1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ mô tại một số nước đông nam á

109 278 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 19,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích tác động của mất giá tiền tệ đến sản lượng, lạm phát và cán cân thương mạithông, đồng thời xem xét vai trò tỷ giá trong sự biến động của các biến số này.. Để trả lời câu hỏi ng

Trang 1

NGUY ỄN THỊ THU TRÚC

NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng

Trang 2

NGUY ỄN THỊ THU TRÚC

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MẤT GIÁ TIỀN

NƯỚC ĐÔNG NAM Á

Tp H ồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan “PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA MẤT GIÁ TIỀN TỆ ĐẾN

CÁC BI ẾN SỐ VĨ MÔ TẠI MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á” là công trình

nghiên cứu khoa học độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS.Nguyễn Ngọc Định Các nội dung và kết quả trong luận văn là trung thực Tất cả tàiliệu tham khảo đều được trích dẫn đầy đủ và rõ ràng

Tác giả luận văn:

Trang 4

3.1.1 Lý do lựa chọn mô hình VAR 24

3.1.2 Giới thiệu mô hình VAR cấu trúc (Structure VAR – SVAR) 26

3.1.3 Giới thiệu mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM 26

3.1.4 Phương Pháp nghiên cứu 27

3.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 31

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Kiểm định tính dừng 38

4.2 Kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình VECM 40

4.3 Kiểm định đồng liên kết 42

4.4 Kiểm định nhân quả GRANGER 44

4.5 Kiểm định độ ổn định mô hình 45

4.6 Kết quả ước lượng mô hình VECM 46

4.6.1 Hàm phản ứng xung IRF 46

4.6.2 Phân rã phương sai (Variance decomposition) 55

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

5.1 Tóm tắt các kết quả chính của đề tài 65

5.2 Một số kiến nghị 66

5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 66

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

Trang 5

M ỤC LỤC

DANH M ỤC VIẾT TẮT

DANH M ỤC BẢNG BIỂU

DANH M ỤC HÌNH VẼ

TÓM T ẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa thực tiễn 3

1.6 Bố cục luận văn 3

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHI ỆM 5

2.1 Khung lý thuyết 5

2.1.1 Tỷ giá hối đoái 5

2.1.2 Điều kiện Marshall-Lerner 6

2.1.4 Đường cong chữ J 7

2.1.5 Mô hình Mundell-Fleming hay mô hình IS-LM 8

2.2 Tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ mô 11

2.2.1 Tác động của mất giá tiền tệ lên sản lượng và hai thành phần của nó (đầu tư và chi tiêu) 11

2.2.2 Tác động của mất giá tiền tệ lên cán cân thương mại 12

2.2.3 Tác động của mất giá tiền tệ lên lạm phát 13

2.2.4 Tác động của mất giá tiền tệ lên cung tiền và lãi suất 15

2.3 Các bằng chứng thực nghiệm 15

2.3.1 Bằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia trên thế giới 15

2.3.2 Các bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam 22

Trang 6

T ắt Di ễn giải

ARDL Mô hình tự hồi quy phân phối trễ (Autoregressive Distributed Lag

Model)CONS Chi tiêu cá nhân (Private Consumption)

CPI Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer price index)

EXPO Giá trị xuất khẩu danh nghĩa (Norminal Export To World)GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

IFS International Foundation for Science (Thống kê tài chính quốc tế)IMF International Monetary Fund ( Qũy tiền tệ quốc tế)

IMPO Giá trị nhập khẩu danh nghĩa (Norminal Import From World)INV Tổng vốn đầu tư cố định (Gross Fixed Capital Information)IRF Hàm phản ứng xung (Impulse Response Function)

NEER Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange rate)

RATE Lãi suất cơ bản của ngân hàng trung ương, kỳ hạn 3 tháng

Trang 7

Bảng 4.1: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu 38

Bảng 4.2: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu Singapore 38

Bảng 4.3: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu Thái Lan 39

Bảng 4.4: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu Việt Nam 39

Bảng 4.5: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình 40

Bảng 4.6: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình Singapore 40

Bảng 4.7: Kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình Thái Lan 41

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình Việt Nam 41

Bảng 4.9: Kết quả kiểm định đồng liên kết trong mô hình Malaysia 42

Bảng 4.10: Kết quả kiểm định đồng liên kết trong mô hình Singapore 43

Bảng 4.11: Kết quả kiểm định đồng liên kết trong mô hình Thái 43

Bảng 4.12: Kết quả kiểm định đồng liên kết trong mô hình Việt Nam 44

Bảng 4.13: Kết quả phân rã phương sai mô hình Malaysia 56

Bảng 4.14: Kết quả phân rã phương sai mô hình Singapore 57

Bảng 4.15: Kết quả phân rã phương sai mô hình Thái Lan 60

Bảng 4 16: Kết quả phân rã phương sai mô hình Việt Nam 62

Trang 8

Hình 2 2: Mô hình IS - LM cân bằng 8

Hình 4 1 Kết quả kiểm định độ ổn định mô hình của các nước 45

Hình 4 2: Biểu đồ IRF Malaysia 46

Hình 4.3: Biểu đồ IRF Singapore 48

Hình 4 4: Biểu đồ IRF Thái Lan 51

Hình 4 5: Biểu đồ IRF Việt Nam 53

Trang 9

phân tích tác động của mất giá tiền tệ đến sản lượng, lạm phát và cán cân thương mại

thông, đồng thời xem xét vai trò tỷ giá trong sự biến động của các biến số này

Tác giả tiến hành nghiên cứu dựa trên dữ liệu hàng quý từ quý 1 năm 2000

đến quý 4 năm 2015 ở 4 nước Đông Nam Á bao gồm Malaysia, Singapore, Thái Lan

và Việt Nam Mô hình và lý luận trong bài nghiên cứu dựa theo nghiên cứu củaYildirim và Ivrendi (2016)

Kết quả nghiên cứu tìm ra bằng chứng thực nghiệm thống nhất rằng mất giátạo nên tác động làm giảm sản lượng và gây ra lạm phát ở cả 4 quốc gia nghiên cứu

Trong khi đó, kết quả nghiên cứu về tác động đối với cán cân thương mại là không

thống nhất: cán cân thương mại được cải thiện trong cả ngắn hạn và dài hạn ở

Malaysia, đối với Việt Nam bằng chứng cho thấy cán cân thương mại được cải thiện

trong ngắn hạn và có xu hướng trở về mức cân bằng ban đầu trong dài hạn Tuy nhiên,kết quả ngược lại đối với Singapore và Thái Lan, mất giá tiền tệ làm xấu đi cán cân

thương mại trong ngắn hạn và cải thiện nó trong dài hạn Ngoài ra, bài nghiên cứu

còn tìm thấy tỷ giá có vai trò đáng kể trong việc giải thích sự biến động của sản lượng

và cán cân thương mại của Malaysia, cán cân thương mại của Thái Lan cũng như sự

biến động của sản lượng tại Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

Trong thời kỳ kinh tế hội nhập diễn ra hết sức sâu sắc, hoạt động ngoại thương

vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia Khi đó, chính sách tiền tệ của những quốcgia phát triển cùng với nguồn vốn dồi dào từ nền kinh tế thế giới đã tạo nên dòng vốnlớn chảy vào các nền kinh tế đang phát triển Những dòng vốn này đóng góp rất quantrọng vào hiệu quả kinh tế của những nước này Tuy nhiên, như đã biết về bộ ba bấtkhả thi, một quốc gia không thể đồng thời theo đuổi ba mục tiêu: chế độ tỷ giá hối

đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn

Do đó, để đón nhận những luồng vốn này, đòi hỏi các quốc gia đang phát triển phải

có những chính sách tiền tệ hợp lý sao cho vừa kiểm soát được lạm phát vừa hỗ trợ

tăng trưởng kinh tế

Biến động tỷ giá hối đoái đóng vai trò hết sức quan trọng trong hiệu quả củanền kinh tế ở những quốc gia đang phát triển bởi vì nó truyền dẫn cả những cú sốc vềchính sách tiền tệ cũng như những cú sốc từ bên ngoài vào nền kinh tế vĩ mô Đầutiên, cú sốc chính sách tiền tệ trong nước ảnh hưởng đến các biến số vĩ mô thông quaviệc làm biến động tỷ giá hối đoái; thứ hai, sự phát triển của thị trường tài chính toàncầu dịch chuyển nhanh chóng đến những nền kinh tế đang phát triển thông qua việclàm tăng lên hay sụt giảm tỷ giá hối đoái

Sự tăng lên của tỷ giá hối đoái hay mất giá tiền tệ trước nay được cho rằng cónhững tác động tích cực đến nền kinh tế trong nước thông qua khuyến khích xuấtkhẩu và hạn chế xuất khẩu Nhiều quốc gia gần đây chạy đua phá giá đồng nội tệ đểkhuyến khích xuất khẩu, góp phần tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, liệu rằng mất giátiền tệ có thật sự tác động tích cực đến nền kinh tế trong dài hạn hay không cần phải

có những nghiên cứu thực nghiệm để đánh giá những tác động này

Tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số của nền kinh tế đã được nghiên

cứu rộng rãi trong những nghiên cứu trước Tuy nhiên, những nghiên cứu trước đâychủ yếu tập trung vào sự biến động của sản lượng và lạm phát Hơn nữa, những nghiêncứu trước đây phân tích tác động của cú sốc tỷ giá chỉ được kiểm soát bởi cú sốc

Trang 11

chính sách tiền tệ trong khi cú sốc năng suất cũng dẫn đến những biến động của tỷ

giá nhưng chưa được xem xét đúng mức trong những nghiên cứu trước (Yildirim

và Ivrendi, 2016) Do đó, chúng chưa xem xét tất cả các kênh có thể dẫn truyền tác

động của mất giá tiền tệ giá đến hiệu quả nền kinh tế Chính vì thế tác giả tiến hành

nghiên cứu tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số kinh tế vĩ mô được kiểm soátbởi cú sốc chính sách tiền tệ và cú sốc năng suất dựa trên mô hình nghiên cứu củaYildirim và Ivrendi (2016)

1.2 M ục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu xem xét tác động của mất giá tiền tệ đến sản lượng, lạm phát

và cán cân thương mại của 4 nền kinh tế Đông Nam Á bao gồm Malaysia, Singapore,

Thái Lan và Việt Nam

Với mục tiêu nghiên cứu như trên thì câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau:

 Mất giá tiền tệ có tác động tích cực hay tiêu cực đến sản lượng của nền kinh tế?

