1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình sau thu hồi đất nông nghiệp tại xã Thuận Yên, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

72 360 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 7,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH ------ ĐỖ HUY CÔNG PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUI MÔ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN THẠ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

ĐỖ HUY CÔNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUI MÔ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- -

ĐỖ HUY CÔNG

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUI MÔ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Độc lập – Tự do – Hanh phúc

BẢN CAM ĐOAN

Họ tên học viên: Đỗ Huy Công Ngày sinh: 01-05-1966; Nơi sinh: Thiệu Hóa – Thanh Hóa Trúng tuyển đầu vào năm 2015

Là tác giả của đề tài luận văn: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUY MÔ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TẠI KIÊN GIANG

Giáo viên hướng dẫn: GS-TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

Ngành: QLKT; Mã ngành: 60340410

Bảo vệ luận văn ngày 09 tháng 07 năm 2017

Điểm bảo vệ luận văn: 7.5

Tôi cam đoan đã chỉnh sửa nội dung luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài trên, theo góp ý của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ

Người cam đoan TP Hồ Chí Minh, ngày … tháng 07 năm 2017

Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn

Đỗ Huy Công

GS-TS Nguyễn Đông Phong

Hội đồng chấm luận văn 05 (năm) thành viên gồm:

Chủ tịch: GS-TS Nguyễn Đông Phong

Phản biện 1: PGS-TS Nguyễn Văn Sĩ

Phản biện 2: TS Huỳnh Thanh Điền

Thư ký: TS Nguyễn Quỳnh Hoa

Ủy viên: TS Phạm Đình Long

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy mô đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước: nghiên cứu điển hình trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” là do tôi tự nghiên cứu và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của

GS TS Nguyễn Trọng Hoài Tôi chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Học viên thực hiện

Đỗ Huy Công

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN Error! Bookmark not defined TÓM TẮT LUẬN VĂN viii

MỤC LỤC ii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ vii

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 3

1.2.1 Mục tiêu chung: 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: 3

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN: 3

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP: 5

2.1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN: 5

2.1.2 Đầu tư của doanh nghiệp: 5

2.2 LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ : 6

2.2.1 Lý thuyết đầu tư của Irving Fisher: 6

2.2.2 Lý thuyết hiệu quả biên của đầu tư theo J.M.Keynes: 8

2.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐỀN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP: 9

2.3.1 Nhân tố ngoại sinh: 9

2.3.2 Nhân tố nội sinh: 10

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI: 11

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài: 11

Trang 6

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước: 13

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 15

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH: 16

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 16

3.3 DỮ LIỆU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU: 20

3.3.1 Dữ liệu thứ cấp: 20

3.3.2 Dữ liệu sơ cấp: 20

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU: 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 21

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TỈNH KIÊN GIANG: 23 4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang: 23

4.1.2.1 Về qui mô số lượng doanh nghiệp: 23

4.1.2.3 Ngành nghề kinh doanh: 26

4.1.2.4 Về qui mô lao động: 27

4.1.2.5 Về đầu tư của doanh nghiệp ngoài Nhà nước: 28

4.1.2.6 Nguồn vốn hoạt động của doanh nghiệp ngoài Nhà nước: 30

4.1.2.7 Lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: 31

4.2 ĐẶC ĐIỂM MẪU KHẢO SÁT: 32

4.2.1 Đặc điểm chủ doanh nghiệp: 32

4.2.2 Đặc điểm doanh nghiệp: 33

4.2.3 Thuế của doanh nghiệp: 34

4.3 ĐÁNH GIÁ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH: 35

4.4 MÔ HÌNH HỒI QUY: 36

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 39

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 40

5.1 KẾT LUẬN: 40

5.1.1 Từ đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của Kiên Giang: 40

5.1.2 Từ hiện trạng đầu tư của DN trên địa bàn Kiên Giang: 40

5.1.3 Từ mô hình hồi quy: 41

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH: 42

5.2.1 Gợi ý chính sách từ đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của Kiên Giang: 42

5.2.2 Gợi ý chính sách từ hiện trạng đầu tư của DN trên địa bàn Kiên Giang: 43

Trang 7

5.2.3 Những giải pháp nhằm tiếp tục huy động vốn đầu tư cho doanh nghiệp Kiên

Giang: 46

5.2.3.1 Hoàn thiện cơ chế chính sách và tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng: 46

5.2.3.2 Tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với nguồn vốn tín dụng: 49

5.2.3.3 Chính sách khuyến khích doanh nghiệp: 50

5.3 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH KIÊN GIANG THỜI GIAN TỚI……… 50

5.4 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI: 511

TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined.3 TIẾNG VIỆT: 13

TIẾNG ANH: 35

PHỤ LỤC SỐ LIỆU 68

Trang 8

DNTN: Doanh nghiệp tư nhân

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước

EFA: Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis) UBND: Ủy ban nhân dân

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

SXKD: Sản xuất kinh doanh

KT-XH: Kinh tế xã hội

XDCB: Xây dựng cơ bản

NHTM: Ngân hàng thương mại

TSCĐ: Tài sản cố định

QMĐT: Qui mô đầu tư

DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

ĐTNN: Đầu tư nước ngoài

Tr.đ: Triệu đồng

Tp: Thành phố

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Giải thích ý nghĩa các biến trong mô hình

Bảng 4.1: Số lượng doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 4.2: Số lượng doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 4.3: Số lượng và cơ cấu tỷ trọng theo ngành nghề kinh doanh

Bảng 4.4: Số lượng và tỷ trọng lao động qua các năm

Bảng 4.5: Vốn đầu tư phân theo ngành kinh doanh và loại hình DN 2011 – 2015 Bảng 4.6: Nguồn vốn chia theo loại hình doanh nghiệp

Bảng 4.7: Tuổi của chủ DN

Bảng 4.8: Đặc điểm của DN

Bảng 4.9: Loại hình DN theo chênh lệch vốn

Bảng 4.10: Thuế DN phải đóng trong năm

Bảng 4.11: Ma trận hệ số tương quan

Bảng 4.12: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến

Bảng 4.13: Hệ số phóng đại VIF

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 3.1: Khung phân tích

Biểu đồ 4.1: Giới tính chủ DN

Biểu đồ 4.2: Trình độ học vấn chủ DN

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Việc mở rộng qui mô đầu tư của các DN ngoài NN phụ thuộc vào nhiều yếu

tố như đặc điểm của chủ DN (giới tính, tuổi, trình độ học vấn), đặc điểm của DN (số năm thành lập, tài sản cố định, loại hình DN, ngành nghề KD) và các chính sách của NN (thuế, lãi suất Ngân hàng) Tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi cho các DN ngoài NN giúp DN phát triển SXKD, tăng doanh thu và lợi nhuận, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, việc đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong việc mở rộng qui mô đầu tư của DN ngoài NN và xác định các nhân tố tác động đến mở rộng đầu tư của DN là cần thiết

Dựa trên dữ liệu thu thập từ 1.197 DN ngoài NN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến qui mô đầu tư của DN Kết quả hồi quy đa biến bằng phương pháp OLS cho thấy có 7 trong 10 biến độc lập ảnh hưởng đến chênh lệch vốn đầu tư của DN năm 2015 gồm: tuổi chủ DN, học vấn chủ

DN, số năm thành lập, tài sản cố định, loại hình DN, ngành nghề KD và thuế DN đóng trong năm Các biến tuổi chủ DN, học vấn chủ DN, tài sản cố định, loại hình

