễ hội đặc trưng của từng địa phương để đápứng một phần đời sống tinh thần, tâm linh của người dân, đồng thời còn đểphục vụ mục đích phát triển du lịch
Lễ hội Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, mang nhiều màu sắcđặc trưng của từng tập tục, lề thói riêng biệt, hình thành và phát triển theo 3loại hình nổi trội
Lễ hội tín ngưỡng: Thường là tín ngưỡng dân gian, thờ các thần
thánh như thờ thần thành hoàng, thờ mẫu, thờ các thần liên quan đến cáchoạt động kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp… Những lễ hội của nhóm nàyphải kể đến lễ hội xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa tưởng niệm ông tổnghề đúc đồng Khổng Minh Không; lễ hội xã Quảng Cư ở Sầm Sơn tưởngniệm bà Triều - tổ sư nghề dệt săm xúc; lễ hội đình Phú Khê xã Hoằng Phú,huyện Hoằng Hóa - tổ nghề hát… Các lễ hội gắn với tín ngưỡng thờ mẫunhư lễ hội phố Cát ở Thạch Thành; lễ hội Đền Sòng ở thị xã Bỉm Sơn
Trang 22Lễ hội văn hóa - lịch sử: Thường gắn với việc tưởng niệm các nhân
vật lịch sử của dân tộc đã có công trong việc đấu tranh, giữ gìn và bảo vệ
Tổ quốc như lễ hội Bà Triệu ở Hậu Lộc; lễ hội Lam Kinh ở Thọ Xuân; lễhội Lê Hoàn ở Thọ Xuân… Đây là các lễ hội thường được tổ chức côngphu, quy mô vượt ra khỏi phạm vi của tỉnh, có tác dụng thu hút khách dulịch trên phạm vi toàn quốc
Lễ hội dân gian gắn với truyền thuyết: Lễ hội Từ Thức gắn với
truyền thuyết Từ Thức gặp Giáng Hương; Lễ hội Mai An Tiêm gắn vớitruyền thuyết Mai An Tiêm và quả Dưa đỏ; Lễ hội Thần Độc Cước gắn vớitruyền thuyết Thần Độc Cước, Hòn Trống Mái ở núi Trường Lệ; Lễ hộigắn với truyền thuyết cửa Thần Phù ở Nga Sơn; Lễ hội gắn với truyềnthuyết ông Vồm ở Thiệu Hóa; truyền thuyết Trạng Quỳnh ở Hoằng Hóa
Thanh Hóa cũng là xứ sở của những làn điệu dân ca tha thiết trữtình như hò sông Mã, hát xẩm xoan, múa đèn Đông Anh (Đông Sơn), tròdiễn Xuân Phả (Thọ Xuân), múa sạp, múa xòe (các dân tộc thiểu số) , cósức hấp dẫn đối với khách du lịch
Các làng nghề truyền thống: Khai thác các sản phẩm thủ công
truyền thống và khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống có vai tròquan trọng trong việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế dulịch nói riêng Thanh Hóa vốn có nhiều làng nghề thủ công truyền thốngđộc đáo như: Làng Nhồi (Đông Hưng - Đông Sơn), nổi tiếng với nghềchạm khắc đá, nhất là các sản phẩm đá phục vụ xây dựng, trang trí đềnchùa, cung điện, lăng tẩm; làng nghề chiếu cói ở Nga Sơn; nghề làm nướcmắm ở Khúc Phụ (Hoằng Phụ - Hoằng Hóa), nghề dệt vải tơ lụa ở NghĩaHưng (Hoằng Hóa); nghề ép dầu ở Đại An và Tào Xuyên (Hoằng Hóa);Ngoài ra, còn có nghề đúc đồng ở làng Chè xã Thiệu Trung, huyện ThiệuHóa; nghề gốm gia dụng ở làng Vồm, xã Thiệu Khánh; nghề tiện gỗ ở
Trang 23Quảng Minh (Quảng Xương); nghề đúc lưỡi cày ở Đồng Lạc (HoằngTrạch), nghề thợ mộc ở Đạt Tài, Hạ Vũ, Hà Thái (Hoằng Hà), nghề nhuộm
ở Trinh Hà (Hoằng Trung), nghề đan ở Đoan Vĩ, Thái Hòa; nghề dệt thổcẩm của các dân tộc Mường, Thái ở Bá Thước, Lang Chánh… Nhìn chung,các làng nghề này đều nằm gần các tuyến điểm du lịch cho nên thuận lợicho việc tổ chức các tour thăm quan, làm phong phú thêm lịch trình đi, hấpdẫn du khách
Thanh Hóa còn là địa phượng có nhiều món ăn đặc sản, mang đậm
hồn quê, đem lại cho du khách những cảm nhận khó quên như Chè LamPhủ Quảng - thứ đặc sản của phố Giáng; Bảo Sâm - loại sâm trên núi Báo(Vĩnh Lộc); bánh gai Tứ Trụ, cốm Tiến Vua, bánh lá Răng Bừa (ThọXuân); nem chua (thành phố Thanh Hóa); dừa (Hoằng Hóa); cá Mè sôngMực; nước mắm Du Xuyên
Ngoài ra, các chợ nông thôn tại Thanh Hóa không chỉ là nơi trao đổi
hàng hóa đơn thuần mà tại đây người ta có thể trao đổi các giá trị nhân văn,trao đổi tình cảm cộng đồng, là đối tượng văn hóa đối với khách du lịch haynhững người muốn tìm hiểu giá trị văn hóa đích thực của một vùng Các chợtiêu biểu như chợ Phủ (Hậu Lộc), chợ Môi (Quảng Xương), chợ Hôm Giún(Nga Sơn), chợ Kim Tân (xã Thành Kim, huyện Thạch Thành) …
1.1.1.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng
Tỉnh Thanh Hóa có hệ thống giao thông khá thuận lợi Về giaothông đường bộ, Thanh Hóa có hầu hết những tuyến giao thông huyết mạchcủa đất nước chạy qua như: Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh và đường sắtxuyên Việt; quốc lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng ven biển, đường chiếnlược 15A xuyên suốt vùng trung du và miền núi, đường 217 nối với nướcbạn Lào, quốc lộ 45 (từ Thạch Thành đến Như Xuân), quốc lộ 47 (từ SầmSơn đến Lam Sơn) Ngoài những tuyến đường quốc lộ có không gian lưu