 Mất giá tiền tệ có tạo nên áp lực lạm phát lên nền kinh tế?

 Mất giá tiền tệ cải thiện hay làm xấu đi cán cân thương mại?

 Tỷ giá giải thích được bao nhiêu trong sự biến động của sản lượng, lạm phát vàcán cân thương mại?

Bài nghiên cứu tập trung phân tích tác động của mất giá tiền tệ đối với cácbiến số kinh tế vĩ mô Các biến số được lựa chọn đưa vào mô hình bao gồm: sản

lượng và hai thành phần của sản lượng (đầu tư và chi tiêu), lạm phát, lãi suất, cung

tiền, tỷ giá, xuất khẩu, nhập khẩu, và cán cân thương mại Phạm vi nghiên cứu của

đề tài là tại 4 quốc gia Đông Nam Á bao gồm Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt

Nam trong giai đoạn từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2015 Lý do chọn kỳ nghiêncứu này là từ thời điểm 2000 sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, tỷgiá bắt đầu được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện mới Bốn quốc gia được lựachọn cùng chịu tác động của cuộc khủng hoảng này, có sự tương đồng về độ mở cửa

Trang 12

của nền kinh tế, độ ổn định trong chế độ tỷ giá và cơ cấu nền kinh tế phụ thuộc vào

đầu vào nhập khẩu

Để trả lời câu hỏi nghiên cứu và thực hiện mục tiêu nghiên cứu tác giả sử dụngphương pháp định lượng để kiểm định tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ

mô của nền kinh tế ở 4 quốc gia Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam bằng

mô hình VECM (Vector Error Correction Model - Mô hình Vector hiệu chỉnh sai số)theo trình tự sau:

Trước tiên, tác giả sẽ sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị ADF test (AugmentDickey Fuller) để kiểm định tính dừng của các biến gốc và đối chiếu lại với kết quả

kiểm định tính dừng của Phillips và Perron (PP)

Tiếp theo, tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen để kiểm định xemcác chuỗi dữ liệu có quan hệ trong dài hạn không

Sau khi kiểm định, tác giả nhận thấy dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1 và có tồntại đồng liên kết thì mô hình nghiên cứu được sử dụng phù hợp nhất trong trường hợpnày là mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM

Mô hình VECM được sử dụng để xem xét tác động của mất giá tiền tệ đến cácbiến số vĩ mô thông qua hàm phản ứng xung IRF (Impulse Response Function) vàphân tích phân rã phương sai VD (Variance Decomposition)

Tác giả tiến hành kiểm định mối quan hệ nội sinh trong mô hình bằng kiểm

định GRANGER và đồng thời kiểm định độ ổn định của mô hình nghiên cứu

1.5 Ý ngh ĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của mất giá tiền

tệ đến các biến số vĩ mô trong nền kinh tế Nghiên cứu xem xét tác động của mất giátiền tệ đến các biến số vĩ mô được kiểm soát bởi cả cú sốc chính sách tiền tệ (tỷ giá,lãi suất và cung tiền) và cú sốc năng suất (sản lượng, đầu tư và chi tiêu), điều mà chưa

được thực hiện trong các mô hình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam

1.6 B ố cục luận văn

Trang 13

Luận văn được trình bày theo thứ tự bao gồm: danh mục các từ viết tắt, danhmục bảng biểu, danh mục hình vẽ và phụ lục Nội dung chính của luận văn được chiathành 5 chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG

2.1 Khung lý thuy ết

2.1.1 T ỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được

trao đổi cho một đồng tiền khác Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốcgia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác

Một tỷ giá hối đoái dựa trên thị trường sẽ thay đổi bất cứ khi nào các giá trịcủa một trong hai tiền tệ thành phần thay đổi Một đồng tiền sẽ có xu hướng trở nên

có giá trị hơn bất cứ khi nào nhu cầu cho nó lớn hơn lượng cung có sẵn Nó sẽ trởnên ít có giá trị bất cứ khi nào nhu cầu thấp hơn lượng cung cấp có sẵn

Chính vì thế, mỗi quốc gia quản lý giá trị đồng tiền của mình thông qua các

cơ chế khác nhau Điều đó quyết định chế độ tỷ giá hối đoái mà quốc gia sẽ áp dụngcho đồng tiền của mình Theo đó, tiền có thể được thả nổi tự do, bị chốt hay cố định,

hoặc kết hợp cả hai (chế độ tỷ giá thả nổi có kiểm soát)

Tỷ giá hối đoái cố định hay còn gọi là tỷ giá hối đoái neo, là tỷ giá hối đoái

mà được giữ cố định trong một thời gian dài với biên độ dao động nhỏ ở mức cho

phép Trong đó, giá trị của một đồng tiền được gắn với giá trị của một đồng tiền kháchay với một rổ các đồng tiền khác, hay với một thước đo giá trị khác, như vàng chẳnghạn Khi giá trị tham khảo tăng hoặc giảm, thì giá trị của đồng tiền neo vào cũng tănghoặc giảm Ngân hàng trung ương (NHTW) sẽ can thiệp để giữ cho tỷ giá ổn địnhbằng cách bán ngoại tệ ra khi tỷ giá tăng và mua ngoại tệ vào khi tỷ giá giảm để kéogiá ngoại tệ lên

Chế độ tỷ giá thả nổi hay còn gọi là chế độ tỷ giá linh hoạt là một chế độ trong

đó giá trị của một đồng tiền được phép dao động trên thị trường ngoại hối Hay nói

cách khác, chế độ tỷ giá hối đoái ở mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ có thể khác nhau,song về cơ bản là chế độ tỷ giá thả nổi theo đó thị trường quy định những biến độngcủa tỷ giá hối đoái

Trang 15

Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa haichế độ thả nổi và cố định, theo đó tiền được quản lý theo chế độ tỷ giá thả nổi, nhưngchính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không hoàn toàn phản ứng theo thị trường Các nướcthực thi chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý nhưng có sự khác nhau về hình thức thả nổi

và hình thức can thiệp Một nước có nền kinh tế thị trường tương đối phát triển vàhoàn hảo về một thị trường ngoại hối, thường áp dụng chế độ thả nổi với sự can thiệprất ít của nhà nước Một thị trường ngoại hối hoàn chỉnh với các quy chế quản lýngoại hối chặt chẽ và các thành phần có đủ khả năng tham gia thị trường sẽ góp phầnhình thành nên một mức tỷ giá hợp lý thể hiện đúng tương quan sức mạnh đồng tiềntrên thế giới

2.1.2 Điều kiện Marshall-Lerner

Theo điều kiện Marshall-Lerner (ML) để cho việc mất giá tiền tệ có tác động

tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá

cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1 Điều kiện

này đặt theo tên của hai học giả kinh tế đã phát hiện ra nó, đó là Alfred

Marshall và Abba Lerner

Phá giá dẫn tới giảm giá hàng xuất khẩu định danh bằng ngoại tệ, do đó nhucầu đối với hàng xuất khẩu (ngoại nhu) tăng lên Đồng thời, giá hàng nhập khẩu địnhdanh bằng nội tệ trở nên cao hơn, làm giảm nhu cầu đối với hàng nhập khẩu

Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh toán tùy thuộc vào các độ cogiãn theo giá Nếu hàng xuất khẩu co giãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hànghóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng Tương tự, nếuhàng nhập khẩu co giãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm Cả hai điều

này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán

Phương trình tính toán cán cân thanh toán có dạng như sau:

B= Xp – M

Trong đó B là cán cân thanh toán, X là khối lượng xuất khẩu, M là chi tiêu cho

nhập khẩu và p là mức giá quốc tế,

Mất giá tiền tệ sẽ cải thiện cán cân thanh toán khi:

Trang 16

Tuy nhiên, một số bằng chứng thực nghiệm đã chứng minh điều kiện ML

không được đáp ứng trong thực tế, Goldstein và Kahn (1985) chứng minh rằng tổng

hệ số co giãn trong dài hạn (lớn hơn 2 năm) luôn lớn hơn 1 trong khi đó tổng hệ số

co giãn trong ngắn hạn (dưới 6 tháng) có xu hướng tiến gần đến 1 Tương tự, Bahmani

- Oskooee và các cộng sự (2013) cũng không tìm thấy điều kiện ML được đáp ứngtrong thực tế

2.1.4 Đường cong chữ J

Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng tài khoản vãng lai của một quốc

gia sụt giảm ngay sau khi quốc gia này xảy ra mất giá tiền tệ và phải một thời giansau tài khoản vãng lai mới bắt đầu được cải thiện Quá trình này nếu biểu diễn bằng đồthị sẽ cho một hình giống chữ cái J

