A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀIThực hiện Theo NQ 402000QH 10 của Quốc Hội, toàn quốc đã tiến hành thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông. Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại.Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên, nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành. Một câu hỏi rất thực tế đang đặt ra là: làm thế nào để học sinh có thể tiếp nhận và nhớ một cách đầy đủ lượng tri thức ngày càng tăng của nhân loại nói chung và kiến thức ở nhà trường nói riêng trong khi quỹ thời gian dành cho việc dạy và học không thay đổi? Sau nhiều năm đứng lớp, tôi nhận thấy trong quá trình học tập, học sinh tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người tự khám phá, tự biết hệ thống và ghi chép một cách logic. Ngược lại, nếu bắt các em phải ghi nhớ kiến thức một cách thụ động, dồn nén thì sẽ dẫn đến sự chán nản, ỷ lại, lười học,...Chính vì những điều trên tôi xin đưa ra một phương pháp mới đó là Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng Sơ đồ tư duy vào việc hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương Cơ học Vật lý 8” nhằm góp phần đẩy mạnh việc đổi mới và nâng cao chất lượng trong giảng dạy.II. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀINếu so sánh với phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú trọng đọc chép thì dạy học bằng sơ đồ tư duy là một phương pháp mới. Theo một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra. Vì vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não; giúp cho mỗi học sinh phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục mầu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa học, lôgíc, dễ hiểu. Sử dụng sơ đồ tư duy góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức phù hợp với từng đối tượng khác nhau. Nếu được hình thành thói quen vẽ sơ đồ tư duy kiến thức sẽ giúp cho học sinh hứng thú, sáng tạo và nhớ lâu, vận dụng tốt kiến thức đã học. Ðối với học sinh trung bình, cần tập cho học sinh có thói quen tự ghi chép hoặc tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc và học theo cách hiểu của các em dưới dạng sơ đồ tư duy. Cách làm này sẽ rèn luyện cho học sinh hướng tới cách suy nghĩ lôgíc, mạch lạc, giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học ’vẹt’. Giáo viên có thể hướng dẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi bài học vào một trang giấy giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ sơ đồ tư duy của bài đó ra là các em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng. Ðối với học sinh giỏi sử dụng sơ đồ tư duy để tìm chiến lược giải quyết một vấn đề hoặc tìm hiểu hướng giải một bài tập, phương pháp hệ thống hóa kiến thức...
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY VÀO VIỆC HỆ THỐNG HÓA KIẾN
THỨC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
CHƯƠNG CƠ HỌC VẬT LÝ LỚP 8
A PHẦN MỞ ĐẦU
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực hiện Theo NQ 40/2000/QH 10 của Quốc Hội, toàn quốc đã tiến hành thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học sinh trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện
đại.Trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên, nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương
pháp và nhu cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích trong học hành
Một câu hỏi rất thực tế đang đặt ra là: làm thế nào để học sinh có thể tiếp nhận và nhớ một cách đầy đủ lượng tri thức ngày càng tăng của nhân loại nói chung và kiến thức ở nhà trường nói riêng trong khi quỹ thời gian dành cho việc dạy và học không thay đổi?