Trang 24thông, liên kết rộng, tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hộitrước mắt cũng như lâu dài, Thanh Hóa còn có hệ thống giao thông tỉnh lộ,huyện lộ, hệ thống đường liên xã… rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế, vănhóa, du lịch Về giao thông đường thủy, Thanh Hóa có hệ thống sông ngòivới 4 hệ thống sông chính, gồm hệ thống sông Mã, hệ thống sông Hoạt, hệthống sông Yên, hệ thống sông Lạch với 30 sông lớn, nhỏ, tổng cộng chiềudài là 1.899km và có 5 cửa lạch chính thông ra biển Cảng biển Nghi Sơnđang được xây dựng thành cảng nước sâu cửa ngõ của khu vực Nam Bắc
Bộ và Bắc Trung Bộ Về giao thông đường không, với việc sân bay SaoVàng được khai thác với mục đích dân sự, Thanh Hóa trở thành một đầumối của giao thông đường không trong nước và quốc tế Có thể thấy, hầuhết các đầu mối giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ đã kết nốiđược với các điểm du lịch quan trọng của tỉnh, tạo điều kiện rất cơ bản đểphát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển kinh tế du lịch nói riêng
Cơ sở hạ tầng của tỉnh Thanh Hóa ngày càng được cải thiện đáp ứngnhu cầu của địa phương về phát triển kinh tế - xã hội và du lịch Mạng lướiđiện trong tỉnh đã được xây dựng và tương đối hoàn chỉnh Tình hình nguồn
và khả năng phân phối điện của Thanh Hóa nhìn chung phát triển mạnh và cơbản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Hệ thống cung cấp nướcsạch đã lắp đặt đến các khu du lịch quan trọng như Sầm Sơn, Bỉm Sơn… Hệthống thoát nước tại các khu du lịch trên địa bàn Thanh Hóa tương đối tốt, ít
bị úng lụt trong mùa mưa lũ, đảm bảo cho hoạt động của nhân dân và dukhách bình thường Bưu chính viễn thông của tỉnh có bước phát triển đạt trình
độ hiện đại, bước đầu hội nhập được với khu vực và quốc tế, đáp ứng đượccác nhu cầu của du khách
Đến 2010, trên địa bàn Thanh Hóa có khoảng 1800 khách sạn, nhànghỉ các loại, trong đó có những khách sạn 3 sao với tiện nghi hiện đại, đápứng yêu cầu ăn ở của du khách trong nước và quốc tế
Trang 251.1.1.4 Điều kiện kinh tế và nguồn nhân lực
Thanh Hóa là tỉnh nằm trong vùng giao thoa chịu ảnh hưởng củakhu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và các vùng kinh tế trọng điểm miềnTrung Cùng với công cuộc đổi mới của cả nước, nền kinh tế của tỉnh đã đivào ổn định và phát triển tốc độ khá nhanh Giai đoạn 2000 - 2006, tốc độtăng trưởng kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đạt khá cao 9,3% cao hơn 1,82 lần
so với bình quân cả nước Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực,tăng dần tỷ trọng dịch vụ Vị trí thuận lợi, nguồn tài nguyên đa dạng vàphong phú là những tiền đề quan trọng để Thanh Hóa phát triển ngành kinh
tế tổng hợp “công nghiệp - dịch vụ - du lịch”
Về nguồn nhân lực, Thanh Hóa là một tỉnh đông dân (năm 2006
dân số toàn tỉnh Thanh Hóa là 3.680.418 người, mật độ dân số bình quân
331 người/km2), có nguồn lao động trong độ tuổi rất dồi dào, có trình độhọc vấn tương đối cao so với cả nước Thanh Hóa có hệ thống các trườngđại học đến dạy nghề phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
du lịch nói riêng như Trường đại học Hồng Đức, Trường trung cấp ThươngMại Trung ương V, Trường dạy nghề thương mại và du lịch, công nghiệp,giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy sản… Hằng năm các cơ sở này đàotạo hàng trăm kỹ sư, cử nhân, lao động có tay nghề đáp ứng một phần quantrọng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Trên địa bàn Thanh Hóa có 8 dân tộc anh em cùng chung sống,trong đó đông nhất là người Kinh (chiếm đến 83,46%), người Mường(9,49%), người Thái (6,15%), còn lại là dân tộc khác như dân tộc Mông,Dao, Hoa… Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở các huyện miền núiphía Tây Thanh Hóa như Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh…, tuy với sốlượng không nhiều, nhưng lại có một nền văn hóa đặc sắc, thể hiện trongtập tục, trong sinh hoạt văn hóa dân gian, trong lễ hội và ngay cả trong cáchoạt động canh tác Thanh Hóa được mệnh danh là thủ phủ của dân tộc
Trang 26Mường Dưới góc độ du lịch thì đây là một vốn quý, là nguồn tài nguyênđặc sắc được khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế quan tâm.