Trang 17

Các lý luận kinh tế học nói rằng khi mất giá tiền tệ xảy ra, giá hàng xuấtkhẩu định danh bằng ngoại tệ trở nên thấp đi trong khi giá hàng nhập khẩu định danhbằng nội tệ tăng lên Vì thế, đất nước sẽ tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu Kết quả

là cán cân vãng lai (xuất khẩu trừ đi nhập khẩu) sẽ được cải thiện Tuy nhiên, trongthực tế, về phía cầu, hoạt động xuất nhập khẩu diễn ra dựa trên các hợp đồng, vì thế

lượng hàng xuất nhập khẩu không thay đổi đồng thời với thay đổi giá cả (do tỷ giáthay đổi) Còn về phía cung, việc điều chỉnh trang thiết bị sản xuất để sản xuất thêm

hàng xuất khẩu cần thời gian

Tóm lại, chính sự thay đổi giá cả và thay đổi khối lượng hàng hóa không diễn

ra đồng thời là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng Đường cong J

2.1.5 Mô hình Mundell-Fleming hay mô hình IS-LM

Đây là mô hình lý thuyết được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triểnmột cách độc lập trong những năm 1960.Mô hình kinh tế học vĩ môsử dụng 2đường

ISvàLMđể phân tích tác động của cácchính sách kinh tế vĩ môđược thực hiện trongmột nền kinh tế mở Mô hình cho thấy mối quan hệ giữa sản lượng với tỷ giá hối

đoáidanh nghĩa trong ngắn hạn

Đường IS:Là đường biểu diễn các kết hợp của lãi suất (r) và sản lượng (Y) để

thị trường hàng hóa cân bằng Tức là chi tiêu thực tế bằng chi tiêu dự kiến

Đường LM: là sự kết hợp của mọi lãi suất (r) và sản lượng (Y) để có sự cân

bằng trên thị trường tiền tệ

Mô hình IS*-LM*:Phản ánh quan hệ giữa sản lượng Y cân bằng với thị trườngngoại hối

e cân bằng⇔ IS* = LM*

Điều kiện của mô hình:

- Sản lượng thực tế nhỏ hơn sản lượng tiềm năng.

Trang 18

(1) Trong điều kiện nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái thả nổi

Để tăng sản lượng Y, chính phủ có thể sử dụng chính sách tài chính mở rộng(tăng chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế) Trong ngắn hạn, chi tiêu chính phủ tăng

làm tăng chi tiêu hàng hóa trong nước (đường IS dịch chuyển sang phải trongkhi đường LM đứng yên), dẫn đến đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ (do nhu cầu về

đồng nội tệ lớn) Đồng nội tệ lên giá làm giảm xuất khẩu và tăng nhập khẩu Trong

dài hạn, sự gia tăng của tỷ giá hối đoái làm giảm xuất khẩu ròng, là nguyên nhân làmmất ảnh hưởng của sự mở rộng tổng cầu trong nước về hàng hóa và dịch vụ Điềunày làm triệt tiêu ảnh hưởng mở rộng ban đầu của chính sách tài chính và đưa lãisuất trong nước về mức lãi suất thế giới

Trong ngắn hạn, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoànhảo thì chính sách tài chính hoàn toàn không có hiệu lực trong việc điều tiết tổngcầu của nền kinh tế

Để tăng sản lượng Y thì chính phủ tăng cung tiền làm lãi suất trong nước tạm

thời giảm xuống so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra nướcngoài Chính sách tiền tệ mở rộng làm đường LM dịch chuyển sang phải, còn đường

IS thì đứng yên Nhà đầu tư trong nước tìm cách chuyển từ đồng nội tệ sang

đồng ngoại tệ, làm giá của đồng nội tệ giảm Trong dài hạn, tỷ giá hối đoái giảm làmtăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu Việc chuyển đổi đồng nội tệ sang đồng ngoại

tệ diễn ra cho đến khi tỷ giá hối đoái giảm đủ để lãi suất trong nước tăng ngang bằngvới lãi suất nước ngoài

Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảothì chính sách tiền tệ là có hiệu quả

Chính phủ dùng biện pháp hạn chế thương mại: Chính phủ cắt giảm nhu cầu

về hàng nhập khẩu bằng cách đặt ra hạn ngạch nhập khẩu hoặc thuế quan Xuất khẩuròng bằng xuất khẩu trừ đi nhập khẩu, giảm nhập khẩu sẽ làm cho tăng tỷ giá hối

Trang 19

đoái và tăng xuất khẩu ròng, đường xuất khẩu ròng dịch chuyển sang phải.Đường xuất khẩu ròng (NX) dịch chuyển sang phải làm cho đường IS dịch chuyển

sang phải

Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi thì biện pháp hạn chế thương mạichỉ làm tăng tỷ giá hối đoái mà không tác động đến sản lượng Y

Trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách mở rộng tài chính của

chính phủ sẽ làm dịch chuyển đường IS sang phải Để duy trì tỷ giá hối đoái cố địnhthì ngân hàng trung ương phải tăng cung tiền, làm dịch chuyển đường LM sang phảivới quy mô tương ứng

Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tài chính mở rộng

sẽ làm tăng sản lượng Y

Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc tăng cung tiền sẽtạo áp lực làm giảm tỷ giá hối đoái, đường LM dịch chuyển sang phải Để giữ cho tỷgiá hối đoái cố định thì cung tiền phải giảm dẫn đến đường LM phải dịch chuyểnsang trái về vị trí ban đầu

Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tiền tệ không cóhiệu quả

Chính phủ sử dụng thuế quan hoặc hạn ngạch làm giảm nhập khẩu (làm

tăng xuất khẩu ròng), làm dịch chuyển đường IS sang phải Để giữ cho tỷ giá hốiđoái cố định thì chính phủ phải tăng cung tiền lên làm đường LM dịch chuyển sang

phải, sản lượng Y tăng lên

Trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách thương mại là cóhiệu quả

Trang 20

2.2 Tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ mô

2.2.1 Tác động của mất giá tiền tệ lên sản lượng và hai thành phần của nó (đầu

tư và chi tiêu)

Có hai quan điểm ngược nhau trong lý thuyết về tác động của mất giá tiền tệ

lên sản lượng: quan điểm theo nền kinh tế mở của Keynes và quan điểm của NewStructuralist (Edwards, 1986; Agenor, 1991; Acar, 2000; Bahmani-Oskooee vàMiteza, 2003; Kandil, 2004; Kandil, 2013) Dựa trên mô hình vĩ mô của Keynes vềnền kinh tế mở, quan điểm truyền thống cho thấy rằng sự mất giá tiền tệ có tác độngtích cực đối với sản lượng bằng việc dịch chuyển tiêu dùng hàng hóa dịch vụ nhậpkhẩu sang hàng hóa dịch vụ trong nước, điều này làm tăng tổng cầu Mất giá tiền tệlàm dịch chuyển cầu từ hàng hóa nhập khẩu sang hàng hóa trong nước bằng việc tăng

tương đối giá hàng nhập khẩu và giảm tương đối giá hàng xuất khẩu Do đó, mất giá

tiền tệ đẩy mạnh khả năng cạnh tranh quốc tế cho những ngành công nghiệp xuấtkhẩu trực tiếp và làm tăng sản xuất đối với những ngành này, đẩy mạnh xuất khẩuròng, tăng tổng cầu và sản lượng

Tuy nhiên, quá trình này có một tác động mở rộng lên sản lượng ngay cả khikênh khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa hoạt động hiệu quả hay điều kiện Marshall

– Lerner (ML) được đảm bảo

Các nhà kinh tế học New Structuralist phê phán quan điểm từ phía cầu củaKeynes Họ lập luận rằng những tác động bất lợi trong ngắn hạn của mất giá tiền tệlên cả tổng cung và tổng cầu có thể tạo nên áp lực co lại lên sản lượng

Hơn nữa, họ nhấn mạnh rằng, có một vài kênh thông qua mất giá tiền tệ có thểtác động nghịch lên sản lượng Theo quan điểm này, mất giá tiền tệ có thể làm giảm

sản lượng bằng việc làm giảm tổng cầu hoặc tổng cung Những kênh mà thông qua

đó giảm giá tiền tệ có thể làm hạn chế sản lượng bằng việc làm giảm tổng cầu là chi

phí nhập khẩu, số dư tiền thực tế, nợ bên ngoài, phân phối thu nhập, và sự thiếu linh

động, đây chính là điều làm cho sản lượng giảm bằng việc giảm tổng cung theo đầu

vào nhập khẩu và chỉ số lương hưu (Acar, 2000; Bahmani-Oskooee và Miteza, 2003;Berument và Pasaogullari, 2003)

Trang 21

Sự mất giá tiền tệ theo lý thuyết có tác động đến hai thành phần của sản lượng,

tiêu dùng và đầu tư thông qua hai kênh Đầu tiên, sau mất giá tiền tệ, chi tiêu phải

giảm do hiệu ứng của cải, hiệu ứng giá tương đối, cán cân tiền thực và hiệu ứng phânphối thu nhập (Agenor và Monteil, 2008) Tác động ngược lên chi tiêu làm giảm tổngcầu Thứ hai, mất giá tiền tệ làm giảm đầu tư bởi vì đầu tư mới ở những quốc gia