DN, ngành nghề KD và thuế có ảnh hưởng cùng chiều đến chênh lệch vốn của DN, trong khi biến số năm thành lập có ảnh hưởng ngược chiều Kỳ vọng của biến số năm thành lập và thuế DN đóng trong năm khác với giả thiết ban đầu Các biến còn lại gồm giới tính chủ DN, số lao động trong DN, lợi nhuận của DN chưa có bằng chứng có tác động hay không đến chênh lệch vốn đầu tư của DN trong năm

Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày những giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh cho các DN ngoài NN trên địa bàn Tỉnh Những nhóm giải pháp được đề xuất bao gồm: cải cách thủ tục hành chính và các dịch vụ công, tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách tín dụng, hỗ trợ phát triển mạnh mẽ khu vực DN, nhất là loại hình Công ty TNHH, CTCP, đồng thời thực hiện liên doanh liên kết, đào tạo nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp, trình độ của những người làm công tác liên quan đến đầu tư của doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc ngành nghề ưu tiên kinh doanh

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Kiên Giang là một tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên trên 6.346 km2, với bờ biển dài trên 200 km, có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, thành phố, trong đó có 2 huyện đảo, 01 huyện thuộc vùng sâu; tỉnh lỵ là thành phố Rạch Giá cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km; dân cư phân bố không đều, tập trung ở đô thị và đồng bằng ven đô, dân số trung bình năm 2015 là 1.762.281 người, với mật độ dân số 278 người/km2 (Hệ thống số liệu phục vụ Đại hội tỉnh Đảng bộ Kiên Giang, 2015) Là tỉnh kinh tế phát triển chậm chưa tương xứng với tiềm năng, hạ tầng kỹ thuật còn yếu với một trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp Đây là vấn đề mà Tỉnh ủy và UBND tỉnh đặc biệt quan tâm và coi đó là vấn

đề ưu tiên hàng đầu để chú trọng tìm ra các giải pháp đầu tư phát triển Tỉnh đã đặt lên hàng đầu giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, đây là một giải pháp đúng đắn và cần thiết Vì vậy việc thu hút vốn đầu tư trong giai đoạn 2011 – 2015 luôn tăng trưởng cao Kinh tế của Tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân các giai đoạn 5 năm sau cao hơn 5 năm trước Riêng giai đoạn năm 2011 đến

2015 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 10,53%, trong đó tốc độ tăng trưởng bình quân của khu vực doanh nghiệp là 16,3%, đóng góp ngày càng cao và đến năm 2015

đã chiếm gần 40% trong cơ cấu GDP và gần 50% thu ngân sách của Tỉnh; GDP bình quân đầu người từ 1.711 USD năm 2011 lên 2.515 USD năm 2015 (số liệu Đại hội tỉnh Đảng bộ, 2015) Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hóa xã hội cũng từng bước được quan tâm nhiều hơn, an sinh xã hội luôn được đảm bảo Văn hóa xã hội được xem là nền tảng, là mục tiêu và là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế Từ

đó đời sống của các tầng lớp nhân dân không những từng bước được cải thiện về vật chất mà cả về đời sống tinh thần cũng được nâng lên rõ nét

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, Đảng và Nhà nước

ta luôn coi kinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong nền kinh

tế Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) Đảng ta lại một lần nữa khẳng định vai trò và tầm quan trọng của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta có quan điểm bình đẳng và

Trang 13

phát triển mọi loại hình kinh tế, cần có cơ chế chính sách phù hợp để thúc đẩy kinh tế

tư nhân phát triển cả về số lượng và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển thành những tập đoàn hùng mạnh có thể cạnh tranh quốc tế Chính vì vậy việc phân tích doanh nghiệp ngoài nhà nước ở Việt Nam nói chung và Kiên Giang nói riêng đẻ tìm ra những giải pháp phát triển mạnh mẽ loại hình doanh nghiệp này là việc hết sức cấp thiết

Hơn nữa vốn đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước đang đóng một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang, Tuy nhiên, các doanh nghiệp của Tỉnh vẫn có những hạn chế trong phát triển, đặc biệt là quy mô vốn đầu tư với hơn 97% doanh nghiệp tại Tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, số vốn trung bình mỗi doanh nghiệp tuy có tăng qua các năm nhưng vẫn còn thuộc nhóm thấp nhất các Tỉnh, Thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm ĐBLCL (Sở Kế hoạch và Đầu tư Kiên Giang, 2015) Điều này cho thấy việc thu hút doanh nghiệp đầu tư mới, đầu tư mở rộng SXKD còn hạn chế, khu vực DN ngoài NN của Tỉnh chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa mạnh dạn đầu tư vốn phát triển doanh nghiệp Quy mô vốn thấp sẽ hạn chế việc đổi mới công nghệ, tận dụng cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt và hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới Nhằm tìm ra những giải pháp khả thi, hiệu quả

để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vốn để mở rộng quy mô, phát triển SXKD, tăng lợi nhuận, góp phần khai thác tiềm năng, phát triển KT-XH của Tỉnh cần phải nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn Tỉnh Xuất phát từ

những yêu cầu trên nên việc “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước: nghiên cứu điển hình trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” là rất

cần thiết, nhằm trước hết là giúp các doanh nghiệp phát triển SXKD và sau đó là hướng đến mục tiêu thu hút vốn đầu tư ngày càng nhanh hơn và nhiều hơn vào tỉnh Kiên Giang

Trang 14

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1.2.1 Mục tiêu chung:

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước, từ đó đề xuất các chính sách giúp các doanh nghiệp cải thiện hoạt động kinh doanh và mở rộng đầu tư

1.2.2 Mục tiêu cụ thể:

Để thực hiện các mục tiêu chung, đề tài cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau:

 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

 Từ đó đề xuất một số chính sách nhằm giúp thúc đẩy thu hút đầu tư của tư nhân trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh Kiên giang

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

Để thực hiện đề tài, cần trả lời các câu hỏi sau đây:

- Những nhân tố nào ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang?

- Gợi ý chính sách nào để thu hút mạnh mẽ đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trong thời gian tới?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn về nội dung nghiên cứu: hiệu quả hoạt động kinh doanh và mở rộng

đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Giới hạn về không gian nghiên cứu: các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa

bàn tỉnh Kiên Giang

Giới hạn về thời gian nghiên cứu: số liệu thứ cấp được thu thập từ điều tra

doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2015

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN:

Nghiên cứu được trình bày theo 5 chương:

Trang 15

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP:

2.1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN:

Trong nghiên cứu này sử dụng khái niệm theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Doanh nghiệp ngoài nhà nước là các doanh nghiệp vốn trong nước mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc một nhóm người hoặc có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống Khu vực doanh nghiệp ngoài

nhà nước gồm: Hợp tác xã, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân, Công ty cổ phần và Công ty cổ phần có vốn nhà nước từ 50%

trở xuống

2.1.2 Đầu tư của doanh nghiệp:

Đầu tư là phần tài sản được tích lũy nhằm để gia tăng năng lực sản xuất tương lai của doanh nghiệp Tài sản ở đây có thể do doanh nghiệp tự sản xuất hay là huy động từ bên ngoài Vốn có thể là tiền, tài sản, sức lao động, trí tuệ Quá trình từ tích lũy vốn đến đầu tư được thể hiện qua ba khâu: Tiết kiệm, huy động tiết kiệm vào hệ thống tài chính, và cuối cùng là đầu tư