Sau nhiều năm đứng lớp, tôi nhận thấy trong quá trình học tập, học sinh tỏ ra rất hứng thú và nhớ rất lâu những kiến thức khi chính các em là người tự khám phá,
tự biết hệ thống và ghi chép một cách logic Ngược lại, nếu bắt các em phải ghi nhớ kiến thức một cách thụ động, dồn nén thì sẽ dẫn đến sự chán nản, ỷ lại, lười học, Chính vì những điều trên tôi xin đưa ra một phương pháp mới đó là Sáng
Giáo viên: Nguyễn Thanh Dũng Năm học 2015-2016 1
Trang 2kiến kinh nghiệm “Vận dụng Sơ đồ tư duy vào việc hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương Cơ học Vật lý 8” nhằm góp phần đẩy mạnh việc đổi mới và nâng cao chất lượng trong giảng dạy
II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nếu so sánh với phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú trọng đọc -chép thì dạy học bằng sơ đồ tư duy là một phương pháp mới Theo một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà chính mình suy nghĩ, tự viết, vẽ ra Vì vậy, việc sử dụng sơ đồ tư duy giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não; giúp cho mỗi học sinh phát triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục mầu sắc, đường nét, các nhánh, sắp xếp các ý tưởng một cách khoa học, lô-gíc, dễ hiểu Sử dụng
sơ đồ tư duy góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nhất là vận dụng vào dạy học kiến thức mới hoặc hệ thống hóa kiến thức phù hợp với từng đối tượng khác nhau Nếu được hình thành thói quen vẽ sơ đồ tư duy kiến thức sẽ giúp cho học sinh hứng thú, sáng tạo và nhớ lâu, vận dụng tốt kiến thức đã học Ðối với học sinh trung bình, cần tập cho học sinh có thói quen tự ghi chép hoặc tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc và học theo cách hiểu của các em dưới dạng sơ đồ tư duy Cách làm này sẽ rèn luyện cho học sinh hướng tới cách suy nghĩ lô-gíc, mạch lạc, giúp các em hiểu bài, ghi nhớ kiến thức vào não chứ không phải là học thuộc lòng, học ’vẹt’ Giáo viên có thể hướng dẫn, gợi ý để các em tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của mỗi bài học vào một trang giấy giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần, chỉ cần rút tờ sơ đồ tư duy của bài đó
ra là các em nhanh chóng ôn lại kiến thức một cách dễ dàng Ðối với học sinh giỏi
sử dụng sơ đồ tư duy để tìm chiến lược giải quyết một vấn đề hoặc tìm hiểu hướng giải một bài tập, phương pháp hệ thống hóa kiến thức
IV ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Tìm hiểu việc sử dụng sơ đồ tư duy trong quá trình tổng kết bài hoc gặp những thuận lợi, khó khăn như thế nào trong quá trình dạy và học vật lý tại trường THCS
Trang 3Nghiên cứu sách khoa, sách giáo viên, sách bài tập vật lý 6,7,8,9
Nghiên cứu phần mềm tạo sơ đồ tư duy
Tiềm hiểu tư liệu trên Internet
Đề tài được thực hiện với học sinh khối 8 trường THCS Nguyễn Công Trứ -Krông Búk – Đắk Lắk
Thời gian thực hiện: Năm học 2015 – 2016
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dựa vào thực tế giảng dạy, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp, thông qua tham khảo sách báo, các thông tin đại chúng
Dựa vào công tác điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình học tập của học sinh
Dựa vào kinh nghiệm thực tế giảng dạy, các hoạt động thực tiễn, từ đó phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp trong việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học vật lý chương cơ học lớp 8
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng
và đào sâu các ý tưởng Đặc biệt sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng sơ đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập sơ đồ tư duy phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người Cơ chế hoạt động của sơ đồ tư duy là chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng(các nhánh) Sơ đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương và giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu, nhớ sâu
Giáo viên: Nguyễn Thanh Dũng Năm học 2015-2016 3
Trang 4II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