đang phát triển yêu cầu một lượng đáng kể hàng hóa vốn được nhập khẩu Do đó,

mất giá tiền tệ không khuyến khích đầu tư mới bằng việc tăng giá tương đối của hànghóa vốn cho nên giảm nhập khẩu tạo áp lực làm giảm tổng cầu

2.2.2 Tác động của mất giá tiền tệ lên cán cân thương mại

Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, sự mất giá tiền tệ làm cải thiện cán cân thươngmại nhưng chưa có sự đồng nhất về sự cải thiện này Có ba lập luận chính cho tác

động của mất giá tiền tệ lên cán cân thương mại

Thứ nhất, mất giá tiền tệ có thể điều chỉnh cán cân thương mại về mức cânbằng bằng việc làm tăng mức giá tương đối của hàng hóa nhập khẩu, do đó làm tăngsản lượng xuất khẩu và giảm sản lượng nhập khẩu Trong điều kiện Marshall – Lerner(ML), mất giá tiền tệ sẽ làm cải thiện cán cân thương mại nếu tổng độ co giãn tổngcung và tổng cầu lớn hơn một Tuy nhiên, những lập luận khác và bằng chứng thựcnghiệm cho thấy điều kiện ML trong thực tế không được thỏa Trong trường hợp này,

sự biến động của cán cân thương mại theo sau sự mất giá tuân theo quy luật đườngcong chữ J: mất giá tiền tệ làm xấu đi cán cân thương mại trong ngắn hạn và cải thiệntrong dài hạn Do đó, lập luận thứ nhất này giải thích sự biến động của cán cân thươngmại trong hai khái niệm: điều kiện ML và quy luật đường cong chữ J (Bahmani-Oskooee và Ratha, 2004; Bahmani-Oskooee và Hegerty, 2010; Bahmani-Oskooee vàcác cộng sự, 2013)

Lập luận thứ hai cho rằng mất giá tiền tệ làm cải thiện cán cân thương mạithông qua hiệu ứng khuyến khích chi tiêu hàng nội địa và hiệu ứng giảm chi tiêu Tác

động ngay đó là khuyến khích tiêu dùng sản phẩm được sản xuất trong nước trongkhi tác động sau đó làm giảm chi tiêu do hiệu ứng số dư tiền thực và lãi suất cao hơn;hai tác động này làm cải thiện cán cân thương mại

Trang 22

Lập luận thứ ba chỉ ra rằng mất giá tiền tệ làm cải thiện cán cân thương mại

do kết quả của giảm chi tiêu thực từ tác động của số dư tiền thực của mất giá tiền tệ

2.2.3 Tác động của mất giá tiền tệ lên lạm phát

Tỷ giá tác động đến lạm phát thông qua các kênh:

(1) Kênh tổng cung- tổng cầu, theo trường phái Keynes

(2)Thông qua kênh cung cầu tiền tệ

(3) Theo kênh mức giá chung

(4) Thông qua lạm phát kỳ vọng

Kênh th ứ nhất: phân tích tác động của tỷ giá tới lạm phát dựa trên mô hình

tổng cầu – tổng cung (AD-AS) theo đó, tỷ giá tác động đến lạm phát qua xuất khẩuròng đó là khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngoài, xuất khẩu ròng tăng

lên, cán cân thương mại có thể được cải thiện; do xuất khẩu ròng là một thành phần

của tổng cầu AD, nên khi xuất khẩu ròng tăng, đường AD dịch chuyển lên trên trong

mô hình AD-AS, tác động làm lạm phát gia tăng

Kênh th ứ hai: phân tích tác động của tỷ giá đến lạm phát thông qua mô hình

IS-LM Theo đó, tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán Cơ chếtruyền dẫn này trải qua hai giai đoạn:

Khi xảy ra mất giá tiền tệ, xuất khẩu ròng sẽ tăng lên, góp phần cải thiện tìnhtrạng cán cân thương mại Mặt khác khi xuất khẩu ròng tăng, đường IS dịch chuyểnsang phải (mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên, trong ngắn hạn luồng vốn

đổ vào trong nước tăng (nguồn vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp) làm cán cân vốntăng lên, từ đó cán cân thanh toán tổng thể được cải thiện

Khi cán cân thanh toán tổng thể thặng dư, tức là luồng vốn nước ngoài đổ vào

trong nước tăng lên, lúc này sẽ có hai khả năng xảy ra:

-1- NHTW sẽ phải cung ứng thêm tiền để mua ngoại tệ nhằm giữ tỷ giá không bị

giảm xuống để khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, mặt khác để tăng

cường dự trữ ngoại hối quốc gia Như vậy, tác động không mong muốn là cung tiềntăng lên, đường LM dịch chuyển sang phải trong mô hình IS- LM làm cân bằng tiền

hàng trong nền kinh tế thay đổi (Thông qua phương trình trao đổi tiền hàng của

Trang 23

2.2.4 Tác động của mất giá tiền tệ lên cung tiền và lãi suất

Tỷ giá và lãi suất hay tỷ giá và cung tiền chỉ có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau một cách gián tiếp, chứ không phải là mối quan hệ trực tiếp và nhân quả

Theo đó, mất giá tiền tệ tác động lên cung tiền và lãi suất theo sau tác động của nó

lên lạm phát Bởi vì lạm phát tăng, cung tiền thực giảm và lãi suất danh nghĩa tăng.Kết quả là, mất giá tiền tệ dẫn đến số dư tiền thực thấp hơn và mức lãi suất danh nghĩa

cao hơn

2.3 Các b ằng chứng thực nghiệm

2.3.1 B ằng chứng thực nghiệm từ các quốc gia trên thế giới

 Những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mất giá tiền tệ và tác động của

nó đến các biến số kinh tế kết luận những xem xét về tác động của mất giá tiền tệ

lên các biến số của nền kinh tế sử dụng những kỹ thuật khác nhau, bao gồm phântích bình phương tối thiểu, mô phỏng mô hình kinh tế vĩ mô, hồi quy dữ liệu bảng,

và mô hình vector tự hồi quy (VAR) đưa ra bằng chứng liên quan đến tác động củamất giá tiền tệ đến các hoạt động kinh tế chưa thống nhất:

M ột vài nghiên cứu chỉ ra rằng mất giá tiền tệ có xu hướng khuyến khích các

ho ạt động kinh tế (Domac, 1997; Mills và Pentecost, 2001).

Domac (1997) đã nghiên cứu tác động của mất giá tiền tệ không lường trướcđến các hoạt động kinh tế thông qua các biến số vĩ mô sản lượng, giá năng lượng

thực, chi tiêu chính phủ thực, cung tiền M2 và lãi suất ở Thỗ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn

1960 - 1990 Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng thực nghiệm rằng sự mất giá tiền tệ

không lường trước có tác động tích cực đến các hoạt động kinh tế

Mills và Pentecost (2001) nghiên cứu tác động của sự thay đổi tỷ giá thực lên

sự tăng trưởng đầu ra thực tế, cả dài hạn và ngắn hạn được kiểm tra bằng dữ liệu hàngquý cho một nhóm bốn nền kinh tế thị trường đang phát triển ở Trung và Đông Âubao gồm Cộng Hòa Séc, Hungary, Ba Lan và Slovakia trong giai đoạn 1992-1998.Bao gồm các biến sản lượng thực, cung tiền thực, tỷ lệ tiền lương thực và tỷ giá hối

đoái thực Kết quả cho thấy, trong ngắn hạn mất giá tiền tệ có tác động tích cực hoặc

trung lập đến sản lượng

Trang 24

Fisher: M.V=P.Y, trong đó: M là mức cung tiền, V là vòng quay tiền tệ, P là mức giá,

Y là sản lượng Khi M tăng, các yếu tố khác không đổi sẽ làm cho P tăng tức là lạm

phát tăng lên), do đó lạm phát sẽ tăng lên

-2- NHTW không vì mục tiêu giữ cho đồng bản tệ được định giá thấp để khuyến

khích xuất khẩu và giả định rằng dự trữ ngoại hối đã đủ mức cần thiết và không cần

tăng thêm, trong trường hợp cán cân tổng thể thặng dư thì vẫn có một lượng ngoại tệtăng lên trong nền kinh tế Với những nước có nền kinh tế bị đôla hóa ở mức độ cao,

tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế trong trường hợp này vẫn tăng lên vì nóbao gồm hai phần là: Tổng phương tiện thanh toán bằng nội tệ và tổng phương tiệnthanh toán bằng ngoại tệ Khi tổng phương tiện thanh toán tăng lại gây sức ép lên giá

cả và đẩy lạm phát tăng lên

Kênh th ứ ba: Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua giá hàng nhập khẩu Giá

hàng nhập khẩu bị tác động bởi hai thành phần là giá nhập khẩu trên thị trường thếgiới và tỷ giá danh nghĩa Khi tỷ giá danh nghĩa tăng làm giá hàng nhập khẩu tăng và

ngược lại Hàng nhập khẩu có thể là hàng hóa phục vụ cho sản xuất trong nước hoặc

phục vụ tiêu dùng Nếu là hàng nhập khẩu phục vụ sản xuất, khi tỷ giá tăng dẫn đếnchi phí các yếu tố đầu vào tăng, sản phẩm đầu ra cũng phải tăng giá Nếu là hàngnhập khẩu tiêu dùng, khi tỷ giá tăng dẫn đến giá của hàng hóa tính bằng nội tệ tăngnên cũng là một nguyên nhân gây ra lạm phát Tuy nhiên, ảnh hưởng của giá hàngnhập khẩu đến lạm phát sẽ biểu hiện rõ hơn khi quốc gia có tỷ lệ nhập khẩu/GDP lớn,còn với những nước có tỷ lệ này nhỏ, dẫn truyền từ sự thay đổi của tỷ giá qua giáhàng nhập khẩu đến lạm phát là không đáng kể

Kênh th ứ tư: Ngoài ba kênh dẫn truyền trên còn một nhân tố nữa tác động đến

lạm phát kỳ vọng Lãi suất huy động của đồng nội tệ có thể đại diện cho sự kỳ vọng

về lạm phát do cơ sở để xác định lãi suất huy động là kỳ vọng trung bình của nhà đầu

tư về lạm phát và lãi suất thực dương Việc điều chỉnh tỷ giá liên tục của NHTW có

thể khiến cho lãi suất huy động đồng nội tệ tăng cao Điều này sẽ làm giảm lòng tincủa dân chúng và nhà đầu tư khi có sự kỳ vọng về giảm giá đồng nội tệ trong tương

lai, gây ra vòng xoáy “lạm phát-tỷ giá”

Trang 25

Trong khi nh ững nghiên cứu khác đưa ra bằng chứng ngược lại (Edwards, 1986; Sawyer và Sprinkle, 1987; Kamin và Klau, 1998; Acar, 2000; Kamin và Rogers, 2000).