Nguồn nhân lực cũng chính là một dạng tài nguyên du lịch đặc biệtgóp phần cùng với các tài nguyên tự nhiên và nhân văn để phát triển du lịchThanh Hóa
Như vậy, Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng du lịch rất lớn Vị trí địa
lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi về cảnh quan thiên nhiên với bờ biển trảidài và nhiều danh lam thắng cảnh, các khu rừng nguyên sinh Bên cạnh đó,Thanh Hóa là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ, nơi có nềnvăn hóa Đông Sơn rực rỡ với trống đồng Đông Sơn, là mảnh đất có truyềnthống văn hóa lâu đời được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt” đã sản sinhcho đất nước nhiều danh nhân văn hóa và anh hùng dân tộc, nơi phát tíchcủa các triều Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn mà dấu ấncòn lưu lại cho đến nay Tiềm năng du lịch Thanh Hóa là nguồn lực quantrọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần giải quyếtcông ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân
Bên cạnh những thuận lợi, phát triển kinh tế du lịch ở tỉnh ThanhHóa vẫn còn gặp nhiều khó khăn Ngoài những khó khăn khách quan nhưthời tiết không thuận lợi, thường có giông, bão, những khó khăn về cơ sở
hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho phát triển du lịch (cấp điện, cấpthoát nước, bưu chính viễn thông…) tuy đã được cải thiện song vẫn cònnhiều bất cập; hệ thống dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng… chưa đáp ứngđược yêu cầu của khách du lịch; số lượng và chất lượng lao động trongngành du lịch còn nhiều hạn chế; tình trạng khai thác các nguồn tài nguyên
du lịch thiếu hợp lý đã dẫn đến sự ô nhiễm môi trường sinh thái, ô nhiễmcác nguồn nước diễn ra ngày càng bất lợi cho khả năng phát triển bền vữngcủa du lịch
1.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch Thanh Hóa trước năm
Trang 27Hoạt động du lịch của Thanh Hóa có từ rất sớm, tuy nhiên do nhiềunguyên nhân, nhất là do tư duy quản lý, trong thời gian trước năm 1986, dulịch chủ yếu mang tính bao cấp, phục vụ cho cán bộ, công nhân viên vớimục đích phi lợi nhuận
Từ khi cùng cả nước bước vào công cuộc đổi mới toàn diện, nhờchính sách lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, du lịch Thanh Hóa có nhữngchuyển biến rõ rệt
Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Thanh Hóa, trong khoảngthời gian 1991 đến năm 2000, tổng lượng khách du lịch đến Thanh Hóa cótốc độ tăng trưởng khá Năm 1992, Thanh Hóa đón được 197.853 lượtkhách du lịch, năm 1996 đón được 234.575 lượt khách, đến năm 2000 đónđược 434.931 lượt khách, tăng gấp 2,1 lần so với năm 1992 Năm 1997,tổng lượng khách tới thăm Thanh Hóa đã tăng 22,4 % so với năm 1996(287.150 lượt khách so với 234.575 lượt khách) Năm 1998 so với năm
1997 tăng 18,83% Tuy nhiên, tốc độ này vẫn chưa tương xứng với vị tríquan trọng của tỉnh Thanh Hóa trong chiến lược phát triển du lịch toànquốc và nhất là chưa tương xứng với những tiềm năng du lịch phong phú
và đa dạng của địa phương
Trong thời gian này lượng khách du lịch quốc tế đến Thanh Hóacũng tăng khá nhanh Năm 1991, cả tỉnh mới chỉ đón 616 lượt khách quốc
tế, năm 1995 con số đó tăng đến 1.685 lượt khách và đến năm 2000 tănglên 3.117 lượt khách, gấp 5 lần so với năm 1991 Lượng khách tới ThanhHóa ngày càng đa dạng hơn: Tây Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, ĐàiLoan, Hàn Quốc Trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho du lịch cònnhiều hạn chế, đón được một số lượng khách lớn trong một thời gian ngắn
là một thành công đáng kể
Tuy nhiên, lượng khách du lịch tới Thanh Hóa thời gian này chủ
Trang 28yếu là khách nội địa Năm 2000, toàn tỉnh đón được 434.931 lượt khách,trong đó khách nội địa là 431.814 lượt khách Khách du lịch nội địa đếnThanh Hóa chủ yếu là từ Hà Nội và các tỉnh phụ cận Mục đích của khách
du lịch nội địa đến Thanh Hóa là thăm quan, nghỉ dưỡng, tắm biển,…thường tập trung từ tháng 6 đến tháng 9 hằng năm Trong số các điểm dulịch trên toàn địa bàn, điểm du lịch Sầm Sơn chiếm 70 - 80% lượng kháchđến Thanh Hóa
Về doanh thu du lịch, năm 1990 doanh thu từ du lịch của tỉnh đạt10,042 tỷ đồng, năm 1995 đã đạt tới con số 53,494 tỷ đồng, đến năm 2000đạt 84,126 tỷ đồng Doanh thu ăn, uống và lưu trú vẫn chiếm 70 - 80%doanh thu du lịch
Theo số liệu thống kê, năm 1990 cả tỉnh có 1.281 lao động trongngành du lịch do Nhà nước quản lý, năm 1996 con số này là 1.625 người,đến năm 2000 là 1.975 lao động Ngoài ra, còn phải kể đến số lao độnghoạt động kinh doanh cá thể trong lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, du lịchtrên phạm vi toàn tỉnh Tổng cộng, số lao động trực tiếp có liên quan tớihoạt động thương nghiệp, nhà hàng, khách sạn, du lịch trên địa bàn ThanhHóa năm 2000 là 45.711 lao động Nhìn chung, lực lượng lao động trong
