Trong giai đoạn 1 của Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia vay vốn Ngân hàng Thế giới, thực hiện tại 04 thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hồ Chí Minh và Cần Thơ, đến nay, vấn đề sinh kế c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH BÁ TRUNG
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÂNG CẤP ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ ĐẾN SINH KẾ CỦA
CÁC HỘ THUỘC KHU VỰC DỰ ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÂNG CẤP ĐÔ THỊ THÀNH
PHỐ RẠCH GIÁ ĐẾN SINH KẾ CỦA CÁC HỘ
THUỘC KHU VỰC DỰ ÁN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS Nguyễn Trọng Hoài
TP Hồ Chí Minh – Tháng 3/2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan rằng luận văn “Phân tích ảnh hưởng của dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị Thành phố Rạch Giá đến sinh kế của các hộ thuộc khu vực dự án” là công trình nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Các kết quả nghiên cứu của người khác được sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả luận văn
Huỳnh Bá Trung
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 4
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4
1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu 4
1.4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu 4
1.4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu 4
1.5 CẤU TRÚC NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU 6
2.1 LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT 6
2.1.1 Hộ 6
2.1.2 Thu nhập 7
2.1.3 Sinh kế và vốn tài sản 11
2.1.4 Bồi thường thiệt hại và tái định cư 13
2.2 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 18
Trang 52.3 KHUNG PHÂN TÍCH 23
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 26
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.2.1 Thống kê mô tả 27
3.2.2 Phân tích so sánh 27
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 27
3.4 THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 28
3.5 ĐỊA BÀN PHỎNG VẤN 28
3.6 CƠ CẤU CHỌN MẪU 28
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN VỀ PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐẾN SINH KẾ 30
4.1 KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ 30
4.1.1 Vị trí địa lý 30
4.1.2 Các đơn vị hành chính 31
4.1.3 Đặc điểm tự nhiên 32
4.1.4 Diện tích và dân số 32
4.1.5 Lao động và việc làm 34
4.1.6 Thu nhập bình quân đầu người 37
4.1.7 Tỷ lệ hộ nghèo 37
4.2 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NÂNG CẤP ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ 37
4.2.1 Bối cảnh dự án 37
4.2.2 Mục tiêu và nguyên tắc của dự án 39
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số các năm 2010, 2011, 2012 32
Bảng 4.2: Dân số thành phố Rạch Giá giai đoạn 2008 – 2012 33
Bảng 4.3: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế 35
Bảng 4.4: Thu nhập bình quân đầu người các năm 2010, 2011 và 2012 37
Bảng 4.5: Mô tả dự án 38
Bảng 4.6: Tình hình cơ bản của các nhóm hộ điều tra sau tái định cư 41
Bảng 4.7: Diện tích đất trung bình của hộ gia đình 46
Bảng 4.8: Tình hình cuộc sống của người dân sau thu hồi đất 54
Trang 74.2.3 Hiệu quả của dự án 39
4.3 TÌNH HÌNH CƠ BẢN CỦA CÁC NHÓM HỘ KHẢO SÁT 40
4.4 SỰ THAY ĐỔI SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI DỰ ÁN41 4.4.1 Thay đổi vốn con người 42
4.4.2 Thay đổi vốn tự nhiên 44
4.4.3 Thay đổi vốn vật chất 48
4.4.4 Thay đổi vốn tài chính 50
4.4.5 Thay đổi vốn xã hội 52
4.4.6 Kế hoạch sinh kế của người dân 53
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 56
5.1 KẾT LUẬN 56
5.2 GỢI Ý CHÍNH SÁCH 59
5.2.1 Tổ chức và quản lý 59
5.2.2 Công tác chỉ đạo và thực hiện 60
5.2.3 Đối với việc hỗ trợ đào tạo nghề cho người bị thu hồi đất 60
5.2.4 Kiến nghị 61
5.3 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
PHIẾU KHẢO SÁT
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững 24
Hình 2.2: Khung phân tích sinh kế bền vững cho các nhóm hộ gia đình 25
Hình 2.3: Quá trình ảnh hưởng của dự án đến sinh kế của hộ dân 25
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 26
Hình 4.1: Vị trí địa lý Thành phố Rạch Giá 30
Hình 4.2: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thời kỳ 2001 – 2009 33
Hình 4.3: Lao động trong độ tuổi chia theo trình độ chuyên môn 35
Hình 4.4: Lao động phân theo ngành kinh tế 36
Hình 4.5: Tỷ lệ lao động của hộ gia đình 44
Hình 4.6: Kế hoạch cho cuộc sống và nghề nghiệp trong tương lai 46
Hình 4.7: Tình hình mua sắm tài sản phục vụ sinh hoạt sau TĐC 49
Hình 4.8: Tỷ lệ các nguồn thu nhập chính trước và sau thu hồi đất 51
Hình 4.9: Sự thay đổi các yếu tố xã hội sau thu hồi đất 53
Trang 9UBND: Ủy ban nhân dân
VHLSS: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (Vietnam - Household Living Standards Survey)
WB: Ngân hàng Thế giới (World Bank)
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Dự án nâng cấp đô thị vùng đồng bằng Sông Cửu Long được triển khai tại 6 thành phố: Cần Thơ, Cao Lãnh, Cà Mau, Rạch Giá, Mỹ Tho và Trà Vinh, trong đó, chính phủ Việt Nam nhận một khoản tài trợ 292 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới
và 106 triệu USD vốn đối ứng Việt Nam Dự án đã được ký hiệp định vào ngày 11/5/2012 và hiệp định có hiệu lực vào tháng 8/2012 Đây là dự án thí điểm của Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia, theo Quyết định số 758/QĐ-TTg ngày 8/6/2009, dự án triển khai nhằm cải thiện điều kiện sống của người nghèo tại các đô thị thông qua việc nâng cấp giao thông, cung cấp điện chiếu sáng công cộng, điện sinh hoạt, cung cấp nước nước sạch, thoát nước tránh ngập úng, cải thiện ô nhiễm môi trường, trồng cây xanh và các công trình hạ tầng xã hội Tuy nhiên, quan sát thực tế, khi thu hồi nhà, đất của dân để thực hiện dự án, với những khoản tiền bồi thường cùng với chính sách hỗ trợ hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới từ các dự án thì không hẳn dự án nào cũng thật sự mang lại hiệu quả tích cực cho dân cư quanh vùng dự án
Một yêu cầu cơ bản khi thu hồi nhà, đất để xây dựng dự án là nhằm cải thiện điều kiện sống cho người nghèo trong đô thị và thay đổi cuộc sống cho người dân trong vùng dự án theo chiều hướng tốt hơn, có nghĩa là có thể tạo ra thu nhập cao hơn trước, tạo được công ăn việc làm tốt hơn, hoặc ít nhất là phải ngang bằng như trước khi bị thu hồi nhà, đất và đủ để đảm bảo cuộc sống hiện tại cũng như tương lai
Trong giai đoạn 1 của Chương trình nâng cấp đô thị quốc gia vay vốn Ngân hàng Thế giới, thực hiện tại 04 thành phố: Hải Phòng, Nam Định, Hồ Chí Minh và Cần Thơ, đến nay, vấn đề sinh kế của người dân trong vùng dự án chịu ảnh hưởng
từ dự án chưa có nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học, cũng như chưa có chính
Trang 11sách giải quyết ổn thoả nhằm mang lại sự hài lòng cho người dân về ổn định sinh
kế
Tại thành phố Rạch Giá, dự án nâng cấp đô thị đã và đang được triển khai với kỳ vọng khi dự án hoàn thành, người dân trong vùng dự án sẽ hưởng lợi rất nhiều từ giao thông (đi lại thuận tiện, đường xá tốt hơn và khang trang hơn); từ việc cung cấp điện (chiếu sáng công cộng, điện sinh hoạt); từ việc cung cấp nước sạch;
