1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò thịt đối với hộ dân tộc Kh’mer tỉnh Trà Vinh

81 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 30,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Bước 1: Mô tả và phân tích các yếu tố kỹ thuật chăn nuôi Mô tả thực trạng về độ tuổi, trình độ học vấn, giới tính, diện tích đất của các hộ nuôi bò và không nuôi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

THẠCH THỊ HÒN

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHĂN NUÔI

BÒ THỊT ĐỐI VỚI HỘ DÂN TỘC KH’MER

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

-

THẠCH THỊ HÒN

PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHĂN NUÔI

BÒ THỊT ĐỐI VỚI HỘ DÂN TỘC KH’MER

TỈNH TRÀ VINH

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân và kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào

Trà Vinh, ngày 25 tháng 5 năm 2017

Người thực hiện

Thạch Thị Hòn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu: 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 3

4.1.Đối tượng nghiên cứu: 3

4.2.Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Cấu trúc của luận văn 4

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

1 Cơ sở lý thuyết 6

1.1 Một số khái niệm liên quan: 6

1.2.Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt 16

2 Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi 20

3 Khung phân tích 22

Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 23

1 Phương pháp phân tích: 233

1.1 Mô tả và phân tích các yếu tố kỹ thuật chăn nuôi 23

1.2 Mô tả và phân tích cơ cấu chi phí, doanh thu và lợi nhuận 23

1.3 Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập Error! Bookmark not defined.3 2 Phương pháp thu thập số liệu: 23

3 Phương pháp phân tích 25

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

1 Khái quát chung về chăn nuôi bò thịt tại các hộ điều tra 26

Trang 5

1.1 Tuổi của chủ hộ 26

1.2 Trình độ học vấn của hộ có nuôi và không nuôi bò 27

1.3 Cơ cấu giới tính của các hộ điều tra 29

1.4 Tình hình nhân khẩu của các hộ điều tra 29

1.5 Diện tích đất của các hộ được điều tra ở vùng nghiên cứu 30

1.6 Số năm kinh nghiệm nuôi bò của các hộ điều tra 31

1.7 Lý do các hộ chọn nuôi bò 32

1.8 Các giống bò và hình thức nuôi ở vùng điều tra 33

1.9 Nguồn gốc con giống của các hộ điều tra 34

1.10 Các loại chuồng trại: 36

1.11 Kỹ thuật chăn nuôi bò của hộ điều tra 37

1.12 Số lao động tham gia chăm sóc nuôi bò và thuê mướn 37

1.13 Quy mô bò nuôi 38

1.14 Nguồn thức ăn cho bò 39

1.15 Nguồn vốn chăn nuôi và các lý do hộ chăn nuôi không vay vốn 40

2 Hạch toán chi phí chăn nuôi bò thịt 41

2.1 Chi phí chăn nuôi bò của các hộ điều tra 41

2.2 Hiệu quả nuôi bò thịt của các hộ điều tra 44

Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 47

1 Kết luận: 47

2 Hàm ý chính sách: 50

Trang 6

Chương 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để ngành nông nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển, cần phải kết hợp phát triển đồng thời cả hai ngành trồng trọt và chăn nuôi một cách có kế hoạch và bền vững, trong đó giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp ngày càng tăng lên Trong ngành chăn nuôi, gia súc là vật nuôi quan trọng trong đó bò thịt đứng thứ hai sau heo nhưng là vật nuôi phổ biến của mọi người dân ở vùng nông thôn vì họ có thể tận dụng phế phẩm trong nông nghiệp để làm thúc ăn, đồng thời sử dụng thời gian nhàn rỗi trong lao động nông nghiêp, hàng năm sản lượng thịt bò của tỉnh cung cấp khoảng 295 ngàn tấn

Trà Vinh là tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long là một địa phương có nhiều lợi thế và tiềm năng để phát triển chăn nuôi toàn diện, trong đó bò thịt được xác định là một trong những vật nuôi chủ lực của tỉnh Diện tích tự nhiên là 234.116 ha, dân số xấp xỉ 1 triệu người, trong đó có khoảng 30% là đồng bào dân tộc Khmer, tập trung sinh sống nhiều ở các huyện Trà Cú, Cầu Ngang và Châu Thành Diện tích đất

Vinh, 2014), tâ ̣p trung nhiều ở các huyê ̣n Cầu Ngang, Duyên Hải, Trà Cú, Châu Thành,

có nhiều lợi thế trong phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò Tổng đàn của tỉnh

có 175.988 con, tổng giá trị sản xuất chăn nuôi đạt 2.839 tỷ đồng (Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Trà Vinh, 2015); trong đó 03 huyện Trà Cú, Cầu Ngang và Châu Thành có tổng đàn bò tương đối cao so với các huyện trong tỉnh, là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển chăn nuôi bò thịt

Nhằm giúp nông dân tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, những năm qua Hội nông dân tỉnh Trà Vinh đã triển khai nhiều dự án thiết thực Dự án hỗ trợ nông dân phát triển bò vỗ béo ở xã Tân Hiệp, huyện Trà Cú là một điển hình và bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định Với điều kiện thuận lợi về nguồn thức ăn, giá cả tương

Trang 7

đối ổn định, nuôi bò là một trong những mô hình chăn nuôi hiệu quả và được nhiều người dân nông thôn quan tâm Hội nông dân xã Tân Hiệp đang chuẩn bị mở rộng phương thức đầu tư chăn nuôi, thực hiện mục tiêu của Dự án là xây dựng thành công tổ nông dân liên kết phát triển chăn nuôi bò theo hướng tập trung , an toàn, sạch bệnh; nâng cao năng suất lao động và tăng nguồn thu nhập cho người dân nông thôn nói chung và đồng bào Khmer nói riêng Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng đời sống văn hóa, nông thôn không ngừng đổi mới, giảm được tỷ lệ hộ nghèo, cuộc sống của người dân Khmer được nâng lên Trong ngành chăn nuôi của tỉnh, chăn nuôi

bò thịt là vật nuôi chủ lực giúp người nông dân tăng thu nhập Nó có vai trò thiết thực trong các hộ gia đình ở nông thôn vì nó đem lại một nguồn thu nhập bằng tiền đáng kể cho rất nhiều người, nếu phát triển nghề này sẽ cơ bản giúp người dân tăng thu nhập, đăc biệt giúp những hộ nghèo có điều kiện thoát nghèo bền vững nhất là trong đồng dân tộc Khmer nói riêng, góp phần tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân nói chung

Theo quyết định số: 438/QĐ-TTg ngày 24/03/2013 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, đồng thời phát huy mạnh mẽ các lợi thế và thành quả phát triển chăn nuôi trên địa bàn tỉnh, tiếp tục đẩy mạnh phát triển chăn nuôi mà trọng tâm là chăn nuôi trang trại theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa tỉnh thành địa bàn chăn nuôi hàng hóa tâp trung, có sức cạnh tranh cao và bền vững (Đỗ Văn Quang, 2014) Chăn nuôi bò thịt đóng vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp nguồn thịt cho người tiêu dùng, một phần sức kéo trong nông nghiệp, cũng như thu nhập cho người chăn nuôi Chăn nuôi bò thịt đang được coi là một trong những giải pháp quan trọng trong phát triển nông thôn Bò chủ yếu được chăn nuôi trong nông hộ kết hợp với trồng lúa và các cây trồng khác Ngày nay có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi bò như đất trồng cỏ, phụ phế phẩm nông nghiệp, thời gian nhàn rỗi của người dân, thị trường tiêu thụ thịt bò đang rộng mở Tuy nhiên vẫn còn những khó khăn như người dân chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng những bãi chăn thả tự nhiên, thiếu kinh nghiêm trong chăn nuôi, chất lượng con giống,

Trang 8

thị trường tiêu thụ, người dân chưa mạnh dạn đầu tư vào chăn nuôi bò, áp dụng các tiến

bộ kỹ thuật trong chăn nuôi bò còn hạn chế Từ những lý do trên đề tài được thực hiện

nhằm mục đích đánh giá hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò thịt đối với hộ dân tộc