du lịch ở Thanh Hóa nói chung có chuyên môn thấp, số lao động phổ thôngchưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ lệ tương đối cao, trình độ chuyên mônnghiệp vụ, ngoại ngữ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển Số cán bộ cótrình độ đại học, đặc biệt là đại học chuyên ngành còn quá ít, chưa kể đếntrường hợp bố trí chưa phù hợp với ngành nghề đã khiến cho công tác tổchức, quản lý và điều hành các hoạt động du lịch gặp không ít khó khăn.Năm 1990, trong tổng số 1.281 lao động chỉ có 98 người có trình độ đạihọc, chiếm 7,6% và năm 1996 con số này là 172/1.625 (chiếm 10,5%) [82,
tr 27 - 28]
Trang 29Cùng với sự gia tăng của khách du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật củangành du lịch đang từng bước phát triển Hệ thống các cơ sở lưu trú, ănuống ở Thanh Hóa phát triển với tốc độ nhanh Năm 1991, toàn tỉnh có 107
cơ sở lưu trú, năm 1995 tăng 182 cơ sở đến năm 1999 tăng lên 196 cơ sởlưu trú Tuy nhiên, chất lượng các cơ sở lưu trú tại Thanh Hoá còn thấp sovới nhu cầu của ngành du lịch Các cơ sở lưu trú ở Thanh Hóa có quy mônhỏ, trang thiết bị kém, hệ thống các dịch vụ chưa đồng bộ, ảnh hưởng đếnkhả năng đón tiếp và phục vụ khách Nếu năm 1995 toàn tỉnh có 182 cơ sởlưu trú với 3.076 phòng thì chỉ có 307 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế (chiếm9,9%) Hệ thống cơ sở ăn uống của Thanh Hóa ngoài các phòng ăn trongcác cơ sở lưu trú, Thanh Hóa còn có 55 cơ sở ăn uống khác với 165 phòng,4.129 ghế Về cơ sở ăn uống, cũng như các địa phương khác, các cơ sở ănuống còn rất nghèo nàn nên không giữ được khách ở lưu lại dài ngày Vềphương tiện vận chuyển khách du lịch Thanh Hóa còn nhiều hạn chế cả về
số lượng và chất lượng Toàn tỉnh có trên 339 đầu xe chuyên chở khách dulịch Tuy nhiên, chất lượng còn kém, chưa có đội xe hiện đại và tiện nghiphục vụ khách du lịch đường dài
Có thể thấy rằng, du lịch Thanh Hóa trong giai đoạn từ năm 1986đến năm 2000 bước đầu đã có sự phát triển, song sự phát triển này chưatương xứng với tiềm năng giàu có của tỉnh Tốc độ gia tăng của khách dulịch cũng như thời gian lưu trú của khách còn thấp, sự đóng góp của ngành
du lịch trong cơ cấu GDP của tỉnh không nhiều Đó cũng là thực trạngchung của nhiều địa phương khác trong cả nước, vì ngành du lịch còn làmột ngành kinh tế khá mới mẻ Nhận thức của các cấp ủy Đảng, của chínhquyền, của ngành du lịch tỉnh Thanh Hóa về vai trò nhiều mặt của du lịchcòn ở mức hạn chế Mặc dù Đảng và Nhà nước xác định du lịch là mộtngành kinh tế tổng hợp, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, nhưng nhận thức đó chưa được quán triệt và thực
Trang 30hiện đầy đủ ở tất cả các ngành, các cấp của tỉnh… Nhiều nơi chưa coi dulịch là một ngành kinh tế đặc thù có yêu cầu phát triển bền vững; chưa thấytác dụng và hiệu quả nhiều mặt của du lịch Trước khi có quy hoạch tổngthể du lịch (2000), sự phát triển du lịch còn mang tính tự phát, khai thác tàinguyên không hợp lý, gây ảnh hưởng lớn đến cảnh quan môi trường, dẫnđến hiệu quả không cao Việc đầu tư cho ngành kinh tế du lịch, đặc biệt làđầu tư cho công tác tuyên truyền quảng cáo, công tác đào tạo nhân lực, đầu
tư cho việc xây dựng các cơ sở vui chơi giải trí và các công trình dịch vụ
du lịch khác… còn hạn chế nên ảnh hưởng đến sự phát triển chung củangành Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém và bị xuốngcấp Du lịch địa phương chưa tạo ra được các sản phẩm du lịch đặc sắc, cótính hấp dẫn khách cao Giá cả của các sản phẩm du lịch còn chưa phùhợp với chất lượng, chưa cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại củacác địa phương khác Chất lượng đội ngũ nhân viên phục vụ trong các cơ
sở du lịch còn hạn chế, trình độ nghiệp vụ chưa cao nên ảnh hưởng đếnchất lượng các sản phẩm du lịch Các cơ sở vui chơi, giải trí còn rất nghèonàn và hầu như chưa có gì nên không giữ được khách lưu lại dài ngày Sựxuống cấp của môi trường, cảnh quan có nguy cơ làm mất đi sự hấp dẫncủa Thanh Hóa đối với khách thập phương
Mặc dù vậy, những cố gắng, nỗ lực của ngành du lịch Thanh Hóa
và những đóng góp của ngành cho sự phát triển kinh tế - xã hội chung củatỉnh rất đáng được ghi nhận Những kết quả đạt được là bước đi đầu tiên,tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo của ngành
1.2 Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005
1.2.1 Đảng bộ Thanh Hóa vận dụng chủ trương của Đảng, xây dựng phương hướng phát triển kinh tế du lịch trong những năm 2001 - 2005
Trang 31Bước sang thế kỉ XXI, đất nước có những chuyển biến tích cực vềkinh tế - xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, song bêncạnh những cơ hội lớn, công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam cũng đốidiện với những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi Đảng, Nhà nước và nhândân ta phải có những quyết sách mới để đưa đất nước đi lên