từ thoát nước, tránh ngập úng và cải thiện ô nhiễm môi trường; từ nâng cấp, đầu tư xây dựng mới công trình công cộng (công viên, cây xanh, trung tâm sinh hoạt cộng đồng, các công trình hạ tầng xã hội, vui chơi, giải trí), giúp giải tỏa và nâng cao tinh thần người dân sau một ngày làm việc, từ đó, giúp nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc, góp phần phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, theo thống kê, khi
dự án triển khai, đã có khoảng 2.143 hộ bị thu hồi nhà ở, đất ở, đất sản xuất (712 hộ
bị di dời hoàn toàn, 1.431 hộ di dời 1 phần) Các hộ dân khi bị thu hồi nhà ở, đất ở, đất sản xuất phải đương đầu với sự thay đổi cuộc sống, gián tiếp ảnh hưởng không nhỏ đến sinh kế của họ Một số hộ dân chưa tìm thấy cơ hội, điều kiện thuận tiện để tăng thu nhập và ổn định cuộc sống mới, cũng như mối quan hệ xã hội bị ảnh hưởng Theo như tìm hiểu sơ bộ, sự thay đổi trên có phát huy được tín hiệu tích cực, tuy nhiên tín hiệu tiêu cực vẫn còn đang xảy ra Nếu như trước đây, người dân chỉ sống với công việc chính là sản xuất trên mảnh đất của mình, kinh doanh tại nhà mình, hoặc nhà gần chợ, gần nơi kinh doanh buôn bán rất thuận lợi, nay lại phải di chuyển đến nơi ở khác xa hơn, cuộc sống và thu nhập đều bị thay đổi Trong điều kiện thiếu đất sản xuất, trong điều kiện không thể kinh doanh, buôn bán tại chính ngôi nhà mình, sản xuất trên chính mảnh đất của mình như truyền thống trước đây, bây giờ phải di dời đến nơi ở mới xa hơn, việc kinh doanh, buôn bán không thuận lợi làm ảnh hưởng đến sinh kế Bên cạnh đó, trình độ người dân còn thấp, kinh tế, dịch vụ tại địa phương còn kém phát triển, các chính sách hỗ trợ của địa phương cũng chưa được thể hiện rõ ràng, vì thế chưa thật sự tạo cơ hội cho người dân bị ảnh hưởng có thể chuyển đổi nghề nghiệp, khôi phục thu nhập trở lại như cuộc sống cũ của họ Tuy trước mắt, cuộc sống của một bộ phận người dân có trở nên sung túc
Trang 12hơn trước do nhờ vào các khoản tiền đền bù, nhờ vào việc làm thuê từ các công trình đang xây dựng và các công việc khác trong khuôn khổ dự án, các công việc thời vụ,… nhưng nguồn thu nhập này không ổn định, về lâu dài, cuộc sống của họ
và con cái họ không được đảm bảo Theo báo cáo của BQL các dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá, đến nay dự án đã có 643 đơn khiếu nại về chính sách bồi thường, chính sách hỗ trợ bồi thường, tái định cư, chuyển đổi nghề nghiệp, tiền bồi thường không đủ để mua nền tái định cư,… Điều này phần nào đã phản ánh thực trạng là việc đảm bảo sinh kế bền vững, lâu dài cho các hộ dân chịu ảnh hưởng
từ dự án vẫn chưa được xem xét và thực hiện một cách thỏa đáng
Vì vậy, việc xem xét “Phân tích ảnh hưởng của dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá đến sinh kế của các hộ thuộc khu vực dự án” có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ góp phần làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến
thay đổi thu nhập, ảnh hưởng sinh kế của người dân Từ đó, đề tài sẽ phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập, đảm bảo sinh kế và ổn định cuộc sống mới cho người dân bị ảnh hưởng bởi dự án, đồng thời kiến nghị bổ sung, điều chỉnh các chính sách hỗ trợ, ổn định và phát triển sinh kế bền vững nhằm triển khai
có hiệu quả hơn tại các đô thị tiếp theo trong chương trình nâng cấp đô thị quốc gia
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của đề tài nghiên cứu là Phân tích ảnh hưởng của dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá đến thu nhập và sinh kế
của các hộ thuộc khu vực dự án
Trang 131.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Các loại vốn nào tác động đến sinh kế của các hộ khu vực dự án? Câu hỏi 2: Cần có các chính sách gì để hỗ trợ giúp ổn định sinh kế cho
người dân trong khu vực dự án?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình và phân tích các loại vốn tác động đến sinh kế của các hộ do việc đầu tư xây dựng dự án nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá
1.4.2 Giới hạn vùng nghiên cứu
Vùng nghiên cứu được lựa chọn trong vùng thực hiện dự án đầu tư nâng cấp
đô thị tại 8 phường (Rạch Sỏi, An Hòa, An Bình, Vĩnh Lạc, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh và Vĩnh Quang) trên địa bàn thành phố Rạch Giá
Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra trực tiếp với 150 hộ mang tính đại diện các hộ trong vùng dự án (50 hộ bị giải toả hoàn toàn và di dời đến nơi ở mới;
50 hộ bị giải toả một phần và không di dời chổ ở; 50 hộ không bị giải toả nhưng nằm trong vùng dự án)
Số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo của BQL dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Rạch Giá, Chi cục Thống kê thành phố Rạch Giá, UBND thành phố Rạch Giá, Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, UBND tỉnh Kiên Giang và WB tại Việt Nam
1.4.3 Giới hạn thời gian nghiên cứu
Đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ thu thập nguồn số liệu trong vùng dự án được tổng hợp theo mẫu từ năm 2011 đến năm 2017 tại BQL dự án và số liệu thu thập sơ cấp từ điều tra 150 hộ tại mốc thời điểm năm 2011 và tại thời điểm năm
2017
Trang 141.5 CẤU TRÚC NGHIÊN CỨU
Cấu trúc của đề tài gồm 5 chương Chương I Trình bày khái quát những bối cảnh, nội dung cơ bản của nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu và tối tượng, phạm vi nghiên cứu Chương II Trình bày những cơ sở lý thuyết, các kết quả nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài Chương III Trình bày phương pháp nghiên cứu, khung phân tích, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu nhập dữ liệu và phân tích dữ liệu khảo sát Chương IV Tóm tắt kết quả nghiên cứu và thảo luận các kết quả nghiên cứu liên quan đến thu nhập và sinh kế của các hộ dân thuộc
dự án Chương V Rút ra một số kết luận từ kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất một
số khuyến nghị về chính sách nhằm đảo bảo sinh kế bền vững và thu nhập của các
hộ dân khi bị ảnh hưởng dự án; nêu những hạn chế của đề tài và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH NGHIÊN CỨU 2.1 LƯỢC KHẢO LÝ THUYẾT
2.1.1 Hộ
Theo Haviland (2003), một hộ gia đình (household) bao gồm một hoặc nhiều hơn những người cùng sống chung nhà ở và cùng chia sẻ các bữa ăn hoặc điều kiện sinh hoạt, có thể bao gồm một gia đình duy nhất hoặc một số nhóm người khác
Theo Arthur O'Sullivan và Steven M Sheffrin (2003), một nơi cư trú riêng lẻ
sẽ được coi là chứa nhiều hộ gia đình nếu có một trong hai bữa ăn hoặc không gian sống không được chia sẻ Các hộ gia đình là đơn vị cơ bản của phân tích trong nhiều mô hình xã hội, kinh tế vi mô và của chính phủ, nhất là trong lĩnh vực kinh tế
và thừa kế
Khái niệm hộ gia đình theo các quy định của pháp luật Việt Nam được mô tả
là nơi mà thành viên hoặc các thành viên cùng lao động, đóng góp công sức vào hoạt động kinh tế chung của hộ, bao gồm việc sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc sản xuất, kinh doanh trong một số lĩnh vực do pháp luật quy định và là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này
Tổng Cục Thống kê định nghĩa: “Hộ là một đơn vị xã hội Trong thống kê,
hộ là đơn vị điều tra (thu thập thông tin), bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ
có thể có hay không có quỹ thu chi chung; có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân; hoặc kết hợp cả hai.”