Kh’mer tỉnh Trà Vinh

2 Mục tiêu nghiên cứu

a Đánh giá thực trạng chăn nuôi bò thịt của hộ dân tộc Kh’mer ở địa bàn nghiên

3 Câu hỏi nghiên cứu:

a Tình hình chăn nuôi bò thịt của hộ Kh’mer tỉnh Trà Vinh như thế nào?

b Hộ Kh’mer ở tỉnh Trà Vinh chăn nuôi bò thịt có hiệu quả kinh tế ra sao?

c Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt của hộ Kh’mer ở tỉnh Trà Vinh ?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1.Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương thức hoạt động, hiệu quả chăn nuôi

bò thịt của đồng bào dân tộc Kh’mer ở tỉnh Trà Vinh và thu nhập có từ nghề này

Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến các yếu tố của chăn nuôi bò thịt của hộ Kh’mer, nên đối tượng khảo sát chính của đề tài là hộ Kh’mer chăn nuôi bò thịt

ở vùng nghiên cứu

4.2.Phạm vi nghiên cứu

Trang 9

- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu tại 03 huyện Châu Thành,

Cầu Ngang và Trà Cú của tỉnh Trà Vinh, mỗi huyện chọn 2 xã có đông đồng bào dân tộc Kh’mer nuôi bò thịt

- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp được ghi nhận từ năm 2010 đến năm 2015,

số liệu sơ cấp được thu thập năm 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Bước 1: Mô tả và phân tích các yếu tố kỹ thuật chăn nuôi

Mô tả thực trạng về độ tuổi, trình độ học vấn, giới tính, diện tích đất của các hộ nuôi bò và không nuôi bò trong mẫu điều tra và các yếu tố kỹ thuật khác được áp dụng trong chăn nuôi bò tại các hộ điều tra

Bước 2: Mô tả và phân tích cơ cấu chi phí, doanh thu và lợi nhuận

- Hạch toán chi phí và doanh thu nuôi bò của hộ gia đình: tính các chi phí cố định, chi phí biến động, chi phí cơ hội

- Doanh thu: tính sản lượng, giá bán, giá trị sản phẩm phụ, gia trị bò con sinh ra trong năm

- Thu nhập: Doanh thu - Chi phí cố định - Chi phí biến động

6 Cấu trúc của luận văn

Các nội dung và kết quả nghiên cứu của đề tài được báo cáo trong luận văn này được kết cấu thành 5 chương chi tiết như sau:

Chương 1: Phần mở đầu, giới thiệu tổng quát những điểm cơ bản của đề tài, bao gồm sự cần thiết, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan tài liệu, trong chương này trình bày cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài để có cái nhìn tổng quát

về vấn đề nghiên cứu cũng như cách tiếp cận để giải quyết mục tiêu nghiên cứu đề ra Dựa trên kết quả lược khảo tài liệu tiến hành xây dựng khung phân tích

Trang 10

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày chi tiết về qui trình nghiên cứu, cách thức xây dựng bảng câu hỏi, thực hiện khảo sát, phương pháp ước lượng, phân tích số liệu và trình bày kết quả

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả phân tích về tình hình nuôi bò thịt tại các hộ dân tộc Kh’mer, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nuôi

bò thịt Nội dung chương này chủ yếu sẽ tập trung vào mô tả mẫu nghiên cứu, kết quả ước lượng, kết quả ước lượng, kết quả kiểm định mô hình và thảo luận các kết quả thu được

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày kết quả chính của đề tài, căn cứ vào kết quả này đề xuất một số kiến nghị, hàm ý chính sách để tăng thu nhập từ việc nuôi bò thịt

Trang 11

Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Cơ sở lý thuyết

1.1 Một số khái niệm liên quan:

- Sản xuất nông nghiệp: Nông nghiệp là một trong ngành sản xuất của cải vật

chất của nền kinh tế quốc dân, là một bộ phận trọng yếu của tái sản xuất xã hội Sản xuất nông nghiệp hiểu theo nghĩa hiện nay gồm có: trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản

và lâm nghiệp (Đại học kinh tế TP HCM, 2010, kinh tế nông nghiệp đại cương)

+ Trồng trọt bao gồm gieo trồng các loại cây lương thực, cây công nghiệp, cây

ăn quả, rau cây thức ăn gia súc và cây thuốc

+ Chăn nuôi bao gồm chăn nuôi đại gia súc, gia súc và các vật nuôi khác

+ Thủy hải sản bao gồm nuôi trồng và khai thác nguồn động vật thủy sinh sống trong môi trường nước mặn, lợ và nước ngọt

+Lâm nghiệp bao gồm bỏa tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật và động vật, rừng cho gổ và những sản phẩm ngoài gổ

- Chi phí sản xuất trong nông nghiệp: là khoản chi phí được sử dụng để sản

xuất ra một lượng nông sản phẩm nào đó trong một khoản thời gian nhất định

Tổng chi phí sản xuất ( Total Cost- TC) được chia ra:

+ Chi phí cố định: (Fixed Cost- FC) là khoản chi phí không thay đổi và không phụ thuộc vào sản lượng nông sản sản xuất ra (Đại học kinh tế TP HCM, 2010, kinh tế nông nghiệp đại cương)

+ Chi phí biến đổi: (Variable Cost- VC) là khoản chi phí thay đổi và phụ thuộc vào quy mô sản lượng nông sản sản xuất ra

- Chi phí biên: (Marginal Cost - MC)là những chi phí tăng thêm để tạo ra một

đơn vị sản phẩm tăng thêm: MC = ∆VC/∆Q

Chi phí biên cho chúng ta biết mức chi phí sẽ là bao nhiêu khi đầu ra của hãng tăng thêm một đơn vị nữa

Trang 12

- Lợi nhuận: Lợi nhuận là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí

là mục tiêu kinh tế cao nhất là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, động cơ lợi nhuận là một bộ phận hợp thành quyết định tạo ra sự hoạt động thắng lợi của thị trường hàng hóa và dịch vụ (Kinh tế vi mô,1994)

Lợi nhuận = tổng doanh thu – tổng chi phí

∏ = TR – TC Lợi nhuận, trong kinh tế học, là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờ đầu

tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơ hội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí Lợi nhuận, trong kế toán, là phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí sản xuất Sự khác nhau giữa định nghĩa ở hai lĩnh vực là quan niệm về chi phí Trong kế toán, người ta chỉ quan tâm đến các chi phí bằng tiền, mà không kể chi phí cơ hội như trong kinh tế học Trong kinh tế học, ở trạng thái cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận biên sẽ bằng 0 Chính sự khác nhau này dẫn tới hai khái niệm lợi nhuận: lợi nhuận kinh tế và lợi nhuận kế toán

Lợi nhuận kinh tế lớn hơn 0 khi mà chi phí biên nhỏ hơn doanh thu biên, cũng tức là nhỏ hơn giá bán Lợi nhuận kinh tế sẽ bằng 0 khi mà chi phí biên bằng hơn doanh thu biên, cũng tức là bằng giá bán Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo (xét trong dài hạn), lợi nhuận biên thường bằng 0 Tuy nhiên, lợi nhuận kế toán có thể lớn hơn 0 ngay cả trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo

- Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và lợi nhuận:

+ Doanh thu và doanh thu biên:

Doanh thu (TR) là số tổng số tiền mà doanh nghiệp thu được sau khi bán được các hàng hóa hoặc dịch vụ trên thị trường

TR= P(Q) x Q Doanh thu biên (MR) là doanh thu tăng thêm lhi bán thêm được một đơn vị sản

Trang 13

Để tối đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp sẽ chọn mức sản lượng mà tại đó chênh lệch giữa doanh thu và chi phí là lớn nhất Điều này có thể đạt được khi đạo hàm bậc nhất của hàm lợi nhuận bằng 0

dп/dq= dTR/dq – dTC/dq =0 ↔ MR - MC = 0 ↔ MR = MC Chi phí và lợi nhuận có mối quan hệ mật thiết thông qua doanh thu Chi phí tăng lên hay giảm xuống không thể đánh giá ngay nó tác động xấu hay tốt tới lợi nhuận của doanh nghiệp nếu chi phí tăng lên, doanh thu nhiều hơn mức tăng của chính nó thì việc chi phí này tăng lên có hiệu quả trong kinh doanh Trái lại có những khoản chi phí gay tổn thất cho doanh nghiệp làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, những loại chi phí này cần giảm tối thiểu để doanh nghiệp đạt hiệu quả sử dụng vốn tối đa.(Kinh tế học vi mô,1994)

- Tổng quan về hàm sản xuất (PGS.TS Đinh Phi Hổ, 2012)

Trong hoạt động sản xuất có ba yếu tố quan trọng: lao động (L), vốn (K) và trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung

Một câu hỏi đặt ra là: nếu gia tăng các yếu tố sản xuất theo cùng một tỷ lệ sẽ gia tăng sản lượng đầu ra như thế nào?

