Trong những năm qua, UBND tỉnh Kiên Giang đã tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành hoàn thiện các cơ chế chính sách trong quản lý đất đai nói chung và lĩnh vực xác định nghĩa vụ tài chính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
TRẦN VĂN ĐIỆN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU THUẾ
TỪ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
TRẦN VĂN ĐIỆN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG THU THUẾ
TỪ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM KHÁNH NAM
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập đảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
Học viên thực hiện
Trần Văn Điện
Trang 4Trong những năm qua, UBND tỉnh Kiên Giang đã tập trung chỉ đạo các Sở, ban ngành hoàn thiện các cơ chế chính sách trong quản lý đất đai nói chung và lĩnh vực xác định nghĩa vụ tài chính của các tổ chức, doanh nghiệp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn Tỉnh nói riêng Kết quả thu các khoản thu từ đất đã đóng góp một phần không nhỏ trong các khoản thu từ đất nói riêng và ngân sách tỉnh Kiên Giang nói chung Tuy nhiên trong những năm qua tình hình kinh tế thế giới dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình kinh tế thị trường khu vực và trong nước bị ảnh hưởng rất lớn dẫn đến điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút, tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, một số doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, tình hình kinh doanh bất động sản bị trầm lắng, đóng băng Từ tình hình trên việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp và công tác quản lý thu của ngành thuế Kiên Giang đối với các khoản thu từ đất gặp không ít những khó khăn, vướng mắc
Trên cơ sở chọn 120 DN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang nghiên cứu này đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nợ các khoản thu từ đất của DN Kết quả phân tích mô hình hồi quy Binary Logistic cho thấy có 8 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nợ các khoản thu từ đất của DN gồm giới tính chủ DN, tuổi chủ DN, số năm thành lập, qui mô doanh nghiệp, lĩnh vực kinh doanh, vốn kinh doanh, doanh thu và loại đất Đây có thể là những cơ sở để UBND tỉnh Kiên Giang và ngành thuế tỉnh Kiên Giang, góp phần xây dựng bổ sung hoàn thiện các chính sách phù hợp đến các khoản thu thuế từ đất để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả
Để đảm bảo các doanh nghiệp sử dụng đất có hiệu quả, tăng nguồn thu của ngân sách tỉnh, công bằng trong việc xác định giá thuê đất, UBND Tỉnh Kiên Giang cần có những quy định phù hợp Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc cải cách thủ tục hành chính về giao đất, cho thuê đất, quy định cụ thể tỷ lệ % đơn giá thuê đất theo từng mục đích sử dụng đất và theo khu vực là rất quan trọng
Trang 5TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 5
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT CỦA DOANH NGHIỆP 5
2.1.1 Nghĩa vụ thuế 5
2.1.2 Các khoản thu từ đất chủ yếu ở Việt Nam 6
2.1.2.1 Thu tiền sử dụng đất 6
2.1.2.2 Thu tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê 7
2.1.2.3 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 8
2.1.2.4 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất) 8
2.1.2.5 Thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 9
2.1.2.6 Lệ phí trước bạ nhà, đất 10
Trang 64.1.3.4 Lệ phí trước bạ, nhà đất 29
4.1.3.5 Những khó khăn vướng mắc trong các khoản thu thuế từ đất . 30
4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 32
4.2.1 Đặc điểm doanh nghiệp 32
4.2.2 Đặc điểm đất được Nhà nước giao hoặc cho doanh nghiệp thuê đất 35
4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY 36
4.3.1 Hệ số tương quan giữa các biến số trong mô hình 36
Khi có mối quan hệ tuyến tính hoàn hảo giữa các biến độc lập trong mô hình hồi quy, không thể xác định được ảnh hưởng ròng của từng biến độc lập trong mô hình hồi quy lên biến phụ thuộc đến ước lượng của hệ số hồi quy trở nên không ổn định và có sai số chuẩn rất lớn 36
4.3.2 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nợ các khoản thu từ đất 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 39
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 41
5.1 KẾT LUẬN 41
5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 43
5.2.1 Hoàn thiện chính sách thuế, tạo điều kiện để các doanh nghiệp thực hiện tốt nghĩa vụ thuế 43
5.2.2 Nhóm chính sách đối với chủ doanh nghiệp 45
5.2.3 Nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Thuế 46
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHIẾU KHẢO SÁT
PHỤ LỤC SỐ LIỆU
Trang 72.1.4 Nội dung quản lý Nhà nước về các khoản thu từ đất 10
2.2 SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP 11
2.2.1 Tuân thủ thuế 11
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế 12
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG NỢ ĐỌNG THUẾ ĐẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 13
2.3.1 Các yếu tố từ doanh nghiệp 13
2.3.2 Các yếu tố về chính sách thuế 13
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 16
2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước 16
2.4.2 Nghiên cứu trong nước 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 20
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 20
3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 20
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 22
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 22
