ĐẶT VẤN ĐỀ TÓM TẮT MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM CÁC TỪ VIẾT TẮT PHẦN 1: MỤC ĐÍCH – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Mục đích nghiên cứu 2. Nội dung nghiên cứu 3. Phương pháp nghiên cứu PHẦN 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM 1. Giai đoạn thí điểm 2. Ban hành Nghị định của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR 3. Các nội dung chính của Nghị định 99 PHẦN 3: NHỮNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2014 1. Kết quả về tổ chức thực hiện 2. Kết quả về xác lập cơ chế chi trả DVMTR 3. Kết quả về kinh tế 4. Kết quả về môi trường 5. Kết quả về xã hội PHẦN 4: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ THIẾU SÓT CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG 1. Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được giữa các tỉnh không đồng đều 2. Sự chênh lệch về mức chi trả tiền DVMTR trên một ha trong một năm 3. Chưa có sự gắn kết giữa việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR với các hoạt động bảo vệ rừng trong Kế hoạch BVPTR đến năm 20 4. Tiến độ rà soát, xác định rừng và chủ rừng để chi trả DVMTR chậm 5. Chưa có hướng dẫn về xác định ranh giới, diện tích rừng cung ứng DVMTR cho dịch vụ du lịch và nhà máy sản xuất nước sạch, hoặc các dịch môi trường khác 6. Một số vấn đề quản lý Ban điều hành quỹ Tỉnh cần được hoàn thiện 7. Chưa thống nhất về việc trích và sử dụng quỹ phòng 8. Chưa quy định rõ chức năng của Hội đồng quản lý Quỹ tỉnh 9. Chưa quy định và hướng dẫn công việc giám sát chi trả DVMTR 10. Mức chi trả DVMTR hiện tại thấp 11. Chưa có hướng dẫn thực hiện chi trả trực tiếp 12. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách chi trả DVMTR chưa hiệu quả 13. Chưa có cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ PHẦN 5: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ BA NĂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM 1. Đánh giá chung về những thành công đã đạt được 2. Đánh giá chung về những hạn chế và thiếu sót PHẦN 6: SO SÁNH VIỆC THỰC HIỆN CHI TRẢ DVMTR CỦA VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ 1. So sánh việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR của Việt Nam và quốc tế 2. Các đánh giá và so sánh khác PHẦN 7: KHUYẾN NGHỊ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG 1. Một số nội dung trong Nghị định 99 cần điều chỉnh, bổ sung 2. Nội dung trong Nghị định 05 cần điều chỉnh, bổ sung 3. Một số thông tư cần ban hành 4. Khuyến nghị đối với các nhà tài trợ PHẦN 8: KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Nghị định 99: Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
Trang 1(2011-2014)
Trang 2Ấn phẩm này được xuất bản với sự hỗ trợ từ nhân dân Mỹ thông qua Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và nội dung này không nhất thiết phản ánh quan điểm của USAID hay Chính phủ Hoa Kỳ.