Trong kinh tế học, mối quan hệ trên được thể hiện qua hàm sản xuất Hàm sản xuất trong khái niệm là một hàm khái quát chung Để đo lường hàm sản xuất của các doanh nghiệp, hàm Cobb-Douglass thường được sử dụng

Hàm Cobb-Douglass có dạng như sau:

Q = AK α L β

Với A: hằng số

α: Hệ số co giản của sản lượng theo vốn

β: Hệ số co giản của sản lượng theo lao động

Tổng hệ số co giản α và β có ý nghĩa kinh tế quan trọng

Trang 14

 Nếu tổng hệ số co giản (α + β) = 1, thì hàm sản xuất cho biết tình trạng doanh lợi không thay đổi theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào bằng % tăng sản lượng đầu ra

lợi tăng dần theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào nhỏ hơn % tăng sản lượng đầu ra

lợi giảm dần theo qui mô, có nghĩa là % tăng các yếu tố đầu vào lớn hơn % tăng sản lượng đầu ra (PGS.TS Đinh Phi Hổ, 2012)

Sản xuất trong ngắn hạn (Short - Run): Là khoảng thời gian trong đó có ít nhất một yếu tố sản xuất mà doanh nghiệp không thể thay đổi về số lượng Trong ngắn hạn, xuất lượng có thể thay đổi (do thay đổi yếu tố sản xuất biến đổi) nhưng quy mô sản xuất không đổi

Sản xuất dài hạn (Long - Run): Là khoảng thời gian đủ dài để doanh nghiệp có thể thay đổi tất cả các yếu tố sản xuất Trong dài hạn, xuất lượng và quy mô đều thay đổi

Tổng sản phẩm, năng suất biên và năng suất trung bình

Tổng sản lượng (TP) là mức sản lượng được sản xuất ra từ các mức khác nhau

của một yếu tố đầu vào kết hợp với các mức cố định của các yếu tố khác

Năng suất trung bình (AP-Average Product)

Năng suất trung bình của một yếu tố sản xuất biến đổi là số sản phẩm được sản xuất ra tính trung bình trên một đơn vị yếu tố sản xuất đó

Năng suất biên (MP-Marginal Product)

Năng suất biên của một yếu tố sản xuất biến đổi là phần thay đổi trong tổng sản lượng khi thay đổi một đơn vị yếu tố sản xuất biến đổi đó

Trang 15

- Lý luận chung về hiệu quả kinh tế: (HQKT) (Farrel, M.J,1957)

+ Khái niệm hiệu quả: Khi đề cập đến khái niệm hiệu quả cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ nguồn lực và hiệu quả kinh tế

Đó là khả năng thu được kết quả sản xuất tối đa với việc sử dụng các yếu tố đầu vào theo những tỷ lệ nhất định Chỉ đạt được hiệu quả kinh tế khi đạt được hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ

kỹ thuật là khả năng đạt đến mức sản lượng tối đa từ một tập hợp nhất định các yếu tố đầu vào cho trước Như vậy, hiệu quả kỹ thuật thuộc về những người thực hành giỏi nhất (best practice)

Đồ thị 1: Mối quan hệ giữa hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả kinh tế

Farrel minh họa những ý tưởng của mình bằng một ví dụ đơn giản, một doanh nghiệp sử dụng hai yếu tố đầu vào (X1 và X2) để sản xuất một đầu ra (Y), với giả thiết hiệu quả không đổi theo quy mô Đường đồng lượng đơn vị của doanh nghiệp hiệu quả toàn bộ, được biểu diển bằng đường SS’ trong Đồ thị 1, cho phép đo hiệu quả kỹ thuật

Để sản xuất mức sản lượng đơn vị, doanh nghiệp sử dụng hai yếu tố đầu vào biến đổi

đã cho Mức sử dụng hai yếu tố đầu vào tối ưu về mặt kỹ thuật nằm trên đường đồng lượng đơn vị Đây là trường hợp doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật toàn bộ Gỉa sử

Trang 16

doanh nghiệp có mức sử dụng hai yếu tố đầu vào nằm tại điểm R, khi đó hiệu quả kỹ thuật theo định nghĩa của Farrel là: TE = OQ/OR

Và khi hiệu quả kỹ thuật là 1 – TE, cho biết phần trăm khối lượng đầu vào bị thâm dụng trong quá trình sản xuất, hay nói cách khác, là phần trăm chi phí đầu vào có thể tiết kiệm được để sản xuất mức sản lượng hiện tại Như vậy, hiệu quả kỹ thuật phản ánh trình độ sử dụng yếu tố vật chất của đầu vào trong quá trình sản xuất Theo cách định nghĩa này, hiệu quả kỹ thuật cho biết một doanh nghiệp có thể tiết kiệm bao nhiêu phần trăm chi phí vật chất cho một mức sản lượng nhất định

quan đến việc phối hợp tối ưu về giá trị các yếu tố đầu vào để tối thiểu hoá chi phí cho một mức sản lượng, hay tối đa hoá lợi nhuận Trên đồ thị 1, để sản xuất mức sản lượng đơn vị, mức chi phí tối thiểu nằm trên đường đồng phí (AA’) Nếu doanh nghiệp sản xuất tại điểm Q thì đạt hiệu quả kỹ thuật nhưng không đạt được hiệu quả phân bổ vì chi phí nhỏ nhất để đạt được mức sản lượng đó năm tại điểm P Hiệu quả phân bổ là:

Khoảng cách PQ biểu thị lượng giảm trong chi phí sản xuất, nếu sản xuất diễn

ra tại điểm hiệu quả phân bổ (và hiệu quả kỹ thuật) Q’, thay vì tại điểm hiệu quả kỹ thuật nhưng không hiệu quả phân bổ Q Như vậy, hiệu quả phân bổ là thước đo phản ánh mức độ thành công của người sản xuất trong việc lựa chọn tổ hợp các yếu tố đầu vào tối ưu, nghĩa là tỷ số giữa sản phẩm biên của yếu tố đầu vào nào đó sẽ bằng tỷ số giá cả giữa chúng Hiệu quả phân bổ là hiệu quả do giá các yếu tố đầu vào và đầu ra được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực sản xuất Thực chất hiệu quả phân bổ là hiệu quả kỹ thuật có tính đến yếu tố giá của đầu vào và giá đầu ra

Farrel là tích số giữa hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Nó là mối quan hệ so sánh giữa cái thực tế đạt được với cái tối đa có thể đạt được

Trang 17

Trên đồ thị 1,HQKT được xác định EE = TE x AE = OP/OR

Như vậy, HQKT là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố vật chất và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong sản xuất Nếu đạt một trong hai hiệu quả nói trên (hiệu quả kỹ thuật hoặc hiệu quả phân bổ) mới là điều kiện cần, chứ chưa phải là điều kiện đủ để đạt HQKT Vì thế, chỉ khi nào các cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng các nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi

đó sản xuất mới đạt HQKT

+ Nội dung, bản chất của HQKT và sự vận dụng trong nông nghiệp: Nội dung

và bản chất của HQKT được thể hiện ở các vấn đề sau (Nguyễn Hữu Bình, 2008):

Thứ nhất, HQKT là quan hệ so sánh giữa kết quả thu được với toàn bộ các yếu

tố chi phí đầu vào của quá trình sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, quản lý…) Kết quả và HQKT là hai phạm trù kinh tế khácnhau, nhưng có quan hệ mật thiết với nhau Đây là mối liên hệ mật thiết giữa mặt chất và mặt lượng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Kết quả thể hiện khối lượng, quy mô của một sản phẩm cụ thể và được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, tuỳ thuộc vào từng trường hợp Hiệu quả là đại lượng dùng để đánh giá kết quả đó được tạo ra như thế nào? Mức chi phí cho một đơn vị kết quả có chấp nhận được không? Dựa theo nội dung này giúp chúng ta phân biệt giữa kết quả và hiệu quả của một hiện tượng hay quá trình kinh tế