Theo đó, Edwards (1986) nghiên cứu tác động của thay đổi tỷ giá hối đoáithực lên tăng trưởng sản lượng thực bằng việc phân tích dữ liệu hàng năm cho mộtnhóm 12 quốc gia đang phát triển bao gồm Ấn Độ, Malaysia, Philipin, Sri Lanka,Thái Lan, Hy Lạp, Israel, Braxin, Colombia, El Salvador, Nam Phi và Nam Tư, trong

giai đoạn 1965-1980, sử dụng mô hình xem xét ảnh hưởng của các biện pháp tăngtrưởng cung tiền, chi tiêu chính phủ, các điều khoản thương mại và tỷ giá hối đoái

thực Các kết quả thu được đưa ra bằng chứng hỗ trợ cho giả thuyết rằng sự mất giátiền tệ có tác động tiêu cực đối với sản lượng thực trong ngắn hạn; về tác động lâudài của sự mất giá tiền tệ là không thống nhất nhưng nghiên cứu cho thấy rằng tác

động tiêu cực ban đầu không được đảo ngược sau đó

Sawyer và Sprinkle (1987) sử dụng một mô hình cân bằng tổng thể có thể khảtoán (Computable General Equilibrium - CGE) phân tích tác động ngắn hạn của mấtgiá tiền tệ đối với một số biến số tế vĩ mô như biến số sản lượng, lạm phát và cán cân

thương mại tại Mexico năm 1980 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự mất giá tiền tệ làm

giảm nhập khẩu, làm cải thiện cán cân thương mại và có tác động tiêu cực đến nềnkinh tế vĩ mô trong nước

Kamin và Klau (1998) phân tích tác động của sự mất giá tiền tệ đối với sảnlượng dựa trên dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1970-1996 cho 27 quốc gia bao gồm

8 nước châu Mỹ Latinh (Bolivia, Braxin, Chilê, Colombia, Ecuador, Mexico,Uruguay và Venezuela), 6 nước châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Philippines,

Đài Loanvà Thái Lan) và 13 nước công nghiệp (Úc, Canada, Đan Mạch, Phần Lan,

Pháp, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Vươngquốc Anh) Kết quả của nghiên cứu không xác nhận quan điểm truyền thống hoặcsách giáo khoa rằng sự phá giá tiền tệ có tác động khuyến khích các hoạt động kinh

tế về lâu dài

Trang 26

Acar (2000) nghiên cứu về những tác động của sự mất giá đối với tăng trưởngsản lượng ở các nước kém phát triển (LDCs) dựa trên dữ liệu của 18 quốc gia(Colombia, El Salvador, Hy Lạp, Ấn Độ, Israel, Malaysia, Philipin, Nam Phi, SriLanka, Thái Lan, Bangladesh, Burundi, Gambia, Haiti, Nepal, Niger, Rwanda vàTogo) trong giai đoạn 20 năm Nghiên cứu đưa ra bằng chứng cho thấy trong ngắnhạn, mất giá tiền tệ tạo ra một tác động tiêu cực lên sản lượng.

Kamin và Rogers (2000) đánh giá sự tương quan hai chiều giữa sản lượng thựcvới tỷ giá hối đoái thực và với chỉ số giá dựa trên dữ liệu quý từ quý 1 năm 1980 đến

quý 2 năm 1996 của Mexico Nghiên cứu kết luận rằng sự mất giá tiền tệ thực tế đã

dẫn tới lạm phát cao và sự suy giảm kinh tế ở Mexico

 Trong những nghiên cứu thực nghiệm gần đây, những kỹ thuật kinh tế hiệnđại như mô hình VAR với dữ liệu bảng và đồng liên kết, phương pháp đồng liên kết

với dữ liệu chuỗi thời gian, VAR ràng buộc dấu (Sign Restriction VAR), phân tíchchuỗi thời gian phi tuyến được sử dụng rộng rãi để phân tích tác động của mất giátiền tệ lên những biến số cơ bản của nền kinh tế Như những nghiên cứu trước, nhữngnghiên cứu gần đây tập trung vào những quốc gia đang phát triển Tuy nhiên, một vàinghiên cứu (như Ahmed và các cộng sự 2002, Kandil 2013, An và các cộng sự 2014,Kim và các cộng sự 2015) xác định tác động của mất giá tiền tệ lên các biến vĩ mô cảnhững quốc gia phát triển và đang phát triển Cũng như những nghiên cứu trước,những nghiên cứu gần đây cũng không đưa ra được cái nhìn thống nhất

M ột số nghiên cứu kết luận rằng sự mất giá tiền tệ có tác động ngược chiều lên các bi ến số và gây ra lạm phát (Chou và Chao, 2001; Berument và Pasaogullari, 2003; Kandil và Mirzaie, 2005; Kandil và các c ộng sự, 2007, Bjornland và Halvorsen, 2013; Kandil, 2013; An và các c ộng sự, 2014; Kim và các cộng sự, 2015; Yildirim và Ivrendi, 2016).

Chou và Chao (2001) nghiên cứu tác động của mất giá tiền tệ lên tổng cầudựa trên số liệu của năm quốc gia chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năm 1997bao gồm Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines và Thái Lan trong giai đoạn

từ 1966 – 1998 Bằng chứng cho thấy mất giá tiền tệ có tác động ngược chiều lên

Trang 27

tổng sản lượng trong ngắn hạn, trong dài hạn thì không có tác động ngoại trừIndonesia Ảnh hưởng ngắn hạn của việc giảm giá góp phần làm giảm tổng cầu domức giá tăng cao hơn.

Berument và Pasaogullari (2003) nghiên cứu tác động của mất giá tiền tệ thựclên các biến số vĩ mô của Thổ Nhĩ Kỳ dựa theo dữ liệu hàng quý từ quý 1 năm 1987

đến quý 3 năm 2000 Phân tích sử dụng mô hình VAR, bằng chứng cho thấy mất giá

tiền tệ thực tác động ngược đến các biến số vĩ mô, ngay cả khi lãi suất thế giới, thươngmại quốc tế và dòng vốn được kiểm soát Hơn nữa kết quả đạt được từ nghiên cứunày cho thấy sự mất giá tiền tệ gây ra lạm phát

Kandil và Mirzaie (2005) phân tích dữ liệu chuỗi thời gian dựa trên dữ liệu

hàng năm trong giai đoạn 1971 -2000, xem xét ảnh hưởng của biến động tỷ giá đối

với sản lượng thực tế và giá cả trong một mẫu của 33 quốc gia đang phát triển baogồm: Algeria, Argentina, Bangladesh, Bolivia, Brazil, Chilê, Colombia, Costa Rica,Síp, Ecuador, Ai Cập, El-Salvador, Ethiopia, Gambia, Ghana, Ấn Độ, Indonesia, Iran,Jordan, Libya, Malaysia, Oman, Pakistan, Paraguay , Peru, Philippines, Qatar, NamPhi, Sri Lanka, Syria, Tunisia và Thổ Nhĩ Kỳ Kết quả cho thấy mất giá tiền tệ ảnh

hưởng tiêu cực đến tăng trưởng sản lượng và lạm phát giá cả

Kandil và các cộng sự (2007) kiểm tra tác động của biến động tỷ giá đối vớisản lượng thực tế, mức giá, và giá trị thực tế của các thành phần của tổng cầu ở ThổNhĩ Kỳ dựa trên dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1980 – 2004 Bài nghiên cứu đưa

ra bằng chứng rằng sự mất giá tiền tệ làm giảm tăng trưởng sản lượng thực tế, tăng

trưởng của tiêu dùng cá nhân và đầu tư vào Thổ Nhĩ Kỳ và gây ra lạm phát

Bjornland và Halvorsen (2013) phân tích sự tương tác giữa chính sách tiền tệ

và tỷ giá hối đoái trên 6 nền kinh tế mở (với lạm phát mục tiêu) gồm Canada, NewZealand, Na Uy, Thụy Điển và Vương quốc Anh từ quý 1 năm 1990 đến quý 4 năm

2009 Bằng việc áp dụng mô hình VAR ràng buộc dấu và ràng buộc ngắn hạn, bàinghiên cứu cho thấy bằng chứng rằng mất giá tiền tệ làm tăng lãi suất và gây ra lạmphát