© Nga Dang/Winrock International
Trang 32 Nội dung nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu
PHẦN 2: QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM
1 Giai đoạn thí điểm
2 Ban hành Nghị định của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR
3 Các nội dung chính của Nghị định 99
PHẦN 3: NHỮNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2014
PHẦN 4: NHỮNG HẠN CHẾ VÀ THIẾU SÓT CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
1 Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được giữa các tỉnh không đồng đều
2 Sự chênh lệch về mức chi trả tiền DVMTR trên một ha trong một năm
3 Chưa có sự gắn kết giữa việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR với các hoạt động
bảo vệ rừng trong Kế hoạch BV&PTR đến năm 20
4 Tiến độ rà soát, xác định rừng và chủ rừng để chi trả DVMTR chậm
5 Chưa có hướng dẫn về xác định ranh giới, diện tích rừng cung ứng DVMTR cho dịch vụ
du lịch và nhà máy sản xuất nước sạch, hoặc các dịch môi trường khác
8 9 12 13 14
141414
16
161818
20
2028455362
74
747576
778
6 Một số vấn đề quản lý Ban điều hành quỹ Tỉnh cần được hoàn thiện
7 Chưa thống nhất về việc trích và sử dụng quỹ phòng
8 Chưa quy định rõ chức năng của Hội đồng quản lý Quỹ tỉnh
9 Chưa quy định và hướng dẫn công việc giám sát chi trả DVMTR
10 Mức chi trả DVMTR hiện tại thấp
11 Chưa có hướng dẫn thực hiện chi trả trực tiếp
12 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách chi trả DVMTR chưa hiệu quả
13 Chưa có cơ chế cho sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ
PHẦN 5: ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ BA NĂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM
1 Đánh giá chung về những thành công đã đạt được
2 Đánh giá chung về những hạn chế và thiếu sót
PHẦN 6: SO SÁNH VIỆC THỰC HIỆN CHI TRẢ DVMTR CỦA VIỆT NAM VÀ QUỐC TẾ
1 So sánh việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR của Việt Nam và quốc tế
2 Các đánh giá và so sánh khác
PHẦN 7: KHUYẾN NGHỊ ĐIỀU CHỈNH, BỔ SUNG CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
1 Một số nội dung trong Nghị định 99 cần điều chỉnh, bổ sung
2 Nội dung trong Nghị định 05 cần điều chỉnh, bổ sung
3 Một số thông tư cần ban hành
4 Khuyến nghị đối với các nhà tài trợ
PHẦN 8: KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Nghị định 99: Nghị định về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng
8184858687888989
92
9293
96
96105
116
116116116116
122 124 132
Trang 4Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được tại tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La trong hai năm
thí điểm, 2009-2010
Thống kê các tỉnh đã thực hiện Nghị định 99 (đến tháng 8/2014)
Thực trạng về nhân sự và tổ chức của một số Quỹ tỉnh
Mức độ hoàn thành việc rà soát rừng và chủ rừng để chi trả DVMTR ở một số tỉnh
Tiền chi trả DVMTR bình quân cho một ha rừng của một số tỉnh
Hệ số K được áp dụng ở một số tỉnh để chi trả DVMTR
Quản lý và sử dụng tiền DVMTR của VNFF trong 3 năm 2011-2013
Tình hình quản lý, sử dụng tiền DVMTR năm 2013 của một số Quỹ tỉnh
Tổng số tiền DVMTR thu được từ năm 2011 đến tháng 8/2014
Tiền DVMTR thu từ năm 2011 đến 8/2014 theo đối tượng và loại DVMTR
Tiền DVMTR của các đối tượng nộp tiền theo từng năm
So sánh số lượng tiền chi trả DVMTR giữa các Quỹ tỉnh
So sánh số lượng tiền DVMTR của Quỹ tỉnh và cấp quản lý
Tổng hợp diện tích rừng được quản lý, bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR năm 2013
Diện tích rừng được bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR
Vi phạm lâm luật trong 3 năm thực hiện PFES
Thống kê số hộ dân tham gia chi trả DVMTR trong 3 năm 2011-2013
Lý do các hộ dân tham gia chi trả DVMTR
Lý do các hộ không tham gia chi trả DVMTR
So sánh mức chi trả tiền DVMTR giữa tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La
Các thay đổi trong hoạt động lâm nghiệp của hộ dân ở tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Sơn La
sau khi nhận tiền chi trả DVMTR (năm 2011)
Chênh lệch mức chi trả tiền DVMTR giữa các lưu vực
So sánh số lượng CBCNV của một số Quỹ tỉnh
Các loại dịch vụ hệ sinh thái
Ví dụ về các hình thức và mức chi trả PES theo kinh nghiệm quốc tế
Các lưu vực đầu nguồn xuyên biên giới tại Việt Nam
758298102107
Hệ thống tổ chức của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng
Tổ chức bộ máy của Quỹ BV&PTR Việt Nam
Cơ cấu tổ chức của Ban điều hành VNFF
Lộ trình chi trả tiền DVMTR của những người dân sử dụng DVMTR cho những người dân cung ứng DVMTR (trường hợp chi trả gián tiếp)
Trang 5Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 (sau
đây gọi tắt là Nghị định 99) của Chính phủ về chính
sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) bắt
đầu thực hiện từ ngày 01/01/2011, đến nay đã hơn
3 năm
Đây là một chính sách tạo ra cơ chế dịch vụ chi trả
giữa những người sử dụng các DVMTR và những
người cung ứng DVMTR, nhằm xã hội hóa công tác
bảo vệ rừng và phát huy các giá trị kinh tế của môi
trường rừng trong hoàn cảnh nguồn tài nguyên
gỗ rừng tự nhiên đã cạn kiệt và vốn ngân sách Nhà
nước đầu tư cho bảo vệ rừng rất hạn chế
Trong những năm qua chính sách chi trả DVMTR
đã mang lại những hiệu quả thực tế và quan trọng
cho việc bảo vệ rừng, tăng thu nhập cho những
người dân sống trong vùng rừng, góp phần cung
ứng nguồn nước cho sản xuất thủy điện và nước
sạch, cảnh quan thiên nhiên cho du lịch, bảo vệ
môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện chính sách,
việc tổ chức thực hiện và bản thân nội dung chính
sách đã bộc lộ những vấn đề cần điều chỉnh để
chính sách chi trả DVMTR sẽ mang lại những kết quả
tốt đẹp hơn về kinh tế, xã hội và môi trường
Báo cáo này là một báo cáo tư vấn độc lập, do các chuyên gia quốc tế và trong nước thực hiện nhằm cung cấp cho Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) và Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam (VNFF) những nhận xét, đánh giá theo góc nhìn của chuyên gia
về quá trình 3 năm thực hiện và những nội dung cần điều chỉnh chính sách chi trả DVMTR để phục
vụ cho việc sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR do Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức
Các chuyên gia tư vấn xây dựng báo cáo này gồm:
1 PGS.TS Pamela McElwee, Trường đại học Rutgers, Hoa Kỳ, Trưởng nhóm
2 TS.Nguyễn Chí Thành, thành viên nhóm xây dựng Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả DVMTR, chuyên gia tư vấn độc lập
Các thông tin đầu vào và sự trợ giúp khác cũng được các thành viên của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam gồm Ông Phạm Hồng Lượng (Phó Giám đốc), Bùi Nguyễn Phú Kỳ, Nguyễn Thị Minh Hương
và Bùi Thị Vân Tổ chức Winrock International và Dự
Án rừng và Đồng bằng cũng hỗ trợ về mặt hành chính và góp ý cho báo cáo
Nghị định số 99/2010/ND-CP ban hành ngày 24/09/2010 (gọi tắt là Nghị định 99) về Chi trả dịch
vụ môi trường rừng (DVMTR) đã được chính phủ Việt Nam triển khai thực hiện trong ba năm Mục tiêu là nhằm:
1) Huy động các nguồn lực xã hội cho công tác bảo
vệ rừng và nâng cao giá trị kinh tế của môi trường rừng thông qua việc thiết lập các mối quan hệ về dịch vụ và chi trả giữa bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng (DVMTR)
2) Sử dụng nguồn thu từ chi trả DVMTR để nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng để cung ứng DVMTR, tăng cường hơn nữa hiệu quả của công tác bảo vệ rừng
3) Tạo cơ chế tài chính mới cho ngành lâm nghiệp thông qua việc sử dụng ngân sách ngoài nhà nước cho công tác bảo vệ rừng