Thứ hai, hiệu quả gắn liền với kết quả của từng hoạt động cụ thể trong sản xuất kinh doanh, ở những điều kiện lịch sử cụ thể Trong sản xuất một sản phẩm cụ thể luôn

có mối quan hệ giữa sử dụng cácyếu tố đầu vào và đâu ra, từ đó chúng ta mới biết được hao phí để sản xuất một đơn vị sản phẩm là bao nhiêu? Mức chi phí như vậy có hiệu quả không? Tuy nhiên, kết quả và hiệu quả phụ thuộc vào từng ngành, từng hoạt động

ở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, thị trường…

Thứ ba, HQKT khi tính toán gắn liền với việc lượng hoá các yếu tố đầu vào và các yếu tố đầu ra của từng sản phẩm, dịch vụ trong điều kiện nhất định HQKT liên

Trang 18

quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất Việc lượng hoá hết và cụ thể các yếu tố này để tính toán HQKT thường gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp Chẳng hạn: Đối với các yếu tố đầu vào: Trong sản xuất nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, tài sản cố định (đất nông nghiệp, vườn cây lâu năm, gia súc cơ bản, nhà xưởng, chuồng trại…) được sử dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, trong nhiều năm nhưng không đồng đều Mặt khác, giá trị hao mòn khó xác định chính xác, nên việc tính khấu hao tài sản cố định và phân bổ chi phí để tính hiệu quả chỉ có tính chất tương đối Một số chi phí chung như chi phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường giao thông, hệ thống thuỷ lợi, trạm điện…), chi phí thông tin, khuyến cáo khoa học kỹ thuật… cần thiết phải hạch toán vào chi phí, nhưng trên thực tế khó có tính toán cụ thể và chính xác những chi phí này Sự biến động của giá cả và mức độ trượt giá trên thị trường gây khó khăn cho việc xác định chính xác chi phí sản xuất Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng thuận lợi hoặc khó khăn cho sản xuất, nhưng mức độ tác động là bao nhiêu, đến nay vẫn chưa có phương pháp nào xác định chuẩn xác, nên cũng ảnh hưởng tới tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào Đối với các yếu tố đầu ra: Trên thực tế chỉ lượng hoá được các kết quả bằng hiện vật, còn kết quả dưới dạng phi vật chất như tạo công ăn việc làm, khả năng cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ môi trường, cãi thiện chế độ dinh dưỡng cho người dân… thường không thể lượng hoá ngay được và chỉ biểu lộ hiệu quả sau một thời gian Vì vậy, việc xác định đúng, đủ lượng kết quả này cũng gặp khó khăn

Từ các nội dung trên cho thấy bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Quan niệm này gắn liền với hai quy luật của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động và quy luật tiết kiệm thời gian lao động Quan niệm này cũng thể hiện mối quan hệ so sánh giữa lượng kết quả hữu ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội Đó chính là hiệu quả của lao động xã hội Hiệu quả sản xuất kinh doanh là thước đo duy nhất chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh Một phương án sản xuất có hiệu quả thì phải đạt được kết quả cao

Trang 19

nhất, với chi phí thấp nhất thông qua việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, phù hợp Về khía cạnh này HQKT thể hiện chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Ý nghĩa của việc xác định hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

Biết được mức hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng hiệu quả các nguồn lực sẳn có do sự khan hiếm về nguồn lực (vốn, đất đai, tài nguyên…) làm hạn chế phát triển sản xuất theo chiều rộng và sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng cao nên các đơn vị sản xuất kinh doanh cần phải chú trọng phát triển kinh tế theo chiều sâu đồng thời biết được các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế để có biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp

nghiệp Nếu hiệu quả kinh tế còn thấp thì có thể tăng sản lượng nông nghiệp bằng các biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, ngược lại đạt được hiệu quả kinh tế cao thì để tăng sản lượng cần đổi mới công nghệ Nâng cao HQKT là cơ sở để nâng cao lợi nhuận, từ đó người sản xuất không chỉ tận dụng và tiết kiệm các nguồn lực hiện có mà còn tích luỹ vốn để đầu tư tái sản xuất mở rộng, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm nâng cao HQKT

+ Các quan điểm đánh giá hiệu quả kinh tế: hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về HQKT, nhưng tựu trung lại bao gồm 3 quan điểm chính sau:

Thứ nhất, HQKT là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó, (Mai Văn Xuân, Bùi Dũng Thể, Bùi Đức Tính, 2010) Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của các sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào để đạt được kết quả đó

HQKT = Kết quả - Chi phí

Thứ hai, HQKT là đại lượng được xác định bởi sự so sánh tương đối giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó (Nguyễn Ngọc Châu, 2012)

HQKT = Kết quả / Chi phí

Trang 20

Thứ ba: HQKT là sự so sánh giữa mức độ biến động của kết quả đạt được và mức độ biến động của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Sự so sánh ở đây bao gồm

cả về số tuyệt đối và tương đối (Nguyễn Hữu Bình, 2008)

HQKT = ΔKết quả / Δchi phí Hoặc HQKT = %ΔKết quả / %Δchi phí

Từ các quan điểm trên chúng ta thấy: Nếu chỉ đánh giá HQKT ở khía cạnh lợi nhuận thuần tuý như quan điểm thứ nhất thì chỉ mới xác định được quy mô của hiệu quả nhưng không phản ánh được chất lượng của hoạt động sản xuất, trình độ sử dụng các yếu tố nguồn lực đầu vào và chưa so sánh được khả năng cung cấp của cải vật chất cho xã hội của những đơn vị sản xuất đạt hiệu số này như nhau vì chưa xét đến chi phí

bỏ ra bao nhiêu để đạt được kết quả đó Và trong thực tế trong nhiều trường hợp không thực hiện được phép trừ hay phép trừ không có ý nghĩa Nếu đánh giá HQKT bằng quan điểm thứ hai thì chưa toàn diện vì mới phản ánh được chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào nhưng chưa xác định được quy mô của hiệu quả sử dụng đầu vào Bên cạnh đó, kết quả sản xuất là kết quả của sự tác động của nhiều yếu tố như: thiên nhiên, kinh tế, xã hội… các yếu tố này cần được phản ánh đầy đủ mới thấy hết các khía cạnh của HQKT Với quan điểm xem xét HQKT chỉ ở phần kết quả bổ sung và chi phí bổ sung thì cho biết hiệu quả của mức độ đầu tư theo chiều sâu hoặc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới Tuy nhiên, hạn chế của quan điểm này là không xét đến HQKT của tổng chi phí bỏ ra vì kết quả sản xuất là sự đạt được do tác động của cả chi phí bổ sung và chi phí sẵn có Trong thực tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh có chi phí sẵn có khác nhau thì hiệu quả của chi phí bổ sung sẽ khác nhau Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về HQKT trong sản xuất kinh doanh, điều này tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của từng đơn vị sản xuất trong từng giaii đoạn phát triển nhất định Tuy nhiên, mọi quan điểm về HQKT đều thể hiện một điểm chung nhất là tiết kiệm nguồn lực để sản xuất ra khối lượng sản phẩm tối đa Ở nước ta, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước, hoạt động kinh tế của mỗi doanh nghiệp, mỗi cơ sở sản xuất kinh doanh không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả

Trang 21

và các lợi ích kinh tế của mình mà còn phải phù hợp với các yêu cầu của xã hội và đảm bảo các lợi ích chung bởi các định hướng, chuẩn mực do Nhà nước quy định (Nguyễn

Lê Hiệp, 2016)

1.2.Tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt

1.2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

- Về giống bò thịt trên thề giới

Hiện nay, trên thế giới có nhiều giống bò lai hướng thịt cho năng suất cao và chất lượng cao như bò Limousin, Charolais, bò Blanc Bleu Belge (BBB) của Bỉ, bò Hereford,…nhiều giống bò thịt được hình thành từ lai tạo như Droight Master được lai tạo từ giống bò Shorthorn và giống bò nhiệt đới Brahman; bò Bradford lai tạo giữa bò

lượng cao hơn con lai 3/4 Sahiwal là 29 kg ở cùng thời điểm Fordyce et al (1993) cho