Kandil (2013) bài nghiên cứu sử dụng số liệu hàng năm giai đoạn 1978 – 2008, nghiên

Trang 28

cứu các bằng chứng về chuỗi thời gian liên quan đến sự phân bố tác động của cácbiến động về tỷ giá hối đoái đến các thành phần của cầu (chi tiêu và đầu tư), tăng

trưởng thực và lạm phát giá cả trong một mẫu của các nước đang phát triển

(Argentina, Ai Cập, Ấn Độ, Indonesia, Kenya, Malaysia, Mexico, Nigeria, Philipin,Nga, Rwanda, Ả-rập Xê-út, Nam Phi, Sudan, Tanzania, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ,Venezuela) và các nước tiên tiến (Úc, Áo, Bỉ, Canada, Trung Quốc, Cộng Hòa Síp,

Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Israel, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Luxemburg, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Singapore,Thụy Sĩ, Đài Loan, Anh, Mỹ) Bằng chứng cho thấy biến đổi tỷ giá hối đoái làm giảm

xu hướng tăng trưởng thực và làm tăng lạm phát giá cả

An và các cộng sự (2014) bài nghiên cứu kiểm tra tác động của sự thay đổi tỷgiá thực tế - sự mất giá thực tế hoặc sự giảm giá thực đối với sản lượng ở 16 quốc gianằm trong 3 nhóm: các nước Mỹ Latinh, các nước châu Á và các nước phát triểnkhông thuộc G3 bao gồm Argentina, Áo, Úc, Braxin, Canada, Chilê, Đan Mạch, HànQuốc, Malaysia, Indonesia, Hà Lan, Mexico, NewZealand, Philippines, Bồ Đào Nha,

và Thụy Sỹ dựa trên dữ liệu hàng quý từ năm 1973 đến năm 2012 Phân tích đượcdựa trên mô hình VAR (Vector Invasion) với phương pháp ràng buộc dấu được đưa

ra bởi Uhlig (2005) và Fry và Pagan (2011) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự mấtgiá tiền tệ tạo ra một tác động ngược chiều lên sản lượng đồng nhất ở các nhóm nước

và gây ra lạm phát Và cho rằng không nên dựa vào tác động ngược này để đạt được

tỷ giá hối đoái mục tiêu, bởi vì tỷ giá mục tiêu không thể đạt được trên cơ sở sự mất

giá kéo dài và điều này gây ra lạm phát rất cao

Yildirim và Ivrendi (2016) sử dụng mô hình VAR ràng buộc dấu dựa trên dữliệu hàng quý của bốn nền kinh tế mở nhỏ đang phát triển nhanh bao gồm Thỗ Nhĩ

Kỳ, Nam Phi, Nga và Braxin trong giai đoạn từ quý 1 năm 1987 đến quý 4 năm 2012choThổ Nhĩ Kỳ, từ quý 1 năm 1996 đến quý 4 năm 2012 cho Nga, và từ quý 1

năm1995 cho đến quý 4 năm 2012 cho Braxin và Nam Phi Bài nghiên cứu phân tíchtác động của cú sốc mất giá tiền tệ đến các hoạt động kinh tế và trả lời câu hỏi liệu

rằng mất giá tiền tệ có tạo áp lực lạm phát lên nền kinh tế Mô hình nghiên cứu bao

Trang 29

gồm 10 biến nội sinh (sản lượng, đầu tư, chi tiêu, lạm phát, lãi suất, cung tiền, tỷ giáthực, xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại) và 3 biến ngoại sinh (lãi suất thếgiới, chỉ số giá tiêu dùng thế giới và giá dầu thế giới) Kết quả nghiên cứu chỉ chỉ rarằng mất giá tiền tệ tạo nên tình trạng suy thoái sâu trong khi cải thiện cán cân thươngmại và lạm phát cao trong nền kinh tế do sự phụ thuộc cao vào nhập khẩu đầu vào ởbốn quốc gia.

Tuy nhiên, nh ững nghiên cứu khác chỉ ra rằng mất giá tiền tệ không tác động ngược lên các biến số và cũng không gây ra lạm phát (Christopoulos, 2004; Kim và Ying, 2007; Ratha, 2010; Bahmani-Oskooee và Gelan, 2013).

Christopoulos (2004) Sử dụng các kiểm nghiệm đơn vị và tính đồng liên kết,kết hợp với mô hình ước lượng fully modified OLS của dữ liệu xem xét mối quan hệcủa việc giảm giá tiền tệ đối với tăng trưởng đầu ra trong một mẫu mười một quốcgia ở Châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Myanmar, Nepal, Pakistan,Philipin, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan) trong giai đoạn 1968-1999 Kết quả chothấy trong dài hạn, năm trong số 11 quốc gia được kiểm tra, và đối với toàn bộ bảng

dữ liệu, mất giá tiền tệ có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng sản lượng, riêng đốivới ba nước - Indonesia, Myanmar và Philippines – mất giá tiền tệ cải thiện triển vọng

tăng trưởng và không có dấu hiệu cho thấy mất giá tiền tệ gây ra làm phát Những kết

quả này khác nhiều so với bằng chứng của Chou và Chao (2001), mất giá tiền tệkhông gây ảnh hưởng đến việc mở rộng sản lượng trong dài hạn

Kim và Ying (2007) nghiên cứu sử dụng dữ liệu hàng quý điều tra xem liệu

sự mất giá tiền tệ có khả năng giảm sản lượng trong nước ở các nước Đông Á như ởcác quốc gia châu Mỹ Latinh như đã đề xuất trong nhiều nghiên cứu trước đây chobảy quốc gia ở Đông Á: Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Đài

Loan và Thái Lan Để so sánh, hai nước Mỹ Latinh được lựa chọn: Chile và Mexico

Thời kỳ lấy mẫu khác nhau cho mỗi quốc gia, dài nhất Cho Malaysia (1970: 1 - 2000:1) và ngắn nhất cho Indonesia (1981: 1 - 1999: 2) Nghiên cứu không tìm thấy bằngchứng của việc mất giá tác động thu hẹp đến nền kinh tế cũng như gây ra lạm phát

Trang 30

Trên thực tế, sự mất giá tiền tệ có tác động mở rộng đến nền kinh tế ở một số

nước Điều này tương phản với trường hợp Chile và Mexico

Ratha (2010) sử dụng mô hình kiểm định đồng liên kết và hiệu chỉnh sai sốdựa trên dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1973 – 2006, nghiên cứu tác động của mấtgiá tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ thông qua hai kiểm tra: một là, sự mất giádanh nghĩa của đồng rupee có dẫn đến sự mất giá thực của nó và hai là, sự mất giáthực của đồng rupee có cải thiện cán cân thương mại của Ấn Độ Bằng chứng chothấy mất giá tiền tệ tác động làm giảm tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không đáng

kể và trong dài hạn có tác động mở rộng hoạt động kinh tế, cải thiện cán cân thươngmại và không có bằng chứng gây ra lạm phát

Bahmani-Oskooee và Gelan (2013) xem xét thực nghiệm các ảnh hưởng củamất giá tiền tệ đến sản lượng trong nước ở mỗi quốc gia của 22 quốc gia châu Phibao gồm Algeria, Burkina Faso, Burundi, Cameroon, Cote d'lvoire, Ai Cập, Ethiopia,Gabon, Kenya, Lesotho, Madascar, Malawi, Mauritius, Morocco, Niger, Nigeria,Rwanda, Sierra Leone, Nam Phi, Tanzania, Togo, Tunisia, sử dụng phương phápkiểm định nghiệm đơn vị và mô hình hiệu chỉnh sai số dựa trên dữ liệu hàng năm

trong giai đoạn 1971 – 2009 Bài nghiên cứu chứng minh rằng cả trong ngắn hạn

cũng như dài hạn mất giá tiền tệ có tác động thu hẹp sản lượng trong nước ở nămquốc gia Algeria, Mauritius, Rwanda, Tanzania và Tunisia Trong khi, mất giá tiền tệ

có tác động mở rộng sản lượng ở tám quốc gia Cote d'lvoire, Ethiopia, Gabon, Kenya,

Ma-rốc, Niger, Nigeria và Togo và không có dấu hiệu gây lạm phát ở các nước.Những phát hiện này mâu thuẫn với các nghiên cứu trước đây liên quan đến ChâuPhi cho rằng sự mất giá tiền tệ có tác động thu hẹp sản lượng

 Bằng chứng về tác động của mất giá tiền tệ lên cán cân thương mại cũng

không thống nhất, với một vài nghiên cứu nhận ra rằng mất giá tiền tệ cải thiện cán

cân thương mại (Sawyer và Sprinkle, 1987; Ratha, 2010; Yildirim và Ivrendi, 2016)

và một số khác đưa ra bằng chứng rằng mất giá tiền tệ làm xấu đi cán cân thương mạitrong ngắn hạn nhưng cải thiện nó trong dài hạn (Bahmani – Oskooee và Ratha, 2004;Bahmani – Oskooee và Hegerty, 2010; Bahmani - Oskooee và các cộng sự, 2013)

Trang 31

Bahmani – Oskooee và Ratha (2004) thực hiện bài tóm lược lý thuyết về đườngcong chữ J, đường cong được đưa ra từ Magee năm 1973 Bằng những bằng chứngthực nghiệm, tác giả cho thấy sự mất giá tiền tệ là xấu đi cán cân thương mại trongngắn hạn và cải thiện nó trong dài hạn.