3.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu 22
3.3.3 Phương pháp chọn mẫu 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 23
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
4.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH KIÊN GIANG 24
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội 25
4.1.3 Tình hình thu thuế từ đất đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 27
4.1.3.1 Thu tiền sử dụng đất 27
4.1.3.2.Tiền thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển 28
Trang 8KÝ HIỆU DIỄN GIẢI
Trang 9Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình 21
Bảng 4.1: Thống kê tần số đặc điểm doanh nghiệp 31
Bảng 4.2: Thống kê mô tả đặc điểm doanh nghiệp 32
Bảng 4.5: Diện tích đất được giao hoặc thuê của DN 34
Bảng 4.6: Ma trận tương quan giữa các biến giải thích 35
Trang 10CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên khan hiếm, giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Việc sử dụng có hiệu quả nguồn lực đất đai
và khai thác tốt các khoản thu từ đất sẽ huy động được nguồn vốn to lớn phục
vụ tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam
Kiên Giang là vùng kinh tế trọng điểm của Đồng Bằng Sông Cửu Long, nằm ở vị trí thuận lợi có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Là tỉnh có tiềm năng lớn về kinh tế, du lịch biển; giao lưu thương mại với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thương mại, dịch vụ, công nghiệp, chế biến nông, lâm, thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản…, để phát huy tiềm năng và lợi thế của địa phương thì cần một nguồn vốn lớn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cảng biển, trang thiết bị kỷ thuật phục
vụ cho việc phát triển kinh tế là hết sức quan trọng Những năm qua, Đảng bộ tỉnh Kiên Giang đã tập trung chỉ đạo huy động các nguồn vốn phục vụ cho phát triển của địa phương, trọng tâm là các khoản thu thuế từ đất Đặc biệt trong những năm gần đây thực hiện cơ chế khuyến khích phát triển kinh tế du lịch trên đảo Phú Quốc theo chủ trương của Chính phủ đã và đang thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư phát triển đa ngành nghề, nhất là du lịch sinh thái với nhiều hình thức, tỉnh giải quyết với nhiều cơ chế được Chính phủ cho phép như: cơ chế giao đất, cho thuê đất; thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và chính sách miễn giảm,…, Các khoản thu từ đất thu được để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh Thể hiện qua các khoản thu từ đất giai đoạn 2011 - 2015 so với giai đoạn 2005 - 2010 đã có sự tăng trưởng cao như tiền sử dụng đất tăng 2,18 lần; tiền thuê đất tăng 3,40 lần; tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tăng 0,10 lần Riêng giai đoạn 2016 - 2020 theo dự toán thu ổn định 5 năm theo Luật Ngân sách cũng tăng khá cao so với giai đoạn 2011 - 2015 như tiền sử dụng đất tăng 0,17 lần, tiền thuê đất tăng 5,88 lần; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp
Trang 11Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu của Luận văn 19
Trang 12tăng 1,50 lần Những số liệu trên để minh chứng cho thấy tổng số thu các khoản từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nguồn thu ngân sách Nhà nước những năm qua
Tuy nhiên, trong thực tế việc quản lý các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang cũng còn gặp không ít những khó khăn như tình trạng chậm nộp tiền sử dụng đất; tiền thuê đất, thuê mặt nước; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN), , và các khoản nợ đọng do chậm nộp tiền sử dụng đất; tiền thuê đất, thuê mặt nước; thuế SDĐPNN, , từ đó dẫn đến nguồn thu ngân sách
trên địa bàn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của địa phương Nghiên cứu "Các yếu tố tác động đến khả năng thu thuế từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang" là
hết sức cần thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao góp phần đưa công tác quản lý các khoản thu từ đất đi vào nề nếp, ổn định để làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang cơ bản và bền vững, từ đó dự báo được nguồn thu các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh trong những năm tiếp theo
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các yếu tố tác động đến khả năng thu thuế từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, từ đó gợi ý các chính sách với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giúp cho công tác quản lý các khoản thu từ đất trên phạm vi toàn tỉnh Kiên Giang được chặt chẽ và tốt hơn
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng thu khả năng thu thuế từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hiện nay như thế nào?
Trang 13- Yếu tố nào tác động đến khả năng nợ đọng các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang?
- Giải pháp gì để nâng cao hiệu quả khả năng thu thuế từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập trung nghiên cứu khả năng thu
từ đất đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần phụ lục và các vấn đề có liên quan thì bố cục chính của Luận văn bao gồm 5 chương, được chia như sau:
Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Chương này trình bày tính cấp thiết
của Luận văn, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và bố cục của Luận văn
Chương 2 Tổng quan lý thuyết Chương này giới thiệu khái quát các lý
thuyết về các khoản thu thuế từ đất Tiến hành lược khảo các nghiên cứu liên quan đến Luận văn làm cơ sở để đưa ra mô hình nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày
khung phân tích, mô hình nghiên cứu, cỡ mẫu, các đặc điểm của mẫu, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, quy trình thực hiện nghiên cứu
Trang 14Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, kết quả thực nghiệm mô hình nghiên cứu
Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày những
kết luận rút ra từ nghiên cứu, gợi ý các chính sách, những hạn chế nghiên cứu
và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế Lập và giao hóa đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số liệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”
Theo quy định trên, nghĩa vụ của người nộp thuế được khái quát như sau: + Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định
+ Kê khai thông tin về thuế, những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn
+ Chấp hành chế độ kế toán, thống kê, hóa đơn, chứng từ theo quy định; cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế
Trang 16+ Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan thuế, công chức thuế theo quy định; nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm
Nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được trình bày trong OECD (2004), Quản lý rủi ro tuân thủ: Quản lý và cải thiện tuân thủ thuế, như sau: “Nghĩa vụ
cụ thể của đối tượng nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các
cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà đối tượng nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào là:
+ Đăng ký thuế;
+ Nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn; + Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); + Nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn
Nghĩa vụ thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo OECD không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung Luật Quản lý thuế quy định nghĩa vụ thuế có phần chi tiết như chấp hành chế
độ kế toán, thống kê, hóa đơn, chứng từ theo quy định; chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật; nộp tiền thuế đúng địa điểm Về cơ bản nghĩa vụ thuế đều liên quan đến các nội dung: Đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai (báo cáo) thông tin và nộp thuế
2.1.2 Các khoản thu thuế từ đất chủ yếu ở Việt Nam
2.1.2.1 Thu tiền sử dụng đất
Căn cứ Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010; Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định đối tượng phải nộp tiền sử dụng đất trong các trường hợp: hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở, tổ chức kinh tế được giao đất có thu tiền sử dụng đất; chuyển mục đích sử dụng đất từ đất Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất sang đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất; chuyển từ hình thức thuê đất sang hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được giao đất
để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; Chuyển từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao không
Trang 17thu tiền sử dụng đất sang đất ở; Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp có nguồn gốc được giao không thu tiền sử dụng đất, nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển sang sử dụng làm đất ở hoặc đất nghĩa trang, nghĩa địa; chuyển từ đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp được giao không thu tiền sử dụng đất sang đất nghĩa trang, nghĩa địa có thu tiền sử dụng đất…
Tiền sử dụng đất phải nộp NSNN được xác định theo công thức sau:
2.1.2.2 Thu tiền thuê đất đối với đất do Nhà nước cho thuê
Căn cứ Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010; Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011; Thông tư số 77/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính Quy định thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Nhà nước thu tiền thuê đất, thuê mặt nước khi Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước, chuyển từ hình thức được Nhà nước giao đất sang cho thuê đất
Đơn giá thuê đất một năm tính bằng tỷ lệ phần trăm (%) giá đất và có thể phân loại theo mục đích sử dụng đất thuê do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định Căn cứ vào thực tế địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tỷ lệ phần trăm (%) giá đất để xác định đơn giá thuê đất, thuê mặt nước một năm nhưng tối
đa không quá 3% và tối thiểu không thấp hơn 0,5% Mức tỷ lệ phần trăm (%) do
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành cụ thể theo từng khu vực, tuyến đường tương ứng với từng mục đích sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân thuê đất
Tiền thuê đất phải nộp NSNN được tính theo công thức sau:
2.1.2.3 Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Tiền thuê đất Diện tích Đơn Tiền bồi thường, Tiền thuê đất phải nộp = đất x giá - hỗ trợ - được miễn, NSNN thuê thuê (nếu có) giảm (nếu có)
x
Diện tích đất phải nộp tiền
sử dụng đất
-
Tiền sử dụng đất được giảm theo quy định (nếu có)
-
Tiền bồi thường, giải phóng mặt bằng được trừ vào tiền sử dụng đất (nếu có)
Trang 182.1.2.3 Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Thực hiện theo quy định của Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 10/7/1993 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1994; Nghị định số 74/1993/NĐ-CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thông tư số 89/TC-TCT ngày 09/11/1993 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 74/1993/NĐ-CP của Chính phủ Tổ chức, cá nhân sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp (gọi chung