Đứng trước những yêu cầu có tính cấp thiết đó, từ ngày 19 đếnngày 24-4-2001, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX đã diễn ratại thủ đô Hà Nội Đại hội đi sâu tổng kết những thành tựu đã đạt được của
5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, 10 năm thựchiện chiến lược kinh tế - xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc,
từ đó phát triển hoàn thiện đường lối, định ra chiến lược phát triển đất nướctrong thời gian tới Đại hội đề ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xãhội 10 năm 2001 - 2010 là:
Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõrệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đểđến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theohướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và côngnghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế quốc phòng, an ninh đượctăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trườngquốc tế được nâng cao [48, tr.24]
Đối với ngành kinh tế du lịch, Đại hội chỉ rõ mục tiêu:
Phát triển du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn;nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trên cơ sở khai tháclợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa,lịch sử, đáp ứng nhu cầu du lịch trong nước và phát triển nhanh
du lịch quốc tế, sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực
Trang 32[48, tr.178].
Đại hội cũng đã đưa ra định hướng phát triển cho ngành du lịch giaiđoạn 2001 - 2005 là: “xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, hình thành cáckhu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liên kết với các nước” [48, tr.178]
Ngoài việc đưa ra đường lối phát triển chung cho ngành du lịch
trên phạm vi cả nước, trong Định hướng phát triển các vùng lãnh thổ, văn
kiện Đại hội Đảng IX cũng nêu lên chủ trương phát triển kinh tế du lịch củaĐảng đối với điều kiện kinh tế - xã hội và tiềm năng du lịch cụ thể của 6vùng lãnh thổ Đối với khu vực Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ vàvùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Đảng chủ trương: “Khai thác thếmạnh du lịch văn hóa, lịch sử và du lịch ven biển; phát triển các trung tâm
du lịch ở từng tỉnh trong vùng và các điểm du lịch hấp dẫn Phối hợp sựphát triển của các đô thị, khu, cụm công nghiệp với phát triển du lịch, nhất
là du lịch biển” [48, tr 823-824]
Chủ trương của Đảng trong Đại hội IX về phát triển kinh tế du lịchtrên phạm vi cả nước nói chung và đối với từng vùng miền lãnh thổ nóiriêng, thể hiện sự nhận thức sâu sắc của Đảng đối với vai trò của ngànhkinh tế du lịch Đây là cơ sở để các địa phương xây dựng những địnhhướng phát triển du lịch phù hợp, khai thác tối đa thế mạnh của mình, đưa
du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, ngày22-7-2002, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 97/2002/QĐ-TTg phê
duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 200 - 2010 với mục tiêu tổng
quát là: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trên cơ sở khaithác có hiệu quả lợi thế về điều kiện, sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế, góp phần thựchiện CNH, HĐH đất nước; từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm dulịch có tầm cỡ của khu vực, phấn đấu sau 2010 du lịch Việt Nam được xếp
Trang 33vào nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực.
Để thực hiện những mục tiêu đề ra trong chiến lược Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010, ngày 30-9-2002, Tổng cục Du lịch
tổ chức hội nghị triển khai Chương trình hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2002 – 2005 Hoạt động của Chương trình tập trung vào 4 mảng
nội dung chính: 1 Tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch; 2 Đa dạnghóa, nâng cao chất lượng sản phẩm; 3 Đẩy mạnh phối hợp liên ngành,khuyến khích các hoạt động du lịch; 4 Tăng cường quản lý Nhà nước về
Du lịch Trong giai đoạn này, chủ đề mới được chọn là “Việt Nam - Điểmđến thân thiện và an toàn” Những chương trình và chủ đề này nhằm mụcđích định hướng cho du lịch Việt Nam phát triển theo hai hướng là hoànchỉnh và mở rộng những sản phẩm du lịch độc đáo; đẩy mạnh công táctuyên truyền, quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam đến bạn bèquốc tế, để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn trên thế giới
Các bộ, ban, ngành Trung ương cũng quan tâm, tạo điều kiện chongành du lịch phát triển Ngày 25-12-2002, Bộ Nội vụ ra Quyết định số
18/2002/QĐ-BNV về việc Cho phép thành lập Hiệp hội du lịch Việt Nam.