Bahmani – Oskooee và Hegerty (2010) tóm lược những nghiên cứu thựcnghiệm liên quan đến lý thuyết đường cong chữ J và đường cong chữ S Các đườngcong J và S cho thấy sự mất giá tiền tệ có làm xấu thêm cán cân thương mại trước khicải thiện nó

Bahmani - Oskooee và các cộng sự (2013) dựa trên nguyên lý điều kiệnMarshall-Lerner (ML), các tác giả tiến hành thực hiện các kiểm định liệu rằng nhữngnghiên cứu thực nghiệm trước đó liệu có ý nghĩa thống kê không Nghiên cứu sửdụng các kiểm định t-test và kiểm chứng bằng mô hình tự hồi quy phân phối trễ(Autoregressive Distributed Lag – ARDL) dựa trên dữ liệu hàng năm trong giai đoạn

1971 - 2009 để ước lượng độ co giãn xuất nhập khẩu và kiểm định điều kiện ML của

29 quốc gia bao gồm Úc, Áo, Bỉ, Trung Quốc, Hồng Kông, Colombia, Đan Mạch,

Đức, Phần Lan, Hy Lạp, Hungary, Ireland, Iceland, Israel, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc,

Ma-rốc, Hà Lan, New Zealand, Nauy, Ba-lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha , Thụy Điển, NamPhi, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ Các tác giả đánh giá lại việc sử dụng các hệ số và các sai sốtiêu chuẩn của những nghiên cứu trước cho thấy, thực sự không được trong một nửa

các trường hợp đáp ứng điều kiện ML

Như vậy, từ những nghiên cứu trước đây và những nghiên cứu gần đây sử

dụng cả những phương pháp đơn giản nhất cho đến những phương pháp hiện đại nhấtcũng mang lại nhiều kết quả chưa thống nhất, kết quả còn nhiều tranh cãi Đây là lý

do tác giả tiến hành bài nghiên cứu của mình nhằm đóng góp bằng chứng thực nghiệm

về tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ mô cho Đông Nam Á nói chung vàViệt Nam nói riêng

2.3.2 Các b ằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Trang 32

Tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giáhối

đoái và các biến số vĩ mô tập trung đến việc xem xét tác động tỷ giá đối với lạm phát

và cán cân thương mại

Hoàng Đình Minh (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá đến xuất nhập khẩutrong giai đoạn 2005 đến 2012 Bài nghiên cứu kết luận rằng phá giá VND không

chắc giúp Việt Nam tăng được xuất khẩu mà còn tạo ra nguy cơ nhập khẩu lạm phát,

đối với những hàng hóa được sản xuất cho mục đích sử dụng trong nước nhưng phải

nhập khẩu nguyên vật liệu

Nguyễn Hữu Tuấn và các cộng sự (2014) nghiên cứu này đo lường ảnh hưởngcủa tỷ giá hối đoái và thu nhập quốc dân ảnh hưởng đến cán cân thương mại song

phương giữa Việt Nam và các đối tác thương mại lớn và mô phỏng đường cong chữ

J của Việt Nam Sử dụng mô hình VECM để đo lường mối quan hệ dài hạn giữa cácbiến Kết quả phân tích cho thấy cán cân thương mại song phương đồng biến với tỷgiá hối đoái thực song phương Kỹ thuật IRF cho thấy không có đường cong chữ Jcủa cán cân thương mại song phương giữa Việt Nam với các đối tác thương mại lớn

Trần Văn Hùng (2015) sử dụng mô hình VAR phân tích dữ liệu hàng tháng

trong giai đoạn 2002-2014, bài viết phân tích tác động truyền dẫn tỷ giá hối đoái đến

lạm phát tại Việt Nam trước và sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) Kết quả nghiên cứu cho thấy một sự gia tăng trong tỷ giá (đồng tiền mất giá)

có thể dẫn đến lạm phát tăng lên

Trần Ngọc Thơ và Nguyễn Thị Ngọc Trang (2015) phân tích truyền dẫn tỉ giáhối đoái vào chỉ số giá nội địa dưới tác động của môi trường lạm phát bằng cách sửdụng mô hình Vector tự hồi quy ngưỡng (Threshold Vector Autoregression - TVARvới các biến lạm phát, tỉ giá danh nghĩa đa phương, Output Gap (chênh lệch GDP) vàlãi suất liên ngân hàng theo dữ liệu tháng trong giai đoạn từ tháng 1/2000 đến tháng12/2014 Kết quả tìm khi có cú sốc tỉ giá dương, lạm phát tăng mạnh và sau đó trở vềmức cân bằng

Trang 33

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Lý do l ựa chọn mô hình VAR

Trong kinh tế, mối quan hệ giữa các biến số kinh tế không chỉ đơn thuần làmối quan hệ một chiều, biến độc lập tác động lên biến phụ thuộc mà biến phụ thuộccũng có tác động ngược lại lên biến độc lập Do đó, cần phải xem xét ảnh hưởng qualại của các biến này cùng một lúc, chính vì thế mô hình được đưa vào nghiên cứu là

mô hình nhiều phương trình Mô hình VAR – Vector tự hồi quy được sử dụng phổbiến trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô, được đưa ra bởi hai tác giả Chrishtopher A Sim

và Thomas J Sargent và đoạt giải Nobel kinh tế vào năm 2011

Trong mô hình VAR, một biến không những chịu ảnh hưởng từ tác động hiệntại của các biến khác mà còn chịu ảnh hưởng bởi độ trễ của chính nó và độ trễ củacác biến khác trong quá khứ Về bản chất VAR là sự kết hợp của 2 phương pháp: tựhồi quy đơn chiều (univariate autoregression - AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên(simultanous equations - SEs) VAR hay ở chỗ có được ưu điểm của AR là dễ ước

lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) và ưu điểm của SEs là ướclượng nhiều biến trong cùng một hệ thống Đồng thời khắc phục nhược điểm của SEs

là không cần lưu tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế (Endogeneity) Tức là cácbiến kinh tế vĩ mô thường mang tính nội sinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau.Thuộc tính này làm cho phương pháp cổ điển hồi quy bội dùng một phương trình hồiquy nhiều khi bị sai lệch khi ước lượng Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trởnên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô

Mô hình VAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình)

và có các trễ của các biến số VAR là mô hình động của một số biến thời gian Môhình VAR tổng quát đối với hai biến số Y1, Y2 và trễ p bước có dạng sau đây:

Trang 34

Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn.

Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cú sốc trên

một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống qua hàm phản ứngxung IRF

Phân tích mức tác động của cú sốc mỗi biến trong việc giải thích biến độngcủa một biến trong mô hình qua chức năng phân rã phương sai (Variancedecomposition)

Ngoài những ưu điểm nổi trội của mô hình VAR là tất cả các biến trong môhình đều là biến nội sinh và được sử dụng khi cần phần tích và xem xét mối quan hệcủa nhiều chuỗi thời gian khác nhau thì mô hình VAR là lựa chọn phù hợp thì môhình VAR còn có một số hạn chế:

(1) Mô hình VAR chỉ áp dụng đối với trường hợp tất cả các biến đều dừng.Cho nên khi sử dụng mô hình VAR cần xem xét đến tính dừng của các biến trong môhình Yêu cầu đặt ra là khi ước lượng mô hình VAR tất cả các biến phải dừng, trườnghợp các biến này chưa dừng phải lấy sai phân để đảm bảo chuỗi dừng để tránh hồiquy giả mạo

(2) Có quá nhiều tham số phải ước lượng nếu mô hình có nhiều biến với độ trễlớn Giả sử mô hình đang xem xét có k biến và có p độ trễ thì số tham số cần ước

lượng của mô hình là k+kkp tham số

(3) Mô hình VAR không đo lường được tác động của kỳ hiện tại giữa các biếnvới nhau mà chỉ đo lường được tác động của các giá trị quá khứ đến giá trị hiện tạigiữa các biến

Trang 35

3.1.2 Gi ới thiệu mô hình VAR cấu trúc (Structure VAR – SVAR)

Trong mô hình này mỗi biến được biểu diễn dưới dạng hàm tuyến tính củabiến khác hiện tại, biến trễ của chính nó và biến trễ của biến khác trong mô hình Môhình VAR cấu trúc đơn giản với hai biến và trễ một bước có dạng:

y1t= a10+ a11y2t+ a12y1(t-1)+ a13y2(t-1)+1t

y2t= a20+ a21y1t+ a22y1(t-1)+ a23y2(t-1)+2t

Mô hình VAR dạng cấu trúc tổng quát với m biến và độ trễ p bước được viết

khi đối tượng nghiên cứu lý thuyết và quốc gia nghiên cứu có nhiều nghiên cứu trước

tin cậy được thừa nhận bởi các báo chí lớn trong nước và ngoài nước Việc sử dụngcác ràng buộc từ các nghiên cứu không tin cậy hoặc là có quá ít nghiên cứu tin cậytại khu vực thực nghiệm không đủ để xây dựng ma trận ràng buộc Tại các quốc giaViệt Nam, Singapore, Malaysia, Thái Lan mặc dù có các nghiên cứu về truyền dẫn

tỷ giá, tuy nhiên không có nhiều nghiên cứu về các đối tượng vĩ mô tương tự khungbiến tác giả Do đó để tránh ràng buộc sai các quan hệ giữa các yếu tố, tác giả không

sử dụng phương pháp SVAR

3.1.3 Gi ới thiệu mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM

Mô hình VECM là một dạng của mô hình VAR tổng quát, được sử dụng thaythế cho mô hình VAR trong trường hợp chuỗi dữ liệu là không dừng và có tồn tạimối quan hệ đồng liên kết bằng cách sử dụng phương pháp hợp lý cực đại của Johasen(1995)