1 Thuận lợi – Khó khăn:
- Năm học 2015-2016 sau 5 năm ngành Giáo dục và Đào tạo triển khai giảng dạy theo sơ đồ tư duy ở bậc học THPT Vì vậy phần nào học sinh đã được làm quen với việc sử dụng sơ đồ tư duy cho việc học cngx như tổng kết bài học
Trường THCS Nguyễn Công Trứ được trang bị phòng máy chiếu để giáo viên giảng dạy rất thuận lợi cho giáo viên khi thực hiện việc ttoongr kết bài học hoặc tổng kết một chương học bằng sơ đồ tư duy
Một số phần mềm tạo sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ cho giáo viên khi trình bày Sơ đồ tư duy bằng máy chiếu
- Mặt dù học sinh đã được làm quen với việc học và tổng kết bài học bằng
sơ đồ tư duy tuy nhiên trước đây việc này thường là do giáo viên thực hiện Vì vậy khi cho học sinh tự tổng kết bài học theo cách nghĩ của mình bằng sơ đồ tư duy nhiều em còn lúng túng khi thiết lập một sơ đồ tư duy
2 Thành công – Hạn chế:
- Giúp học sinh hệ thống một bài học hoặc một chương một cách có hệ thống, mở rộng và khắc sâu kiến thức đã được học
- Sơ đồ tư duy chưa thể hiện được hết nội dung chi tiết của bài học
3 Mặt mạnh – Mặt yếu:
- Đây là khối lớp tôi đã được giảng dạy từ các lớp 6, lớp 7 Vì vậy tôi hiểu rõ tâm lý, khã năng tự học, tự rèn luyện, khã năng tư duy tìm tòi kiến thức mới hoặc một vấn đề nào đó của từng học sinh
Trong khi giảng dạy các em từ khối 6, khối 7 tôi đã tạo điều kiện để các em ghi chép bài học một cách chủ động bằng cách tự ghi lại nội dung thảo luận qua các câu hỏi xử lý tình huống, nhận xét … Giúp các em tạo thói quen tự lại nội dung bài học “chống đọc-chép” tạo tiền đề cho việc sử dụng sơ đồ tư duy cho việc hệ thống hóa kiến thức của bài học
Trang 5- Tuy nhiên học sinh hiện nay khã năng tự ghi lại bài học là rất chậm Học sinh chưa thật sự chủ động, tích cực trong tư duy, mà vẫn thụ động và phụ thuộc nhiều vào giáo viên
4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động…
Học sinh hiện nay có thói quen học bài trên lớp bằng cách đọc – chép, không chủ động, sáng tạo trong việc ghi chép lại bài học
Việc ghi nhớ bài học thì học vẹt, học thuộc lòng không hiểu không hệ thống được nội dung của bài học
Nguy hiểm hơn, sau bao nhiêu năm chuyện học thuộc lòng những bài đã được soạn sẵn từng câu từng chữ dẫn đến kỹ năng trình bày, nêu ý kiến cá nhân của nhiều “cựu học sinh” rất kém Trong nhiều trường hợp cần phát biểu thường thấy cảnh đùn đẩy nhau, rồi một người đại diện cho nhiều người để nói những vấn đề rất cá nhân Ta thấy hiện nay trong nhiều buổi phát biểu một
số người chỉ biết đứng cầm giấy đọc từ đầu đến cuối, mà không biết hệ thống hay giảng giải ý tưởng cần phát biểu theo bản chất của vấn đề
5 Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra.
Qua thực tế cho thấy việc giảng dạy này đã tạo hứng thú cho học sinh Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ ghi nhớ hơn Cùng một nội dung nhưng các
em có thể trình bày theo nhiều hướng khác nhau bằng cách thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học của mình
Ngay từ đầu năm học, sau khi đăng kí Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng Sơ
đồ tư duy vào việc hệ thống hóa kiến thức nhằm nâng cao chất lượng dạy học chương Cơ học Vật lý 8” tôi đã tìm hiểu, áp dụng việc tổng kết bài dạy vật lý chương cơ học bằng sơ đồ tư duy Qua thực tế giảng dạy trong các năm qua tôi tự lập
kế hoạch giảng dạy cho từng tiết học đặc biệt là phần tổng kết bài Trong việc tổng
Giáo viên: Nguyễn Thanh Dũng Năm học 2015-2016 5
Trang 6kết bài học bằng sơ đồ tư duy có thể sử dụng phần mềm hoặc không sử dụng phần mềm, nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau giúp học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học và cũng có thể cho học sinh tự tổng kết theo sự suy nghĩ của các em
III BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Thay đổi cách ghi bài học của học sinh theo cách đọc chép trước đây bằng phương pháp mới tự ghi chép vấn đề theo hiểu biết của mình và tăng cường khã năng tự học cho học sinh
Hướng dẫn học sinh tự tạo được sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức của bài học
2 Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Là người giáo viên trước tiên cần phải nắm vững chủ trương đối mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương trình sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, việc sử dụng các phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học phải phù hợp, thích ứng với từng hoạt động giúp học sinh tích cực trong tìm tòi, tiếp thu lĩnh hội kiến thức Vì vậy, tôi đã áp dụng 3 giải pháp sau:
-Hướng dẫn học sinh cách ghi chép bài một cách hệ thống theo định hướng mới “chống đọc chép” tạo tiền đề cho việc vận dụng sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức và tăng cường khả năng tự học
- Thay đổi cách củng cố bài học thông qua sơ đồ tư duy
- Hướng dẫn học sinh vận dụng sơ đồ tư duy hệ thống kiến thức từng bài, nhóm bài hoắc cả một chương của chương Cơ học lớp 8 với sự hỗ trợ của phần mềm Mindjet MindManager
Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh cách ghi chép bài một cách hệ thống theo định hướng mới “chống đọc chép” tạo tiền đề cho việc vận dụng sơ đồ tư duy hệ thống hóa kiến thức và tăng cường khả năng tự học.
Trang 7+ Biện pháp 1: Giới thiệu cho học sinh các kiểu ghi bài trong và ngoài lớp học
o Qua tìm hiểu nhiều tài liệu, tôi biết được có những cách ghi chép như sau:
Ghi chép theo kiểu đề mục
Ghi chép theo kiểu trích dẫn
Ghi chép theo kiểu luận đề
Ghi chép theo kiểu tự do
o Từ đầu năm học theo định hướng của ngành chống đọc chép, tôi đã giới thiệu đến học sinh các kiểu ghi chép trên Thực tế, các kiểu ghi chép này các
em cũng đã thực hiện rồi nhưng ít được biết đến tên và tác dụng cũng như hiệu quả của từng kiểu ghi Thông thường, tôi nhận thấy ở trường học sinh thường được hướng dẫn ghi chép bài học theo kiểu đề cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi chép theo kiểu tự do dành cho việc dự hội thảo hay chuyên đề…thì không được sử dụng trong quá trình học
o Điều đáng quan tâm là các kiểu ghi chép trên nếu được kết hợp với việc hệ thống kiến thức bài học theo kiểu sơ đồ tư duy sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam mê học tập hơn cho học sinh
+ Biện pháp 2: Hình thành thói quen ghi chép có hệ thống ở bộ môn vật
lý nói chung và chương Cơ học lớp 8 nói riêng
o Thật vậy, biết cách ghi chép bài sẽ giúp học sinh vừa ghi nhận lại thật tốt những kiến thức giáo viên cung cấp, vừa giúp cho các kiến thức ấy "đi thẳng vào đầu" học sinh một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn Để cải thiện việc ghi chép của mình, tôi đã yêu cầu học sinh cần lưu ý:
Làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, xem trước bài học mới
Giáo viên: Nguyễn Thanh Dũng Năm học 2015-2016 7
Trang 8 Đi học đầy đủ, nếu bạn bỏ một buổi học thì bạn phải mượn vở của bạn cùng lớp để ghi lại
Hãy để mỗi bài ghi chép ở một trang giấy riêng
Ngoài các loại bút thông thường, học sinh cần trang bị thêm các loại bút dạ quang để làm nổi những thông tin quan trọng
Dùng các ký hiệu để ghi bài nhanh hơn
Chú ý lắng nghe những lời giảng của giáo viên
Không cần ghi lại mọi lời giảng của giáo viên mà hãy tư duy để ghi những điều quan trọng nhất Luôn động não chứ đừng chỉ ghi chép như một cái máy
Nếu bỏ lỡ thông tin nào, hãy cách ra vài dòng để bổ sung sau, bằng cách hỏi lại giáo viên hay các bạn khác
Dành khoảng thời gian để xem xét lại những ghi chép
Ghi chép khi đọc một thông tin, một bài học mới nào đó ở sách giáo khoa sẽ giúp bạn nhớ được các thông tin đó
o Qua việc hướng dẫn cách ghi bài nói trên, tôi nhận thấy học sinh dần dần có những thay đổi đáng kể Cụ thể, các em đã tự tin hơn trong việc ghi chép ở lớp và chuẩn bị bài soạn ở nhà thông qua sự hướng dẫn của tôi Và, tôi nghĩ rằng việc hệ thống kiến thức sẽ rất dễ dàng với các em khi các em đã quen với việc viết bài có hệ thống như trên
Giải pháp 2: Thay đổi cách củng cố bài học thông qua sơ đồ tư duy.
+ Biện pháp 1: Nắm vững đặc điểm và bản chất của sơ đồ tư duy trong việc dạy học
o Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu về Sơ đồ tư duy, tôi nhận thấy rằng Sơ đồ tư duy là công cụ tư duy mang tính tự nhiên, nếu vận dụng vào dạy học
sẽ gây cảm hứng và niềm say mê học tập cho học sinh Đặc biệt, Sơ đồ tư duy rất phù hợp cho việc đọc, ôn tập, ghi chú
Trang 9o Có thể nói, đây là công cụ vô giá không những giúp cho học sinh mà cả giáo viên trong việc thu thập, phân loại thông tin
+ Biện pháp 2: Vận dụng Sơ đồ tư duy vào hoạt động củng cố bài học dưới hình thức các thẻ ôn bài
o Từ đó, tôi đã mạnh dạn vạch ra kế hoạch để hướng dẫn học sinh học tập theo Sơ đồ tư duy này Bước đầu, tôi áp dụng Sơ đồ tư duy vào việc củng
cố bài học ở lớp thông qua thẻ ôn bài, tóm tắt đề mục chính của bài học để tập dần
cho học sinh nhớ các từ khóa (nội dung chính cần nắm) của bài học Cụ thể, tôi lấy
ví dụ sau khi học xong bài Cơ năng tôi đã thực hiện việc củng cố như sau:
Tôi chuẩn bị trước các thẻ ôn bài với các từ khóa:
Sau đó, tôi đảo các thẻ để các nhóm hoặc cá nhân (tùy vào đối tượng lớp) chọn lựa và sắp xếp và nối các đường liên kết từ các thẻ lại sao cho hợp lí nhất
Và, kết quả thu được sau củng cố bài là hai dạng sơ đồ như sau:
Dạng sơ đồ thứ nhất:
Giáo viên: Nguyễn Thanh Dũng Năm học 2015-2016 9
CƠ NĂNG
ĐỘNG NĂNG
CÁC DẠNG CƠ NĂNG PHỤ THUỘC
PHỤ THUỘC PHỤ THUỘC
VẬN TỐC
ĐỘ CAO
THẾ NĂNG THẾ NĂNG ĐÀN HỒI
THẾ NĂNG HẤP DẪN
KHỐI LƯỢNG
ĐỘ BIẾN DẠNG ĐÀN HỒI
THẾ NĂNG
THẾ NĂNG ĐÀN HỒI
ĐỘ BIẾN DẠNG ĐÀN HỒI
CƠ NĂNG
ĐỘNG NĂNG
PHỤ THUỘC PHỤ THUỘC
PHỤ THUỘC
VẬN TỐC
ĐỘ CAO
THẾ NĂNG HẤP DẪN
KHỐI LƯỢNG
KHỐI LƯỢNG
Trang 10 Dạng sơ đồ thứ 2:
THẾ NĂNG HẤP DẪN
CƠ NĂNG DẠNG CÁC
CƠ NĂNG
THẾ NĂNG
ĐỘNG NĂNG PHỤ
THUỘC
PHỤ THUỘC
THẾ NĂNG ĐÀN
HỒI
PHỤ THUỘC
ĐỘ BIẾN DẠNG ĐÀN HỒI
ĐỘ CAO
KHỐI LƯỢNG