Tóm lại, hộ gia đình có thể hiểu là một đơn vị xã hội bao gồm một hoặc một nhóm người cùng chung sống tại một nơi cư trú Họ sinh hoạt cùng nhau, ăn chung
và cùng đóng góp công sức vào hoạt động kinh tế chung của cả hộ Như vậy, hộ gia đình không đồng nhất với với khái niệm gia đình do họ có thể có cùng huyết thống,
Trang 16những con người với nhau, đó là sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và chia sẽ những giá trị đạo đức, phong cách, kết nối thành những thành viên trong các cộng đồng lại với nhau (trích Đinh Phi Hổ và Trương Châu, 2014)
Theo Park (1992), do năng suất lao động là điều kiện để thay đổi thu nhập, các nhân tố tác động đến năng suất lao động cũng sẽ tác động đến thu nhập Cùng ý kiến này, Mankiw (1998) chỉ ra sự khác biệt thu nhập giữa các quốc gia là do sự khác biệt về năng suất lao động Mincer (1974) lý giải thu nhập của hộ gia đình chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Trình độ học vấn, và kinh nghiệm nghề nghiệp
Karttunen (2009) cho rằng vốn con người và các yếu tố nhân khẩu xã hội của
hộ gia đình như giới tính, trình độ kiến thức trong lĩnh vực sản xuất của chủ hộ có tác động đến thu nhập của hộ Tương tự, Safa (2005) chỉ ra rằng các đặc trưng của
hộ như độ tuổi, quy mô lao động của hộ, kinh nghiệm sản xuất, và kiến thức về lĩnh vực sản suất ảnh hưởng đến thu nhập của hộ Adil, Badar và Sher (2004) phát hiện rằng đối với hộ sản xuất, chi phí sản xuất có ảnh hưởng tới thu nhập
Các nghiên cứu tại Việt Nam của Đinh Phi Hổ (2008), Đặng Anh Tuấn (2011), Nguyễn Thu Thủy (2011) đều tìm thấy kết quả là các yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của hộ sản xuất bao gồm: Kiến thức nông nghiệp, công lao động, chi phí sản xuất, và vốn vay ngân hàng Theo Nguyễn Xuân Thành (2009), thu nhập của mỗi lao động bị ảnh hưởng bởi yếu tố số năm đi học và kinh nghiệm làm việc
Nghiên cứu của Karttunen (2009) phát hiện nguồn lực vốn con người và các yếu tố nhân khẩu xã hội của hộ gia đình như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ phụ thuộc có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ
Đa số người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều có thu nhập thấp hơn
so với các khu vực phi nông nghiệp, do lao động trong lĩnh vực nông nghiệp thường
có nhiều rủi ro hơn như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường không ổn định Trong nghiên cứu của Nguyễn Sinh Công (2004) tại địa bàn Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã
Trang 17quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hoặc không Hộ gia đình là chủ thể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và trong các quan hệ dân sự của hộ theo pháp luật quy định
2.1.2 Thu nhập
Barr (2004) định nghĩa thu nhập là khoản dùng cho tiêu dùng và tiết kiệm đạt được bởi một hộ hay cá nhân trong một thời gian xác định, thường được biểu diễn bằng tiền tệ Theo Case và Fair (2007), thu nhập hộ gia đình là tổng của tất cả tiền lương, tiền công, lợi nhuận, các khoản lợi ích, tiền cho thuê, và các hình thức thu nhập nhận được trong một thời gian nhất định
Tổng Cục Thống kê định nghĩa: “Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm” Thu nhập của hộ bao gồm: Thu từ tiền công, tiền lương; Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập như thu do biếu, mừng, lãi tiết kiệm… Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh… Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
Theo Coones (1998), các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội Trong đó vốn tự nhiên bao gồm: đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên,… là cơ sở cho các hoạt động kinh tế của con người Vốn con người mô tả các yếu tố như: giáo dục, lực lượng lao động, giới tính Các nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả lao động của họ Vốn tài chính bao gồm: các khoản tiết kiệm và tín dụng, cho biết khả năng của một hộ gia đình trong việc tiết kiệm và tiếp cận vốn cho đầu
tư và các hoạt động tạo ra thu nhập Vốn xã hội bao gồm phần lớn xây dựng giữa
Trang 18kết luận: với các yếu tố không thay đổi, nếu chủ hộ làm nghề nông thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 16,35%
Theo nghiên cứu của Trương Minh Lễ (2010), nghiên cứu về tình trạng nghèo tại huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã kết luận: khi các yếu tố khác không đổi, nếu hộ gia đình làm nông nghiệp thì dẫn đến thu nhập thấp và xác suất nghèo của
họ tăng lên 80,09%
Theo Yang (2004), cho rằng học vấn là mấu chốt của sự phát triển và trình
độ học vấn cũng giúp người nông dân tăng cường khả năng nắm bắt thông tin, điều
đó một phần giúp người nông dân có thêm cơ hội tham gia hoạt động phi nông nghiệp và tìm việc làm ở đô thị
Solow (1957), cho rằng giáo dục làm cho lao động hiệu quả hơn thông qua các tiến bộ khoa học kỹ thuật Điều này xuất phát từ thực tế là giáo dục cho phép mọi người thích nghi dễ dàng hơn với những thay đổi của xã hội và kỹ thuật Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình có ảnh hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình
Marshall (1890), kiến thức là động lực mạnh mẽ của sản xuất cùng với quan điểm này Wharton (1963) cho rằng, với tất cả các nguồn lực đầu vào giống nhau, hai nông dân với sự khác nhau về trình độ kỹ thuật nông nghiệp sẽ có kết quả sản xuất khác nhau Một tỷ lệ lớn người nghèo là nông dân, những người thường thiếu những kỹ năng, kỹ thuật sản xuất và khả năng tiếp cận với các nguồn lực phát triển khác cũng rất thấp
Okurut và cộng sự (2002), trong phân tích về nghèo ở Uganda ông kết luận rằng trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì hộ gia đình càng giàu có
Bùi Quang Bình (2008) và Nguyễn Đức Thắng (2002), cũng kết luận rằng những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ có mức thu nhập cao hơn
Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), ở các nước đang phát triển, nơi còn có những thành kiến về vai trò của người phụ nữ còn tương tác khắc khe thì giới tính
Trang 19vùng biên giới theo thứ tự tầm quan trọng là: Số hoạt động đa năng tạo thu nhập của
hộ, Diện tích đất nông nghiệp của hộ, Số năm làm việc của chủ hộ, Trình độ học vấn của chủ hộ, Số người trong hộ Trong đó, số người trong hộ càng tăng thì thu nhập của hộ càng giảm
Như vậy, trong các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gồm vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội, vốn con người đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện thu nhập Đối với các hộ ở nông thôn, các hộ có thu nhập thấp rơi vào các trường hợp có nguồn thu nhập chủ yếu từ khu vực nông nghiệp, ít có sự đa dạng trong các hoạt động tạo ra thu nhập, diện tích đất nông nghiệp thấp, trình độ học vấn của các thành viên trong hộ thấp hoặc có mức độ phụ thuộc cao Ngoài ra, giáo dục, đào tạo sẽ giúp nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động, từ đó gia tăng năng suất lao động cũng như khả năng tiếp cận thông tin đến các loại vốn tài chính, giúp cải thiện thu nhập của hộ một cách bền vững Cùng với quá trình đô thị hóa, nguồn vốn tự nhiên sẽ ngày càng giảm, song song đó là sự thay đổi trong các loại vốn còn lại, đòi hỏi hộ phải thay đổi cơ cấu các nguồn vốn, giảm phụ thuộc vào vốn tự nhiên và đa dạng hóa các hoạt động sinh kế để đảm bảo thu nhập và tránh nghèo đói