là hộ nộp thuế) gồm: Các hộ gia đình nông dân, hộ tư nhân và cá nhân; Các tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất dành cho nhu cầu công ích của xã; Các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản bao gồm nông trường, lâm trường, xí nghiệp, trạm trại và các doanh nghiệp khác, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức xã hội và các đơn vị khác sử dụng đất vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản
2.1.2.4 Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (trước đây là thuế nhà đất)
Thực hiện theo quy định của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp số 48/2010/QH12, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 được ban hành ngày 28/06/2010 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 thay thế thuế nhà đất trước đây; Nghị định số 53/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế
sử dụng đất phi nông nghiệp; Thông tư số 153/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Việc ban hành Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp nhằm đảm bảo các mục tiêu tăng cường quản lý nhà nước đối với đất đai, khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, hạn chế đầu cơ, khuyến khích thị trường bất động sản phát triển lành mạnh; khắc phục hạn chế của Pháp lệnh thuế nhà đất hiện hành, nâng cao tính pháp lý của Pháp luật về thuế trên cơ sở bổ sung những cái mới, kế thừa những cái còn phù hợp Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp rõ ràng, dễ thực hiện,
dễ quản lý; Tiếp cận thông lệ Quốc tế, tạo điều kiện cho hội nhập kinh tế Quốc
tế Đồng thời, động viên sự đóng góp của người sử dụng đất, nhất là những đối tượng sử dụng đất vượt hạn mức quy định vào ngân sách nhà nước
Trang 192.1.2.5 Thuế thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
Đối với cá nhân: Thực hiện theo quy định Luật 26/2012/QH13 của Quốc
Hội khóa XIII ban hành ngày 22/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân 04/2007/QH12; Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008; Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân; Thông tư số 84/2008/TT- BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100/2008/NĐ-CP; Thông tư số 62/2009/TT-BTC ngày 27/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC; Thông tư số 161/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thuế thu nhập cá nhân đối với một số trường hợp chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận quà tặng là bất động sản; Thông tư số 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT- BTC ngày 30/9/2008; Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và NĐ 65/2013/NĐ-CP
Đối với tổ chức: Thực hiện theo quy định của Luật số 32/2013/QH13 của
Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2009; Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008; Thông tư
số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 3/6/2008, Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp; Nghị
Trang 20định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp Hai loại thuế này
là thuế thu vào thu nhập của người có quyền sử dụng đất và tài sản trên đất khi thực hiện chuyển quyền sử dụng đất cho đối tượng khác
2.1.2.6 Lệ phí trước bạ nhà, đất
Căn cứ Nghị địng số 45/2011/NĐ-CP ngày17/6/2011 của Chính phủ Về
Lệ phí trước bạ là khoản Nhà nước thu của các chủ thể khi họ đăng ký quyền
sở hữu, quyền sử dụng các tài sản, trong đó có đất đai Lệ phí trước bạ là mối quan hệ giữa người đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các dịch vụ công
Căn cứ tính lệ phí trước bạ nhà, đất là giá tính lệ phí trước bạ và tỷ lệ (
%) lệ phí trước bạ
2.1.3 Vai trò quản lý các khoản thu thuế từ đất đai của Nhà nước
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (XHCN VN) năm 1992 và năm 2013, Luật đất đai năm 2003 và Luật Đất đai
2013 bắt đầu có hiệu lực ngày 01/7/2014, Quy định Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai thông qua việc Nhà nước thực hiện quyền quyết định đối với đất đai về các mặt như mục đích sử dụng đất, hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất Đồng thời, Nhà nước còn thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai Nhà nước sẽ trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
2.1.4 Nội dung quản lý Nhà nước về các khoản thu từ đất
Nhà nước là chủ sử dụng trực tiếp đối với bộ phận đất công Toàn bộ đất đai thuộc sở hữu toàn dân được chia ra 2 bộ phận chính: bộ phận đất công do Nhà nước nắm giữ để sử dụng vào các mục đích chính (bao gồm: sông, biển, rừng, núi, công trình công cộng, công sở, cơ sở quốc phòng - an ninh, đất chưa
Trang 21tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai) và tuân thủ về thu nộp”
Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) chỉ ra rằng: “Sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian.”
Nguyễn Thị Thanh Hoài và các cộng sự (2011) cho rằng: Tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau
Như vậy, tuân thủ thuế là thực hiện đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế theo đúng các quy định tại các luật thuế, người nộp thuế tự giác và có ý thức tuân thủ hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế của mình, cơ quan thuế chỉ tuyên truyền, giáo dục, theo dõi, giám sát, kiểm tra chấp hành nghĩa vụ thuế, ngăn chặn xử lý các hành vi không tuân thủ thuế
2.2.2 Hành vi không tuân thủ thuế
