1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các phương thức tạo cơ hội cho học sinh phát triển tư duy phê phán thông qua việc dạy học chương Nguyên tử Hóa học 10 THPT

44 291 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật Giáo dục năm 2005 với các quy định cụ thể hơn về mục tiêu, nộidung, phương pháp, chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông, trong đó yêu cầu “Phương pháp giáo dục phổ thông

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng nghiên cứu 5

4 Giả thuyết khoa học 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 6

7 Đóng góp của đề tài 6

8 Cấu trúc của đề tài 6

PHẦN II NỘI DUNG 7

Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài 7

1.1 Tư duy 7

1.1.1 Tư duy là gì? 7

1.1.2 Những phẩm chất của tư duy 7

1.1.3 Đặc điểm của tư duy 7

1.1.4 Các thao tác của tư duy 9

1.1.5 Các loại hình tư duy 9

1.2 Tư duy phê phán 10

1.2.1 Các quan niệm về tư duy phê phán (Critical Thinking) 10

1.2.2 Khái niệm tư duy phê phán 11

1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của tư duy phê phán 12

1.2.4 Mối quan hệ giữa tư duy phê phán và tư duy độc lập 12

1.3 Tư duy phê phán trong dạy học Hóa học 13

1.3.1 Tư duy Hóa học 13

1.3.2 Sự phát triển tư duy trong dạy học Hóa học 14

1.3.3 Dấu hiệu của năng lực tư duy phê phán trong Hóa học 14

Chương 2 Một số biện pháp phát triển tư duy phê phán thông qua việc dạy học Chương Nguyên tử Hóa học 10 THPT 15

Trang 2

2.1 Tiêu chí để rèn luyện năng lực tư duy phê phán cho học sinh thông qua chương

Nguyên tử 15

2.1.1 Căn cứ vào yêu cầu đổi mới phương pháp trong dạy học 15

2.1.2 Căn cứ vào nội dung chương Nguyên tử 15

2.2 Phương hướng rèn luyện tư duy phê phán thông qua dạy học hóa học 16

2.3 Một số biện pháp sư phạm rèn luyện tư duy phê phán thông qua chương Nguyên tử 17

2.3.1 Nâng cao nhận thức của giáo viên và học sinh về rèn luyện tư duy phê phán 17

2.3.2 Rèn luyện cho học sinh kĩ năng suy xét, cân nhắc liên hệ chuỗi kiến thức 18

2.3.3 Hình thành cho học sinh khả năng tìm kiếm trọng tâm trong các lập luận thông qua các câu hỏi gợi mở 19

2.3.4 Bồi dưỡng cho học sinh khả năng xem xét các ý kiến, vận dụng được các tiêu chí khác nhau để hình thành ý tưởng cá nhân (thông qua hoạt động nhóm) 20

2.3.5 Chú trọng rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản và rèn luyện cho học sinh cách đặt câu hỏi 20

2.3.6 Xây dựng các nhiệm vụ học tập để rèn luyện kĩ năng lập luận của học sinh 21 2.3.6.1 Bài 1: Thành phần nguyên tử 21

2.3.6.2 Bài 2: Hạt nhân nguyên tử - Nguyên tố hóa học 25

2.3.6.3 Bài 3: Đồng vị - Nguyên tử khối trung bình 26

2.3.6.4 Bài 4: Sự chuyển động của electron trong nguyên tử Obitan nguyên tử 27

2.3.6.5.Bài 5: Năng lượng của các electron nguyên tử trong nguyên tử - Cấu hình electron nguyên tử 29

2.3.6.6 Bài 6: Độ hụt khối - Năng lượng liên kết của nguyên tử 31

Chương 3 Xây dựng hệ thống bài tập chương Nguyên tử nhằm phát triển tư duy phê phán cho học sinh 33

3.1 Hệ thống kiến thức 33

3.1.1 Kiến thức cơ bản 33

3.1.2 Kiến thức mở rộng 35

3.1.3 Các công thức thường gặp 35

3.2 Bài tập vận dụng 36

Trang 3

3.2.1 Hoạt động nhóm 36

3.2.3 Bài tập tự giải 41

PHẦN III KẾT LUẬN 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 4

PHẦN I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong xu thế hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, nhu cầu về nguồn nhânlực chất lượng cao đóng vai trò chủ chốt cho sự phát triển không ngừng của đấtnước Giáo dục là một hệ thống lớn trong hệ thống xã hội, có liên quan mật thiếtđến việc hình thành và phát triển con người, nhân tố quyết định sự phát triển của

xã hội Khổng Tử đã từng nói: “Giáo dục, phát triển trí đức là chìa khóa để pháttriển kinh tế, đồng thời phát triển kinh tế là cơ sở cho phát triển giáo dục và dântrí” Vì vậy quốc gia nào, dân tộc nào cũng tập trung mọi nguồn lực để phát triểngiáo dục