Ngày 29-7-2003, Bộ tài nguyên môi trường ra Quyết định số
02/2003/QĐ-BTNMT, ban hành Quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.
Ngày 29-4-2005, Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 48/2005/TT-BNV về
Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn UBND quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương.
Để thúc đẩy ngành du lịch trong nước phát triển, tăng cường hiệuquả quản lý nhà nước về du lịch, góp phần phát triển kinh tế - xã hội củađất nước, ngày 8-2-1999, Uỷ ban Thường vụ quốc hội đã thông qua pháplệnh Du lịch nhằm thể chế hóa đường lối phát triển du lịch của Đảng vàNhà nước, cụ thể hóa Điều 42 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Trang 34Việt Nam năm 1992 Đây là cơ sở pháp lý để tạo điều kiện cho du lịch pháttriển, khuyến khích các tổ chức, các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tếtham gia kinh doanh du lịch Pháp lệnh du lịch nêu rõ: “Nhà nước thốngnhất quản lý hoạt động du lịch; bảo đảm phát triển du lịch theo hướng dulịch văn hóa, du lịch sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần
phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” [63] Pháp lệnh Du lịch cũng quy
định về bảo vệ, khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên du lịch, các hoạtđộng xúc tiến du lịch về khách du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch, hợptác quốc tế về du lịch, quản lý nhà nước về du lịch Đến năm 2005, trên cơ
sở kế thừa những thành tựu đã đạt được của Pháp lệnh du lịch 1999, ngày14-6-2005, Quốc hội khóa X, Kỳ họp thứ 7 thông qua Luật Du lịch số44/2005/QH11 Luật Du lịch được ban hành đã khắc phục những bất cậpcủa Pháp lệnh Du lịch, đồng thời bổ sung các vấn đề mà Pháp lệnh Du lịchcòn thiếu, hạn chế những quy định chung chung có tính định hướng đểgiảm bớt các quy định cần có văn bản hướng dẫn Luật Du lịch có hiệu lựcthi hành từ 1-1-2006, bao gồm 11 chương, 88 điều quy định về TNDL vàhoạt động du lịch; quyền và nghĩa vụ của khách du lịch, tổ chức, các cánhân kinh doanh du lịch, tổ chức, cá nhân khác có hoạt động liên quan đến
du lịch Luật Du lịch đã tạo ra một luồng gió mới cho sự nghiệp phát triển
du lịch Việt Nam, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch hoạt độngthông thoáng, không lệ thuộc quá nhiều vào các cơ quan quản lý hànhchính
Là tỉnh có vị trí quan trọng về kinh tế, an ninh quốc phòng, nơi giàu
có về tài nguyên du lịch, sự nghiệp phát triển kinh tế nói chung và kinh tế dulịch của tỉnh Thanh Hóa nói riêng được Trung ương Đảng, Chính phủ hếtsức quan tâm Ngày 08-08-2003, Văn phòng chính Phủ ra Thông báo số 118/
TB - VPCP về ý kiến của Thủ tướng Phan Văn Khải: “đưa tỉnh Thanh Hóa
Trang 35vào quy hoạch trọng điểm phát triển du lịch quốc gia”; “Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Thanh Hóa 2001 - 2010” theo
Quyết định số 24/2002/QĐ - TTG ngày 1/2/2002 của Thủ tướng Chính phủ.Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 253/2005/QĐ-TTg
ngày 12-10-2005, phê duyệt Đề án: “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh miền Tây tỉnh Thanh Hóa đến năm 2010”.
Những chủ trương và định hướng phát triển du lịch của Đảng,Chính phủ đối với Thanh Hóa đã tạo những điều kiện thuận lợi để Đảng bộtỉnh lãnh đạo phát triển kinh tế du lịch, phục vụ công cuộc phát triển địaphương theo đường lối đối mới
Quán triệt chủ trương của Đảng, được sự chỉ đạo, hướng dẫn vàgiúp đỡ của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, bước vào những nămđầu thế kỷ XXI, Đảng bộ và nhân dân Thanh Hóa đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, trong đóphát triển kinh tế du lịch được chú ý nhằm khai thác những lợi thế về vị trí
và tiềm năng tài nguyên du lịch địa phương
Tháng 12 năm 2000, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lầnthứ XV diễn ra Trong “Phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2001 - 2005”của Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV trình Đạihội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (Nhiệm kỳ 2001 - 2005) đã nhấn mạnh:
Triển khai quy hoạch phát triển du lịch thời kỳ 2001 - 2010.Phát triển du lịch phải gắn với giữ gìn và khai thác các giá trịvăn hóa truyền thống, các điểm di tích văn hóa và lễ hội, cùngvới đầu tư kết cấu hạ tầng, bảo vệ môi trường sinh thái, giáo dụcnâng cao trình độ văn minh trong du lịch Tăng cường quảng bá
du lịch, xúc tiến xây dựng các dự án phát triển du lịch, có chínhsách hợp lý thu hút đầu tư theo nguyên tắc có trọng điểm, theo
Trang 36quy hoạch Cùng với Bộ Văn hóa Thông tin, tập trung đẩynhanh tiến độ thực hiện dự án phục chế khu di tích Lam Kinh,triển khai dự án khu du lịch sinh thái - lịch sử Hàm Rồng, xúctiến xây dựng dự án tôn tạo Thành nhà Hồ, phát triển khu dulịch Nam Sầm Sơn và tôn tạo, nâng cấp một số công trình vănhóa, lịch sử khác [43, tr.17]
Đảng bộ tỉnh cũng xác định, bên cạnh vai trò kinh tế, phát triển dulịch còn thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác như thương mại,giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, ngân hàng… Đại hội Đảng bộtỉnh lần thứ XV đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao chất lượng, tăng nhanh khốilượng dịch vụ vận tải hành khách, hàng hóa, dịch vụ bưu chính viễn thông,dịch vụ cung cấp điện, nước…; phát triển nhanh các loại hình dịch vụ khácnhư tài chính, ngân hàng, kiểm toán…” [43, tr.17]
Những phướng hướng được xác định tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lầnthứ XV là cơ sở để các ban, ngành, địa phương, nhất là ngành du lịchThanh Hóa xây dựng kế hoạch thực hiện và đề ra những biện pháp pháttriển du lịch trong những năm 2001 - 2010
Sau một thời gian triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XV về phương hướng phát triển kinh tế du lịch và thực hiện dự án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 1997 - 2010 đã
được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt tại Quyết định 1363/2000/QĐUB,ngày 06-06-2000 đến năm 2004, Sở Du lịch Thanh Hóa với sự cố vấn củaViện nghiên cứu phát triển Du lịch - Tổng cục du lịch Việt Nam đã đề xuất đề
cương Đề án Phát triển du lịch Thanh Hóa trở thành trọng điểm quốc gia.
Được sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh, ngày 01-11-2004, UBND tỉnh Thanh Hóa
đã ra Quyết định số 3430/QĐ-CT về việc phê duyệt đề cương Đề án Phát triển du lịch Thanh Hóa thành trọng điểm du lịch quốc gia Đề án có ý nghĩa
Trang 37vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế du lịch Thanh Hóa, là sự
cụ thể hóa chủ chương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch ThanhHóa thành trọng điểm du lịch quốc gia Đề án gồm 3 phần
Phần 1, Đề án xác định sự cần thiết đưa du lịch Thanh Hóa thànhtrọng điểm du lịch quốc gia
Về tổ chức không gian du lịch, Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định một số khu vực phát triển
du lịch có ý nghĩa quốc gia trong đó có đô thị du lịch thị xã Sầm Sơn, điểm
du lịch biển quốc gia Sầm Sơn; về ưu tiên đầu tư phát triển, trong 49 dự án
du lịch quan trọng được Nhà nước tập trung tư phát triển, Sầm Sơn là khuvực được Định hướng phát triển du lịch Việt Nam đưa vào danh mục đầu
tư trọng điểm; về tiềm năng, Thanh Hóa có nhiều yếu tố nguồn lực để pháttriển du lịch (bao gồm các yếu tố ngoại lực và nội lực), các lợi thế so sánh
về mặt vị trí, tài nguyên du lịch, điều kiện kinh tế - xã hội, điều kiện cơ sở
hạ tầng Thế nhưng, vị thế trọng điểm du lịch quốc gia chưa được cụ thể
hóa trong Chiến lược phát triển Du lịch, Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn CNH, HĐH “Do đó, xuất phát từ nhiệm vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, phát triển du lịch Việt Nam, tiềm năng và nguồn lực trên địa bàn, du lịch tỉnh Thanh Hóa cần được ưu tiên và có đủ điều kiện để phát triển trở thành trọng điểm
Trang 38Phần 3, Đề án xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển du lịchThanh Hóa trong từng thời kỳ để thành trọng điểm du lịch quốc gia, làm cơ
sở điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thanh Hóa đến năm
2010, định hướng đến năm 2020 và đề xuất các giải pháp về tổ chức quản
lý phát triển du lịch, giải pháp đầu tư, giải pháp tài chính, giải pháp thịtrường - xúc tiến phát triển du lịch, giải pháp phát triển nguồn nhân lực,phát triển du lịch tương ứng với tiềm năng và vị thế của du lịch Thanh Hóa
1.2.2 Qúa trình phát triển du lịch theo chủ trương của Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa những năm 2001 - 2005
Thực hiện chủ trương của Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở Dự án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa 1997 - 2010 và Đề án Phát triển du lịch Thanh Hóa thành trọng điểm du lịch quốc gia, dưới sự
chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân Thanh Hóa, ngành du lịch của tỉnhnhanh chóng triển khai xây dựng các quy hoạch chi tiết, hình thành các khu
du lịch tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước vàquốc tế, nhằm khai thác một cách có hiệu quả các tiềm năng du lịch củatỉnh Thanh Hóa Giai đoạn này, 10 dự án quy hoạch phát triển du lịch chitiết được xây dựng và được UBND tỉnh Thanh Hóa và Tổng cục Du lịchphê duyệt đưa vào thực hiện, gồm quy hoạch chung và quy hoạch chi tiếtcác khu du lịch và khu di tích
Về đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế nói chung và du
lịch nói riêng, từ năm 2001 - 2003, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh,Thanh Hóa đã đầu tư xây dựng Trung tâm thi đấu thể thao tại Sầm Sơn.Đây là công trình nhằm hình thành loại hình du lịch mới tại Sầm Sơn - dulịch thể thao Cũng trong thời gian này, nhiều công trình cơ sở hạ tầng nhưcác sân tennis, tắm hơi, bể bơi, công viên, khu vui chơi giải trí để kéo dàithời gian lưu trú của khách được triển khai xây dựng tại thành phố ThanhHóa, thị xã Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn Tại thành phố Thanh Hóa, UBND
Trang 39tỉnh đã phê duyệt Dự án quy hoạch khu du lịch Hàm Rồng, xây dựng nơiđây thành khu du lịch tổng hợp công viên, thể thao lớn của địa phương