2.1.3 Sinh kế và vốn tài sản
DFID (1999) định nghĩa:“sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và hoạt động cần thiết để kiếm sống” Một sinh kế được xem là bền vững khi nó có thể đối phó, phục hồi hay vượt qua được các cú sốc, căng thẳng, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản ở cả hiện tại và tương lai
mà không làm hao mòn các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Hanstad và cộng sự, 2004)
Tài sản là cái mà con người có thể sở hữu và có thể tạo ra thu nhập Trong khung phân tích sinh kế DFID thì tài sản bao gồm vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội (DFID, 1999) DFID đã định nghĩa các loại vốn tài sản như sau:
Trang 20của chủ hộ có ảnh hưởng đến khả năng nghèo của hộ Nghiên cứu đánh giá những
hộ có chủ là nữ giới thì khả năng nghèo cao hơn những hộ là nam giới, đặc biệt là những vùng nông thôn nghèo, nơi mà phụ nữ ít có cơ hội tiếp xúc với những việc làm có thu nhập cao mà thường xuyên làm việc nội trợ trong nhà, cuộc sống dựa vào nguồn thu nhập từ nam giới
Bùi Quang Bình (2008), cũng kết luận rằng giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng thu nhập của hộ, nếu chủ hộ là nam giới thì thu nhập của hộ sẽ cao hơn 0,237 điểm Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự (2006) nghiên cứu số liệu điều tra VHLSS năm 2002 kết luận rằng, thu nhập bình quân nữ giới chỉ bằng 85% thu nhập của nam giới (riêng ở khu vực nông thôn, nữ giới chỉ bằng 66% thu nhập của nam giới)
Okurut và cộng sự (2002), trong phân tích về nghèo ở Uganda đã kết luận rằng quy mô (số người trong hộ) gia đình càng lớn thì hộ trở nên nghèo hơn
Trong nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2006), tại Bình Phước, quy mô hộ tập trung của tỉnh là 4,76 người/hộ, trong khi đó quy mô trung bình của hộ nghèo là 5,46%/hộ, hộ giàu là 2,82 người/hộ Điều này chứng tỏ hộ gia đình có thu nhập cao thì số người trong hộ ít hơn so với hộ có thu nhập thấp
Nguyễn Sinh Công (2004), nghiên cứu và khẳng định: nếu quy mô của hộ gia đình tăng thêm một người thì thu nhập bình quân đầu người của hộ sẽ giảm 9,2% Đồng thời, nếu tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập bình quân đầu người của
hộ càng thấp
Theo Nguyễn Trọng Hoài (2010), người phụ thuộc là người không tham gia lao động tạo ra thu nhập cho hộ gia đình Người phụ thuộc càng cao đồng nghĩa với việc có nhiều người ăn theo hơn nhưng lại có ít người lao động hơn Kết quả cho thấy tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì gánh nặng đối với hộ gia đình càng lớn, các thành viên có lao động phải gánh nặng cho các thành viên không thể lao động, do vậy sẽ làm giảm thu nhập bình quân của hộ
Nghiên cứu của Đinh Phi Hổ và Trương Châu (2014) tại địa bàn các xã biên giới tỉnh Tây Ninh kết luận các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở
Trang 21kế cộng đồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: khả năng trang bị nguồn vốn, trình
độ lao động, các mối quan hệ trong cộng đồng và chính sách phát triển sinh kế…
Theo nghiên cứu của Trương Thị Hồng Giang (2015), để cải thiện phúc lợi con người, các nguồn vốn, tài sản sinh kế nói chung có tính chất bổ sung cho nhau
Ví dụ như tài sản con người cùng với tài sản xã hội có thể làm tăng năng lực hoạt động và tồn tại của con người Các tài sản cũng bổ trợ cho nhau trong quá trình sản xuất, tức là năng suất của tài sản này có thể tăng lên khi có thêm một lượng tài sản khác Ví dụ như nếu nguồn vốn xã hội được tăng lên (như sự thiết lập, gắn kết chặt chẽ với các mạng lưới quen biết trong xã hội có thể làm tăng nguồn vốn tài chính, hay sự chia sẽ những kinh nghiệm kiến thức từ mạng lưới ấy cũng làm tăng nguồn vốn con người), qua đó góp phần nâng cao nhận thức của cá nhân và cộng đồng, giúp cho công tác quản lý các vấn đề môi trường được cải thiện tốt (nguồn vốn tự nhiên), đến lượt nó, không khí, nước sạch hơn sẽ bảo vệ sức khoẻ con người, giúp nâng cao năng suất và chất lượng lao động, góp phần làm tăng tài sản vật chất,…
2.1.4 Bồi thường thiệt hại và tái định cư
a Dự án công
Theo Luật Đầu tư công, dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công Căn cứ vào tính chất, dự án đầu tư công được phân loại thành dự án có cấu phần xây dựng, gồm dự án đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng, bao gồm cả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án; và dự án không có cấu phần xây dựng, bao gồm dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết
bị, máy móc và dự án khác Ngoài ra, dự án đầu tư công còn được phân loại theo mức độ quan trọng và quy mô của dự án
Các dự án công nhằm đầu tư, xây dựng các công trình công cộng, là các dự
án cơ sở hạ tầng, do chính phủ tài trợ và xây dựng, phục vụ cho việc giải trí, làm việc, sức khoẻ và an toàn được sử dụng trong một cộng đồng dân cư Bao gồm các công trình xây dựng công cộng (tòa nhà thành phố, trường học, bệnh viện), cơ sở hạ
Trang 22- Vốn con người bao gồm các kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động
và sức khoẻ tốt cùng nhau cho phép mọi người để theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp độ hộ thì vốn con người là yếu tố về số lượng và chất lượng lao động, yếu tố này khác nhau tuỳ thuộc vào học vấn, tay nghề, năng lực quản lý, sức khoẻ, tri thức về cấu trúc sở hữu chính thống, phi chính thống
- Vốn tự nhiên là cụm từ để chỉ các nguồn lực tự nhiên sẵn có mà con
người có thể khai thác và sử dụng nó Có một sự khác biệt lớn trong các nguồn lực tạo nên nguồn vốn tự nhiên, từ hàng hoá công cộng vô hình như không khí và đa dạng sinh học đến các tài sản có thể sử dụng trực tiếp cho sản xuất (cây cối, đất đai, sông suối, ao hồ,…)
- Vốn vật chất bao gồm tài sản mà con người tạo ra, bao gồm các cơ sở
hạ tầng, chẳng hạn như mạng lưới đường bộ, điện, trạm xá và bệnh viện, trường học, các phương tiện tiếp cận thông tin, các công cụ, phương tiện sản xuất, hàng hoá và thị trường nhằm giúp hỗ trợ cho sinh kế của người dân
- Vốn tài chính là nguồn tiền mà hộ gia đình có thể dùng để tạo ra thu
nhập cho gia đình của họ Nguồn vốn có thể có từ việc hộ gia đình đã tích luỹ qua nhiều năm dưới dạng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, trái phiếu, cổ phiếu hoặc bằng vàng Vốn tài chính có thể cũng là dòng tiền thu nhập đều đặn trong tương lai như trợ cấp của Chính phủ, người thân cho, tặng
- Vốn xã hội là các nguồn lực xã hội mà con người sử dụng để theo
đuổi các mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm quan hệ, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự phụ thuộc lẫn nhau và trao đổi cung cấp các mạng an ninh phi chính thống quan trọng
Ellis và Frank (2000) đã chỉ ra mức độ quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, cơ hội sinh kế và cải thiện đói nghèo của người dân Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của thể chế, chính sách cũng như các mối liên hệ và hỗ trợ xã hội đối với cải thiện sinh kế và xóa đói giảm nghèo Nghiên cứu khẳng định sự bền vững của sinh
Trang 23tầng giao thông (đường bộ, đường sắt, cầu, đường ống, kênh, cảng, sân bay), không gian sinh hoạt, giải trí công cộng (quảng trường, công viên, bãi biển), dịch vụ công (cấp nước, lưới điện, đập), và các tài sản và cơ sở vật chất khác, thường là dài hạn
b Bồi thường từ dự án công
ADB (1998) định nghĩa đền bù là tiền hoặc hiện vật trả cho người bị ảnh hưởng để thay thế tài sản, nguồn lực hoặc thu nhập bị mất
Theo từ điển tiếng Việt “Bồi thường là đền bù những thiệt hại đã gây ra” Luật đất đai năm 2003 quy định:
- “Thu hồi đất là việc nhà nước thu lại quyền sử dụng đất của người được nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai”;
- “Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”;
- “Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc nhà nước trợ giúp cho người có đất
bị thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”
Theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thì người bị thu hồi đất là tổ chức, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức các nhân nước ngoài đang sử dụng đất bị thu hồi được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư
c Tái định cư từ dự án công
Bất kì một dự án phát triển nào đem lại những thay đổi đáng kể về cách thức
sử dụng đất đai, nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiên nhiên khác, đều có thể tác động bất lợi tới những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên đó và các phương tiện kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo liên quan Có nhiều loại dự án phải
Trang 24chiếm dụng hay chuyển hướng sử dụng các khu đất do các cá nhân và cộng đồng đang sở hữu hoặc sử dụng Trong đó, nhiều dự án có thể mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địa phương, khu vực và quốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫn giữa mục đích phát triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và cá nhân – những người chịu bất lợi trước tiên Điều quan trọng là phải cân nhác lợi ích đạt được với cái giá phải trả cho các ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc không phải di dân, hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách để hòa hợp những quyền lợi và mâu thuẫn nói trên Trường hợp không thể tránh khỏi tái định cư, phải tiến hành các biện pháp cụ thể để bảo vệ quyền lợi và cuộc sống của những người bị di chuyển do
dự án; giảm và đền bù những thiệt hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnh hưởng, của nền kinh tế khu vực và địa phương; hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội
và văn hóa cho các cộng đồng và người bị ảnh hưởng (ADB, 1998)
Tái định cư bao gồm tất cả thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội gây ra bởi việc thu đất và hạn chế sự tiếp cận tài sản, cùng với các biện phá bồi thường và khắc phục hậu quả sau đó Tái định cư không được hạn chế ở sự di dời nhà ở Tái định cư
có thể, tùy từng trường hợp, bao gồm thu hồi đất và công trình trên đất, bao gồm cả hoạt động kinh doanh; di dời nhà cửa; những biện pháp khôi phục nhằm cải thiện (hoặc ít nhất là phục hồi) thu nhập và mức sống của những người bị ảnh hưởng
Những thiệt hại gây ra cho người dân TĐC, theo ADB (ADB, 1998), gồm có: sự không thân thiện và không có những nét tương đồng về văn hóa của cư dân tại chỗ ở các khu vực TĐC; những khó khăn về công việc làm ăn đối với người dân TĐC tại nơi ở mới có thể khiến họ phải khai thác tối đa đến mức kiệt quệ các tài nguyên môi trường để sinh tồn và điều này gây ra những hậu quả nghiêm trọng môi trường
Báo cáo của WB (World Bank, 2004) chỉ ra rằng TĐC có thể dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường như: hệ thống sản xuất cũ bị phá vỡ, người dân phải đối mặt với nguy cơ đói nghèo khi những điều kiện sản xuất
Trang 25và những nguồn tạo thu nhập trước đây của họ mất đi; người dân có thể bị di dời đến những nơi không có việc làm hay các tài nguyên kiếm sống không có nhiều; các thiết chế cộng đồng và mạng lưới xã hội bị phá vỡ, các mối quan hệ họ hàng thân thích cũng bị ảnh hưởng do khác biệt về văn hóa – xã hội; các yếu tố truyền thống, tình tương thân tương ái bị giảm hoặc thậm chí bị mất đi Đây chính là những chi phí, những tổn thất “vô hình” mà người dân TĐC phải gánh chịu bên cạnh những mất mát cụ thể về nhà cửa, đất đai
Tại Việt Nam, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, chính sách bồi thường TĐC được thực hiện như sau:
- Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Kế hoạch hành động tái định cư đã được phê duyệt phải được niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại trụ sở UBND cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi
và phải tổ chức lấy ý kiến theo hình thức tổ chức họp trực tiếp với người dân trong khu vực có đất thu hồi; tổ chức vận động, thuyết phục các hộ gia đình người có phản đối về phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (theo Điều 69)
- Xác định các nguyên tắc và phương pháp định giá đất với nguyên tắc giá thị trường (theo Điều 114)
- Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền, hoàn thành trước khi di dời; Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư (theo Điều 84)
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp (theo Điều 84)
Trang 26- Công trình và tài sản trên đất khác không được bồi thường nếu tạo lập trái quy định pháp luật; nằm trên đất sử dụng không đúng mục đích, vi phạm pháp luật; xây dựng sau ngày thông báo thu hồi đất (theo Điều 92)
- Đất nông nghiệp sử dụng trước ngày 01/7/2014 được hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có Giấy chứng nhận được bồi thường với diện tích đất thực tế đang sử dụng (theo Điều 77)
Chính sách TĐC của Việt Nam về cơ bản có sự tương thích với thông lệ của thế giới tuy có một số khác biệt nhất định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư và phục hồi sinh kế cho những người bị ảnh hưởng Tuy nhiên, đối với các dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế và nước ngoài, chính sách tái định cư sẽ thực hiện theo cam kết của Việt Nam đối với các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia Tái định cư trong quá trình thực hiện các dự án công, các dự án phát triển và xây dựng công trình công cộng là không thể tránh khỏi và sẽ có tác động lớn đến sinh kế của các hộ bị ảnh hưởng Việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư và phục hồi sinh kế là cần thiết và phải được đảm bảo thực hiện một cách khánh quan, công bằng, công khai, trên cơ sở pháp lý là khung chính sách của Việt Nam và các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
d Chính sách Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư từ dự án
Để giải quyết thoả đáng vấn đề bồi thường, tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người dân bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất đai, nhà cửa và các tài sản khác trong khuôn khổ dự án Nâng cấp đô thị vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, giai đoạn 2 do Ngân hàng Thế giới tài trợ, Chính phủ Việt Nam đã ban hành khung chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho dự án tại Văn bản số 470/TTg-QHQT ngày 10/4/2012 Khung chính sách Tái định cư cũng áp dụng đối với các hoạt động khác dẫn đến việc thu hồi đất và tái định cư, đó là: (1) các hoạt động liên quan trực tiếp đến dự án; (2) các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu dự án; và (3) các hoạt động đã được thực hiện hoặc lên kế hoạch thực hiện cùng Dự án Mục tiêu cơ bản của Khung chính sách này là để đảm bảo tất cả những người bị ảnh
Trang 27hưởng bởi dự án sẽ được bồi thường cho những tổn thất của họ bằng các chi phí thay thế và những biện pháp phục hồi cuộc sống hay giúp họ cải thiện sinh kế, hoặc tối thiểu là duy trì, các mức sống ít nhất là như trước khi có dự án Khung chính sách này cũng đưa ra nguyên tắc, mục tiêu, tiêu chuẩn hợp lệ đối với những người
bị ảnh hưởng cũng như quyền lợi, khung thể chế và pháp lý, các biện pháp bồi thường và phục hồi, đặc điểm của dân cư và các quy trình giải quyết khiếu nại để hướng dẫn cho việc bồi thường, tái định cư và phục hồi cho những người bị ảnh hưởng
2.2 LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Shrestha và Eiumnoh (2000), nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu
nhập hộ nông hộ ở lưu vực sông Sakae của Thái Lan” Với cở mẫu là 192 hộ gia
đình nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của những nông hộ ở vùng đồng bằng và vùng đồi núi chủ yếu bao gồm: nguồn thu
từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục và số thành viên trong độ tuổi lao động
Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bố hiệu quả sự phát triển
thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc”, trong
nghiên cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực của hộ trong việc tăng trưởng thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc Dữ liệu phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này được thu thập từ kết quả khảo sát thu nhập hộ gia đình của tỉnh Tứ Xuyên từ năm 1986 đến năm 1995 Trong đó, các yếu
tố ảnh hưởng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ và các thành viên trong hộ, vị trí nơi ở của chủ hộ, nguồn vốn của hộ,… và nghiên cứu đã minh chứng trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng để ngành công nghiệp ở nông thôn phát triển nhanh chóng và cũng tạo nên nguồn thu nhập ổn định, bền vững hơn cho nông dân Các hộ gia đình có thành viên có trình độ học vấn cao hơn sẽ được phân bổ nguồn lực của hộ cho các hoạt động phi nông nghiệp và mang lại thu nhập cao hơn
Đề tài nghiên cứu “Nhận dạng và ước lượng thiệt hại vô hình của người dân
bị thu hồi đất dự án Thảo Cầm Viên, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh”
Trang 28(Nguyễn Văn Dương, 2011) tác giả thu thập dữ liệu của 150 mẫu phỏng vấn hộ bị ảnh hưởng thu hồi đất, sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM), phương pháp định lượng và công cụ mức sẳn sàng chấp nhận bồi thường để đánh giá thiệt hại vô hình của hộ bị thu hồi đất Từ kết quả nghiên cứu, đề tài rút ra kết luận: thiệt hại của người dân bị thu hồi đất bao gồm thiệt hại hữu hình và thiệt hại vô hình; tuy nhiên trong thời gian vừa qua các chính sách giải tỏa, đền bù và tái định cư chỉ tập trung bồi thường những thiệt hại hữu hình mà chưa chú trọng đến thiệt hại vô hình Thiệt hại vô hình bao gồm: việc chuyển sang nơi ở mới khó thích nghi với môi trường sống mới, phải chuyển đổi việc làm, có trường hợp bị thất nghiệp, đào tạo chuyển đổi việc làm ít được chú trọng, điều kiện tiếp cận giáo dục thay đổi, nguy cơ mất nguồn vốn tự nhiên và vốn nhân tạo, mất không gian văn hoá, mất quyền sử dụng những tài sản cộng đồng, thay đổi điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, ảnh hưởng đến sức khoẻ, tâm trạng lo lắng
Đề tài“Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng tới
sinh kế của người dân tại dự án xây dựng khu đô thị mới quận Hải An, thành phố Hải Phòng” (Nguyễn Thị Thuận An, 2012) nghiên cứu tổng quan các chính sách,
quy định pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước Phỏng vấn 106 hộ
bị thu hồi đất thuộc dự án xây dựng khu đô thị mới tại quận Hải An Đánh giá, phân tích thực trạng công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và những ảnh hưởng của
nó đến người dân bị thu hồi đất Rút ra bài học kinh nghiệm: Có sự bất cập trong quá trình chuyển đổi việc làm cho người có đất bị thu hồi, thiếu sự phối hợp về quy hoạch, kế hoạch về đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người dân, chưa gắn với việc chuyển dịch cơ cấu đất đai với cơ cấu lao động,… có đến 70,75% số hộ có thu nhập cao hơn so với trước khi thu hồi đất nhưng tăng không đáng kể Nhìn chung đời sống kinh tế của người dân cũng không ổn định hơn Nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất của các hộ dân tăng, nhưng chỉ mang tính tạm thời, bởi vì nguồn lực con người, nguồn lực xã hội, nguồn lực tự nhiên, chỉ ở mức hạn chế nên việc duy trì nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất mang tính rủi ro cao và phụ thuộc nhiều vào sự thay đổi chế độ chính sách hỗ trợ của chính quyền và sự thay đổi nội
Trang 29lực của người nông dân về trình độ học vấn hoặc phải trong chờ vào thế hệ tiếp theo
Luận văn “Đời sống của người dân sau thu hồi đất thuộc dự án khu công
nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh” (Bùi thị Tuyết Mai, 2012) khảo sát 102 mẫu
điều tra phỏng vấn hộ bị thu hồi đất khu vực nghiên cứu, đề tài đưa ra những kết luận như sau: thu hồi đất có tác động đến đời sống người dân cả tích cực lẫn tiêu cực, thu hồi đất là một cơ hội cho người dân có nhà ở khang trang hơn, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đầy đủ hơn, thu nhập của một bộ phận gia đình (36,3%) có cải thiện hơn so với trước Tuy nhiên, bên cạnh đó, người dân phải đối phó với những thách thức nhất định, 28,4% hộ không có cải thiện thu nhập và 35,3% hộ bị giảm thu nhập, hộ không có khả năng tự tìm nơi ở mới sau khi bị giải toả, môi trường sống và quan hệ xã hội bị phá vỡ, một số hộ dân có tình trạng khi có tiền đền
bù con cái nảy sinh nạn đua đòi, bỏ học,… Qua khảo sát, người dân bày tỏ nhiều bức xúc liên quan đến chính sách đền bù và việc áp giá đền bù chưa thoả đáng Đây
là nguyên nhân gây nên khiếu kiện đông người và vượt cấp Qua đó cho thấy, tái định cư không chỉ đơn thuần là việc đưa một bộ phận hay một cộng đồng dân cư từ nơi này đến nơi khác, không chỉ là chăm lo chỗ ở mà còn nhiều yếu tố liên quan đến cuộc sống hậu tái định cư của hộ, đặc biệt vấn đề bồi thường cho những tổn hại phi vật chất, những thiệt hại vô hình như những khuyến cáo đã được các tổ chức quốc tế nhắc đến nhưng vẫn chưa thật sự quan tâm Kết quả mô hình kinh tế lượng cho thấy các biến tuổi của chủ hộ, người tạo ra thu nhập chính, nhận định chi phí sinh hoạt làm tăng xác suất cải thiện thu nhập, trong khi biến thay đổi việc làm gây giảm xác suất cải thiện thu nhập
Đề tài “Kết quả sinh kế của người dân sau thu hồi đất thuộc dự án cầu và
tuyến tránh Chợ Lách, Bến Tre” (Phạm Anh Linh, 2015).Thu hồi đất để đầu tư xây
dựng hạ tầng, có tác động tích cực, lẫn tiêu cực đến đời sống của người dân Bên cạnh các mặt tích cực thì người dân phải đối mặt với những khó khăn thách thức Mức chi tiêu bình quân đầu người/năm của nhóm hộ bị thu hồi đất tăng 22,08% so với nhóm hộ không bị thu hồi đất, do khi nhận được tiền bồi thường, nhóm hộ này
Trang 30có tâm lý mua sắm tài sản tiêu dùng, giải trí như xe cộ, tivi, tủ lạnh, sửa chữa nâng cấp nhà,… và đây là khoản chi tiêu không sinh lợi Song song đó nguồn lực vật chất, tức là giá trị tài sản sinh kế của nhóm hộ bị thu hồi đất tăng lên 40,06% so với nhóm hộ không bị thu hồi, và với các hộ sống chủ yếu bằng kinh tế vườn thì khi bị thu hồi đất với tỷ lệ cao từ 30% đến 40% trở lên sẽ bị giảm thu nhập đáng kể Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi đời sống sau thu hồi đất trong điều kiện các yếu tố khác không đổi bao gồm: Trình độ học vấn của lao động chính, nếu số năm đi học càng nhiều thì có cơ hội việc làm ổn định với mức thu nhập cao hơn; Tỷ lệ phụ thuộc, những hộ có tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì thu nhập giảm và chi tiêu giảm, những hộ có tỷ lệ phụ thuộc ít thì ngược lại
Nghiên cứu của Bùi Văn Tuấn (2015) về “Thực trạng và giải pháp đảm bảo
sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven đô Hà Nội trong quá trình đô thị hóa”
kết luận sinh kế của cộng đồng dân cư sau quá trình đô thị hóa có sự thay đổi sâu sắc, tuy có sự chuyển biến tích cực nhưng thiếu bền vững Cụ thể là nguồn nhân lực đông nhưng hạn chế về tay nghề; cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông tuy đã phát triển rộng khắp nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đi lại và vận tải; chi phí sinh hoạt trong môi trường đô thị đắt đỏ hơn và phát sinh thêm nhiều khoản chi phí mới; nhiều hộ dân trở nên thiếu thốn, cuộc sống bấp bênh do phải chuyển từ làm nông nghiệp trở thành cư dân đô thị Để đảm bảo sinh kế bền vững cho cộng đồng dân
cư, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền và người dân; cần đổi mới chính sách hỗ trợ nguồn vốn; gắn sản xuất với bảo quản nông sản sau thu hoạch; chế biến
và tìm kiếm thị trường tiêu thụ, sản xuất hàng hóa nông nghiệp chất lượng cao gắn với xuất khẩu trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật; đa dạng hóa ngành nghề và nguồn thu nhập
Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Minh Tuấn (2013) về “Sự
thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở Khu công nghiệp Giang Điền huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” rút ra kết luận là quyết định đầu tư sản xuất kinh
doanh sẽ làm cho thu nhập hộ tăng; diện tích đất thu hồi càng lớn cũng sẽ làm tăng
Trang 31thu nhập hộ, nhưng khi diện tích quá lớn sẽ làm giảm thu nhập hộ do những hộ bị thu hồi đất thuần túy là nông dân, khi nhận nhiều tiền đền bù từ đất ít có kĩ năng quản lý tiền họ dễ chi cho tiêu dùng; trình độ học vấn của chủ hộ góp phần tăng thu nhập; tỉ lệ phụ thuộc có ý nghĩa làm giảm nguồn thu nhập Nghiên cứu hàm ý một
số chính sách nhằm ổn định cuộc sống và nâng cao thu nhập cho hộ dân sau khi chuyển sang môi trường sống mới Cụ thể, về đền bù và hỗ trợ cần ưu đãi vốn cho
hộ có phương thức sản xuất hiệu quả, không nên cấp vốn đại trà theo kiểu bình quân; nên chia các chương trình hỗ trợ cho từng nhóm hộ cụ thể, tập trung cho những hộ có khả năng cải thiện thu nhập để thoát nghèo, không nên áp dụng cấp vốn đồng bộ cho tất cả các hộ vì với số tiền cấp ít thì sẽ rất khó cho các hộ khi làm sản xuất kinh doanh; phải có lựa chọn giữa hiệu quả đồng vốn cấp và chính sách xóa nghèo Về yếu tố diện tích đất thu hồi, chính quyền địa phương có trách nhiệm hiệu chỉnh giá đền bù theo giá thị trường và định hướng phương thức sản xuất kinh doanh; đối với tiền đền bù quá lớn (từ diện tích đền bù quá lớn), thì phát sinh nguy
cơ người nông dân có tâm lý tiêu dùng hơn là đầu tư và không biết hay thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý nguồn vốn phát sinh Tác động của trình độ học vấn của chủ hộ rất quan trọng trong tăng thu nhập của hộ trực tiếp và gián tiếp; chính quyền địa phương kết hợp với các trung tâm giáo dục và dạy nghề mở các lớp học cho chủ
hộ và người dân về văn hóa và kiến thức phổ thông, cũng như đào tạo nghề góp phần nâng cao trình độ nhận thức, thích nghi cuộc sống mới và từ đó nâng cao cơ hội kinh tế Tỉ lệ phụ thuộc có thể không chỉ có tác động làm giảm thu nhập bình quân chung của hộ, mà còn làm giảm cả thời gian làm việc và/hay cơ hội kinh tế
Nghiên cứu của Lê Thanh Sơn và Trần Tiến Khai (2016) về “Thu hồi đất và
thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ gia đình nông thôn tại Thành phố Cần Thơ” đưa ra
kết luận: Người dân bị thu hồi đất rất khó chuyển đổi nghề nghiệp; Tính công bằng trong thu hồi đất chưa cao; Giáo dục đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế hộ gia đình nông thôn; Đất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với sinh kế nông thôn, đặc biệt với nông dân Nhà nước cần hoàn thiện các quy định về bồi hoàn và hỗ trợ khi thu hồi đất Việc dùng tiền bồi thường để hỗ trợ nông hộ chuyển đổi nghề
Trang 32nghiệp là không khả thi do nông dân đã quen trồng lúa và các hoạt động nông nghiệp thì khó có thể học chuyển đổi nghề hoặc làm việc trong khu vực công nghiệp vì thiếu kỹ năng và tác phong công nghiệp Vì vậy, cần đầu tư cho giáo dục
và dạy nghề cho thế hệ trẻ để họ có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp khi tham gia thị trường lao động Tuy nhiên, việc dùng tiền bồi thường để hỗ trợ hộ gia đình lại giúp đẩy nhanh tiến độ thu hồi đất và không làm giảm thu nhập của hộ Bồi thường đầy đủ và nhanh chóng sẽ giúp thu hồi đất diễn ra nhanh hơn Ngoài ra, cũng cần tính đến các giải pháp tốt nhất nhằm đảm bảo cho các hộ gia đình bị thu hồi đất có cuộc sống tốt hơn so với trước khi thu hồi đất, đó sẽ là giải pháp chiến lược theo mô hình quản lý phù hợp nhất để cùng nhau chiến thắng (Win-Win) trong quá trình chuyển dịch đất đai cho bất kì mục đích sử dụng đất nào
Như vậy, các nghiên cứu trong và ngoài nước về tác động của việc thu hồi đất, thực hiện tái định cư đến sinh kế của hộ đều chỉ ra rằng tác động của việc tái định cư gây ra những thiệt hại hữu hình các loại vốn tài sản và những thiệt hại vô hình đến sinh kế trong tương lai của hộ Việc bồi thường bằng tiền một cách thỏa đáng, ban đầu có thể đem lại lợi ích về thu nhập của hộ và đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, tuy nhiên, về lâu dài có tác động tiêu cực đến sinh kế của một số hộ do không đầu tư cho giáo dục, đào tạo và thực hiện chuyển đổi nghề nghiệp nhằm đa dạng các nguồn sinh kế Mặc dù vậy, ngay cả các hộ có đầu tư cho giáo dục, đào tạo thì vẫn có độ trễ nhất định để tham gia vào thị trường lao động Do đó, để đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ chịu tác động của tái định cư, cần thiết có chính sách can thiệp, hỗ trợ một cách thỏa đáng từ các cơ quan chính phủ nhằm tạo môi trường thuận lợi cho người dân phục hồi và cải thiện sinh kế thông qua việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo và chuyển đổi nghề một cách hiệu quả
2.3 KHUNG PHÂN TÍCH
Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước đều có mức độ thống nhất cao trong việc sử dụng khung sinh kế bền vững do DFID đưa ra để nghiên cứu và
Trang 33phân tích sự thay đổi thu nhập và sinh kế của người dân khi bị thay đổi môi trường sống
Khung sinh kế bền vững có dạng như sau:
Hình 2.1: Khung phân tích sinh kế bền vững
Nguồn: DFID, Sustainable Livelihoods Guidance Sheets, 1999
Đối với vấn đề nghiên cứu của đề tài, qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, dựa trên thực tiễn công tác triển khai dự án đầu tư xây dựng nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá và tình hình kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên của địa phương, đề tài đề nghị sử dụng khung phân tích với các yếu tố được
mô tả trong Hình 2.2 sau đây:
Trang 34Hình 2.2: Khung phân tích sinh kế bền vững cho các nhóm hộ gia đình
Nguồn: Tác giả xây dựng dựa trên khung phân tích sinh kế bền vững của DFID
Quá trình tác động của dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá đến sinh kế của các hộ gia đình thuộc khu vực xây dựng dự án diễn ra theo sơ đồ được
mô tả trong Hình 2.3 như sau:
Hình 2.3: Quá trình ảnh hưởng của dự án đến sinh kế của hộ dân
từ công trình hoàn thành
Ảnh hưởng đến nguồn vốn sinh kế của hộ dân
Kết quả thay đổi các loại vốn tác động sinh kế
Trang 35CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu
- Chiến lược và kết quả sinh kế
Đánh giá hiệu quả chính sách TĐC:
- Chính sách TĐC
- Mục tiêu của hộ khi đến TĐC
- Sự thay đổi sinh kế của hộ sau TĐC
Chọn thời điểm nghiên cứu
Phỏng vấn hộ
Phỏng vấn bán cấu trúc
- Báo cáo phát triển kinh
tế - xã hội của thành phố Rạch Giá
- Các chính sách có liên quan của chính quyền địa phương
- Các văn bản triển khai, đánh giá chính sách TĐC
Phân tích dữ liệu
Viết báo cáo Báo cáo
Trang 363.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Thống kê mô tả
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả dữ liệu dạng bảng nhằm khái quát các đặc điểm cơ bản của người dân trong vùng dự án về sinh kế trước và sau khi bị thu hồi đất ở, nhà ở, đất sản xuất
3.2.2 Phân tích so sánh
Đánh giá sinh kế không sử dụng mô hình kinh tế lượng mà chủ yếu đánh giá các loại vốn sinh kế biến đổi như thế nào khi có dự án và tác động của các loại vốn sinh kế thay đổi như thế nào trong giai đoạn trước và sau khi dự án triển khai Cụ thể, đề tài sẽ xem xét và đánh giá sinh kế hộ gia đình trước và sau TĐC trong khuôn khổ dự án Theo đó, TĐC phải đảm bảo thực hiện việc xác định vị trí khu TĐC, xác định tổng diện tích xây dựng khu TĐC và xây dựng hạ tầng cho khu TĐC (gồm hạ tầng kỹ thuật như san nền, cấp nước, thoát nước, giao thông, cấp điện, cây xanh; hạ tầng xã hội như nhà trẻ, mẫu giáo; và trạm xử lý chất thải và ô nhiễm môi trường)
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
Để thu thập thông tin, bao gồm thông tin thứ cấp và sơ cấp, đề tài đề xuất sử dụng một số công cụ thu thập dữ liệu, bao gồm:
Thu thập số liệu thứ cấp: được thu thập từ các kết quả điều tra, các báo cáo
có liên quan, các số liệu thống kê của BQL dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Rạch Giá, Trung tâm phát triển quỹ đất, Chi cục thống kê thành phố Rạch Giá, UBND thành phố Rạch Giá, Cục Thống kê Kiên Giang, UBND tỉnh Kiên Giang, BQL dự án Phát triển đô thị - Bộ Xây dựng, Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Các thông tin này được tổng hợp và phân tích cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Đây là cơ sở để so sánh, đánh giá với những phần có liên quan trong nghiên cứu
Thu thập số liệu sơ cấp: Quan sát thực địa về điều kiện nhà ở, đất ở, đất sản xuất và hệ thống hạ tầng,… để biết sinh kế của các hộ gia đình Phỏng vấn sâu các
hộ gia đình bao gồm 150 hộ (số hộ bị ảnh hưởng bởi dự án 2.143 hộ) trong vùng dự
Trang 37án mang tính đại diện cho các hộ trong vùng dự án (khảo sát 50 hộ bị giải tỏa hoàn toàn và di dời đến nơi ở mới, 50 hộ bị giải tỏa 1 phần và không bị di dời, 50 hộ không bị ảnh hưởng nhưng nằm trong vùng dự án) thông qua bảng câu hỏi nhằm thu thập các thông tin chi tiết về thực trạng sinh kế của các hộ trong vùng dự án và xác định các yếu tố thúc đẩy, cản trở người dân trong vùng dự án về sinh kế
3.4 THU THẬP VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU
Bảng câu hỏi phỏng vấn sâu được soạn thảo sẵn trên phiếu điều tra Phiếu điều tra được xây dựng gồm 5 phần, phần I thu thập thông tin chung của hộ gia đình gồm tên, tuổi, địa chỉ của chủ hộ; nhân khẩu, lao động, trình độ văn hóa và chuyên môn Phần II và III của phiếu điều tra nhằm thu thập về tình hình sử dụng đất, tài sản của hộ trước và sau thu hồi đất Phần IV của phiếu được xây dựng để điều tra thông tin về thu nhập trước và sau thời điểm thu hồi đất, việc sử dụng nguồn vốn bồi thường, hỗ trợ của các hộ Phần V của phiếu điều tra là ý kiến và đề xuất của hộ
về chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm của Nhà nước khi thu hồi
3.5 ĐỊA BÀN PHỎNG VẤN
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, đề tài thực hiện khảo sát các hộ gia đình tại địa bàn 8 phường nằm trong khu vực thực hiện dự án đầu tư nâng cấp đô thị của Thành phố Rạch Giá, đó là: Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh, Vĩnh Quang, Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa, An Bình, Rạch Sỏi Trong đó, các phường Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa và Vĩnh Thanh Vân có các khu lấn biển để mở rộng đô thị
3.6 CƠ CẤU CHỌN MẪU
Các mẫu khảo sát đại diện cho 3 nhóm hộ bị ảnh hưởng bởi dự án, đó là :
- Nhóm 1: các hộ bị giải tỏa hoàn toàn và di dời đến nơi ở mới;
- Nhóm 2: các hộ bị giải tỏa 1 phần và không bị di dời;
- Nhóm 3: các hộ không bị bị giải tỏa nhưng nằm trong khu vực dự án
Trang 38Tổng số hộ bị ảnh hưởng là 2.143 hộ theo danh sách được lập của BQL dự
án Mẫu khảo sát được chọn ngẫu nhiên, phân tầng theo từng nhóm hộ, mỗi nhóm chọn ra 50 hộ để phỏng vấn Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống, khoảng cách chọn k = 2.143/50 = 43; như vậy, cứ 43 hộ chọn ra 1 hộ vào mẫu để thực hiện khảo sát Đối tượng được chọn phỏng vấn là chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ
hộ
Trang 39CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN VỀ PHÂN
TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA DỰ ÁN ĐẾN SINH KẾ
4.1 KHÁI QUÁT HIỆN TRẠNG THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
4.1.1 Vị trí địa lý
Hình 4.1: Vị trí địa lý Thành phố Rạch Giá
Nguồn: UBND tỉnh Kiên Giang
Thành phố Rạch Giá ở vị trí trung tâm tỉnh Kiên Giang, phía tây bắc giáp huyện Hòn Đất, phía đông bắc giáp huyện Tân Hiệp, phía đông nam giáp huyện Châu Thành, phía tây nam giáp Biển Tây (hình 4.1)
Thành phố Rạch Giá là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, chính trị của tỉnh Kiên Giang và là một trong các trung tâm kinh tế, chính trị của Vùng đồng bằng Sông Cửu Long; Phía tây bắc là Khu công nghiệp Kiên Lương, Khu kinh tế cửa khẩu Hà Tiên, về phía đông - đông nam là vùng lúa cao sản Tân Hiệp – Giồng Riềng – Gò Quao và Khu công nghiệp, cảng cá Tắc Cậu; phía tây là vùng biển đảo Phú Quốc, Kiên Hải; Thành phố Rạch Giá cũng là đầu mối giao thông, giao lưu của
Trang 40tỉnh và của vùng: Quốc lộ 80, quốc lộ 61, đường hành lang ven biển đi qua thành phố; sân bay Rạch Giá nối Kiên Giang với TP Hồ Chí Minh, TP Cần Thơ, đảo Phú Quốc, kết nối Nam Bộ và cả nước, hệ thống đường thủy đi Phú Quốc (bằng tàu cao tốc) và đi Cà Mau, Kiên Lương… có hai bến xe cấp Vùng là Bến xe Kiên Giang (khánh thành tháng 5 năm 2012) và bến xe Rạch giá có các tuyến đi Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long Xuyên, Cà Mau, Đà Lạt, Bà Rịa – Vũng Tàu và các thị
xã, thị trấn trong toàn tỉnh
4.1.2 Các đơn vị hành chính
Thành phố Rạch Giá được thành lập theo Quyết định số: 97/2005/NĐ-CP Ngày 26 tháng 07 năm 2005 của Chính phủ, gồm 12 đơn vị hành chính: 11 phường (Vĩnh Thanh Vân, Vĩnh Thanh, Vĩnh Quang, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Bảo, Vĩnh Lạc, An Hòa, An Bình, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thông, Rạch Sỏi) và xã Phi Thông (xem Bảng 4.1)
TT Tên Phường, xã Diện tích
(km2)
Dân số (người) Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012