Sachs - Larrain (1993) định nghĩa tổng quát về đầu tư: "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế" Sản lượng ở đây bao gồm phần sản lượng được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình XDCB, máy móc thiết bị hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản

Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực

đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Như vậy mục tiêu của mọi hoạt động đầu tư là đạt được kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư (nguồn lực phải hy sinh ở đây có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ)

Trang 16

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày tính cấp thiết của đề tài,

câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm về doanh nghiệp, lý thuyết

đầu tư, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, khung phân tích đề xuất

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu Trình bày phương pháp thu thập

dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu

Chương 4 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tỉnh Kiên Giang Trình bày thống kê mô tả về đặc điểm của các doanh

nghiệp và doanh nghiệp ngoài nhà nước, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước

Chương 5 Kết luận và kiến nghị chính sách Chương này tổng hợp lại kết quả

chính của luận văn và các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới

Trang 17

Tùy theo nhu cầu quản lý và phân tích mà mỗi người quan tâm đến nội dung của vốn đầu tư theo các góc độ khác nhau Trong nghiên cứu này, vốn đầu tư được hiểu là nguồn lực tích lũy của xã hội, cơ sở sản xuất kinh doanh, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu hiện dưới các dạng tiền tệ hoặc hàng hóa hữu hình, hàng hóa vô hình và hàng hóa đặc biệt khác

2.2 LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ

2.2.1 Lý thuyết đầu tư của Irving Fisher:

Lý thuyết về vốn và đầu tư của Irving Fisher đã được giới thiệu qua các tác phẩm Nature of Capital and Income (1906), Rate of Interest (1907) và được trình bày rất chi tiết trong Theory of Interest (1930) Lý thuyết của Fisher giả định tất cả các vốn đầu tư là vốn lưu động, có nghĩa là tất cả các nguồn vốn được sử dụng cho quá trình sản xuất, trong thực tế tất cả vốn là đầu tư Hàm sản lượng đầu tư của Fisher được xác định như sau: Y=f(L,I) với Y là sản lượng, L là lao động và I là đầu tư Fisher quy định điều kiện thời gian cho đầu tư và sản lượng (do có độ trễ nên thời gian cho sản lượng là giai đoạn tiếp theo sau đầu tư) Để đơn giản, chúng ta hãy giả định là chỉ có hai khoảng thời gian t=1,2 Trong trường hợp này, đầu tư trong giai đoạn 1 (I1) thì sản lượng đầu ra là trong gia đoạn 2 với Y2 = f(L, I1) Từ đây có thể suy ra hàm lợi nhuận đầu tư như sau: Y t1(1r)I1 với  là lợi nhuận đầu tư và r là lãi suất Công thức tối đa hóa lợi nhuận của công ty có thể viết lại như sau:

1

1) (1 )(

max  f I  r I

Và quyết định đầu tư tối ưu khi f'  1 r Fisher gọi f' 1 rlà tỷ suất sinh lời sau chi phí (the rate of return over cost) còn trong thuyết của Keynes f' 1 MEI, chính là hiệu quả đầu tư Như vậy, điều kiện tối ưu cho quyết định đầu tư của công ty

là MEI=r, tức là hiệu quả biên của đầu tư tương đương với lãi suất Rõ ràng f(I1) là một hàm lõm do đó khi I1 tăng lên thì f’ giảm Như vậy khi lãi suất tăng thì theo hàm MEI đầu tư sẽ sụt giảm, do đó mối quan hệ nghịch biến giữa đầu tư và lãi suất được biểu diễn ngắn gọn là I=I(r) với Ir =dI/dr (<0)

Mặt dù lý thuyết của Fisher cho thấy rằng đầu tư có mối liên hệ với lãi suất nhưng lý thuyết của Ông vẫn bị vướng phải vấn đề về cấu trúc sở hữu và quyết định tài chinh Có hai câu hỏi chính phát sinh ở đây đó là:

Trang 18

(1) Nếu các doanh nghiệp thuộc sở hữu của những người sáng lập thì có thể là quyết định đầu tư của công ty sẽ không bị ảnh hưởng bởi quyết định tiết kiệm tiêu dùng của chủ sở hữu?

(2) Mối quan hệ chính xác giữa quyết định đầu tư của công ty, quyết định tài chính và rộng hơn là thị trường tài chính là gì?

Theo như nghiên cứu của Jack Hirshleifer (1958, 1970) thì chúng ta có thể trả lời những câu hỏi này bằng cách thực hiện lại đầy đủ thuyết đầu tư của Fisher theo

“hai giai đoạn” cho quá trình dự thảo ngân sách Hai kết quả chính của quá trình dự thảo ngân sách 2 bước đã được biết đến là lý thuyết về sự phân tích “Separation Theorem”, Hirshleifer đã lưu ý 2 điểm quan trọng như sau:

(1) Quyết định đầu tư của công ty hoàn toàn độc lập với sở thích của các chủ sở hữu đối với việc đầu tư

(2) Quyết định đầu tư của công ty là hoàn toàn độc lập với quyết định tài chính

Lý thuyết này phát biểu rằng, dưới giả định thị trường tiền tệ hoàn hảo, việc đánh giá một quyết định đầu tư có thể được phân tách khỏi những mối quan tâm về phương thức tài trợ cho khoản đầu tư đó Một thị trường tiền tệ hoàn hảo sẽ cho phép dòng tiền tự do lưu chuyển qua thời gian, bằng cách vay mượn một khoản tiền tại mức lãi suất thị trường Nếu thị trường hoàn hảo đó tồn tại, tất cả các lãi suất cho vay này

sẽ bằng mức lãi suất thị trường Một hệ quả rút ra từ lý thuyết này đó là trong thị trường tiền tệ hoàn hảo, với giả định không có rủi ro, giá trị hiện tại của một khoản tiền đầu tư khi chiết khấu mức lãi suất thị trường sẽ bằng mức thay đổi trong lượng tiền mặt mà người ra quyết định đầu tư nhận được tại thời điểm cơ hội đầu tư được xác định

Ngoài ra, trong nghiên cưu của Keynes (1936) cũng đã phê bình về thuật ngữ

“lãi suất” trong quyết định đầu tư của Fisher Keynes cho rằng Fisher đã dùng thuật ngữ tỷ suất sinh lợi sau chi phí (rate of return over cost) với cùng ý nghĩa và mục đích với thuật ngữ “lợi nhuận biên của vốn – MEI” của ông Keynes Do đó, quyết định đầu

tư tối ưu của doanh nghiệp là được thực hiện khi MEI bằng với lãi suất

Tuy nhiên, nhìn chung thì lý thuyết đầu tiên về đầu tư được biết đến là lý thuyết của Irving Fisher năm 1930 Ông kết luận rằng đầu tư và lãi suất có mối tương quan

Trang 19

nghịch với nhau Nhưng Keynes lại tranh luận về nguồn gốc và bản chất của lãi suất trong thuyết của Fisher và tìm ra một thuyết đầu tư khác (Keynes, 1936)