Hệ thống đường giao thông đi vào các khu du lịch của tỉnh được
đầu tư lớn Sau khi Quy hoạch chi tiết khu du lịch Nam Sầm Sơn được phê
duyệt ngày 24-7-2003, nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu du lịchSầm Sơn như Dự án đường vào khu du lịch Nam Sầm Sơn; Dự án đườngvành đai thị xã Sầm Sơn với tổng kinh phí lên đến 24 tỷ đồng Tính chunggiai đoạn 2001 - 2005, kinh phí đầu tư đường giao thông vào khu du lịchSầm Sơn là 34 tỷ đồng Ngoài ra trong giai đoạn này, ngành du lịch cũngchú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch khác như Dự án đường
và cầu vào Suối cá Cẩm Lương với tổng kinh phí 5,6 tỷ đồng; Dự án đườngvào khu du lịch văn hóa Hàm Rồng 14 tỷ đồng; Dự án cơ sở hạ tầng khu dulịch Thành nhà Hồ 4 tỷ đồng
Nhìn chung, trong những năm này, Bộ giao thông vận tải và UBNDtỉnh đã có nhiều dự án đầu tư, cải tạo, nâng cấp các tuyến đường quốc lộ,tỉnh lộ Chất lượng và độ dài của các cung, đoạn đường đã được cải thiện;việc đi lại giữa các vùng, miền đã có nhiều thuận tiện Hầu hết các đầu mốigiao thông của tỉnh đã được nối đến các khu và các điểm du lịch như SầmSơn, Thành nhà Hồ, Lam Kinh, động Từ Thức
Trên địa bàn Thanh Hóa có gần 500 đầu xe vận tải hành kháchđường bộ thuộc các công ty của Nhà nước hoặc của các thành phần kinh tếngoài quốc doanh đảm nhiệm việc vận tải hành khách trong tỉnh Được đầu
tư đúng hướng nên chất lượng xe chở khách ngày càng tốt hơn, thuận lợicho việc đi tới các điểm thăm quan du lịch Các công ty đảm nhiệm việcvận chuyển khách du lịch lớn nhất với chất lượng cao là Công ty xe kháchThanh Hóa và công ty Mai Linh Thanh Hóa Ngoài ra, có hàng nghìn ô tôchở khách của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có ở hầu khắp cáchuyện, thị, tập trung nhiều tại thành phố Thanh Hóa, các thị xã Bỉm Sơn,Sầm Sơn Tới thời điểm 1-10-2004, chỉ còn 12 trong tổng số 633 xã chưa
Trang 40có đường ô tô tới xã gồm: Huyện Cẩm Thủy (1 xã), Quan Hóa (2 xã), LangChánh (2 xã), Thường Xuân (1 xã), Bá Thước (3 xã), Quan Sơn (2 xã),Mường Lát (1 xã)
Nguồn điện trên phạm vi Thanh Hóa là nguồn từ hệ thống điệnquốc gia là chủ yếu Hệ thống lưới điện trong tỉnh bao gồm các cấp điện áp220KV, 110KV, 35KV, 10KV và 6KV Đường dây 500KV Bắc Nam quaThanh Hóa có chiều dài 110km Tuy ở vùng miền núi mật độ lưới điện vàchất lượng lưới điện chưa cao nhưng tại vùng đồng bằng và các khu dulịch, nguồn điện cung cấp thuận lợi Số trạm biến áp ở Thanh Hóa khánhiều Nhìn chung các trạm đều đang hoạt động tốt Tình hình nguồn vàkhả năng phân phối điện của Thanh Hóa nhìn chung phát triển nhanh và cơbản đáp ứng được nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, đặc biệt là những thànhphố, thị xã và khu tập trung đông dân cư Một số khu du lịch quan trọngcủa tỉnh, điện cung cấp tương đối tốt, thỏa mãn được nhu cầu các hoạt độngsản xuất và kinh doanh Hệ thống đường dây dẫn điện khá hoàn chỉnh, rộngkhắp và nguồn cung cấp ổn định trên phạm vi toàn tỉnh, là điều kiện để tỉnhhình thành các khu du lịch
Hệ thống cấp nước sạch đã đến được các khu du lịch quan trọngnhư thành phố Thanh Hóa, các thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn… Hệ thống thoátnước nói chung và tại các khu du lịch nói riêng trên địa bàn Thanh Hóatương đối tốt, ít bị úng trong mùa mưa lũ, đảm bảo cho hoạt động của nhândân và du khách bình thường
Bưu chính viễn thông cùng với điện nước, giao thông vận tải lànhững lĩnh vực cơ sở hạ tầng thiết yếu đối với phát triển kinh tế - xã hội nóichung và du lịch nói riêng Toàn tỉnh có một bưu điện trung tâm, 100 bưucục địa phương và có 98km đường cáp quang cho phép chuyển tại thông tincường độ lớn, nhanh và an toàn Từ các bưu cục ở tất cả các huyện, cácđiểm du lịch quan trọng đều có thể liên lạc tới tất cả các địa phương trong