Tất cả các biến đưa vào mô hình VECM phải là chuỗi gốc, chưa lấy sai phân.Tuy nhiên, việc hồi quy các chuỗi thời gian không dừng thường dẫn đến kết quả hồiquy giả mạo mặc dù kết quả hồi quy có giá trị R-squared khá cao Engle và Granger

Trang 36

(1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng có thể làmột chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết Kếthợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và có thể được giải thích

như mối quan hệ cân bằng trong dài hạn giữa các biến Và nếu như mô hình là đồng

liên kết thì sẽ không xảy ra trường hợp hồi quy giả mạo

Mô hình VECM cung cấp một phương tiện để giải quyết tính không dừng vốn

có của các biến sử dụng trong mô hình Ngoài ra, nó cho phép lưu giữ những thôngtin quan trọng hàm chứa trong biến gốc (biến chưa lấy sai phân)

3.1.4 Phương Pháp nghiên cứu

Để xem xét tác động của mất giá tiền tệ đến các biến số vĩ mô, tác giả sử dụng

mô hình tương tự của Yildirim và Ivrendi (2016)

Yildirim và Ivrendi (2016) nghiên cứu tác động của mất giá tiền tệ đến cácbiến số bằng mô hình bao gồm mười biến nội sinh là sản lượng (GDP) và hai thànhphần của sản lượng: đầu tư (INV) và chi tiêu (CONS), chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lãisuất (RATE), cung tiền thực (M), tỷ giá hối đoái thực hiệu lực (REER), xuất khẩu(EXPO), nhập khẩu (IMPO), cán cân thương mại (TB) và ba biến ngoại sinh là giádầu thế giới (OIL*), lãi suất thế giới (r*) và chỉ số giá tiêu dùng thế giới (p*)

Các biến trong mô hình VAR như sau: Vector nội sinh là (GDP, INV, CONS,CPI, IRATE, M, REER, EXPO, IMPO, TB) và Vector ngoại sinh là (r*, p*, OIL*)Riêng với Malaysia và Việt Nam do hạn chế trong việc thu thập số liệu theo quý về

đầu tư và chi tiêu nên tác giả sẽ bỏ 2 biến này ra khỏi mô hình nghiên cứu của

Malaysia và Việt Nam

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là phương phápđịnh lượng Tác giả sử dụng mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM để xem xét tácđộng của mất giá tiền tệ lên các biến số kinh tế vĩ mô ở 4 quốc gia Malaysia,

Singapore, Thái Lan và Việt Nam Bài nghiên cứu phân tích tác động của mất giátiền tệ đến các biến số vĩ mô bằng hàm phản ứng xung IRF, đồng thời phân tích vaitrò tác động của tỷ giá trọng sự biến động của các biến số vĩ mô thông qua kỹ thuậtphân rã phương sai

Trang 37

Kiểm định nghiệm đơn vị Phillips-Perron (1988):

Phillips và Perron (1988) (sau đây gọi là PP) đã đề xuất chuyển đổi tham số

của thống kê t từ hồi quy gốc DF dưới dạng the unit root giả thuyết H0, thống kê đượcchuyển đổi (thống kê Z) có phân phối DF

Kiểm định hồi quy cho kiểm định PP là:

t t t

Với giả thuyết không của đơn vị gốc cho tất cả N quan sát, sử dụng thuộc tính

1

)(log

Z

1

1

)(

bởi N (0,1)

Tiếp theo, tác giả sử dụng các tiêu chuẩn kiểm định khác nhau để xác định độtrễ tối ưu cho mô hình

Có nhiều phương pháp nhằm chọn độ trễ cho mô hình VAR Luận văn trình

bày phương pháp VAR lag Order Selection Criteria nhằm tìm độ trễ thích hợp cho

mô hình.Tác giả dựa vào các tiêu chí LR (sequential modified LR test statistic), FPE(final prediction error), AIC (Akaike information criterion),HQIC (Hannan - Quinninformation criterion), SC (Schwarz information criterion) để chọn độ trễ tối ưu cho

Trang 38

Các bước tiến hành

Theo Gujarati (2003) một chuỗi thời gian là dừng khi giá trị trung bình,

phương sai, hiệp phương sai (tại các độ trễ khác nhau) giữ nguyên không đổi cho dù

chuỗi được xác định vào thời điểm nào đi nữa Chuỗi dừng có xu hướng trở về giá trịtrung bình và những dao động quanh giá trị trung bình sẽ như nhau Nói các khác,một chuỗi thời gian không dừng sẽ có giá trị trung bình thay đổi theo thời gian, hoặcgiá trị phương sai thay đổi theo thời gian hoặc cả hai

Trong hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian, nếu dữ liệu không dừng thì sẽ vi phạm

độ tin cậy của hồi quy, đó là hiện tượng hồi quy giả mạo được giải thích đầu tiên bởi

Phillips (1986) Trong trường hợp chuỗi dữ nghiên cứu dừng tại bậc gốc, có thể chophép thực hiện hồi quy tránh được hồi quy giả mạo Nếu chuỗi dữ liệu là không dừng,tác giả sử dụng phương pháp chuyển đổi biến để tạo chuỗi dữ liệu dừng Tác giả sẽtiến hành lấy sai phân và xem xét tình dừng của chuỗi sai phân Việc lấy sai phân sẽdừng lại khi kết quả của chuỗi sai phân là dừng Nếu chuỗi dừng sau khi lấy sai phân

P lần, ta gọi chuỗi dữ liệu gốc ban đầu là chuỗi tích hợp bậc p, kí hiệu là I(p) Cácnghiên cứu trước đây thường sử dụng các kiểm định ADF (Augmented Dickey –Fuller) và PP (Philip- Perron)

Tác giả sẽ sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị ADF để kiểm định tính dừng củacác biến gốc và đối chiếu lại với kết quả kiểm định tính dừng của Phillips và Perron.Kiểm định nghiệm đơn vị Augment Dickey Fuller (1984)

Xem xét quá trình tự hồi quy:

Giả thuyết H0và giả thuyết H1của kiểm định t ADF:

H0: y = 0 Chuỗi dữ liệu là chuỗi không dừng

H1: y < 0 Chuỗi dữ liệu là chuỗi dừng

Chúng ta có thể kiểm tra sự tồn tại của một đơn vị gốc bằng cách sử dụng kiểm

định t Augment Dickey Fuller:

t p t p p t p p

t p t

t

y  0 1 1 2 2   2  2 1  1  

Trang 39

mô hình Ta có thể chọn độ trễ theo một hay nhiều tiêu chí chọn độ trễ trên, hoặc cóthể chọn độ trễ mà có nhiều tiêu chí chọn nhất.

Tác giả sử dụng kiểm định đồng liên kết Johansen để kiểm định xem các chuỗi

dữ liệu có quan hệ trong dài hạn không Bài nghiên cứu sử dụng kiểm định đồng liênkết Johansen, nếu tồn tại đồng liên kết có nghĩa các chuỗi dữ liệu có quan hệ dài hạn

Giả thuyết H0và giả thuyết H1của kiểm định t ADF:

H0: không tồn tại đồng liên kết

H1: tồn tại đồng liên kết

kê “Trace Statistic” với giá trị tới hạn “Critical Value” ở mức ý nghĩa xác định được

chọn là 5%

Trace Statistic > Critical Value: bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1,

có nghĩa là có tồn tại đồng liên kết

Trace Statistic < Critical Value: chấp nhận giả thuyết H0, có nghĩa là khôngtồn tại đồng liên kết

Sau khi kiểm định, tác giả nhận thấy dữ liệu dừng ở sai phân bậc 1 và có tồntại đồng liên kết thì mô hình nghiên cứu được sử dụng phù hợp nhất trong trường hợpnày là mô hình Vector hiệu chỉnh sai số VECM

Trang 40

= + + +

Kiểm tra các biến trễ của Y2có giải thích cho Y1và các biến trễ của Y1có tác

H0: không tồn tại mối quan hệ nội sinh

số dừng hàm ý rằng các chuỗi sai số là nhiễu trắng, mô hình VECM ổn định trongphân tích

Mô hình được gọi là ổn định khi tất cả các giá trị “roots” có độ lớn “modulus”nhỏ hơn 1 hoặc nằm bên trong vòng tròn đơn vị Nếu tồn tại một hay nhiều giá trị

“roots” lớn hơn 1, thì mô hình không ổn định

Cuối cùng tác giả trình bày kết quả của mô hình VECM thông qua hàm phản

ứng xung IRF và kỹ thuật phân rã phương sai

3.2 Mô t ả dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu của nghiên cứu bao gồm 10 biến nội sinh và 3 biến ngoại sinh Dữ liệu

được thu thập theo quý từ quý 1 năm 2000 đến quý 4 năm 2015 ở 4 quốc gia Malaysia,

Singapore, Thái Lan và Việt Nam Tổng cộng có 64 quan sát ở mỗi quốc gia

Tác giả lấy logarit tất cả các biến ngoại trừ biến lãi suất để làm trơn chuỗi dữliệu do số liệu quan sát quá lớn dẫn đến hệ số biên thiên quá cao Việc lấy logaritkhông làm mất đi các đặc tính của chuỗi dữ liệu Riêng biến lãi suất do đơn vị tính là

% nên tác giả không lấy logarit

Ngày đăng: 12/11/2017, 21:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w