2.2.2 Lý thuyết hiệu quả biên của đầu tư theo J.M.Keynes:

Trong tác phẩm lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ của J.M Keynes (1936) đã đề cao vai trò của đầu tư trong thuyết về sản lượng và lao động Quan điểm của ông khác với quan điểm truyền thống ở hai điểm đó là (1) tầm quan trọng của đầu

tư không chỉ là kết quả do những ảnh hưởng dài hạn của nó lên tăng trưởng vốn cổ phần mà còn là động lực của tổng cầu và những biến động trong ngắn hạn của hoạt động kinh tế (2) Keynes đã bác bỏ những cơ sở vi mô cua việc đầu tư được đưa ra dựa trên các điều kiện riêng của hiệu quả vốn như các yếu tố về tài chính, tiền tệ, yếu tố bất định như là những yếu tố cơ bản quyết định việc đầu tư Lý thuyết này đã trở thành nguồn cung dồi dào các cơ sở lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm và góp phần ủng hộ cho các nghiên cứu về những ảnh hưởng của yếu tố tài chính lên đầu tư thông qua những hệ số tác động có ý nghĩa như tính thanh khoản và lợi nhuận trong một loạt các hàm thực nghiệm về đầu tư của doanh nghiệp

Trong lý thuyết chung Keynes cũng đã đề cấp đến mối quan hệ giữa quyết đinh đầu tư và lãi suất của một hàm đầu tư là II0I(r) Keynes gia định rằng công ty đang có một loạt các dự án đầu tư và việc lựa chọn sẽ phụ thuộc vào tỷ suất sinh lời nội bộ IRR Doanh nghiệp cần phải chọn một trong các dự án này để thực hiện là đâu

là tiêu chí giúp họ ra quyết định? Dự án đầu tư nào sẽ được chọn? Theo Keynes, hiệu quả biên của vốn (MEC) là yếu tố quyết định chính đến đầu tư và yếu tố thứ hai đó là lãi suất Doanh nghiệp sẽ so sánh MEC và lãi suất và các khoản đầu tư được thực hiện khi lãi suất trên vốn thấp hơn so với tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn được đầu tư Do đó, nếu gặp hai chỉ số này tăng lên thì doanh nghiệp được khuyến khích đầu tư mạnh hơn Như vậy, mức độ đầu tư của doanh nghiệp phụ thuộc vào mối quan hệ giữa MEC và lãi suất Sự gia tăng trong lãi suất sẽ làm giảm đầu tư và ngược lại khi lãi suất giảm kèm theo sự gia tăng trong nguồn cung tín dụng sẽ tạo ra sự gia tăng trong đầu tư

Keynes cho rằng các doanh nghiệp sẽ mở rộng đầu tư của mình cho đến khi MEC giảm xuống bằng mức lãi suất Tuy nhiên, lập luận này chưa vững vì Keynes tin rằng các doanh nghiệp sử dụng vốn vay trong khi thực tế thì doanh nghiệp vẫn có thể

sử dụng vốn tự có Hơn nữa, Keynes chấp nhận quy luật giảm dần về vốn và theo quy

Trang 20

luật này thì với một sự gia tăng trong đầu tư, mỗi một đồng vốn bổ sung sẽ mang lại một sự suy giảm trong năng suất/ hiệu quả sử dụng vốn Keynes không giải thích lý do tại sao tỷ suất sinh lợi sẽ giảm nếu tăng vốn đầu tư

Keynes nhấn mạnh tầm quan trọng kỳ vọng của các doanh nghiệp khi bị tác động bởi trạng thái thị trường (sự ổn định chính trị, chi phí sản xuất, môi trường kinh doanh thuận lợi,…) Và đo lường kỳ vọng của nhà đầu tư chính là đo lường tỷ suất sinh lợi mong đợi của họ thông qua hiệu quả biên của vốn (MEC)

2.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐỀN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP: 2.3.1 Nhân tố ngoại sinh:

Môi trường đầu tư là tập hợp các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Môi trường đầu tư bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tự nhiên, công nghệ Trong đó, chính sách của Chính phủ, các yếu tố về điều kiện

tự nhiên, về quy mô thị trường là quan trọng

Thứ nhất, về chính sách của Chính phủ Mọi quy định về kinh doanh đều tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Chính sách của chính phủ tạo ra sân chơi để các doanh nghiệp cùng tham gia hoạt động kinh doanh, vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau Mọi định hướng, mục tiêu của doanh nghiệp khi đưa ra đều dựa trên cơ sở các luật định của Nhà nước Trong mỗi thời kỳ, Nhà nước sẽ định hướng, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào một số ngành nghề, lĩnh vực có lợi cho kinh tế đất nước, kèm theo đó sẽ là những ưu đãi dành cho doanh nghiệp Doanh nghiệp nên xem xét đầu tư vào những ngành nghề phù hợp với chính sách kinh tế của nhà nước để hưởng những ưu đãi đặc biệt đó Do vậy, hoạt động đầu

tư của doanh nghiệp trong mỗi thời kì đều xem xét và dựa trên quy định của các văn bản pháp luật, tuỳ theo định hướng phát triển kinh tế của đất nước để đề ra phương

hướng cho đầu tư của doanh nghiệp mình (Robert Eisner, 1978; Yan Huahong, 2009)

Thứ hai, yếu tố về điều kiện tự nhiên Các điều kiện tự nhiên như: các loại tài nguyên khoáng sản, vị trí địa lý, thời tiết khí hậu, ảnh hưởng tới chi phí sử dụng nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, ảnh hưởng tới mặt hàng kinh doanh, năng suất chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới cung cầu sản phẩm do tính chất mùa vụ do đó ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp trong vùng Tình trạng môi trường, các vấn đề về xử lý phế thải, ô nhiễm, các ràng buộc xã hội về môi

Trang 21

trường, đều có tác động nhất định đến chi phí kinh doanh, năng suất và chất lượng sản phẩm Một môi trường trong sạch thoáng mát sẽ trực tiếp làm giảm chi phí kinh doanh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả đầu tư kinh doanh của mình

Thứ ba, về cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nó quyết định sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển của các doanh nghiệp Hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống ngân hàng tín dụng, mạng lưới điện quốc gia ảnh hưởng tới chi phí kinh doanh, khả năng nắm bắt thông tin, khả năng huy động và sử dụng vốn, khả năng giao dịch thanh toán của các doanh nghiệp do đó ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả đầu tư kinh doanh của các doanh nghiệp (Robert Eisner, 1978; Hoàng Tuấn Khanh, 2010; Nguyễn Mạnh Toàn, 2010)

2.3.2 Nhân tố nội sinh:

Thị trường:

Cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế, tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệt xoay quanh việc chiếm lĩnh thị phần Thị trường tiêu thụ sản phẩm là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp quyết định đầu tư Đầu tư vào sản phẩm nào mà thị trường đang có nhu cầu, khả năng tiêu thụ và xu hướng tiêu dùng của thị trường trong tương lai chính là các việc doanh nghiệp cần phải làm trước khi quyết định thực hiện đầu tư Ngoài ra việc phân tích đối thủ cạnh tranh, khả năng cạnh tranh, cũng là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp chọn ra phương án đầu tư thích hợp, tạo lợi thế riêng trên thị trường (Muhammad Amjad Saleem, 2012; Langenberg

M, 2008; Nguyễn Mạnh Toàn, 2010)

Trong chính sách đầu tư của các doanh nghiệp, đầu tư mở rộng thị trường, chế

độ chính sách thu hút khách hàng đến với sản phẩm của doanh nghiệp mình luôn được chú trọng đầu tư phát triển Vì vậy, khách hàng chính là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến các kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp, là nhân tố định hướng cho việc đầu tư của doanh nghiệp

Cơ sở vật chất của doanh nghiệp:

Cơ sở vật chất của doanh nghiệp là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của mỗi doanh nghiệp, là nền tảng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cùng với thời gian và sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học kĩ thuật hiện đại, cơ sở