Rất khó để phân biệt rạch ròi giữa hành vi “tránh thuế” tức là tận dụng những khe hở của pháp luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành
vi “trốn thuế” tức sự vi phạm pháp luật Boidman (1983) định nghĩa 3 hình thức không tuân thủ thuế khác nhau: (1) không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế; và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng các khoản miễn giảm, hay khấu trừ
Xét theo cơ sở pháp lý: theo James và Alley, (1999), việc tuân thủ thuế
có thể được nhìn từ góc độ của việc tránh thuế và trốn thuế Cả hai hành vi này đều có những dấu hiệu pháp lý đặc trưng, theo đó tránh thuế nói đến những phương sách hợp lệ để làm giảm nghĩa vụ thuế còn trốn thuế lại nói đến những cách làm phạm pháp Trong khi một số người bình luận nhìn nhận việc không tuân thủ chỉ có vấn đề trốn thuế, điều này dường như chưa nắm bắt được toàn
bộ bản chất của vấn đề Việc trốn thuế rõ ràng là một hình thức không tuân thủ Tuy nhiên, nếu người nộp thuế cố tình kéo dài thời gian để giảm nghĩa vụ thuế của họ, thì điều này lại khó có thể được cho là “tuân thủ”
Trang 22khai thác); bộ phận còn lại được giao cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có thể coi như là đất tư
Theo quy định tại Luật Đất đai 2003 số 13/2003/QH11 của Quốc hội và Luật Đất đai 2013 số 45/2013/QH13 của Quốc hội Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai
2.2 SỰ TUÂN THỦ THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP
lý thuế là tăng tính tuân thủ tự nguyện của người nôp thuế, thay vì đưa ra những hình thức xử phạt các đối tượng trốn thuế và tránh thuế Hầu hết quan điểm nghiên cứu hiện nay đều tập trung xem xét tính tự nguyện chấp hành thuế
James và Alley (1999) đã đặt ra câu hỏi, sự “tuân thủ” có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế “tuân thủ” chỉ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp cưỡng chế hành chính, hoặc do cả hai thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ, ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt 100%
so với mức thuế phải nộp theo luật định Vì vậy quan điểm hiện đại cho rằng
cơ quan quản lý thuế sẽ thành công khi gia tăng được sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần sử dụng đến các hình thức kiểm tra, thanh tra, nhắc nhở hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác
Theo tổ chức OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình với Nhà nước Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có 3 nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông
Trang 23Xét theo quan điểm đạo đức, sự phân biệt giữa hai khái niệm này đối với nhiều người là không có sự khác nhau Theo Sandmo, A (2004) “Không có sự khác nhau giữa một nhà kinh doanh nhỏ hoạt động trong một nền kinh tế ngầm (vi phạm luật) với một nhà đầu tư lớn sử dụng những luật sư giỏi để tìm kiếm thiên đường thuế”
Nghiên cứu theo giác độ tâm lý hành vi của doanh nghiệp [ví dụ Kirchker
và cộng sự (2001)], do sự khác nhau về cơ sở pháp lý, vì vậy đối với DN thì trốn thuế và tránh thuế là hoàn toàn khác nhau và tác động đến việc lựa chọn hành vi tuân thủ thuế của họ, trốn thuế thường được đánh giá tiêu cực hơn tránh thuế Kiến thức về thuế của người nộp thuế càng tốt thì tránh thuế được nhận thức là công bằng hơn, được lựa chọn nhiều hơn Ngược lại, kiến thức về thuế càng hẹp thì người nộp thuế có xu hướng lựa chọn hình thức trốn thuế nhiều hơn
Khó mà phân định rạch ròi giữa hành vi tránh thuế hay việc dùng luật để hạn chế đến mức tối thiểu việc nộp thuế và hành vi trốn thuế - tức sự vi phạm pháp luật Thêm vào đó, người ta thường khó mà quyết định được liệu các biện pháp chế tài nên được áp dụng ở đâu dọc theo chuỗi liên tục của những hành vi tránh thuế và trốn thuế
Các cơ quan thuế khi nghĩ về tuân thủ thuế thường chú ý đến việc tại sao một số người nộp thuế không tuân thủ mà không nghĩ ngược lại là tại sao người nộp thuế lại tuân thủ Theo chuẩn mực thì người nộp thuế thường tuân thủ hơn
là không tuân thủ và một hệ thống thuế hoạt động hiệu quả phải có được sự đồng thuận hợp tác của hầu hết người nộp thuế Cho nên, sẽ có được hiệu quả cao hơn trong việc thu thuế dành sự hỗ trợ nhiều hơn cho những người nộp thuế tuân thủ hoàn thành nghĩa vụ thuế của họ so với việc dành sự hỗ trợ nhiều hơn cho những người nộp thuế tuân thủ hoàn thành nghĩa vụ thuế của họ so với việc dành thời gian và công sức theo đuổi thiểu số người không tuân thủ Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng cường sự tuân thủ thuế của các DN
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG NỢ ĐỌNG THUẾ ĐẾN CÁC KHOẢN THU TỪ ĐẤT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
2.3.1 Các yếu tố từ doanh nghiệp
Trang 24Đặc điểm doanh nghiệp: Nghiên cứu của OECD (2004), Nguyễn Thị Lệ
Thúy (2011), Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2011) cho thấy đặc điểm doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế hay chấp hành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Đặc điểm doanh nghiệp được thể hiện bởi các thuộc tính như tính phức tạp của cơ cấu tổ chức doanh nghiệp; loại hình doanh nghiệp; quy mô doanh nghiệp; thời gian hoạt động của doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh: Cũng theo OECD (2004), và các nghiên cứu
khác về sự tuân thủ thuế trong điều kiện Việt Nam như Nguyễn Thị Lệ Thúy (2011), Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2011), các tác giả đã chứng minh rằng các nhân tố đặc trưng về ngành nghề của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Nhân tố ngành nghể kinh doanh được đo lường bằng các tiêu chí: tỷ suất lợi nhuận; tính cạnh tranh; tính khó kiểm soát doanh thu; tính khó kiểm soát chi phí