đạt 27,5 kg; con đực đạt 29,1 kg, tăng trưởng đạt 0,84 kg/con/ngày ở bò đực và 0,77 kg/con/ngày ở bò cái Dixon (1998); Fordyce (1999) nghiên cứu khối lượng, tỷ lệ đẻ của đàn bò lai Brahman vùng miền Nam Úc cho thấy con lai giữa các giống bò ôn đới với các giống Zebu có khả năng chống bệnh cao

Kết quả sử dụng các giống bò thịt lai tạo với bò địa phương đã được thực hiện ở nhiều nơi Norris, D và ctv (2002) đã sử dụng các giống bò Brahman, Charolais, Santa Gertrudis phối giống với bò cái địa phương cho kêt quả con lai F1 tăng trưởng tốt Vùng Takeo – Cambodia đã thực hiện chương trình nâng cao tầm vóc bò địa phương, với giống bò ngoại như Haryana (Haryana x bò địa phương) và Brahman (Brahman x

bò địa phương) đạt kết quả là số bò lai chiếm 68,2% so với 31,8% bò địa phương trên

cơ sở tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp (Keo Sath và ctv, 2007)

Trang 22

- Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp nuôi bò

Có nhiều nghiên cứu về các biện pháp xử lý thức ăn giàu xơ đã và đang thực hiện ở một số nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Sri Lanka… Bằng các biện pháp vật lý, hóa học và sinh học người ta có thể nâng cao chất lượng phụ phẩm nông công nghiệp Các biện pháp thông dụng bao gồm: Xử lý NaOH theo

urê (Schiere và Ibrahim, 1989; Leng, 2003)

Giới thiệu kinh nghiêm nuôi bò thịt bằng phụ phẩm nông, công nghiệp tại Trung Quốc, Lê Viết Ly (1995) cho biết sử dụng các loại thức ăn như bã mía, rỉ mật… được trộn đều với thức ăn tinh, urê và khoáng vi lượng rồi làm thành thức ăn viên để nuôi bò

vỗ béo vùng Minnan rất hiệu quả Kỹ thuật này tiết kiệm được thức ăn tinh, nâng cao hiệu quả sử dụng và thu được lợi ích đáng kể Preston (1995) đã nghiên cứu sử dụng sản phẩm phụ khác từ mía như: ngọn, lá và rỉ mật làm thức ăn cho gia súc nhai lại

Chenost và Kayuli (1997), leng (2003) và nhiều tác giả khác đã nghiên cứu sử dụng bánh dinh dưỡng urê – rỉ mật là loại thức ăn dễ chế biến từ nguồn nguyên liệu địa phương có giá thành rẻ, có thể cung cấp urê suốt ngày và an toàn cho gia súc Những thí nghiệm về khối liếm urê rỉ mật – cám – gạo- nguyên tố vi lượng, đa lượng được

suốt thời gian trong ngày, kết quả làm tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn nhiều xơ, tăng lượng thức ăn thu nhận, tăng trọng nhanh hơn và làm tăng năng suất

- Vỗ béo bò

Preston (1995) nghiên cứu nuôi bò bằng các phụ phẩm nông, công nghiệp với nguồn thức ăn chính là rỉ mật và hạt bông đã thấy: có thể sử dụng trên 70% rỉ mật (tính theo chất khô) trong khẩu phần vỗ béo bò thịt Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy

có thể sử dụng rỉ mật từ 30 – 50%; hoặc cao hơn trong khẩu phần, bò có thể cho tăng trọng 600 – 1.000 g/con/ngày

Preston (1995), Chenost và Kayuli (1997), Leng (2003) đã nghiên cứu sản xuất khối liếm urê – rỉ mật, khoáng và chất độn nuôi bò cho tăng khối lượng bình quân

Trang 23

trong 100 ngày nuôi vỗ béo đạt 865,8 g/con/ngày và 921,4 g/con/ngày lần lượt ở bò cái

và bò đực, bò tiêu thụ 6,0 – 6,4 kg thức ăn viên cho 1 kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt xẻ đạt 57,7% và tỷ lệ thịt tinh đạt 47,4%

Như vậy, phụ phẩm nông công nghiệp như bã mía, rỉ mật đường và urê trộn vào thức ăn tinh dùng làm thức ăn hỗn hợp cho bò làm tăng năng suất trong chăn nuôi bò, tiết kiệm được thức ăn tinh, giảm chi phí trong chăn nuôi và tăng hiệu quả kinh tế

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

- Công tác giống bò thịt

Viện khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Tây Nguyên đã thí nghiệm cho lai tạo giữa

bò đực lai Brahman với bò cái lai Sind tại Đắk Lắk, con lai sinh trưởng tốt Trong điều kiện chăn thả bình thường con lai đạt 91,6 kg lúc 6 tháng tuổi và 109,5 kg lúa 9 tháng tuổi (Trương La và cs, 2003) Khi lai giữa các giống bò đực hướng thịt như Brahman, Limousine, Drougtmaster với cái lai Sind tại Đắk Lắk, kết quả cho thấy khối lượng lúc

20 tháng tuổi của các con lai đạt 296 – 330 kg và cao hơn hẳn so với bò lai Sind chỉ đạt

240, 4 kg và tỷ lệ thịt xẻ cũng cao hơn (bò lai hướng thịt có tỷ lệ thịt xẻ là 49,7 – 53,3% trong khi bò lai Sind là 47,7%) (Trương La, 2009)

Vũ Chí Cương (2008) đã sử dụng tinh bò đực Red Brahman và Charolais phối trên 1,000 bò cái lai Sind tại Ea Kar (Đắk Lắk), con lai sinh ra sinh trưởng, phát triển đạt kết quả tốt Lê Viết Ly (1995) thăm dò các nhóm lai giữa bò lai Sind với các giống

bò chuyên thịt nhằm nâng cao khả năng cho thịt đã cho kết quả con lai đạt khối lượng

200 – 240 kg trong thời gian nuôi 24 tháng, con lai F1 Charolais có triển vọng nhất, nuôi đến 27 tháng (vỗ béo 3 tháng cuối) bò đạt khối lượng 280 – 300 kg, tỷ lệ thịt tinh đạt 42 – 44% Bò thuộc các công thức lai giữa đực các giống Zebu, Brown Swiss, Charolais, Santa Gertrudis với cái lai Sind nuôi trong điều kiện có bổ sung thức ăn củ quả khối lượng lúc 24 tháng lần lượt là 223,5 kg, 241,5 kg, 263,5 kg và 241,7 kg

Trang 24

- Nghiên cứu nuôi dưỡng bò thịt

- Nghiên cứu khẩu phần nuôi dưỡng bò thịt: Hàm lượng dinh dưỡng và thành phần các loại thức ăn trong khẩu phần có ảnh hưởng lớn đến tăng khối lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn của bò vỗ béo

Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Hùng và Đặng Vũ Bình (2003) cho biết bò lai Sind 18 tháng tuổi được vỗ béo bằng khẩu phần có bổ sung thức ăn tinh ở mức 1,8 kg/con/ngày cho tăng khối lượng (784,2 g/ngày) cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ được bổ sung 0,9 kg/ngày (561,2 g/ngày) mặc dù khẩu phần của nhóm sau có hàm lượng protein cao hơn do được cho ăn tự do bẹ ngô ủ urê 4%

Đinh Văn Dũng và cs (2009) khi nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protein trong khẩu phần đến năng suất của bò Vàng địa phương vỗ béo, cho thấy bò ăn khẩu phần có bổ sung thức ăn tinh 19% protein cho tăng khối lượng cao nhất (815 g/con/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất, trong khi bò ăn khẩu phần được bổ sung thức ăn tinh 10% protein cho tăng khối lượng thấp nhất (583 g/ngày) và hệ số chuyển hóa thức ăn cao nhất

Trong chăn nuôi bò thịt khẩu phần ăn có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất thịt của bò Trong điều kiện ở Việt Nam, khi sử dụng các loại thức ăn từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp kết hợp với các loại thức ăn cung cấp protein một cách hợp lý sẽ làm tăng năng suất và chất lượng thịt trong chăn nuôi bò

- Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp nuôi bò thịt: Ngoài các công trình nghiên cứu

về giống, bên cạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu về dinh dưỡng, thức ăn, kỹ thuật vỗ béo bò thịt bằng những nguyên liệu sẵn có ở địa phương như rơm, thân cây đậu phộng,

rỉ mật đường, ngọn mía…để làm tăng năng suất chăn nuôi và chất lượng thịt

Vũ Văn Nội và cs (1999) nuôi vỗ béo bò bằng nhiều nguồn nguyên liệu có sẵn

là phụ phẩm nông, công nghiệp như khô dầu lạc, hạt bông, rỉ mật đường, rơm, cỏ khô

để nuôi vỗ béo đã cho thấy bê đực có khả năng tăng khối lượng 610 – 700 g/con/ngày; các đối tượng bò vỗ béo khác nhau với các khẩu phần thí nghiệm đều cho tăng trọng từ

Trang 25

550 – 750 g/con/ngày, tỷ lệ thịt tinh đạt 36 – 38%, cao hơn bò cùng tuổi không được

vỗ béo từ 3 – 6%

Vũ Chí Cương và cs (2001) đã tiến hành vỗ béo bò lai Sind bằng khẩu phần rỉ mật cao 45% chất khô của khẩu phần với rơm khô, không cần cỏ xanh cho tăng khối lượng 650 – 700 g/con/ngày, trong khi nuôi đại trà chỉ đạt tăng khối lượng 300 – 400 g/con/ngày Nguyễn Văn Hòa và cs (2005) nghiên cứu vỗ béo bò lai Sind bằng phụ phẩm nông nghiệp cho tăng khối lượng 600 – 700 g/con/ngày, tỷ lệ thịt xẻ tăng từ 43,6 lên 47,7%, tỷ lệ thịt tinh tăng từ 34,9 lên 37,6%

2 Các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Minh Hiếu, 2012) với đề tài “Phân tích hiệu quả chăn nuôi bò của hộ Kh’mer tại xã Loan Mỹ, huyện Tam Bình tỉnh Vĩnh Long”, tác giả

đã phỏng vấn các hộ Kh’mer chăn nuôi bò, cho thấy hoạt động chăn nuôi bò mang lại hiệu quả cho người Kh’mer về mặt tài chính Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của

hộ Kh’mer chăn nuôi bò được xác định thông qua hàm hồi qui Kết quả của mô hình cho thấy tuổi của chủ hộ, giống bò nuôi, thời gian nuôi, chi phí chăn nuôi là những yếu

tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ nuôi Giá bán sản phẩm chủ yếu được quyết định dựa trên cơ sở thương lượng giữa người mua và người bán Việc tiếp cận thông tin thị trường của các hộ Kh’mer chăn nuôi bò tương đối khó khăn Từ hoạt động nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăn nuôi bò: Giải pháp về xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng; Giải pháp về nâng cao trình độ tiếp cận và

áp dụng khoa học kỹ thuật của người dân Kh’mer; Giải pháp về vốn phục vụ cho sản xuất chăn nuôi; Giải pháp về thị trường tiêu thụ; Giải pháp về công tác, dịch vụ thú y Một nghiên cứu khác về hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi đó là nghiên cứu của tác giả (Nguyễn Lê Hiệp, 2016) với đề tài “ hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt ở tỉnh Thừa Thiên Huế” Kết quả chỉ ra là có sự khác biệt về kết quả và hiệu quả kinh tế theo các tiêu chí đánh giá khác nhau, đó là: kết quả và hiệu quả kinh tế của hình thức nuôi bán công nghiệp cao hơn công nghiệp, giống Kiến Lai cao hơn giống Tam Hoàng và

Trang 26

Lương Phượng, vùng đồng bằng trung du cao hơn vùng đồi núi, vụ Đông cao hơn vụ

Hè và quy mô gia trại cao hơn quy mô trang trại hay nông hộ Bằng các phương pháp phân tích định lượng, kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt cho thấy: Có mối quan hệ tương quan nghịch giữa các biến chi giống, thức ăn, tỷ lệ hao hụt, thời gian nuôi và mối quan hệ tương quan thuận giữa các biến trình độ học vấn, quy mô nuôi đến kết quả và hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt; khi trình độ học vấn tăng lên 1 lớp thì lợi nhuận kinh tế ròng tăng; chỉ số hiệu quả kỹ thuật của các cơ sở chăn nuôi gà thịt là 0,926, tức trong điều kiện sản xuất và chi phí thực tế năng suất chăn nuôi gà thịt đã đạt 92,6% so với năng suất lý thuyết Điều này

có nghĩa nếu trình độ kỹ thuật, tay nghề của người chăn nuôi được nâng lên, các cơ sở chăn nuôi gà thịt có thể tiết giảm 7,4% chi phí (thức ăn, thú y, công lao động) và từ đó

sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế Thị trường các yếu tố đầu vào còn nhiều khó khăn và bất cập; thì trường đầu ra nhìn chung còn manh mún, khả năng nắm bắt thông tin thị trường của người chăn nuôi còn hạn chế, năng lực của các tác nhân trong chuỗi cung yếu, tính hợp tác, liên kết thấp, sản phẩm được chế biến thô sơ nên giá trị gia tăng tạo ra ít và được phân phối không đồng đều Chính những yếu tố này đã góp phần làm tăng chi phí sản xuất và làm giảm hiệu quả kinh tế chăn nuôi gà thịt

Nói tóm lại, các đề tài nghiên cứu trước đây đã nêu ra được thực trạng, những thuận lợi, khó khăn trong chăn nuôi bò, đã đi sâu phân tích lợi nhuận của chăn nuôi bò, xác định được một số yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi bò, chi phí chăn nuôi là những yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hộ nuôi Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu vào đánh giá lợi ích kinh tế - xã hội của chăn nuôi bò thịt và các giải pháp phát triển chăn nuôi bò thịt

Trang 27

3 Khung phân tích

QUYẾT ĐỊNH CỦA NGƯỜI CHĂN NUÔI BÒ THỊT

Lao động

Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt

Nguồn: tác giả tổng hợp và xây dựng

Trang 28

Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

1 Phương pháp phân tích:

1.1 Mô tả và phân tích các yếu tố kỹ thuật chăn nuôi

Mô tả thực trạng về độ tuổi, trình độ học vấn, giới tính, diện tích đất của các hộ nuôi bò và không nuôi bò trong mẫu điều tra

Mô tả thực trạng về chuồng trại, thức ăn cho bò, quy mô đàn, và các yếu tố kỹ thuật khác được áp dụng trong chăn nuôi bò tại các hộ điều tra

1.2 Mô tả và phân tích cơ cấu chi phí, doanh thu và lợi nhuận

a Hạch toán chi phí và doanh thu nuôi bò của hộ gia đình

- Chi phí bao gồm : Chi phí cố định, chi phí biến động và chi phí cơ hội

+ Chi phí cố định: tính đến chi phí chuồng trại được khấu hao hàng năm, chi phí mua bò thịt và chi phí bò giống được khấu hao hàng năm

+ Chi phí biến động: tính chi phí thuê lao động, chi phí gieo tinh nhân tạo trong năm, chi phí thức ăn tinh, mua rơm trong năm, chi phí mua cỏ hàng năm, chi phí thú y, chi phí lãi vay,

+ Chi phí cơ hội: tính đến chi phí lao động gia đình, chi phí rơm nhà và chi phí cỏ tươi tự trồng

- Doanh thu: tính sản lượng, giá bán, giá trị sản phẩm phụ, gia trị bò con sinh ra trong năm

b Thu nhập: Doanh thu - Chi phí cố định - Chi phí biến động

2 Phương pháp thu thập số liệu:

Số liệu thứ cấp: Các thông tin, số liệu, nội dung có liên quan đến đề tài được thu

thập từ các nguồn: các báo cáo, số liệu chính thức từ các cơ quan, ban ngành có liên quan; các loại sách, tạp chí, luận văn cao học; kết quả từ các dự án nghiên cứu có liên quan; các thông tin từ các trang web chính thống được công nhận, phòng Nông nghiệp

Trang 29

huyện, trạm thú y huyên, Sở Nông nghiệp và PTNT Trà Vinh, Chi Cục thú Y Trà Vinh, Cục thống kê tỉnh Trà Vinh…

Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp được thu thập bằng bảng câu hỏi cấu trúc thông

qua phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu

Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu:

Trà Vinh có 8 huyện, thị Các huyện này đều có đồng bào Kh’mer sinh sống, có

nuôi bò thịt Tuy nhiên, theo số liệu thống kê thì có 03 huyện Châu Thành, Cầu Ngang

và Trà Cú đông đồng bào Kh’mer sinh sống và có nhiều hộ Kh’mer nuôi bò thịt, đàn

bò của 03 huyện chiếm 59% trong tổng số đàn bò thịt của tỉnh là 175.988 con Vì vậy, địa bàn nghiên cứu của đề tài là các xã: Song Lộc,Lương Hòa (huyện Châu Thành), Hiệp Hòa, Nhị Trường (huyện Cầu Ngang), Tân Hiệp, Ngãi Xuyên (huyện Trà Cú)

n = Cở mẫu (số hộ điều tra)

N = Tổng số hộ nuôi bò thịt ở vùng nghiên cứu

e = mức độ ý nghĩa của 

Trong trường hợp này với α = 5% thì số mẫu dự kiến là 210 hô ̣ Như vâ ̣y, đối với các hộ chăn nuôi bò: phỏng vấn trực tiếp 210 hộ chăn nuôi bò; đối với các hộ chăn nuôi khác: phỏng vấn trực tiếp 90 hộ của 6 xã (15 hộ/01 xã) Với số quan sát mẫu trên,

cơ cấu mẫu được phân bố như sau:

Trang 30

Bảng 1 : Cơ cấu mẫu điều tra ở địa bàn nghiên cứu

Trang 31

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Khái quát chung về chăn nuôi bò thịt tại các hộ điều tra

Mẫu được chọn làm nghiên cứu gồm có 300 hộ tại 03 huyện Châu Thành, Cầu Ngang và Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, trong đó 210 hộ nuôi bò thịt và 90 hộ không nuôi bò

1.1 Tuổi của chủ hộ

Tuổi của chủ hộ được trình ở bảng 2

Bảng 2: Tuổi của chủ hộ điều tra có nuôi và không nuôi bò

Trang 32

tập trung chăn nuôi nhiều nhất là từ 30 – 50 tuổi có 119 hộ trên tổng số phiếu điều tra, chiếm 56,7%, và nhóm tuổi lớn hơn 50 có 83 hộ chiếm 39,5 % Đối với hộ không nuôi

bò, tuổi trung bình là 45,7 tuổi, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 30-50 tuổi, chiếm

tỷ lệ 74,4%

Nhìn chung các hộ nuôi bò ở trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao, có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất nông nghiệp cũng như trong chăn nuôi Kế đến là độ tuổi ngoài tuổi lao động, vì công việc chăm sóc bò không đòi hỏi kỷ thuật cao, công việc tương đối nhẹ nhàn phù hợp với người ngoài độ tuổi lao động, họ tận dụng thời gian nhàn rỗi để nuôi bò góp phần tăng thêm thu nhập cho gia đình

1.2 Trình độ học vấn của hộ có nuôi và không nuôi bò

Trình độ của chủ hộ được trình bày qua bảng 3

Bảng 3: Trình độ học vấn của các chủ hộ điều tra

Trang 33

Trình độ văn hóa có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng nhận thức cũng như ứng dụng các tiến bộ khoa học vào trong sản xuất

Qua bảng phân tích 3, cho thấy trình độ học vấn trung bình của hộ có nuôi bò là

6 năm với độ lệch chuẩn là 3,2 Trong số 300 hộ được phỏng vấn điều tra tỷ lệ trình độ học vấn tiểu học chiếm cao nhất với tỷ lệ là 47% hộ có trình độ trung học cơ sở chiếm

tỷ lệ 35,3%, có 43 hộ có trình độ học vấn trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 14,3%, bên cạnh đó số hộ không qua đào tạo chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%

Bảng 4: Trình độ chuyên môn của người chịu trách nhiệm nuôi bò

Trình độ chuyên môn có vai trò quyết định sự thành công trong chăn nuôi nói lên khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa hoc kỹ thuật vào trong sản xuất và kết quả sản xuất của các hộ Nó phản ánh được kỹ thuật của lao động tham gia vào quá trình sản xuất nói chung và chăm sóc, nuôi dưỡng bò nói riêng Qua bảng phân tích trên thì trình

độ học vấn của hộ nuôi bò có trình độ tiểu học chiếm tỷ lệ cao nhất điều này cho thấy

Trang 34

việc nuôi bò không đòi hỏi trình độ học vấn cao, nó phù hợp với lao động trình độ thấp, họ được tập huấn và kế thừa kinh nghiệm truyền thống từ gia đình là chủ yếu

1.3 Cơ cấu giới tính của các hộ điều tra

Biểu đồ 1: Cơ cấu giới tính của các chủ hộ điều tra

Qua phân tích biểu đồ 1 cho thấy, trong 210 hộ nuôi bò có 159 hộ nam giới là chủ hộ tham gia chăn nuôi bò, chiếm tỷ lệ 75,7% trên tổng số phiếu điều tra và có 51

hộ là nữ tham gia chăn nuôi bò, chiếm 24,3% Phần lớn các hộ tại địa bàn nghiên cứu sống chủ yếu bằng nghề nông, thức ăn cho bò chủ yếu là cỏ, rơm tương đối dễ tìm nhưng số lao động chính trong gia đình ít nhưng đôi khi cỏ, rơm phải đi cắt cỏ và thu gom có thể xa nhà, khó đi, vận chuyển nặng nên chủ yếu là nam giới tham gia vào việc chăm sóc nuôi bò

1.4 Tình hình nhân khẩu của các hộ điều tra

Qua biểu đồ 2 phân tích cho thấy nhân khẩu của các chủ hộ điều tra được chia thành 3 nhóm, các hộ nuôi bò nhân khẩu từ 1 – 4 người có 58 hộ chiếm tỷ lệ 27,1%, số

hộ có nhân khẩu từ 5 – 6 người có 144 hộ chiếm tỷ lệ 68,6% và có 9% số hộ có nhân khẩu lớn hơn 6 người

Trang 35

Lực lương lao động có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất nói chung và chăn nuôi bò nói riêng, nguồn lao động dồi dào sẽ góp phần quan trọng trong các khâu sản suất

Biểu đồ 2: Tình hình nhân khẩu của các chủ hộ điều tra

1.5 Diện tích đất của các hộ được điều tra có nuôi và không nuôi bò

Qua phân tích bảng 5 cho thấy, diện tích đất trung bình của các hộ điều tra là 7,31 công với độ lệch chuẩn là 3,97 công, hộ nuôi bò có diện tích đất nhỏ hơn 7 công

có 122 hộ, chiếm tỷ lệ 58,1% trên tổng số phiếu điều tra, có 64 hộ có diện tích đất từ

7-10 công chiếm tỷ lệ 30,5% và có 24 hộ có diện tích đất lớn hơn 7-10 công chiếm tỷ lệ 11,4% Bên cạnh đó, đối với những hộ không nuôi bò có diện tích đất từ 7 – 10 công

có 47 hộ chiếm tỷ lệ 52,2% trên tổng số phiếu điều tra, có 25 hộ có diện tích đất nhỏ hơn 7 công chiếm tỷ lệ 27,8% và chỉ có 18 hộ có diện tích đất lớn hơn 10 công chiếm

4,3%

Nhỏ hơn 4 người

Từ 4 - 6 ngườiLớn hơn 6 người

Trang 36

hộ có ít đất hơn sẽ tham gia vào hoạt động chăn nuôi bò để tăng thêm thu nhập cho gia đình

Bảng 5: Diện tích đất của các chủ hộ điều tra

1.6 Số năm kinh nghiệm nuôi bò của các hộ điều tra

Biểu đồ 3: Số năm kinh nghiệm nuôi bò

Nhỏ hơn 6 năm30%

Trang 37

Số năm kinh nghiệm nuôi bò của các chủ hộ được thể hiện qua bảng 8 Qua phân tích biểu đồ 3 cho thấy số năm kinh nghiệm nuôi của các hộ được điều tra cao nhất là 30 năm,trung bình là 8 năm và thấp nhất là 2 năm Phân theo nhóm kinh nghiêm thì cao nhất là từ 6 – 10 năm có 107 hộ chiếm tỷ lệ 51%, có 64 hộ có số năm kinh nghiệm nuôi nhỏ hơn 6 năm chiếm tỷ lệ 30,5%, những hộ có kinh nghiệm chăn nuôi thấp chủ yếu là những hộ mới bắt đầu nuôi Bên cạnh đó chỉ có 39 hộ có số năm kinh nghiệm nuôi lớn hơn 10 năm chiếm 18,6%, những hộ có số năm kinh nghiệm nuôi cao do các hộ nuôi theo truyền thống gia đình, tận dụng thời gian nhàn rỗi đi cắt cỏ, thu gom rơm trong các vùng lận cận về cho bò ăn

Nhìn chung, chủ hộ nuôi bò có số năm nuôi tương đối cao nó sẽ giúp họ có nhiều kinh nghiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và giải quyết các tình huống xấu không may xảy ra trong chăn nuôi bò, từ đó góp phần nâng cao thu nhập thêm cho gia đình

1.7 Lý do các hộ chọn nuôi bò

Qua phân tích biểu đồ 4, các hộ chăn nuôi chọn lý do nuôi bò cao nhất là theo truyền thống gia đình có 101 hộ chiếm tỷ lệ 48,1%, đa số các hộ nuôi bò cái sinh sản, nối tiếp hết đời này sang đời khác, việc nuôi bò là một truyền thống vì họ tận dụng phụ phẩm nông nghiệp và thời gian nhàn rỗi để tăng thêm thu nhập Một lý do cũng chiếm

tỷ lệ khá cao đó là dễ nuôi có 59 hộ chiếm tỷ lệ 28,1%, các chủ hộ cho rằng bò dễ nuôi,

ít bệnh hơn so với các con vật nuôi khác, thức ăn dễ tìm tận dụng các phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho bò Có 20 hộ chọn lý do nuôi bò lợi nhuận cao sẽ tăng thu nhập cho gia đình, chiếm tỷ lệ 9,5 %, nuôi bò chỉ bỏ công lúc nhà rỗi đi cắt cỏ, thu gom hoặc rơm sẵn có của gia đình, không tốn nhiều tiền mua thức ăn như các vật nuôi khác, đầu

tư chi phí về chăn nuôi tương đối thấp, chăm sóc tương đối dễ Có 14 hộ chọn lý do là phù hợp với trình độ chuyên môn của gia đình, họ cho rằng chăn nuôi bò không yêu cầu trình độ chuyên môn cao, bò dễ chăm sóc hoặc trong gia đình có thành viên qua đào tào chuyên môn lĩnh vực chăn nuôi Có 5,7% chọn lý do ít rủi ro, họ thấy rằng rũi

Trang 38

ro trong chăn nuôi bò thấp hơn so với các vật nuôi khác Bên cạnh đó, ngoài ra còn có

4 hộ chọn lý do nuôi bò là dễ bán chiếm tỷ lệ 1,9%

Tóm lại, các hộ nông dân chọn nuôi bò với lý do chủ yếu là theo truyền thống gia đình, bò dễ nuôi, lợi nhuận cao, người dân cho rằng bò không cạnh tranh thức ăn với các vật nuôi khác, thức ăn dễ tìm, rủi ro trong chăn nuôi thấp, góp phần làm tăng thêm thu nhập cho người dân

Biểu đồ 4: Lý do chọn nuôi bò 1.8 Các giống bò ở các hộ điều tra

Con giống là yếu tố quan trọng góp phần quyết định năng suất trong chăn nuôi Nhìn chung các hộ nuôi bò chọn giống bò lai Sind là nhiều nhất có 169 hộ chiếm tỷ lệ 80,5% trên tổng số phiếu điều tra, bò lai Sind dễ nuôi, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở địa phương, sức đề kháng cao có khả năng chống chọi bệnh tật tốt, khả năng tăng trọng cao và làm giống bò cái nền sinh sản rất tốt để nên đa số người dân chăn nuôi chọn

Series1, Tính truyền thống của gia đình,

101, 48%

Series1, Lợi nhuận cao, 20, 9%

Series1, Dễ nuôi, 59, 28%

độ, 14, 7%

Series1, chuyên môn gia đình, 0, 0%

Tính truyền thống của gia đình

Lợi nhuận cao

Dễ nuôi

Dễ bán

Ít rủi roPhù hợp với trình độchuyên môn gia đình

Trang 39

giống bò lai Sind, số hộ nuôi giống bò lai Angus có 21 hộ chiếm tỷ lệ 10%, có 11 hộ nuôi bò Charolais chiếm tỷ lệ 5%, còn lại 18 hộ nuôi bò Vàng chiếm tỷ lệ 4,3%

Biểu đồ 5: Các giống bò nuôi của các hộ điều tra

Con giống là yếu tố quan trọng góp phần quyết định năng suất trong chăn nuôi Nhìn chung các hộ nuôi bò chọn giống bò lai Sind là nhiều nhất có 169 hộ chiếm tỷ lệ 80,5% trên tổng số phiếu điều tra, bò lai Sind dễ nuôi, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở địa phương, sức đề kháng cao có khả năng chống chọi bệnh tật tốt, khả năng tăng trọng cao và làm giống bò cái nền sinh sản rất tốt để nên đa số người dân chăn nuôi chọn giống bò lai Sind, số hộ nuôi giống bò lai Angus có 21 hộ chiếm tỷ lệ 10%, có 11 hộ nuôi bò Charolais chiếm tỷ lệ 5%, còn lại 18 hộ nuôi bò Vàng chiếm tỷ lệ 4,3%

1.9 Nguồn gốc con giống của các hộ điều tra

Qua biểu đồ 6 cho thấy phần lớn con giống của các hộ chăn nuôi bò được mua con giống qua thương lái là 116 hộ, chiếm tỷ lệ 55,2%, các thương lai mua bò từ người dân ở địa phương hoặc các địa phương khác, người dân thấy bò có tầm vóc, màu sắc lông, thể trạng tốt, giá cả hợp lý, …mua lại đem về Có 49 hộ mua từ các nông dân khác chiếm tỷ lệ 23,3%, các hộ nuôi bò cho rằng mua con giống của nông dân khác dễ lựa chọn và biết được lai lịch bố mẹ, thích nghi với điều kiện khí hậu ở địa phương, dễ

Trang 40

chăm sóc, có 45 hộ sử dụng con giống nhà chiếm 21,4% đây là những hộ có bò cái sinh sản nên họ để bê con lại nuôi thịt

Biểu đồ 6: Nguồn gốc con giống

Từ bảng trên cho thấy đa số các hộ điều tra mua con giống từ thương lái là cao nhất vì tại trại mua bán bò có nhiều bò, họ có nhiều lựa chọn phù hợp với yêu cầu và khả năng tài chính của họ Tuy nhiên, trại mua bán bò họ mua bò từ nhiều nơi trong tỉnh và ngoài tỉnh, nên việc xác định nguồn gốc và tiêm phòng các loại bệnh nguy hiểm không được kiểm soát tốt, đôi khi người dân mua bò về nuôi thì xảy ra bệnh và một số trường hợp mua bò cái sinh sản về nuôi không lên giống hoặc bò bị loại Có thể thấy rằng Trung tâm giống nông nghiệp và trung tâm khuyến nông tỉnh chưa phát huy hết vai trò của mình trong việc chuyển giao khoa học kỹ thuật và nâng cao tầm vóc đàn bò tại địa phương Trong những năm qua có nhiều chính sách hỗ trợ cho người chăn nuôi

từ Trung ương đến địa phương, nhưng việc triển khai thực hiện đến nay còn nhiều vấn

đề bất cập, chẳng hạn thực hiện theo Quyết định 50/2014/TTg ngày 4 tháng 9 năm

2014, về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2015-2020.Quyết định này quy định một số chính sách hỗ trợ hộ chăn nuôi về phối giống nhân tạo gia súc, con giống vật nuôi, xử lý chất thải chăn nuôi nhằm nâng cao hiệu quả chăn

Ngày đăng: 12/11/2017, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w