Trang 22

(2004); Panda (2008) cho thấy qui mô đầu tư và khả năng tiếp cận nguồn vốn của nhà đầu tư là yếu tố ảnh hưởng đến thành công trong kinh doanh Trong khi đó Meng & Liang (1996) cho rằng không có tác động của kinh nghiệm về thành công trong hoạt động đầu tư kinh doanh Hisrich (1990); Kallerberg và Leicht (1991); Krueger (1993); Roweet al (1993); Lussiers Pfeifer (2001); Thapa (2007); Indarti và Langenverg (2008) có bằng chứng cho thấy rằng giáo dục có tác dụng tích cực đến sự thành công trong kinh doanh của nhà đầu tư Hisrich Kraut và Grambsch (1987, 1990); Kallerberg

và Leicht (1991), Krueger (1993), Rowe et al (1993), Masuo et al (2001) thì cho rằng tuổi tác và mạng lưới hỗ trợ sẽ có đóng góp tích cực trong hoạt động đầu tư kinh doanh của chủ doanh nghiệp Trong khi đó, Zimmerrer và Scarborough (1998) chỉ ra rằng hầu hết các doanh nghiệp ngoài nhà nước thành công ở Hoa Kỳ đều trong độ tuổi

30 và 40 Staw (1991) thì cho rằng vào thời điểm bắt đầu của hoạt động đầu tư kinh doanh không phải là một yếu tố quan trọng, nhưng với ai được đào tạo và chuẩn bị đủ thì sẽ bắt đầu với hoạt động đầu tư kinh doanh tốt hơn Staw (1991) cũng lưu ý tuổi có liên quan đến sự thành công kinh doanh nếu nó bao gồm cả hai tuổi đời và thâm niên trong kinh doanh Điều này có nghĩa là một doanh nhân lớn tuổi, kinh nghiệm hơn trong kinh doanh anh ta có thể thực hiện cho hoạt động đầu tư tốt hơn

Kallerberg và Leicht (1991), Rowe et al (1993); Masuo et al (2001); Rose et al (2006) cho rằng sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào kỹ năng và đào tạo Bên cạnh đó, Cooper (1985), Green và Pryde (1989), Raman (2004) đã đưa ra các yếu

tố như: sáng kiến, hỗ trợ của bên thứ ba, khuyến khích gia đình và bạn bè, kỹ năng và điều kiện kinh tế dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp ngoài nhà nước

Kết quả nghiên cứu của Rogoff et al (2004) cũng cho thấy các yếu tố nội tại như: qui mô đầu tư và khả năng tự chủ về tài chính, tiếp thị và nguồn nhân lực và các yếu tố bên trong cũng như các yếu tố bên ngoài như: mức thuế thu nhập, cơ sở hạ tầng, đặc điểm thị trường, cơ hội kinh doanh, sự sẵn có của các nguồn lực, điều kiện kinh tế, môi trường cạnh tranh và các quy định của Chính phủ là những yếu tố quyết định thành công trong hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Tầm quan trọng về sự hỗ trợ của Chính phủ sẽ là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp thành công Nghiên cứu của Yusuf (1995), Sarder (1997) cũng cho thấy các công ty nhận được các dịch vụ hỗ trợ

Trang 23

vật chất của doanh nghiệp cũng ngày càng bị hao mòn, hỏng hóc hoặc không phù hợp

để chế tạo ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường Do đó, doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuất và hiện đại hoá sản phẩm của doanh nghiệp mình thì trong hoạt động đầu tư phải chú trọng cả việc hiện đại hoá và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật phù hợp với định hướng sản xuất kinh doanh (Panco, R., and Korn, H., 1999; Yusuf A, 1995)

Nguồn Lao động:

Do sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ và khoa học trên thế giới, nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng, là nhân tố đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn thành công, ngoài sự đầu tư về máy móc thiết bị hiện đại, doanh nghiệp cũng cần phải đầu tư cho yếu tố con người Trong bất cứ giai đoạn nào thì con người cũng luôn là nhân tố quan trọng nhất trong mỗi khâu sản xuất Đặc biệt trong thời đại ngày nay, khi công nghệ khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại thì việc nâng cao trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ nhân lực cho phù hợp với trang thiết

bị hiện đại trong mỗi doanh nghiệp càng trở lên quan trọng hơn hết Do đó, trong chiến lược đầu tư của mỗi doanh nghiệp, nhân tố con người cũng phải được đưa lên hàng đầu Cùng với các biện pháp đào tạo lại, đào tạo nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng cần phải xây dựng các chính sách,

đề ra các biện pháp thu hút nhân tài cho sự phát triển của doanh nghiệp Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần có các chính sách đãi ngộ, thưởng phạt rõ ràng đối với người lao động để họ gắn bó và đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của doanh nghiệp (Raman, 2004; Narang Somil, 2007; Nguyễn Mạnh Toàn, 2010)

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI:

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài:

Ở nước ngoài đã có nhiều công trình nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nói chung, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng Kết quả của một số công trình nghiên cứu đã cho thấy, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp ngoài nhà nước nói riêng:

Nghiên cứu của Kraut và Grambsch (1987); Kallerberg và Leicht (1991) Cooper (1985); Hisrich (1990); Krueger (1993); Lussiers và Pfeifer (2001); Raman

Trang 24

như tài chính, đào tạo, kỹ thuật, tư vấn, thông tin, v.v từ các cơ quan công quyền thì doanh số bán hàng tăng đáng kể

Nghiên cứu của Muhammad Amjad Saleem (2012) đã sử dụng mô hình hồi qui

đa biến để phân tích mức độ ảnh hưởng của các biến số nghiên cứu đến hiệu quả đầu

tư kinh doanh Các biến số mà nghiên cứu này sử dụng bao gồm: tuổi của chủ doanh nghiệp, trình độ giáo dục, kinh nghiệm, loại hình doanh nghiệp, kỹ năng trong kinh doanh, các yếu tố về văn hóa – xã hội, các yếu tố về môi trường kinh doanh và thể chế chính sách cũng như qui mô vốn đầu tư của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng qui mô đầu tư, văn hóa, loại hình doanh nghiệp và kinh nghiệm trong kinh doanh của chủ doanh nghiệp là những yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới hiệu quả hoạt động đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó loại hình doanh nghiệp

có ảnh hưởng lớn nhất

Bên cạnh đó, nghiên cứu của Baard, V.C và Van den Berg, A (2004), Ari Kokko và Fredrik Sjöholm (2004), Henrik Hansen, John Rand và Finn Tar (2002) đã chỉ ra rằng quy mô doanh nghiệp là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Trong khi đó, nghiên cứu của Panco, R và Korn,

H (1999), Henrik Hansen và ctv (2002) thì cho rằng tuổi của một doanh nghiệp là nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước:

Ở trong nước cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam (2011), xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV ở Tp Cần Thơ Cỡ mẫu được chọn là 389 DNNVV Phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi qui tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Tp Cần Thơ

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Mạnh Toàn (2010) về các nhân tố tác động đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào một địa phương của Việt Nam thông