Khả năng tài chính: Dường như có một mối quan hệ giữa số tiền thuế
còn nợ và các hành vi tuân thủ hay chấp hành Ví dụ: một số chủ DN có trách nhiệm pháp lý về thuế mà có thể dễ dàng được thanh toán thì họ sẽ sẵn sàng tuân thủ chấp hành tốt Tuy nhiên, nếu các trách nhiệm pháp lý lớn có khả năng
đe dọa sự sống còn của DN thì người chủ sở hữu có thể sẽ né tránh phải nộp tất
cả hoặc tìm biện pháp điều chỉnh các số liệu báo cáo để giảm nghĩa vụ thuế (OECD, 2004)
Thương hiệu doanh nghiệp: Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2011)
cho rằng các yếu tố xã hội cũng có ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế Thuộc nhóm này có thể kể đến như chuẩn mực xã hội, ảnh hưởng xã hội và trách nhiệm của từng chủ thể trong một cộng đồng xã hội; dư luận xã hội, danh tiếng,
vị thế và vai trò của từng chủ thể
Loại hình sở hữu: Việc nợ đọng thuế khác nhau giữa các DN có sở hữu
khác nhau Ví dụ: giữa DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu, giữa DN
tư nhân và DN nhà nước Hình thức sở hữu phản ánh mức độ rủi ro tuân thủ thuế của doanh nghiệp là cao, trung bình hay thấp Kinh nghiệm qua công tác quản lý thu thuế cho thấy các doanh nghiệp sở hữu tư nhân thì nợ đọng thuế nhiều hơn DN cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài và DN Nhà nước
Trang 25Quy mô doanh nghiệp: Quy mô doanh nghiệp là phạm trù phản ánh độ
lớn của DN Về mặt lượng để đánh giá quy mô DN người ta thường sử dụng những chỉ tiêu định lượng cụ thể Doanh nghiệp có thể phân loại thành 3 nhóm theo tiêu chí về quy mô (quy mô có thể được phân loại theo doanh thu, theo số lao động, theo tài sản, theo tổng giá trị sản xuất) Mỗi nhóm DN theo quy mô
có những đặc điểm riêng về ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế Nhà nước
Nhóm DN lớn: là nhóm đóng góp chủ yếu vào NSNN, thường sử dụng các phương pháp tinh vi để tối thiểu hóa thuế, thường là tránh thuế hơn trốn thuế
Nhóm DN vừa và nhỏ: Ở hầu hết các nước, các DN vừa và nhỏ đại diện cho nhóm có rủi ro về thuế cao nhất bởi vì số lượng các DN này rất lớn, thu nhập của họ không cố định và trong hầu hết các trường hơp đều không thể xác minh với dữ liệu của bên thứ ba Ngoài ra, các DN này không có một hệ thống
sổ sách kế toán toán tốt nhất, không có kiểm toán độc lập đối với các tài khoản
kế toán và các khoản chi tiêu tiền mặt như các doanh nghiệp lớn để có thể giảm bớt rủi ro kê khai thiếu thu nhập
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp: Có mối liên hệ rất rõ ràng với
mức độ tuân thủ chấp hành thuế giữa các doanh nghiệp với thời gian hoạt động khác nhau Các doanh nghiệp mới thành lập hoặc còn non trẻ trong hoạt động kinh doanh thường thiếu kiến thức về pháp luật thuế, nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ thuế, vì vậy họ thường là đối tượng chủ yếu của hình thức không tuân thủ chấp hành, không dự tính Các DN có thời gian hoạt động lâu năm thường
đã có thương hiệu, có hệ thống kế toán ổn định, hiểu rõ và nắm bắt kịp thời về nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ Vì vậy, nếu thực hiện tinh thần thuế tốt thì
họ là những đối tượng sẵn sàng tuân thủ chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế cho Nhà nước, nhưng khi họ thực hiện tinh thần thuế yếu, các DN này cũng thường
sử dụng những hình thức tinh vi phức tạp và thường trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế hơn
2.3.2 Các yếu tố về chính sách thuế
Mức thuế suất: Mức thuế suất ảnh hưởng đến quyết định của người nộp
thuế thực hiện theo quy định pháp luật thuế Clotfelter (1983) cho rằng việc giảm thuế suất không phải là chính sách duy nhất có tiềm năng để ngăn cản việc trốn thuế nhưng thuế suất là một yếu tố quan trọng trong việc xác định
Trang 26hành vi tuân thủ chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, mặc dù mức độ tác động chính xác vẫn còn chưa thật sự được rõ ràng và gây nên tranh cải (Kirchler, 2007)
Clotfler cũng cho thấy rằng có mối quan hệ giữa thuế suất và trốn thuế do mức thuế suất được sử dụng như là một công cụ có thể được theo các mục tiêu chính sách đặc biệt Nâng cao mức thuế suất cận biến có khả năng khiến doanh nghiệp trốn thuế nhưng khi bị hạ thấp mức thuế suất không nhất thiết sẽ tăng cường tuân thủ thuế Allingham và Sando kết luận rằng người nộp thuế có thể chọn: báo cáo đầy đủ thu nhập hoặc báo cáo ít hơn, không phân biệt mức thuế suất Tăng mức thuế suất không nhất thiết là luôn luôn giảm hành vi tuân thủ
Cảm nhận về rủi ro khi không tuân thủ thuế: Nếu một đối tượng nộp
thuế có cơ hội không tuân thủ chấp hành và nghĩ rằng chỉ có rủi ro không đáng
kể nếu bị phát hiện thì đối tượng nộp thuế đó có thể chấp nhận rủi ro này Điều này có thể dẫn đến việc kê khai thấp một số loại thu nhập mà cơ quan thuế dễ dàng “nhìn thấy được” vì bên thứ ba báo cáo Tuy nhiên, những loại thu nhập khác có thể khó “nhìn thấy được” hơn và vì vậy sẽ được kê khai báo cáo một cách “sáng tạo” hơn (OECD, 2004)
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
2.4.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Jackson and Milliron (1986) và Alm (1991) cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án Trong khi theo Hamm (1995) thì tuân thủ thuế được định nghĩa là người nộp thuế nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của tòa án OECD (2004), định nghĩa tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình
Nghiên cứu của Alm, Jackson và McKee (2004) đã chứng minh được mối quan hệ giữa tuân thủ thuế với thu nhập, tài sản sở hữu, kiểm toán và thông tin Đây là nghiên cứu dựa vào cơ sở dữ liệu đã được thống kê và công bố thông tin hiện tại của Việt Nam thì rất khó cho các nhà nghiên cứu để có thể tiếp cận được đầy đủ thông tin và phân tích
Trang 27Nghiên cứu của Nicoleta (2011) tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế từ hàng loạt các nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới và xem xét sự phù hợp của các nhân tố này trong trường hợp Rumani nhằm tạo ra mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế được nghiên cứu trong kinh tế bằng cách phân tích các quyết định giữa trả tiền thuế và trốn thuế của một người đại diện cho tổ chức Theo Nicoleta, các nhân tố đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng đến sự tuân thủ chấp hành thuế được chia thành hai nhóm bao gồm nhóm nhân tố kinh tế và nhóm nhân tố phi kinh tế Nhóm nhân tố kinh tế bao gồm các nhân tố như mức thu nhập chịu thuế, khả năng bị kiểm toán thuế,
sự kiểm toán thuế, thuế suất, lợi ích từ việc đóng thuế, hình phạt và tiền phạt vi phạm Nhóm nhân tố phi kinh tế bao gồm các nhân tố như thái độ đối với các loại thuế, những nhân tố cá nhân, chuẩn mực xã hội và quốc gia, sự công bằng của hệ thống thuế
Nghiên cứu của Moeinadin và cộng sự (2014) xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệ thống thuế, nhóm nhân tố riêng của doanh nghiệp Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến để phân tích số liệu khảo sát 239 doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến tuân thủ chấp hành thuế của doanh nghiệp
2.4.2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) đã phân tích, đánh giá, tổng hợp những cơ
sở lý thuyết, cơ sở kinh nghiệm và cơ sở thực tiễn cho những giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ chấp hành thuế của các doanh nghiệp (tình huống địa bàn Hà Nội) Tác giả đã phân tích hành vi và đặc điểm tuân thủ chấp hành thuế của các doanh nghiệp, đồng thời khảo sát ý kiến của doanh nghiệp về thực trạng quản lý thu thuế để
có được cơ sở thông tin cho hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội
Võ Đức Chín (2011) xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương gồm 6 nhân tố bao gồm đặc điểm về doanh nghiệp, các yếu tố về ngành kinh doanh, các yếu tố về
Trang 28xã hội, các yếu tố kinh tế, các yếu tố về hệ thống thuế và các yếu tố về tâm lý doanh nghiệp Kết quả phân tích số liệu khảo sát gồm 200 doanh nghiệp bằng
kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến cho thấy cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là yếu tố kinh tế, hệ thống thuế và đặc điểm doanh nghiệp
Nguyễn Thị Thanh Hoài và cộng sự (2013) đã nêu lên các nội dung lý luận về gian lận thuế, chống gian lận thuế, đánh giá thực tiễn công tác quản lý thuế GTGT ở Việt Nam, nhận dạng các hình thức gian lận thuế GTGT, từ đó có các định hướng đề xuất tăng cường chống gian lận thuế GTGT là việc làm cần thiết trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam
Trần Viết Trà (2013) đã nghiên cứu tổng quan về tình hình quản lý thuế nói chung trên địa bàn TP Pleiku Bài nghiên cứu chỉ dựa vào kết quả thu thuế
để phân tích những nguyên nhân, thành tựu đạt được và những hạn chế của nó Tác giả không đề xuất mô hình để từ đó cụ thể phân tích ra được những yếu tố
là nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến kết quả thu thuế tại Pleiku
Lê Thanh Trường (2014) xây dựng mô hình tuân thủ thuế và giả thuyết nghiên cứu cho trường hợp các doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM Mô hình cho thấy có 9 yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp bao gồm thuế suất, tính đơn giản của việc kê khai thuế, hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế, nhận thức tích cực về chi tiêu của chính phủ, hình phạt và tình trạng tài chính của doanh nghiệp Kết quả phân tích EFA và hồi quy đa biến OLS, tác giả xác định các yếu tố tác động đến tuân thủ thuế với mức độ ảnh hưởng theo thứ tự ưu tiên sau: kiến thức thuế, công tác kiểm tra thuế, hiệu quả hoạt động của cơ quan thuế, nhận thức tích cực về tính công bằng thuế, hình phạt, tính đơn giản về việc kê khai thuế và nhận thức tích cực về chi tiêu chính phủ
Như vậy, hiện đã có một số nghiên cứu liên quan đến Luận văn Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thu thuế các khoản thu từ đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Từ những nghiên cứu trước có liên quan tác giả đã tìm hiểu và áp dụng cho Luận văn nghiên cứu của mình
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết nghiên cứu của luận văn Tác giả nêu ra các cơ sở lý thuyết về các khoản thu từ đất bao gồm nghĩa vụ thuế và các loại thuế từ đất Trình bày cơ sở lý thuyết về sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng đến hành vi không tuân thủ thuế Tổng hợp các yếu
tố ảnh hưởng đến nợ đọng thuế của doanh nghiệp Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến luận văn Đây là những cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến các khoản thu từ đất ở chương tiếp theo
Trang 30CHƯƠNG 3
PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Quy trình nghiên cứu của luận văn được thực hiện theo hình 3.1, cụ thể như sau
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu của Luận văn
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU
Mô hình hồi quy tổng quát:
𝑌 = 𝛽0+ ∑ 𝛽𝑖𝑋𝑖+ 𝜀
𝑛
𝑖=1
Cơ sở lý thuyết và các
nghiên cứu trước
Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nợ đọng các khoản thu từ đất của
các doanh nghiệp
Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nợ đọng của doanh
nghiệp Hồi quy Binary Logistic
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến
nợ đọng các khoản thu từ đất của doanh
Trang 31Y: là biến phụ thuộc, nhận giá trị bằng 1 là DN có nợ các khoản thu từ đất và nhận giá trị 0 nếu DN không nợ các khoản thu từ đất
Xi: là các biến giải thích trong mô hình (i=1…n)
ε: là sai số
Dạng tổng quát của mô hình hồi qui Binary logistic:
𝑙𝑛 [𝑃(𝑌 = 1)𝑃(𝑌 = 0)] = 𝛽0+ ∑ 𝛽𝑖𝑋𝑖+ 𝜀
𝑛
𝑖=1
Để đánh giá tác động của từng biến giải thích lên biến phụ thuộc, tác giả
sử dụng mô hình Binary Logistic để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nợ đọng các khoản thu từ đất của các DN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, cụ thể như sau:
𝑙𝑛 [𝑃(𝑛𝑜𝑡ℎ𝑢𝑒=1)
𝑃(𝑛𝑜𝑡ℎ𝑢𝑒=0)] = 𝛽0+ 𝛽1𝑔𝑖𝑜𝑖𝑡𝑖𝑛ℎ + 𝛽2𝑡𝑢𝑜𝑖 + 𝛽3ℎ𝑜𝑐𝑣𝑎𝑛 + 𝛽4𝑠𝑜𝑛𝑎𝑚𝑡𝑙 +
𝛽5𝑙𝑜𝑎𝑖ℎ𝑖𝑛ℎ𝑑𝑛 + 𝛽6𝑞𝑢𝑖𝑚𝑜𝑑𝑛 + 𝛽7𝑙𝑖𝑛ℎ𝑣𝑢𝑐𝑘𝑑 + 𝛽8𝑣𝑜𝑛𝑘𝑑 + 𝛽9𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ𝑡ℎ𝑢
+ 𝛽10𝑙𝑜𝑎𝑖𝑑𝑎𝑡 + 𝜀 Các biến giải thích trong mô hình được định nghĩa bởi 3.1 dưới đây:
Bảng 3.1: Giải thích các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc
nothue
Nợ thuế: là biến giả (có nợ = 1; không có nợ = 0), trong đó DN được cho là nợ thuế là những DN chưa thực hiện nộp dứt điểm các khoản thuế từ đất vào NSNN theo quy định
Các biến giải thích
Trang 32sonamtl Số năm thành lập của DN (năm)
+
linhvuckd
Lĩnh vực kinh doanh là ngành nghề mà DN kinh doanh (Kinh doanh bất động sản = 1, Thương mại, dịch vụ, du lịch = 2, Xây dựng = 3, Chế biến, sản xuất = 4, Khác = 5)
+
vonkd
Vốn đăn ký kinh doanh là số tiền đăng ký kinh
doanhthu
Doanh thu (doanh thu =1 nếu DN có doanh thu năm 2015, 0 nếu DN không có doanh thu năm 2015)
+
loaidat Loại đất được thuê hoặc được giao (đât thuê = 1,
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả các nghiên cứu liên quan đến luận văn;
số liệu thống kê các khoản thu từ đất của doanh nghiệp giai đoạn 2011 - 2015
Dữ liệu thứ cấp còn được thu thập qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, Niên giám thống kê, các báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính
Dữ liệu sơ cấp: tác giả tiến hành điều tra bằng cách phỏng vấn trực tiếp hoặc gửi phiếu khảo sát đến DN được giao đất, thuê đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Thời gian thực hiện thu thập dữ liệu từ tháng 11/2016 đến tháng 12/2016
3.3.2 Chọn mẫu nghiên cứu
Kích thước mẫu có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đánh giá, kết luận vấn đề nghiên cứu trong phân tích thống kê Theo Yamane (1967), kích thước mẫu cho một khảo sát có thể thực hiện theo công thức sau đây:
Trang 33𝑛 = 𝑁(1 + 𝑁 𝜀2)Trong đó,
n: là số lượng mẫu cần thực hiện điều tra, N: là tổng số DN được giao đất hoặc thuê đất tính trong năm 2015,
ε : là sai số
Theo thống kê của Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, tính đến năm 2015 toàn tỉnh có N = 521 DN được giao đất và thuê đất, với sai số là ε = 9%, từ công thức trên, được kích thước mẫu khảo sát là 100 quan sát Để đảm bảo độ tin cậy, tác giả của luận văn chọn cỡ mẫu cần điều tra là 120 DN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
3.3.3 Phương pháp chọn mẫu
Từ danh sách DN được giao đất hoặc thuê đất có sẵn trên dữ liệu Excel, tác giả sử dụng lệnh “Random” trích lọc ngẫu nhiên 120 DN trong 521 DN, đồng thời, chọn thêm 10 doanh nghiệp dự phòng trường hợp không tiếp cận được Dựa trên danh sách có được, tiến hành phỏng vấn các doanh nghiệp đến khi đủ số lượng mẫu khảo sát thì dừng phỏng vấn
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày mô hình và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Từ các khái niệm, lý thuyết kinh tế và các nghiên cứu liên quan đến luận văn, tác giả xây dựng quy trình nghiên cứu cho luận văn Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nợ đọng các khoản thu từ đất của DN bao gồm
10 biến giải thích ảnh hưởng đến biến phụ thuộc Mẫu khảo sát được chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên từ 120 DN được giao đất và thuê đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đến năm 2015 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được trình bày ở chương tiếp theo
Trang 34CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH KIÊN GIANG
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Kiên Giang thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích tự nhiên
là 6.348,53 km2, bằng 1,9% diện tích cả nước Phía Đông Bắc giáp tỉnh An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan; phía Bắc giáp Campuchia có đường biên giới dài 56,8km, với hơn 200 km bờ biển và 105 hòn đảo nổi lớn nhỏ
Dân số năm 2015 là 1.762.281 người, trong đó dân tộc chủ yếu là người Kinh, Khmer và Hoa Dân số của tỉnh phân bố không đều, thường tập trung ở ven trục lộ giao thông, kênh rạch, sông ngòi và ở một số đảo lớn Tỉnh Kiên Giang có
số lượng lao động dồi dào với lực lượng trong độ tuổi lao động trên 1,2 triệu người Cơ cấu lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 51,37%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 13,19%; khu vực dịch vụ chiếm 35,44% Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 52%, trong đó đào tạo nghề đạt 43%
Hình 4.1: Bản đồ tỉnh Kiên Giang
Nguồn: Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang