1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

DỰ ÁN CHỐNG CHỊU KHÍ HẬU TỔNG HỢP VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

19 447 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo REA bao gồm 05 hợp phần : 1. Giới thiệu về Đồng bằng Sông Cửu Long và lưu vực sông Mekong. 2. Những thách thức tồn tại trong ĐBSCL. 3. Những thay đổi tích lũy vùng ĐBSCL 4. Các đề xuất chiến lược để phát triển sinh kế bền vững ĐBSCL 5. Quản lý các tác động tích lũy của các tiểu dự án

Trang 1

DỰ THẢO BÁO CÁO TÓM TẮT ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG

VÙNG

Dự án Đầu tư sử dụng vốn ODA (vốn vay WB)

DỰ ÁN CHỐNG CHỊU KHÍ HẬU TỔNG HỢP VÀ SINH KẾ BỀN VỮNG ĐỒNG

BẰNG SÔNG CỬU LONG (Dự án MD-ICRSL)

Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Cơ quan đề xuất dự án: Ban Quản lý Trung ương các Dự án Thuỷ lợi Đơn vị thực hiện báo cáo: ICEM&VAWR

Trang 2

MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

MDICRSL Dự án Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững ĐBSCL

ICMB Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi

CPMU Ban Quản lý dự án Trung ương (trực thuộc CPO)

ĐTM

REA

Đồng Tháp Mười Đánh giá môi trường vùng

Trang 3

1 TÊN D Ự Á N

Tên tiếng Việt: Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long Tên tiếng Anh: Mekong Delta Integrated Climate Resilience and Sustainable Livelihoods Project

2 TÊN N H À TÀI TR Ợ

Ngân hàng Thế giới (WB)

3 TÊN CƠ Q UAN CH Ủ Q U Ả N, CH Ủ D Ự Á N

3.1 Cơ quan chủ quản

Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn

Địa chỉ liên lạc: Số 2, Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

Số điện thoại: (04) 38468160

3.2 Chủ dự án

Ban Quản lý Trung ương các dự án thuỷ lợi

Địa chỉ liên lạc: 23 Hàng Tre, Hoàn Kiếm, Việt Nam

Số điện thoại: (04) 38253921

4 TH Ờ I G IAN TH ỰC H I ỆN DỰ Á N

Dự kiến6 năm (2016 ÷ 2021)

Trang 4

BÁO CÁ O T Ó M T Ắ T

Báo cáo Đánh giá Môi trường vùng (REA) là một tài liệu góp phần xây dựng Dự án “ Chống chịu

khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (MDICRSL)” Mục tiêu phát triển của

Dự án (PDO) nhằm nâng cao năng lực quản lý và thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua việc cập nhật quy hoạch nâng cao hệ thống thông tin, tăng cường năng lực và phối hợp thể chế, và đầu tư cơ

sở hạ tầng thông minh thích hợp với khí hậu tại một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Các hoạt động được thực hiện bao gồm 05 hợp phần:

Hợp phần 1: Hiện đại hóa hệ thống đo đạc, phân tích và thể thể chế

Hợp phần 2: Quản lý lũ ở vùng Thượng nguồn

Hợp phần 3: Thích ứng với chuyển độ mặn ở Tiểu vùng Cửa sông

Hợp phần 4: Bảo vệ khu vực bờ biển trong Tiểu vùng Bán đảo

Hợp phần 5: Hỗ trợ quản lý và thực hiện Dự án

Mục tiêu chính của Báo cáo REA là: (i) Mô tả hiện trạng và phạm vi thực hiện REA; (ii) Thu thập các số liệu/thông tin cơ sở liên quan đến điều kiện kinh tế, xã hội vùng ĐBSCL cũng như tại các tiểu Dự án; (iii) Xác định các vấn đề môi trường và các tác động đến môi trường trong các kịch bản phát triển của ĐBSCL; và (iv) Đề xuất các biện pháp tổng hợp để củng cố năng lực quản lý môi trường vùng ĐBSCL

và chiến lược đầu tư của dự án

Các dữ liệu hiện có cũng như những thách thức và các kịch bản tương lại được sử dụng trong báo

cáo REA này cũng được trích từ nguồn báo cáo của dự án ‘Xây dựng sinh kế vùng ĐBSCL-Building

Resilience in the Mekong Delta’ Dự án này cung sử dụng bộ công cụ có tên gọi DELTA (DEveloping

Long Term Adaptation-Thích ứng với phát triển dài hạn) nhằm xây dựng khung Hỗ trợ ra quyết định (Decision Support Framework (DSF) nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc quyết định đầu tư phát triển tổng hợp các ngành nông nghiệp, tài nguyên nước và giao thông vùng ĐBSCL

Báo cáo REA bao gồm 05 hợp phần :

1 Giới thiệu về Đồng bằng Sông Cửu Long và lưu vực sông Mekong

2 Những thách thức tồn tại trong ĐBSCL

3 Những thay đổi tích lũy vùng ĐBSCL

4 Các đề xuất chiến lược để phát triển sinh kế bền vững ĐBSCL

5 Quản lý các tác động tích lũy của các tiểu dự án

1 Giới thiệu về Đồng bằng Sông Cửu Long và lưu vực sông Mekong

Sự phát triển thành công của vùng đồng bằng có thể là do hai yếu tố quan trọng Đầu tiên các

nguồn cung cấp nước ngọt tự nhiên của trầm tích và chất dinh dưỡng đầy bằng sông Cửu Long hàng năm biến đồng bằng là nơi cung cấp các thành phần quan trọng cho năng suất Trung bình, hàng năm mội khối lượng 120-160,000,000 tấn trầm tích được vận chuyển xuống hạ lưu với lũ vào đồng bằng Cửu Long của Việt Nam, với khoảng 15-20% đọng lại trên vùng châu thổ đồng vùng ngập nước

và phần còn lại được vận chuyển vào môi trường biển góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng vùng đồng bằng (ICEM 2012 ) Thứ hai, từ cuối những năm 1960, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực quy hoạch nhiệm vụ hướng dẫn việc kiểm soát nguồn nước ngọt của vùng đồng bằng để nâng số vụ lúa mỗi năm (Kakkonen et al, 2008)

Trang 5

Dân số tăng nhanh và phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thâm canh trong các thập kỷ qua đã làm giảm đáng kể giá trị tự nhiên ở đồng bằng Cải tạo dinh dưỡng đất và tạo nguồn nước,

thâm canh nông nghiệp, cũng như các tác động sinh thái tiêu cực của chiến tranh, đã làm giảm đáng

kể các khu rừng tự nhiên, vùng đất ngập nước và môi trường sống tự nhiên khác của đồng bằng.Nhiều vùng đất ngập nước như rừng ngập mặn, ao, hồ, đầm, phá và các vùng đồng cỏ ngập nước đang bị đe dọa tuyệt chủng do các công tác thủy lợi, trồng rừng, làm muối, và phát triển công nghiệp và trang trại nuôi tôm (MDP 2013)

Sau nhiều thập kỷ, các hệ thống canh tác dù đem lại năng suất cao, nhưng cũng lại làm đồng bằng ngập lũ đang dần thu hẹp, làm trầm trọng thêm nguy cơ lũ lụt ở nơi khác, môi trường sống vùng đất ngập nước đang bị suy thoái gây ra các vấn đề chất lượng nước trong khi khai thác nguồn nước là cách thức làm thay đổi sự cân bằng giữa đất liền và biển, gây hiện tượng lún bề mặt vùng đồng bằng

và gây nhiễm mặn (ICEM 2015) Năm bài học quan trọng từ đồng bằng sông Cửu Long là:

1 Hệ thống kiểm soát canh tác đa mùa vụ đã làm cạn kiệt độ phì của đất và cắt đứt

sự liên hệ về hệ sinh thái nông nghiệp từ quá trình bồi tụ tự nhiên của sông Mekong: Sự

tách biệt ngày một lớn của đồng bằng ngập nước vùng sông Cửu Long từ quá trình tích sông

để mở ra cơ hội cho việc trồng lúa vụ ba và vụ 2 đã đưa lại kết quả làm giảm dinh dưỡng và

giảm năng suất ở vùng trồng vụ 3 Tại An Giang, tổng sản lượng từ một số khu vực trồng vụ

ba đã có năng suất thực sự thấp hơn so với sản lượng từ khu vực trồng hai vụ mà vùng đó vẫn còn một phần kết nối với lũ hàng năm (Kakkonen et al, 2008);

2 Sự sụt lún đồng bằng Mekong đã làm trầm trọng thêm lũ lụt ở các khu vực không được bảo vệ: sự mất mát của đồng bằng ngập lũ đã làm tăng lên mức lũ lụt tại các khu vực

được bảo vệ còn lại và xả lũ tập trung ở các kênh sông Cửu Long và phân lưu Tình trạng lũ lụt tồi tệ cũng có dẫn đến các vấn đề xuyên biên giới giữa Việt Nam và Campuchia, và dòng chảy lũ do hiện đại hóa kênh mương đã làm gia tăng các vấn đề về bờ sông và xói lở bờ biển (ICEM 2012);

3 Việc xả lũ ở vùng đất ngập nước ở đồng bằng nhằm mở rộng diện tích nông nghiệp đã dẫn đến tăng nồng độ axit của môi trường nước mặt làm tác động tới hệ sinh thái

(đặc biệt là thủy sản) và cung cấp nước Thiếu các biện pháp xử lý nước thải và sử dụng các hoá chất nông nghiệp cũng đã giảm chất lượng nước mặt Sự suy giảm của các dịch vụ cung cấp đã có ảnh hưởng tới người nghèo vùng Đồng bằng, đối tượng mà nguồn sinh kế của họ phụ thuộc hoàn toàn vào đồng bằng;

4 Nông nghiệp vào mùa khô đang dịch chuyển sự cân bằng của đồng bằng giữa môi trường nước ngọt và nước mặn: nhu cầu nước tăng lên để hỗ trợ nông nghiệp mùa khô đã

làm cạn kiệt nguồn nước ngầm, tăng cường sự xâm nhập mặn, tăng độ mặn của nguồn nước

và thúc đẩy tỷ lệ sụt lún đất ở vùng Đồng bằng (MDP, 2013); và

5 Sáng kiến kiểm soát nước tập trung như kiểm soát nước mặn ở các vùng ven biển của đồng bằng thường hạn chế sinh kế và cơ hội kinh tế cho người nông dân tìm cách tận dụng lợi thế của phát triển thị trường: thị trường điều khiển sự xung đột giữa nuôi tôm và

trồng lúa trong đầu những năm 2000 đã tiết lộ thiếu linh hoạt và mức độ thích ứng chậm chạp của một phương pháp tiếp cận cơ sở hạ tầng theo định hướng để kiểm soát môi trường châu thổ và xung đột giữa các mục tiêu của chính phủ trong sản xuất lúa gạo và doanh nghiệp nông dân tư nhân để tối ưu hóa lợi nhuận kinh tế cho nỗ lực canh tác của họ Nhiều bài học trên đại diện cho vùng ĐBSC, không chỉ trong ranh giới tỉnh và hành chính và hay các biện pháp công trình và phi công trình để đáp ứng những thách thức này; Tuy nhiên, những xu hướng và thách thức khác nhau phụ thuộc vào khu sinh thái nước

Trang 6

2 Những thách thức hiện tại ở đồng bằng sông Cửu Long

Để phân tích sâu hơn, vùng đồng bằng được chia thành ba tiểu vùng sinh thái nước dựa trên sự cân bằng giữa những ảnh hưởng hải văn biển và thượng lưu:

1 Vùng thượng nguồn (Hợp phần 2): phía Bắc, bao gồm các bậc thang phù sa, hệ

thống kiểm soát lũ nông nghiệp lớn đã chuyển nước lũ đến các khu vực khác của ĐBSCL và làm giảm tác dụng có lợi từ lũ trong đó bao gồm gia tăng độ phì nhiêu cho đất, bổ sung nước ngầm, và duy trì hệ sinh thái nước bao gồm các tỉnh Long An Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp Các đồng bằng ngập lũ bị chi phối bởi yếu tố đầu vào là nguồn nước ngọt từ các lưu vực và lũ ngập của sông Tiền và sông Hậu.Trong mùa mưa, mực nước lũ thường xuyên vượt quá 2,0m;

2 Vùng cửa sông (Hợp phần 3): bao gồm các khu vực cửa sông Vĩnh Long, Trà Vinh,

Sóc Trăng và Bến Tre Vùng triều dưới ảnh hưởng của hỗn hợp thủy văn thượng cũng như quá trình ven biển như thủy triều xâm nhập mặn gây ra và kênh chảy ngược Trong các cửa sông đồng bằng dưới hỗn hợp ảnh hưởng ven biển và nước ngọt, lúa vẫn là cây trồng quan trọng, chiếm 30% diện tích của vùng, với nuôi trồng thủy sản nước lợ chiếm thêm 11%;

3 Vùng Bán đảo (Hợp phần 4): Nằm ở phía Đông và khu vực phía Nam của đồng bằng,

nơi mà điều kiện khí tượng thủy hải văn ven biển chiếm ưu thế và lượng mưa cục bộ là nguồn nước ngọt chính Vùng bán đảo chi phối bởi ảnh hưởng vùng ven biển và hạn chế nước ngọt đầu vào, nuôi trồng thủy sản nước lợ là việc sử dụng đất chi phối chiếm 41% diện tích toàn vùng

Một bản tóm tắt của các khu sinh thái cho các dự án MDICRL được cung cấp dưới đây

1.1.1 Vùng thượng nguồn (Hợp phần 2)

Các vùng lũ đồng bằng phía trên đang bị chi phối bởi yếu tố đầu vào từ nguồn nước ngọt sông Meekong và lũ lụt hàng năm của sông Tiền và sông Hậu và bao gồm các tỉnh trọng điểm An Giang và Đồng Tháp Trong mùa mưa, mực nước lũ thường xuyên vượt quá 2,0m Lũ lụt ở đồng bằng là một quá trình tự nhiên duy trì năng suất và thúc đẩy sự phát triển năng động của đồng bằng sông Cửu Long Các sự kiện lũ lụt hàng năm có nhiệm vụ bổ sung các trầm tích màu mỡ, đây là yếu tố quan trọng để phục vụ sản xuất nông nghiệp Lúa là cây trồng chủ đạo cho chiếm gần 70% sản lượng nông nghiệp ở An Giang và Đồng Tháp (Hình 1)

Hình 1: Sử dụng đất nông nghiệp ở An Giang và Đồng Tháp

Trang 7

Hầu hết các khu vực đã được chuyển đổi thành đất nông nghiệp thâm canh lúa Các loại hình sử dụng đất cho các vùng lũ đồng bằng trên được thể hiện trong hình 2

Hình 2: Các loại sử dụng đất trong vùng thượng nguồn

Biến đổi khí hậu dự kiến sẽ mang lại chế độ mùa lũ cao hơn và rõ rệt hơn, những thách thức chính là

để giữ lại lũ thiên nhiên và bảo vệ các tỉnh phía hạ lưu ngập lụt

1.1.2 Cửa sông (Hợp phần 3)

Khu vực này có đặc trưng tự nhiên là dòng chảy thấp trong mùa khô cho phép nước mặn xăm nhập sâu vào đất liền Trong hai mươi năm qua, hệ thống nước ngọt khép kín được thiết kế để sản xuất lúa đã được xây dựng trong vùng này bao gồm các khu lấn biển lớn bao quanh bởi các con đê và các cống kiểm soát mặn Tính bền vững lâu dài của chiến lược này có vấn đề do sự giảm sút lượng nước trong mùa khô và mực nước biển dâng, lúa vẫn là cây trồng quan trọng, chiếm 30% diện tích của tỉnh, với nuôi trồng thủy sản nước lợ chiếm thêm 11% (Hình 3)

Trang 8

Hình 3: Sử dụng đất nông nghiệp ở Bến Tre và Trà Vinh

Dân số tăng nhanh và phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản thâm canh trong các thập kỷ qua đã làm giảm đáng kể giá trị tự nhiên ở cửa sông đồng bằng (MDP 2013) Sử dụng đất đai, và cơ

sở hạ tầng ngành nước hiện tại vùng cửa sông được thể hiện trong hình 4

Hình 4: Sử dụng đất nông nghiệp ở vùng cửa sông Xâm nhập mặn vào các cửa sông vùng đồng bằng là giảm năng suất nông nghiệp và dẫn đến tình trạng thiếu nước ngọt mùa khô Dao động triều xâm nhập mặn hơn 80km nội địa, ảnh hưởng đến

40% của đồng bằng sông Cửu Long (SIWRR, 2010) Bảy tỉnh rất dễ bị xâm nhập mặn, bao gồm: Kiên

Trang 9

Giang, Trà Vinh, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu, Long An, với hơn 1 triệu ha có nồng độ mặn

trên 4g / L (Hình 5)

Hình 5: Thời gian của xâm nhập mặn (> 4g / L) ở cửa sông đồng bằng

Vùng Bán đảo

Vùng bán đảo chi phối bởi ảnh hưởng ven biển và nước ngọt hạn chế đầu vào, nuôi trồng thủy sản nước lợ là việc sử dụng đất chi phối chiếm 41% diện tích toàn tỉnh (Hình 6)

Hình 6: Sử dụng đất nông nghiệp ở các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu

Trang 10

Các loại hình sử dụng đất vùng bán đảo được thể hiện trong hình 7 Rừng ngập mặn và các khu rừng

tự nhiên ở vùng đồng bằng là quan trọng đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ bờ biển khỏi triều cường và xâm nhập mặn

Hình 7: Các loại sử dụng đất ở bán đảo

Các xu hướng hiện tại và những thách thức và thay đổi tích lũy cho vùng thượng nguồn, vùng cửa sông và bán đảo được phân tích trong phần 2, một bản tóm tắt của các xu hướng và thách thức đối với ba khu vực được thể hiện trong hình 8

Trang 11

Hình 8: Tóm tắt các xu hướng và thách thức trong hệ sinh thái

3 Những thay đổi tích lũy ở Đồng bằng sông Cửu Long

Khung hỗ trợ ra quyết định do Ngân hàng Thế giới hỗ trợ thông qua việc thực hiện dự án "Xây dựng

Năng lực thích ứng ở đồng bằng sông Cửu Long ', được sử dụng để xác định những thay đổi tích lũy

ở Đồng bằng sông Cửu Long và ba tiểu vùng trên lưu vực chính sẽ thay đổi:

1 Lượng mưa và nhiệt độ thay đổi: Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng sự biến động

của lượng mưa theo mùa, làm cho mùa mưa ẩm ướt hơn và mùa khô khô hơn và phân cực các điều kiện theo mùa của các lưu vực với tỷ lệ mắc lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng hơn và thường xuyên;

2 Phát triển thủy điện ở lưu vực sông Mekong: Nhanh chóng mở rộng phát

trienr thủy điện ở lưu vực sông Mekong sẽ làm thay đổi thời gian của thủy văn vùng

hạ lưu trong các hoạt động thường xuyên và có thể dẫn đến xả tràn khẩn cấp lớn trong cơn bão Các hồ chứa thủy điện cũng sẽ tác động đến quá trình vận chuyển bùn cát, trầm tích và giảm tỷ lệ bội lắng tự nhiên trong môi trường ngập lũ cũng như;

3 Thay đổi sử dụng đất: Các xu hướng của nạn phá rừng, đô thị hóa và mở

rộng nông nghiệp sẽ tiếp tục làm thay đổi sự cân bằng thủy văn và xâm nhập nhanh chóng; và

4 Mực nước biển dâng (SLR): Mực nước biển sẽ làm thay đổi sự cân bằng

giữa các điều kiện nước ngọt và các cửa sông ở đồng bằng, vấn đề xâm nhập mặn

Trang 12

sâu hơn vào vùng đồng bằng làm ảnh hưởng đến nước ngầm và vĩnh viễn làm ngập khu vực rộng lớn của đồng bằng sông Cửu Long

Phát triển thủy điện ở thượng nguồn có hai tác động chính trên hệ thống với quy mô tác động phụ thuộc vào loại dự án thủy điện sông Mekong Đầu tiên các hồ chứa có một điều chỉnh ảnh hưởng

đến dòng chảy, trong đó cho phép việc lưu trữ nước từ mùa mưa do quá trình lưu chứa trong mùa khô Quy định này làm suy giảm của dòng lũ sông Mekong đã được xác định là động lực chính đằng sau năng suất của môi trường đồng bằng ngập lũ đồng bằng sông Mekong (Kummu et al, 2006)

Thứ hai, các hồ chứa có tác dụng rào cản về việc vận chuyển trầm tích, chất dinh dưỡng và các sinh vật sinh học Ngoài dòng chảy của nước, sông Mê Công cũng vận chuyển một lượng lớn trầm

tích, chất dinh dưỡng, cá và các sản phẩm thủy sản khác Trầm tích và chất dinh dưỡng được vận chuyển từ các sườn đồi của vùng núi vùng thượng lưu, xuống tới vùng đồng bằng và môi trường ven biển của sông Cửu Long

Phân tích các dữ liệu hàng ngày, các dữ liệu lịch sử và khí hậu trong tương lai tại sáu trạm chính ở hạ lưu sông Mê chỉ ra rằng bản chất của sự thay đổi là phù hợp dọc theo sông Mekong và có thể được tóm tắt bằng bốn thay đổi chính:

Tăng cường độ lũ và khối lượng: Đặc điểm nổi bật của xung lũ sông Cửu Long là một đỉnh lũ

duy nhất trong tháng Tám và tháng Chín Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng dòng chảy trong mùa

lũ và kích thước của đỉnh lũ Trong điều kiện của sự thay đổi tỷ lệ phần trăm về khối lượng, tăng 25% lưu lượng tại Chiang Saen, khoảng 20% giữa Vientiane và Pakse, và 15% từ Pakse đến Kratie (ADB 2014; MRC 2011);

Tăng trong thời gian lũ: Qua tất cả các trạm, biến đổi khí hậu sẽ làm tăng thời gian mùa lũ;

Rút ngắn mùa chuyển tiếp và khởi đầu của lũ lụt: Biến đổi khí hậu sẽ rút ngắn mùa chuyển

tiếp tại tất cả các trạm và tăng tốc độ tăng của xuất viện Điều này sẽ đẩy nhanh tốc độ của quá trình chuyển đổi từ khô đến lũ lụt và ngược lại (ADB 2014); và

Tăng mức nước mùa khô: Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng dòng chảy mùa khô để đáp ứng với

sự gia tăng lượng mưa mùa khô cho hầu hết các vùng lưu vực sông Mekong Tất cả các đặc điểm xung lũ mô phỏng chỉ ra rằng những năm trung bình và khô thủy văn có thể sẽ ẩm ướt hơn trong tương lai (Keskinen et al 2014)

Đồng bằng sông Cửu Long sẽ đặc biệt dễ bị tổn thương trước những tác động của biến đổi khí hậu

do tác động của gia tăng lũ lụt và nước biển dâng Các dân số hơn 17 triệu người ở sông Mekong

đang trực tiếp bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong điều kiện dòng chảy và chất lượng nước ở thượng lưu Trong trường hợp xấu nhất, vào năm 2050:

 Dòng trầm tích vùng đồng bằng sẽ giảm 94%;

 Lượng dòng chảy mùa khô sẽ giảm 18%;

 Lượng dòng chảy lũ trung bình hàng năm sẽ giảm 22%; và

 Đỉnh lũ của Dòng chảy lũ hàng ngày sẽ tăng đáng kể với tần suất 100 năm lũ lịch sử

trở thành lũ lịch sử trong 20 năm và trong 10 năm sẽ có lũ lịch sử trong 5 năm

Mực nước biển dâng kết hợp bởi một diện tích đất đồng bằng bị thu hẹp sẽ làm thay đổi sự cân bằng giữa các các vùng nước ngọt và các cửa sông ở đồng bằng Nước ngầm kết hợp với địa chất

độc đáo và đặc điểm địa chất tự nhiên đã dẫn đến tỷ lệ sụt lún đất theo thứ tự 0,5 - 3.3cm / năm (Erban et al, 2014), với các điểm nóng tập trung vào các vùng bán đảo Cà Mau và các vùng ngập ở trung tâm vùng Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang

Ngày đăng: 12/11/2017, 11:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w