Trang 25

qua điều tra 300 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hà nội, Đà Nẵng và Tp Hồ Chí Minh thông qua mô hình nghiên cứu với bốn nhóm nhân tố bao gồm: kinh tế, tài nguyên, cơ sở hạ tầng và chính sách Kết quả nghiên cứu cho thấy một số nhân tố ảnh hưởng tới việc thu hút vốn đầu tư của các doanh nghiệp này bao gồm: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, sự ưu đãi và hỗ trợ của chính quyền địa phương, chi phí hoạt động thấp là những nhân tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định khi nhà đầu tư nước ngoài xem xét lựa chọn địa điểm đầu tư tại Việt Nam

Nghiên cứu của Phạm Lê Thông và cộng sự (2008), dựa trên số liệu thu thập được từ 294 DN ngoài quốc doanh ở Kiên Giang, cho thấy đầu tư của các DN phụ thuộc vào vốn tự có Vốn tự có thường được tích lũy từ lợi nhuận của những năm trước Lợi nhuận của DN càng lớn sẽ tạo điều kiện cho DN tích lũy vốn để đầu tư Do

bị giới hạn về vốn tự có, đầu tư của các DN ngoài quốc doanh lại phụ thuộc vào số tiền vay được từ các ngân hàng thương mại Bên cạnh đó, đầu tư của các DN ngoài quốc danh cũng phụ thuộc vào tăng trưởng của doanh thu trong quá khứ Tăng trưởng doanh thu của DN lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực nội tại cũng như môi trường kinh doanh Quy mô của DN cũng có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DN Các

DN có quy mô lớn hơn lại có tốc độ đầu tư mở rộng quy mô chậm hơn Ngoài ra, khả năng mở rộng mặt bằng lại có ảnh hưởng tiêu cực đến lượng đầu tư Những DN có khả năng mở rộng mặt bằng cao lại đầu tư ít hơn những DN khác do họ có kiếm được lợi nhuận từ việc đầu cơ đất đai nên không cần đầu tư mở rộng quy mô

Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự (2007), cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các DN bao gồm khả năng vay vốn, tuổi của doanh nghiệp (năm thành lập), trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của người quản lý, quy mô, doanh thu, lợi nhuận, cạnh tranh, tính khích lệ của chính sách, lĩnh vực hoạt động, v.v Nghiên cứu này, dựa trên số liệu thu thập được từ 606 DN ngoài quốc doanh ở đồng Bằng Sông Cứu Long, cho thấy các DN ngoài quốc doanh bị giới hạn về nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại để đầu tư nên phải dựa chủ yếu vào vốn

tự có Bên cạnh đó, đầu tư của các DN ngoài quốc doanh cũng phụ thuộc vào tăng trưởng của doanh thu trong quá khứ của bản thân DN Rõ ràng, tăng trưởng của doanh thu của DN lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như năng lực nội tại (khả năng và kinh nghiệm quản lý, điều kiện vốn, điều kiện mặt bằng, v.v.) cũng như môi trường kinh

Trang 26

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH:

Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến qui mô đầu tư của doanh nghiệp

đã lược khảo của chương 2, tác giả đề tài đưa ra khung phân tích theo sơ đồ 3.1:

Sơ đồ 3.1 Khung phân tích

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ các nghiên cứu trước

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mô hình hồi quy đa biến tổng quát có dạng:

Trong đó:

Y: là biến phụ thuộc

Chênh lệch vốn đầu tư

Trang 27

doanh (giá cả, thị trường, chính sách của nhà nước, v.v.) Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, số tiền vay được từ các ngân hàng thương mại, quy mô của DN, ngành nghề kinh doanh cũng là các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các DN ngoài quốc doanh Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ văn hóa và chuyên môn của người quản lý DN càng cao thì DN có xu hướng đầu tư càng nhiều Tương tự,

số tiền vay được từ các NHTM cũng có thể làm tăng khả năng đầu tư của DN Trong khi đó, các DN có quy mô lớn hơn lại có xu hướng đầu tư ít hơn do khả năng quản lý của các DN có giới hạn nên họ ngại đầu tư mở rộng, vì e ngại gặp phải rủi ro trong kinh doanh Bên cạnh đó, các DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, v.v.) có xu hướng đầu tư ít hơn các DN hoạt động trong hai lĩnh vực còn lại (thương mại và sản xuất – khai thác – chế biến)

và thuế phải nộp Nhà nước

Trang 28

Bảng 3.1: Giải thích ý nghĩa các biến trong mô hình

Biến phụ thuộc

Chênh lệch vốn đầu tư chenhlechvon

Các biến độc lập

Trình độ học vấn hocvan + Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam

Tài sản cố định taisancd + Phạm Lê Thông và cộng sự (2008); Lê

Khương Ninh và cộng sự (2007)

Lợi nhuận loinhuan + Phạm Lê Thông và cộng sự (2008); Lê

Khương Ninh và cộng sự (2007) Ngành kinh doanh nganhkd + Lê Khương Ninh và cộng sự (2007) Loại hình DN loaihinhdn + Lê Khương Ninh và cộng sự (2007)

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Trang 29

Giải thích các biến trong mô hình và kỳ vọng

Biến phụ thuộc: Chênh lệch vốn đầu tư (chenhlechvon), được định nghĩa

bằng hiệu giữa tài sản cuối năm (31/12/2015) với tài sản đầu năm (01/01/2015): đơn vị

tính là triệu đồng

Các biến độc lập:

Tuổi chủ DN (tuoi): được tính bằng tuổi của chủ doanh nghiệp vào thời điểm

năm 2015 (đơn vị tính: tuổi) Chủ DN có tuổi đời càng cao sẽ có nhiều kinh nghiệm

trong đầu tư SXKD và quyết định có mở rộng qui mô vốn đầu tư hay không Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007; Phạm Lê Thông và cộng sự, 2008 trong nghiên cứu đã

khẳng định biến tuổi của doanh nghiệp có tác động đến đầu tư Chính vì thế, kỳ vọng biến tuổi của chủ DN ảnh hưởng cùng chiều với chênh lệch vốn đầu tư của DN

Giới tính chủ DN (gioitinh): giới tính chủ doanh nghiệp nhận giá trị bằng 1

nếu chủ doanh nghiệp là nam và nhận giá trị 0 nếu chủ doanh nghiệp là nữ Thường chủ DN là nam giới sẽ mạnh dạn và thích mạo hiểm hơn chủ DN là nữ giới Nữ giới thường có tính cẩn thận, nên khi ra quyết định mở rộng đầu tư có phần chậm hơn nam

giới Trong nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007 đã cho thấy giới tính của chủ doanh nghiệp cũng đã có tác động đến đầu tư Do đó, kỳ vọng biến giới tính

chủ DN ảnh hưởng cùng chiều với chênh lệch vốn đầu tư của DN

Trình độ học vấn của chủ DN (hocvan): học vấn của chủ doanh nghiệp nhận

giá trị 1 nếu chủ doanh nghiệp chưa qua đào tạo, 2 qua đào tạo nhưng chưa có chứng chỉ, 3 là sơ cấp, 4 trung cấp, 5 cao đẳng, 6 đại học, 7 sau đại học và 8 là trình độ khác Trình độ học vấn của chủ DN càng cao thì khả năng nắm bắt thông tin, phân tích thị trường tốt hơn chủ DN có học vấn thấp Có kiến thức rộng giúp chủ DN dự báo được tình hình SXKD, dự báo được lượng cung cầu của thị trường, giá cả đầu vào và đầu ra

của sản phẩm Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam, 2011 cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của chủ doanh nghiệp có tác động đến đầu tư của doanh nghiệp Kỳ vọng biến trình độ học vấn của DN ảnh hưởng cùng chiều đến

chênh lệch vốn đầu tư của DN

Số năm thành lập (sonamtl): số năm thành lập của doanh nghiệp được tính từ

khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận kinh doanh (đơn vị tính: năm) DN thành lập lâu năm sẽ có nhiều khách hàng biết đến và có kinh nghiệm trong SXKD Chính vì

Trang 30

thế, DN thành lập lâu năm sẽ có quyết định mở rộng đầu tư nhiều hơn DN mới thành

lập Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007 đã cho thấy số năm thành lập của doanh nghiệp có tác động đến đầu tư của doanh nghiệp Kỳ vọng số năm thành

lập của DN ảnh hưởng cùng chiều đến chênh lệch vốn đầu tư của DN

Số lao động (sold): số lao động trong DN được hiểu là số người đang trực tiếp

lao động sản xuất kinh doanh trong DN (đơn vị tính: người) DN có nhiều lao động thì

qui mô sản xuất càng lớn, vốn đầu tư càng nhiều cho SXKD Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Toàn, 2010; Nguyễn Quốc Nghi và Mai Văn Nam, 2011; Phạm Lê Thông và cộng sự, 2008; Lê Khương Ninh, 2007 cho thấy số lao động của doanh nghiệp có tác động đến đầu tư của doanh nghiệp Kỳ vọng biến số lao động trong DN ảnh hưởng

cùng chiều với chênh lệch vốn đầu tư của DN

Giá trị tài sản cố định (taisancd): giá trị tài sản cố định của DN bao gồm máy

móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải, được quy đổi bằng giá trị tiền (đơn vị tính: triệu đồng) Cũng giống như số lao động trong DN, giá trị tài sản cố định càng nhiều chứng tỏ DN SXKD với qui mô lớn Vốn đầu tư SXKD sẽ bỏ ra tương đồng với

giá trị tài sản cố định mà DN đầu tư Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007; Phạm Lê Thông và cộng sự, 2008 cho thấy tài sản của doanh nghiệp có tác động đến đầu tư Chính vì thế, kỳ vọng biến giá trị tài sản cố định ảnh hưởng cùng

chiều với chênh lệch vốn đầu tư của DN

Thuế (thue): thuế của DN đóng cho nhà nước năm 2015 (đơn vị tính: triệu

đồng) Thuế đóng càng cao dẫn đến tổng chi phí của DN càng cao, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập DN Thu nhập DN giảm sẽ dẫn đến vốn đầu tư hạn chế Do đó, kỳ vọng biến thuế của DN sẽ ảnh hưởng ngược chiều với chênh lệch vốn đầu tư của DN

Lợi nhuận (loinhuan): lợi nhuận của DN được tính bằng doanh thu năm 2015

trừ đi chi phí cho hoạt động SXKD năm 2015 của DN (đơn vị tính : triệu đồng) Lợi nhuận của DN thu được trong năm càng cao thì vốn tích lũy của DN càng nhiều, do đó

sẽ thuận lợi về nguồn vốn để mở rộng đầu tư SXKD Nghiên cứu của Lê Khương Ninh

và cộng sự, 2007; Phạm Lê thông và cộng sự, 2008 cho thấy lợi nhuận có tác động đến đầu tư Kỳ vọng lợi nhuận của DN ảnh hưởng cùng chiều với chênh lệch vốn đầu

tư của DN

Trang 31

Ngành nghề kinh doanh (nganhkd): ngành kinh doanh của DN được thể hiện

bằng ngành nghề đăng ký thành lập doanh nghiệp Ngành nghề kinh doanh nhận giá trị

1 nếu doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực thương mại, khách sạn, nhà hàng; nhận giá trị

0 nếu SXKD lĩnh vực khác Ngành nghề kinh doanh có tác động đến đầu tư, những

ngành có lợi thế ở địa phương sẽ được đầu tư mạnh mẽ hơn Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007 cho thấy ngành nghề kinh doanh có tác động đến đầu

tư Kỳ vọng ngành nghề kinh doanh sẽ có tác động cùng chiều với chênh lệch vốn đầu

tư của doanh nghiệp

Loại hình DN (loaihinhdn): DN nhận giá trị 1 nếu là DNTN và nhận giá trị 0

nếu DN ngoài NN không phải là DNTN Quyết định mở rộng đầu tư ở DNTN phụ thuộc vào chủ DN, còn ở các loại hình doanh nghiệp khác không phải là DN tư nhân thì phải thông qua Hội đồng quản trị của DN Do đó, điều kiện quyết định mở rộng

đầu tư của DNTN dễ dàng hơn các DN không phải là DNTN Nghiên cứu của Lê Khương Ninh và cộng sự, 2007 cho thấy loại hình doanh nghiệp có ảnh hưởng đến đầu tư Kỳ vọng biến loại hình DN ảnh hưởng cùng chiều đến chênh lệch vốn đầu tư

bố trên các tạp chí, tài liệu hội nghị

3.3.2 Mẫu nghiên cứu:

Là bộ số liệu thứ cấp được khai thác từ cuộc điều tra doanh nghiệp của Cục Thống kê Kiên Giang năm 2015 Để tiến hành khảo sát, Tổng cục Thống kê đã lập Phương án điều tra và thiết kế 2 loại phiếu điều tra, một phiếu để thu thập thông tin cơ bản của toàn bộ các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Tỉnh và một phiếu điều tra chuyên sâu một số chỉ tiêu của doanh nghiệp gồm bảng câu hỏi rất chi tiết với 20

Trang 32

câu hỏi Cuộc điều tra được tiến hành theo phương pháp điều tra toàn bộ kết hợp với điều tra chọn mẫu Điều tra toàn bộ đối với các doanh nghiệp: Doanh nghiệp Nhà nước 100% vốn hoặc Công ty cổ phần vốn Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp ngoài nhà nước có từ 20 lao động trở lên; và điều tra chọn mẫu 20% doanh nghiệp ngoài nhà nước có dưới 20 lao động Người trả lời là người trực tiếp quản lý DN để đảm bảo cung cấp đúng và đủ thông tin Cuộc điều tra đã thu thập thông tin của toàn bộ 4.318 doanh nghiệp và điều tra chuyên sâu 1.773 DN tại tỉnh Kiên Giang, trong đó có 1.197 DN ngoài NN

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU:

Trong nghiên cứu này sử dụng phần mềm STATA 12.0 để hỗ trợ việc phân tích

dữ liệu thu thập được từ điều tra thực tế, sau đó sử dụng các phương pháp để đánh giá:

- Phương pháp thống kê mô tả: phương pháp này được vận dụng để mô tả phân tích tổng quát tình hình, sử dụng các chỉ tiêu: số trung bình, tỷ lệ, tần suất… để phân tích thực trạng mở rộng vốn đầu tư của các DN ngoài NN trên các tiêu thức được quan tâm theo mục tiêu nghiên cứu đề ra ban đầu

- Phương pháp phân tích hồi quy: Tiến hành phân tích hồi quy đa biến bằng phương pháp OLS Trên cơ sở thiết lập phương trình, tiến hành hồi quy, kiểm định ý nghĩa các biến độc lập v v từ đó nghiên cứu, phân tích các nhân tố ảnh hưởng chênh lệch vốn đầu tư của DN

- Ngoài ra, để so sánh, nhấn mạnh thêm từng yếu tố cần được đề cập khi nghiên cứu, trong nghiên cứu còn sử dụng các dữ liệu thứ cấp từ các cơ quan đơn vị chức năng như Niên giám thống kê tỉnh Kiên Giang, các báo cáo của ban, ngành, ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố có liên quan

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Chương 3 trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài Tác giả đề xuất khung phân tích đề tài gồm 3 nhóm nhân tố tác động đến chênh lệch vốn đầu tư của DN (đặc điểm chủ DN, đặc điểm DN và thuế) Thông qua đó, đề xuất mô hình nghiên cứu gồm

10 biến độc lập ảnh hưởng đến chênh lệch vốn của DN trong năm 2015, gồm giới tính chủ DN, tuổi chủ DN, trình độ học vấn chủ DN, số năm thành lập, số lao động, tài sản

Trang 33

cố định, ngành nghề KD, thuế nộp ngân sách, lợi nhuận và loại hình DN Mẫu khảo sát dựa trên số liệu khảo sát DN năm 2015 của Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang Sử dụng

kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến theo phương pháp OLS phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp

Trang 34

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẦU TƯ DN NGOÀI NHÀ NƯỚC TỈNH KIÊN GIANG

4.1 TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ CỦA CÁC DN TỈNH KIÊN GIANG 4.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Kiên Giang:

Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, kết nối với các nước Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.346 km2, dân số 1.762.281 người, mật độ 268 người/km2 Phía Đông Bắc, giáp các tỉnh An Giang, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Nam, giáp các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây Nam, giáp vịnh Thái Lan với hơn 200 km bờ biển và các đảo; phía Bắc, giáp Campuchia, với đường biên giới dài 56,8 km

Kiên Giang có 4 vùng đất đai chính là vùng phù sa ngọt thuộc tây sông Hậu, vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc bán đảo Cà Mau

và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải Trong đó, Đất nông nghiệp chiếm 64,2% diện tích tự nhiên, đất rừng chiếm 122,8 nghìn ha, đất chuyên dùng 35,4 nghìn ha, đất ở 10,1 nghìn ha

Nền nông nghiệp của Kiên Giang là nông nghiệp trồng lúa nước Đất canh tác không tập trung nhưng phần lớn phân bố ở ven các trung tâm huyện Xen kẽ với việc trồng lúa nước là các loại hoa màu và một số cây có giá trị công nghiệp cao như dừa, khóm, hồ tiêu

Với bờ biển dài trên 200 km, có diện tích biển khoảng 63.000 km2, Kiên Giang

có tiềm năng rất phong phú để phát triển kinh tế biển Đây là một lĩnh vực mà tỉnh có lợi thế hơn hẳn so với nhiều tỉnh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long Với những lợi thế đó tỉnh đã có nhiều ưu đãi để hỗ trợ đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất và chế biến nông, lâm, thủy sản, du lịch bằng sự ưu đãi về đất đai, thuế và tiếp cận tín dụng

4.1.2 Tình hình đầu tư của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang: 4.1.2.1 Về qui mô số lượng doanh nghiệp:

Doanh nghiệp thực tế đang hoạt động trong các ngành kinh tế trên địa bàn của tỉnh cuối năm 2015 là 4.318 doanh nghiệp, tăng 10,12% so với năm 2014 (tăng 397 doanh nghiệp) Tốc độ tăng bình quân hàng năm trong 10 năm (2005 – 2015) là

Trang 35

tiếp là Công ty TNHH tư nhân, năm 2011 loại hình doanh nghiệp này mới chiếm tỷ trọng 24% thì năm 2015 đã chiếm tới 35,92% tổng số DN Công ty cổ phần tư nhân (công ty cổ phần không có vốn Nhà nước) cũng đang có xu hướng phát triển, năm

2011 loại hình doanh nghiệp này chỉ chiếm 2,59% thì năm 2015 đã chiếm tỷ trọng 4,91% tổng số doanh nghiệp Doanh nghiệp Nhà nước và Công ty cổ phần có vốn Nhà nước đang có xu hướng giảm dần trước yêu cầu cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước

và thoái vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, nên tỷ trọng của 2 loại doanh nghiệp này năm 2011 chiếm tỷ trọng 0,81% và 0,45% thì năm 2015 chỉ còn chiếm tỷ trọng 0.51% và 0.35% Đáng lưu ý là loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có số lượng rất hạn chế chỉ chiếm có 0,13% năm 2011 và 0,14% năm 2015 Kết quả này cho thấy sự kém phát triển của hai loại hình CTCP có vốn Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Với loại hình CTCP, nếu tính cả Công ty cổ phần có vốn Nhà nước và không vốn Nhà nước thì loại hình doanh nghiệp này năm

2015 cũng mới chiếm 5.26% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Như ta biết, CTCP là loại hình DN phổ biến trên thế giới nhờ vào khả năng huy động vốn từ công chúng thông qua việc phát hành cổ phiếu Nếu loại hình DN này chưa phổ biến ở Kiên Giang thì có nghĩa là khả năng huy động vốn từ công chúng và khả năng phát triển của các DN là còn thấp Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng vậy, sau 5 năm (2011 – 2015) số doanh nghiệp hoạt động chỉ tăng từ 4 doanh nghiệp lên 6 doanh nghiệp, điều đó thể hiện sức hút, sức hấp dẫn cũng như lợi thế về địa lý của tỉnh

Trang 36

8,55%/năm và trong 5 năm gần đây (2010 -2015) là 8,80%/năm Tốc độ này là khá cao

so với Đồng bằng sông Cửu Long (6,18%) Có thể nói doanh nghiệp Kiên Giang trong những năm qua liên tục phát triển là do cơ chế chính sách, môi trường đầu tư thông thoáng, mặt khác mang tính tự phát theo nhu cầu của thị trường Nếu như cách đây 10 năm (2006) số lượng doanh nghiệp chỉ có 1.906 DN thì nay tăng hơn gấp 2,26 lần Năm 2011 có 3.083 doanh nghiệp; năm 2012 có 3.585 doanh nghiệp, tăng 16,28% so với năm 2011 (tăng 502 doanh nghiệp); năm 2013 có 3.917 doanh nghiệp, tăng 9,26% (tăng 332 doanh nghiệp) so với năm 2012; năm 2014 có 3.921 doanh nghiệp, tăng 0,10% (tăng 4 doanh nghiệp) so với năm 2013; năm 2015 có 4.318 doanh nghiệp, tăng 10,12% (tăng 397 doanh nghiệp) so với năm 2014 Trong tổng số doanh nghiệp thì chủ yếu là doanh nghiệp ngoài nhà nước và đang có xu hướng phát triển khá nhanh, năm

2011 loại hình doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng 99,06% tổng số doanh nghiệp của Tỉnh thì năm 2015 tỷ trọng này đã tăng lên 99,35%

Bảng 4.1: Số lượng doanh nghiệp chia theo loại hình doanh nghiệp

Số doanh nghiệp (DN) Tốc độ phát triển (%)

Nguồn: Cục thống kê tỉnh Kiên Giang, 2015

4.1.2.2 Về loại hình doanh nghiệp:

Trong tổng số doanh nghiệp cho thấy số DNTN chiếm tỷ trọng cao nhất, năm

2011 chiếm tỷ trọng 68,41% và năm 2015 còn chiếm 54,75% tổng số DN, cho thấy rằng loại hình sở hữu này là phổ biến nhất vì đây là loại hình DN đơn giản, dễ thành lập vì chỉ cần một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi hoạt động của DN là có thể thành lập Loại hình sở hữu phổ biến kế

Ngày đăng: 12/11/2017, 21:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w