Theo Luật Giáo dục năm 2005 với các quy định cụ thể hơn về mục tiêu, nộidung, phương pháp, chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông, trong đó

yêu cầu “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng thực hành vận kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui và hứng thứ học tập cho học sinh” Trong dạy học hiện nay, một bộ phận học sinh vẫn còn tồn tại lối

tiếp thu kiến thức một chiều, thụ động, không đào sâu suy nghĩ vấn đề, hạn chếđưa ra nhận định ý kiến đúng sai cá nhân Do đó, đổi mới phương pháp dạy học

“Lấy học sinh làm trung tâm” là yêu cầu tất yếu của giáo viên, nhằm nâng cao

chất lượng dạy học, không áp đặt truyền thụ kiến thức một chiều mà phải sửdụng phương pháp dạy tích cực, phát huy tính tích cực của học sinh

Với thực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra cho giáo viên nói chung và giáoviên Hóa học nói riêng là đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng đến pháttriển tư duy cho học sinh – nhất là tư duy phê phán Qua đó, học sinh có thể tựđặt vấn đề và giải quyết chúng để tìm câu trả lời nhờ vậy mà giúp học sinh vậndụng có hiệu quả kiến thức của mình Từ thời cổ Hi Lạp, các nhà triết học cho

rằng các chất đều cấu tạo từ những phần tử rất nhỏ được gọi là “atomos”, nghĩa

là không chia nhỏ hơn được nữa Cho đến tận giữa thế kỉ XX, người ta cho rằng:

Trang 5

Các chất đều được tạo nên từ những hạt cực kì nhỏ bé không thể phân chia đượcnữa, gọi là nguyên tử Trong quá trình dạy học chương Nguyên tử Hóa học 10,học sinh đã được tìm hiểu về điện tử; thế nhưng học sinh lại luôn đồng ý vớimọi nhận định mà giáo viên đưa ra mà không nêu lên ý kiến chủ quan của mìnhhay có ý kiến trái chiều nào Nhằm giúp học sinh phát triển tính năng động vàtính độc lập; khả năng tư duy lí luận, tư duy phê phán một cách có căn cứ vànhất quán hơn, tôi muốn nghiên cứu một cách hệ thống hơn về tư duy phê phán

và việc phát triển tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy học hóa học Vì

vậy, tôi chọn đề tài: “Các phương thức tạo cơ hội cho học sinh phát triển tư duy phê phán thông qua việc dạy học chương Nguyên tử Hóa học 10 THPT”.

3 Đối tượng nghiên cứu

Tư duy phê phán và các phương thức rèn luyện Tư duy phê phán của họcsinh trong dạy học môn Hóa

4 Giả thuyết khoa học

Có thể xây dựng và sử dụng các hoạt động theo một quy trình hợp lý, sẽphát huy được tính tích cực, sáng tạo và phát triển Tư duy phê phán của họcsinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học chương Nguyên tử Hóa học 10THPT

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về tư duy phê phán và việc rèn luyện tư duy phê

phán của người học

Trang 6

- Đánh giá thực trạng tư duy phê phán và rèn luyện tư duy phê phán trong

dạy học Hóa học ở trường THPP nước ta

- Đề xuất một số phương thức nhằm phát triển tư duy phê phán cho học

sinh thông qua chương Nguyên tử Hóa học 10 THPP

6 Phương pháp nghiên cứu

- Đọc các tài liệu liên quan, phân tích, tổng hợp để hệ thống hoá kiến thức.

- Thống kê các dạng bài tập nâng cao để bồi dưỡng cho học sinh.

7 Đóng góp của đề tài

- Đề tài đã làm sáng tỏ một số vấn đề về tư duy và tư duy phê phán

- Đề tài đã xác định được các căn cứ cần thiết để phát triển tư duy phê pháncho học sinh thông qua chương Nguyên tử

- Đề tài đã xây dựng một số biện pháp và hệ thống bài tập nhằm phát triển

tư duy phê phán cho học sinh

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo bài làm của tôi đượcchia làm ba chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2 Một số biện pháp phát triển tư duy phê phán thông qua việc dạy

học Chương Nguyên tử Hóa học 10 THPT

Chương 3 Xây dựng hệ thống bài tập chương Nguyên tử nhằm phát triển

tư duy phê phán cho học sinh

Trang 7

PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở lí luận của đề tài 1.1 Tư duy

1.1.1 Tư duy là gì?

Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, nhữngmối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng tronghiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết

1.1.2 Những phẩm chất của tư duy

- Tính định hướng: Ý thức được nhanh chóng và chính xác đối tượng

cần lĩnh hội, mục đích phải đạt được và con đường tối ưu để đạt được mục đíchđó

- Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.

- Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc bản chất của các sự vật hiện tượng.

- Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách

thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo

- Tính mềm dẻo: Thể hiện hoạt động tư duy được tiến hành theo các

hướng xuôi và ngược chiều

- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách

giải

quyết và tự giải quyết được vấn đề

- Tính khái quát: Khi giải quyết một loạt vấn đề nào đó sẽ đưa ra được

mô hình khái quát, trên cơ sở đó có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương

tự cùng loại

1.1.3 Đặc điểm của tư duy

Thuộc mức độ nhận thức cao – nhận thức lý tính, tư duy có những đặcđiểm mới về chất so với cảm giác, tri giác Tu duy có những đặc điểm cơ bảnnhư:

Tính “có vấn đề” của tư duy

Trang 8

- Không phải bất kì hoàn cảnh nào tư duy cũng xuất hiện Trên thực tế, tư

duy chỉ xuất hiện khi gặp hoàn cảnh, tình huống “có vấn đề” Hoàn cảnh có vấn

đề là những tình huống chứa đựng một mục đích, một vấn đề mới mà nhữngkiến thức cũ không đủ sức để giải quyết khi đó con người phải tư duy

Tính gián tiếp của tư duy

- Tính gián tiếp của tư duy được thể hiện trước hết ở việc con người sử

dụng ngôn ngữ để tư duy Thông qua ngôn ngữ mà con người sử dụng các kếtquả nhận thức (quy tắc, công thức, quy luật, khái niệm,…) vào quá trình tư duy(phân tích, tổng hợp, so sánh,…) để nhận thức được cái bản chất của sự vật, hiệntượng

- Ngoài ra, tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện trong quá trình tư duy

con người sử dụng những công cụ, phương tiện để nhận thức đối tượng khôngthể trực tiếp khi tri giác

Tính trừu tượng và khái quát của tư duy

- Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính,

những dấu hiệu cá biệt, cụ thể, chỉ giữ lại những thuộc tính bản chất chung củanhiều sự vật, hiện tượng

- Nhờ đặc điểm này mà con người có thể giải quyết được nhiệm vụ hiện

tại và cả những nhiệm vụ tương lai

Tư duy quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ

- Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Ngôn ngữ cố

định lại các kết quả của tưu duy, là vỏ vật chất của tư duy và là phương tiện biểuđạt kết quả của tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là chuỗi

âm thanh vô nghĩa

- Tư duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhưng không đồng nhất và

không thể tách rời nhau

Tư duy có mối quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính

- Tư duy thường bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm

tính mà nảy sinh “tình huống có vấn đề” Ngược lại, tư duy và kết quả của nó

Trang 9

ảnh hưởng mạnh mẽ, chi phối khả năng phản ánh của nhận thức cảm tính Đó làmối quan hệ hai chiều.

1.1.4 Các thao tác của tư duy

Xét về bản chất, tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện các thao tác trítuệ để giải quyết vấn đề hay nhiệm vụ đặt ra Các thao tác này còn được gọi lànhững quy luật bên trong (quy luật nội tại) của tư duy gồm:

Phân tích – tổng hợp: có quan hệ qua lại mật thiết với nhau, bổ sung chonhau tạo thành sự thống nhất không tách rời được Phân tích là cơ sở của tổnghợp, tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích

So sánh: là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khácnhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất giữa các đối tượng nhận thức (sự vật,hiện tượng) Thao tác so sánh liên quan chặt chẽ vơis thao tác phân tích – tổnghợp

Trừu tượng hóa và khát quát hóa: có mối quan hệ mật thiết chi phối và

bổ sung cho nhau, giống như mối quan hệ giữa phân tích và tổng hợp nhưng ởmức độ cao hơn

Trong thực tế, tùy theo nhiệm vụ và điều kiện nhiệm vụ và điều kiện tư duy

mà các thao tác tư duy đan chéo nhau chứ không theo một trình tự nhất định

1.1.5 Các loại hình tư duy

Trong quá trình dạy học môn Hóa học, giáo viên có thể giúp học sinh trang

bị, phát triển và rèn luyện các loại tư duy:

Tư duy độc lập: Trong quá trình học tập và rèn luyện, tư duy độc lập đốivới học sinh là rất cần thiết, học sinh có thể rèn luyện tư duy độc lập khi đượcthực hiện các nhiệm vụ, các vấn đề vừa sức với mình

Tư duy lôgic: là một trong những kĩ năng không thể thiếu trong việc lĩnhhội kiến thức các môn học khoa học tự nhiên Việc rèn tư duy lôgic cho học sinh

là nhiệm vụ quan trọng

Trang 10

Tư duy trừu tượng: Với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trìnhtạo tư duy trừu tượng cho học sinh được dễ dàng hơn…, làm thế nào để học sinh

tư duy đúng bản chất của sự vật, hiện tượng của các quá trình là việc quan trọng

Tư duy biện chứng: Tất cả các hiện tượng, các quá trình điều xảy ratrong một quy luật biện chứng

Tư duy phê phán: được hình thành và phát triển qua quá trình rèn luyệntrí tuệ về các khả năng: phân tích thực tiễn, tổng quan và tổ chức hệ thống các ýtưởng, đối chiếu so sánh điểm tương đồng và dị biệt, nhận thức và cân nhắc thậntrọng một sự kiện, một hiện tượng,…lập luận kết hợp với chứng minh đầy đủ để

có sức thuyết phục cao, để đánh giá suy nghĩ, đánh giá lập luận, đưa ra các phánđoán, từ đó rút ra kết luận hoặc chấp nhận hoặc bác bỏ

Tư duy sáng tạo: là một hình thức tư duy cao nhất trong quá trình tư duy,việc tư duy sáng tạo giúp cho người học không gò bó trong không gian trí thứccủa người giáo viên đặt ra

1.2 Tư duy phê phán

1.2.1 Các quan niệm về tư duy phê phán (Critical Thinking)

Có rất nhiều tác giả quan niệm khác nhau về tư duy phê phán

- John Dewey cho rằng: Tư duy phê phán (Critical Thinking) đó là sự suy

xét chủ động, liên tục, cẩn trọng về một niềm tin, một giả định khoa học có xétđến những lí do bảo vệ nó và những kết luận xa hơn được nhắm đến

- J B Baron và R J Sternberg cho rằng : Tư duy phê phán là tư duy có

suy xét, cân nhắc để quyết định hợp lí khi hiểu hoặc thực hiện một vấn đề

- Tama (1989) cho rằng: Tư duy phê phán là cách lập luận đòi hỏi phải

chứng minh một cách đầy đủ để những người có lòng tin và cả những ngườikhông có lòng tin đều bị thuyết phục

- Ennis (1992): Tư duy phê phán là suy nghĩ một cách có lí tập trung vào

việc giải quyết vấn đề nhằm tạo được niềm tin hoặc hành động Học tư duy phê

phán là: Học cách đặt câu hỏi như thế nào, khi nào đặt câu hỏi và trả lời câu

Trang 11

hởi như thế nào, học lập luận như thế nào khi nào thì lập luận và phương pháp lập luận như thế nào?

- Moore và Parker (1994): Tư duy phê phán là sự quyết định một cách cẩn

thận và có tính toán việc liệu có chấp nhận, bác bỏ hoặc tạm ngừng đánh giá

- Theo Risac Paul: Tư duy phê phán là tư duy về tư duy của bạn trong khi

nghĩ để đưa ra suy nghĩ tốt hơn Ông đã coi người có tư duy phê phán là người

có tư tưởng công bằng

Quan niệm của một số tác giả trong nước về tư duy phê phán.

Ở nước ta, tư duy phê phán chưa được đề cập nhiều Cách dạy học có sửdụng tư duy phê phán đã được đề cập trong một số tài liệu:

- Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn đã xếp tư duy phê phán là bậc thứ ba trong

bốn bậc của tư duy nếu xét theo mức độ độc lập

- Tác giả Trần Kiều cho rằng người học cần có năng lực tiếp cận các vấn

đề bằng tư duy phê phán và cởi mở, sẵn sàng thay đổi ý kiến trước các lập luậnhợp lí

- Tác giả Trần Vui cho rằng tư duy phê phán nhằm trả lời hai câu hỏi: Tôi

sẽ tin vào điều gì? Tôi sẽ lựa chọn cách nào?

1.2.2 Khái niệm tư duy phê phán

Có nhiều cách định nghĩa về tư duy phê phán

- Tư duy phê phán (Critical Thinking) là quá trình vận dụng tích cực trí

tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, ý tưởng, giả thuyết… từ sựquan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin và lí lẽ nhằm đưa ra nhận định về sựviệc, ra quyết định, và hình thành cách ứng xử của mỗi cá nhân

- Tư duy phê phán (Critical Thinking) là quá trình vận dụng tích cực trí

tuệ vào việc phân tích, tổng hợp, đánh giá sự việc, xu hướng, ý tưởng, giả thuyết

từ sự quan sát, kinh nghiệm, chứng cứ, thông tin, với kiến thức và lí lẽ nhằmmục đích xác định đúng – sai, tốt – xấu, hay – dở, hợp lí – không hợp lí, nên –không nên, và rút ra quyết định, cách ứng xử cho mình

Trang 12

Tư duy phê phán đề cập tới sự sẵn lòng (quan điểm) và khả năng (kỹ năng) để sử dụng các phương pháp hệ thống và khách quan để giải quyết các vấn đề Nói cách khác, suy nghĩ một cách phê phán là giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

1.2.3 Nguyên tắc cơ bản của tư duy phê phán

Đừng vẽ nên một viễn cảnh nào khi mà bạn vẫn còn chưa hiểu biết đầy đủ

về nó Hãy thu thập đủ những thông tin cần thiết Một trong các nguyên tắc quantrọng nhất nhưng cũng đồng thời khó thực hiện nhất trong tư duy phê phánchính là tính triệt để - tức là việc thu thập đủ tất cả những cơ sở lập luận, cácchứng cứ sẵn có cho một chủ đề dựa trên sự nghiên cứu kĩ lưỡng

Điều hiển nhiên là mọi ý kiến phải có cơ sở lập luận của nó; những tri thứckhông đầy đủ thường là xuất phát điểm cho những kết luận sai lệch Các nguyêntắc quan trọng nhất để trong quá trình tư duy phê phán không rơi vào trạng tháihoài nghi giáo điều, ngụy biện, thiên vị,…đó là:

- Thu thập đủ thông tin cần thiết

- Hiểu và xác định rõ tất cả các khái niệm liên quan

- Đưa ra những câu hỏi về nguồn gốc của các cơ sở lập luận

- Đặt câu hỏi về các kết luận

- Chú ý các giả thiết và các khuynh hướng ngầm

- Đưa ra các câu hỏi về nguồn gốc của các cơ sở lập luận

- Đừng mong đợi mình sẽ có tất cả các câu trả lời

- Xem xét vấn đề trên phạm vi lớn

- Xem xét những nguyên nhân và hệ quả khác nhau của vấn đề

- Chú ý loại bỏ các tác nhân gây cản trở suy nghĩ

- Hiểu được những khuynh hướng và giá trị riêng của bản thân mình

1.2.4 Mối quan hệ giữa tư duy phê phán và tư duy độc lập

Trong học đường, học không phải chỉ để biết Biết là tầng thấp nhất của sự

học Đó chỉ là những kiến thức chết, và nếu học chỉ để biết thì đó là "học vẹt".Khổng Tử đã đề ra những bước cần thiết trong việc học cách đây cả hàng ngàn

Trang 13

năm, như sau: "Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi, minh biện chi, đốc hành

chi", có nghĩa là học cho rộng, hỏi cho kỹ, suy nghĩ cho cẩn thận, phân tích cho

rõ ràng, và thực hành cho rốt ráo Một sự học đầy đủ phải gồm tất cả những

bước kể trên Sự học, chỉ có thể tiến xa và lên cao được, nếu và chỉ nếu học sinhđược trang bị những kỹ năng tư duy phê phán này, và lúc đó mới có hy vọngphát triển được bản thân và đóng góp được cho học thuật và xã hội

Thế nhưng để tư duy phê phán được thực hiện trước hết người học cần phải

có tư duy độc lập Bản thân người học trước hết phải có nhận định đúng – sai vềmột vấn đề, một hiện tượng,… mà mình tham gia thảo luận Khi đó, người họcmới có thể ngoài việc đưa ra ý kiến chủ quan của mình về vấn đề đó còn có khảnăng tiếp thu, phản bác những lập luận ý kiến trái chiều từ phía người khác.Chính vì vậy, tư duy độc lập và tư duy phê phán có mối quan hệ mật thiết vớinhau Tư duy độc lập là tiền đề, là cơ sở cho tư duy phê phán phát triển

1.3 Tư duy phê phán trong dạy học Hóa học

1.3.1 Tư duy Hóa học

Tư duy hóa học được đặc trưng bởi phương pháp nhận thức hóa học,nghiên cứu các chất và các quy luật chi phối quá trình biến đổi này Trong Hóahọc, các chất tương tác với nhau đã xảy ra sự biến đổi để hình thành các chấtmới Sự biến đổi này tuân theo những quy luật, những nguyên lý, những mốiquan hệ định tính và định lượng của hóa học Trên cơ sở của sự tương tác đó,những vấn đề đặt ra cho ngành hóa học là rèn luyện các thao tác tư duy, phươngpháp nhận thức khoa học và đánh giá vấn đề

Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ giữa quá trình phản ứng với sựtương tác giữa các tiểu phân của thế giới vi mô (phân tử, nguyên tử, ion,electron,…), mối liên hệ giữa đặc điểm cấu tạo và tính chất của các chất Cácquy luật biến đổi giữa các loại chất và mối quan hệ giữa chúng

Đặc điểm của quá trình tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhấtgiữa sự biến đổi bên trong (quá trình phản ứng hóa học) với các biểu hiện bênngoài (dấu hiệu nhận biết, điều kiện phản ứng), giữa cái cụ thể: sự tương tác

Trang 14

giữa các chất với cái trừu tượng như góp chung electron, trao đổi electron, traođổi ion,… trong phương trình hóa học Tức là, những hiện tượng cụ thể quan sátđược liên hệ với những hiện tượng không nhìn thấy được mà chỉ qua nhận thức,suy luận và được biểu diễn thông qua ngôn ngữ hóa học.

1.3.2 Sự phát triển tư duy trong dạy học Hóa học

Việc phát triển tư duy hóa học cho học sinh trước hết là giúp học sinh nắmvững kiến thức hóa học và biết vận dụng chúng một cách hiệu quả cả trong bàitập lẫn thực hành Từ hoạt động dạy học trên lớp, giáo viên hướng dẫn cho họcsinh biết phân tích, khái quát tài liệu, rút ra kết luận cần thiết cho bản thân Thông qua hệ thống các câu hỏi, giáo viên điều khiển hoạt động nhận thứccủa học sinh để giải quyết các vấn đề học tập được đưa ra Học sinh tham giađóng góp ý kiến một cách tích cực góp phần củng cố kiến thức đồng thời cácthao tác tư duy cũng được rèn luyện tạo điều kiện để phát triển năng lực trí tuệ

và năng lực hành động cho học sinh

1.3.3 Dấu hiệu của năng lực tư duy phê phán trong Hóa học

Để phát hiện và cũng như hình thành những biện pháp phát triển tư duy phêphán cho học sinh trong hóa học thì học sinh trước hết phải có những dấu hiệusau:

- Biết đề xuất những câu hỏi và vấn đề quan trọng khi cần thiết, diễn đạtchũng một cách rõ ràng, chính xác

- Có chủ định riêng trên cở sở phân tích, lập luận của bản thân về vấn đềđược đề cập

- Sẵn sàng xem xét các giả định, các ý kiến khác nhau và cân nhắc chúngmột cách thận trọng

- Có khả năng bình luận, đánh giá ý kiến và ý tưởng của người khác dựatrên các căn cứ khoa học chính xác

- Có khả năng nhận ra thiếu sót, sai lầm trong lập luận, sẵn sàng tiếp thucác ý kiến tích cực của người khác Sửa chữa sia lầm khi lập luận để giải quyếtvấn đề

Trang 15

Chương 2 Một số biện pháp phát triển tư duy phê phán thông qua việc dạy

học Chương Nguyên tử Hóa học 10 THPT

Trong quá trình dạy học chương Nguyên tử hóa học 10 THPT, học sinhchưa phát huy được tính tích cực và sáng tạo của bản thân Việc đề xuất các biệnpháp nhằm phát triển tư duy phê phán cho học sinh là cần thiết Mặt khác, điềuquan trọng hơn là các biện pháp này phải góp phần hình thành nhân cách conngười trong thời đại mới Vì vậy, các biện pháp đặt ra phải phù hợp với nhữngyêu cầu trong việc đổi mới phương pháp dạy học cũng như nội dung của bàihọc:

2.1 Tiêu chí để rèn luyện năng lực tư duy phê phán cho học sinh thông

qua chương Nguyên tử

2.1.1 Căn cứ vào yêu cầu đổi mới phương pháp trong dạy học

Chúng ta đang trong thời kì hội nhập quốc tế, nền kinh tế nước ta chuyểnsang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lí của nhà nước Sự thay đổi này đòihỏi nền giáo dục cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng yêu cầu nguồnnhân lực cho một xã hội phát triển

Từ thực tế của ngành giáo dục cùng với yêu cầu về nguồn nhân lực chúng

ta đang tiến hành đổi mới phương pháp dạy học chú trọng đến việc phát huy tính

tích cực chủ động của người học, dạy học sinh làm trung tâm Người học vừa là

chủ thể vừa là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học, phát huy tối đa tiềmnăng của người học Do vậy, giáo viên không chỉ đóng vai trò là người hướngdẫn, động viên các hoạt động độc lập của học sinh mà còn định hướng hoạt độnghóa học sinh chú trọng đến việc giải quyết vấn đề thông qua dạy học tích cực,đánh thức tiềm năng của học sinh

2.1.2 Căn cứ vào nội dung chương Nguyên tử

Nguyên tử là một khái niệm rất quen thuộc trong Hóa học cũng như trongcác môn học khác Từ thời cổ Hi Lạp, các nhà triết học đã tìm ra sự cấu tạo củavật chất từ những phần tử rất nhỏ gọi là “atomos” Trên cơ sở kế thừa và pháttriển, các nhà bác học sau này cũng tìm ra các định luật cơ bản của hóa học, đưa

Trang 16

ra các giả thuyết mới về nguyên tử và phân tử khác với các thuyết đã nêu trướcđó.

Trong quá trình dạy học, người học không chịu đào sâu suy nghĩ, chỉ tiếpnhận vấn đề theo hướng một chiều không phủ định hay khẳng định gì, đó là cơ

sở quan trọng để đề ra biện pháp phát triển tư duy phê phán cho học sinh

2.2 Phương hướng rèn luyện tư duy phê phán thông qua dạy học hóa học

Hóa học là môt môn khoa học, có tính trừu tượng cao và có nhiều ứng dụngtrong đời sống và xã hội Nội dung của hóa học rất phong phú nên học sinh cóthể gặp khó khăn khi lĩnh hội tri thức thông qua việc ghi chép của học sinh trênlớp Vì vậy, việc rèn luyện tư duy phê phán cho học sinh trong các môn học nóiriêng và môn hóa nói chung là rất cần thiết

Tư duy phê phán là một tiến trình chủ động, trong khi học sinh lại chỉ tậptrung vào việc ghi chép mà không có thái độ tích cực đóng góp ý kiến trong giờhọc Cho nên cần đề ra các phương hướng để rèn luyện tư duy phê phán cho họcsinh:

- Kết hợp các chiến lược học tập chủ động thông qua việc tổ chức các hoạt

động nhóm, trò chơi cá nhân hay bài tập về nhà,…

- Các kĩ năng thao tác như phân tích, so sánh, tổng hợp phải được kết hợp

đan xen nhau

- Giáo viên tạo điều kiện hco học sinh chủ động đặt câu hỏi, tự tin tham gia

tranh luận với bạn bè, thông qua đó rèn cho học sinh kĩ năng lập luận, giao tiếp

- Giáo viên phải công bằng khi đưa ra nhận xét cá nhân, đánh giá vấn đề

mang tính khách quan, biết dùng lời hay ý đẹp để khuyến khích động viên họcsinh chủ động tham gia phát biểu, không kiềm ép học sinh

- Bên cạnh đó thì cũng cần các giải pháp sau:

Biên soạn tài liệu phù hợp với nền giáo dục nước ta

Bắt kịp thời đại, ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, sử dụngcác phương tiện hỗ trợ trong dạy học

Trang 17

Đánh giá học lực của học sinh trong suốt quá trình giảng dạy, tăng cườngchấm điểm bài tập về nhà, các hoạt động giúp phát triển sự phản xạ của họcsinh.

Tạo điều kiện để học sinh chứng tỏ năng lực của bản thân khẳng địnhmình, không gò bó áp đặt các em

Đồng thời giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh tiếp thu ý kiến củangười khác một cách tích cực, biết lắng nghe, suy ngẫm để tìm hướng đi riêngcho bản thân…

2.3 Một số biện pháp sư phạm rèn luyện tư duy phê phán thông qua

Chính vì vậy, hệ thống giáo dục cần rèn luyện cho học sinh tư duy phêphán sãn sàng lập luận, đón nhận thử thách và học cách chấp nhận Tạo điềukiện phát huy tính hoài nghi tích cực mong muốn đón nhận sự thật cho học sinhtrên cơ sở phê phán đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm mới nhận được phản hồi

tích cực cần tạo cho học sinh mạnh dạn đặt các câu hỏi vì sao, như thế nào?

Bên cạnh đó phải nâng cao nhận thức cho giáo viên việc tư duy phê pháncho học sinh thực sự là cần thiết và có ý nghĩa Qua đó, người giáo viên tinh tếtrong việc đặt các câu hỏi gợi mở, khuyến kích học sinh phát huy tính tích cựccủa mình tham gia thảo luận Người giáo viên cũng phải khéo léo, công bằng khiđưa ra đánh giá của mình về các câu hỏi đáp giúp học sinh tự tin hơn khi trìnhbày ý kiến và tranh luận

Trang 18

2.3.2 Rèn luyện cho học sinh kĩ năng suy xét, cân nhắc liên hệ chuỗi kiến thức

Khi giải một bài toán, một vấn đề nào đó đòi hỏi học sinh phải phân tích đềbài xác định các dữ kiện đã cho, dữ kiện cần tìm và vận dụng các kiến thức đãhọc xác định dạng toán cần giải quyết để tìm cách giải phù hợp

Ở chương trình phổ thông, khi học phần nguyên tử học sinh cần biết liên hệvới kiến thức về nguyên tử trong chương 1 Hóa học lớp 8 để trả lời các câu hỏigiáo viên đặt ra Trong quá trình giải bài tập chương nguyên tử, học sinhh cầnphân tích đề bài, nhận xét để sắp xếp thành các dạng toán tìm cách giải quyết.Việc phân loại các dạng toán giúp học sinh tự tin hơn khi giải và vận dụng linhhoạt trong các tình huống khác Thông qua đó còn giúp học sinh có những đánhgiá khách quan các ý kiến của người khác trên cơ sở ý kiến cá nhân từ đó tìm rađáp án chính xác nhất

Khi giải toán các dạng cơ bản học sinh cần tạo thói quen từ dữ kiện bàicho trả lời các câu hỏi sau:

- Bài toán thuộc loại nào?

- Hướng giải bài toán như thế nào?

- Phương pháp và công cụ nào thích hợp để giải?

Đó là quá trình tạo điều kiện cho tư duy phê phán của học sinh pháttriến

Chẳng hạn, khi giả toán dạng xác định cấu tạo nguyên tử, tính chất củanguyên tố Sau khi đã phân tích đề bài, viết được cấu hình electron học sinh liên

hệ với phần lý thuyết để xem kết quả vừa tìm được thuộc dạng nào đã học sau

đó đưa ra kết luận cuối cùng như:

- Lớp ngoài cùng có 8 e  ngtố khí hiếm

- Lớp ngoài cùng có 1, 2, 3 e  nguyên tố kim loại

- Lớp ngoài cùng có 5, 6, 7  nguyên tố phi kim

- Lớp ngoài cùng có 4 e  có thể là kim loại, hay phi kim.

Trang 19

2.3.3 Hình thành cho học sinh khả năng tìm kiếm trọng tâm trong các lập luận thông qua các câu hỏi gợi mở

Trong quá trình giải bài toán, học sinh có thể gặp khó khăn trong việc xácđịnh, tìm ra trọng tâm của bài toán, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thôngqua các câu hỏi gợi mở Việc này giúp học sinh hình thành ý tưởng, mở từng nútthắt của vấn đề đặt ra

Ví dụ: Xác định tên nguyên tố và viết cấu hình electron nguyên tửnguyên tó đó khi biết tổng số hạt proton, electron, nơtron là a hạt (với a là số hạt

Trang 20

Vì P ¿ N* nên ta lấy các giá trị nguyên dương Nếu P chỉ có 1 giá trịthì ta suy ra ngay nguyên tố đó.

Nếu P có nhiều giá trị khác nhau thì ta phai lập bảng biện luận như sau:

Ông bà ta có câu:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.”

Chẳng hạn trong một tình huống, một vấn đề khó thường làm học sinh bốirối hay gặp trở ngại trong việc tìm ra câu trả lời chính xác Cho nên giáo viêncần linh hoạt quan sát học sinh để tiến hành tổ chức hoạt động nhóm hay giảinhanh nhằm giúp học sinh tiếp cận được nhiều luồng ý kiến khác nhau Từ đógiúp học sinh phân tích, tổng hợp hình thành nên ý tưởng của bản thân giảiquyết vấn đề nêu ra

Thông qua hoạt động này, mọi thành viên trong nhóm sẽ càng đồng lònghướng tới mục tiêu và dốc sức cho thành công chung của tập thể khi họ cùngnhau xác định và vạch ra phương pháp đạt được chúng Đồng thời phát huy tinhthần đoàn kết giữa các học sinh và giúp học sinh tiếp thu các ý kiến một cách cóchọn lọc tích lũy kiến thức riêng cho bản thân

2.3.5 Chú trọng rèn luyện các thao tác tư duy cơ bản và rèn luyện cho học sinh cách đặt câu hỏi

P

A

Trang 21

Việc rèn luyện các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh là một yếu

tố quan trọng để rèn luyên tư duy phê phán Các thao tác này không tồn tại mộtcách riêng lẻ mà đan xen hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết vấn đề Điều kiện kiênquyết của tư duy phê phán đó là nhận biết sự phức tạp của vấn đề và giải quyếtchúng Vì vậy, để rèn luyện tư duy phê phán một kĩ năng rất cần rèn luyện cho

học sinh là kĩ năng đặt câu hỏi.

Trong quá trình học để hiểu bài một cách sâu sắc, học sinh cần tự đặt ra cáccâu hỏi và tìm cách trả lời Các câu hỏi này có thể do bản thân tự đặt ra hoặc làthông qua gợi ý của giáo viên, bạn bè

Qua việc đặt ra các câu hỏi và trả lời câu hỏi giúp học sinh linh hoạt trongcách lập luận và phát triển tư duy phê phán

2.3.6 Xây dựng các nhiệm vụ học tập để rèn luyện kĩ năng lập luận của học sinh

Để rèn luyện tư duy phê phán, bên cạnh rèn luyện cho học sinh các đặt câuhỏi, tiếp thu ý kiến một cách tích cực còn phải rèn luyện kĩ năng lập luận chohọc sinh Trước hêt, giáo viên cần xây dựng các nhiệm vụ học tập trong từng bàinhằm tạo điều kiện để học sinh lập luận có căn cứ

Tiến trình thực hiện

Ôn tập, tái hiện kiến thức cũ

Giáo viên đưa ra các tình huống có vấn đề trong bài học và liên hệ vớikiến thức cũ

Giáo viên trình bày các ý gợi mở giúp học sinh giải quyết vấn đề

Giáo viên tập hợp, đánh giá các ý kiến của học sinh và đưa ra hướng giảiquyết phù hợp nhất

2.3.6.1 Bài 1: Thành phần nguyên tử

Sau khi tiến hành kiểm tra bài cũ và dẫn dắt học sinh vào bài học Giáoviên đưa ra các tình huống có vấn đề:

Hoạt động 1: Sự tìm ra tia âm cực

- Hướng dẫn học sinh xem mô hình thí nghiệm của Tôm-xơm

Trang 22

Yêu cầu HS trả lời: Khi phóng điện với một nguồn điện (U=15 KV) giữa

hai bản điện cực bằng kim loại gắn vào hai đầu một ống thuỷ tinh kín gần nhưchân không , ta thấy màn huỳnh quang phát sáng Tại sao?

Trả lời: Có chùm tia không nhìn thấy phát ra từ cực âm đập vào thành ống.

Chùm tia không nhìn thấy phát ra từ cực âm gọi là tia âm cực

Chiếu kết hợp miêu tả đoạn video sự tìm ra tia âm cực

Yêu cầu HS giải thích: Vì sao chùm sáng bị lệch khi đưa tấm kim

loại lại gần?

Trả lời: Vì chùm sáng là chùm các electron nên khi đưa tấm kim loại tích

điện lại gần thì chùm sáng bị lệch

- Yêu cầu HS viết từ cần điền vào dấu “…” lên bảng phụ.

“Tia âm cực là chùm hạt… và mỗi hạt đều có… được gọi là…, kí hiệu là…”

Kết l uận : Tia âm cực là chùm hạt mang điện tích âm và mỗi hạt

đều có khối lượng được gọi là electron, kí hiệu là e

Ngày đăng: 12/11/2017, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Lê Tấn Huỳnh Cẩm Giang (2011), Tư duy phản biện – Critical Thingking, Viện Nghiên cứu Giáo dục Khác
2. Phạm Thị Hương Giang (2013), Phát triển năng lực nhận thức và tư duy của học sinh trường THPT với sự trợ giúp của công nghệ thông tin Chương Nguyên tử, Hóa học 10, Luận văn Thạc sĩ Đại học quốc gia Hà Nội Khác
3. Phạm Thị Luyến (2008), Rèn luyện Tư duy phê phán cho học sinh thông qua dạy học chủ đề phương trình, bất phương trình ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ Khác
4. Lê Xuân Trọng, Hóa học 10 Nâng cao, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam Khác
5. Đào Đình Thức (2009), Hóa học đại cương Tập 1, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
6. Đào Đình Thức (2008), Bài tập Hóa học đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
7. PGS. Trần Xuân Trường – TS. Trần Trung Minh (2006), Bài tập chọn lọc Hóa học 10, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Khác
8. GS.TS. Nguyễn Quang Uẩn(chủ biên), Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học Sư phạm Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w