Bản báo cáo này đánh giá kết quả 3 năm thực hiện Nghị định 99 và chỉ ra một số thành tựu đạt được cũng như những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện
Các thành tựu chính về mặt thể chế:
Thành lập hệ thống Quỹ bảo vệ và phát triển rừng
từ trung ương đến địa phương: Bộ NN&PTNT đã thành lập Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam (VNFF) ở trung ương và 36 Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (FPDF) ở cấp tỉnh Trong đó, 32 Quỹ đang tích cực thực hiện chi trả DVMTR
Các thành tựu chính về mặt kinh tế:
Chi trả thành công DVMTR: Chi trả DVMTR đã được
áp dụng cho các công ty thủy điện (mức chi trả là
20 đồng/kwh), các cơ sở chế biến nước sạch (mức chi trả là 40 đồng/kwh) và các công ty du lịch (1-2% tổng doanh thu) Tổng số tiền chi trả DVMTR thu được trong ba năm qua tính đến tháng 8/2014 là 3.329 tỷ đồng (tương đương 157 triệu USD), trong
đó hầu hết đến từ các doanh nghiệp thủy điện (97%), nước sạch (2%) và các doanh nghiệp du lịch (dưới 1%)
Các thành tựu chính về mặt môi trường:
Một diện tích rừng lớn đã được bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR: đã xác định được 4,1 triệu ha rừng đầu nguồn cung ứng DVMTR Tiền chi trả DVMTR hàng năm được trả cho chủ rừng để bảo vệ 2,8-3,37 triệu ha rừng, chiếm khoảng 20-27% tổng diện tích rừng cả nước
Trang 6Các thành tựu về mặt xã hội:
Một số lượng lớn các hộ gia đình tham gia: Tính
đến năm 2013, tổng số hộ gia đình tham gia bảo
vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR là 355.047 hộ,
trong đó phần lớn là các hộ nghèo và hộ dân tộc
thiểu số Số tiền chi trả DVMTR bình quân hàng
năm mà mỗi hộ nhận được là 1.800.000 đồng (cao
hiện như sau:
Có sự khác biệt về tổng số tiền thu được từ chi trả
DVMTR giữa các tỉnh: Có sự khác nhau về mức chi
trả cho mỗi ha rừng giữa các lưu vực sông trong
một tỉnh và giữa các lưu vực sông của các tỉnh liền
kề, dẫn đến thắc mắc trong các cộng đồng dân cư
Không có sự kết nối giữa thực hiện chính sách chi trả
DVMTR với các hoạt động bảo vệ rừng nằm trong
Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng đến năm 2020:
Thiếu sự phối hợp và liên kết giữa thực thi chính
sách chi trả DVMTR và Kế hoạch Bảo vệ và Phát
triển rừng giai đoạn 2011-2020, trong khi cả hai
đều có chung mục tiêu là bảo vệ rừng
Công tác rà soát tiến độ và xác định các khu rừng
và chủ rừng phục vụ chi trả DVMTR còn chậm: Sau
3 năm, việc xác định rừng và chủ rừng vẫn còn là
một hạn chế trong thực thi chính sách chi trả
DVM-TR Mục đích là nhằm xác định vị trí, ranh giới, diện
tích và hiện trạng của các khu rừng cung ứng
DVM-TR cần phải bảo vệ mà chủ rừng là các tổ chức, hộ
gia đình, và các hộ nhận khoán rừng Tuy nhiên, số
liệu hiện có không chính xác và có sự khác biệt lớn
giữa bản đồ và thực tế
Chưa có hướng dẫn về việc phân ranh hay xác định chi trả DVMTR đối với du lịch và nước sạch, hay các dịch vụ môi trường khác: Chi trả DVMTR đã cơ bản
được thực hiện cho 3 trong số 5 loại DVMTR quy trong Nghị định 99 (thủy điện, nước sạch và du lịch) Trong đó, chi trả cho các dịch vụ liên quan quan đến thủy điện tương đối hoàn thiện, trong khi các dịch vụ liên quan đến du lịch và nước sạch chưa được thực hiện đầy đủ do chưa xác định được ranh giới và diện tích rừng cung ứng dịch vụ cho các công ty nước sạch và du lịch Các dịch vụ môi trường khác như các bon và cung ứng bãi đẻ cho nuôi trồng thủy sản chưa được thực hiện do thiếu tài liệu hướng dẫn
Cần điều chỉnh các vấn đề liên quan đến quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh: Chưa có hướng
dẫn cụ thể trong Nghị định 99 hay các thông tư có liên quan về vai trò của Hội đồng quản lý Quỹ, mối quan hệ giữa Hội đồng quản lý Quỹ với Ban Điều hành Quỹ, và chưa có quy định rõ ràng về việc lập
và sử dụng quỹ dự phòng ở cấp tỉnh
Chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về giám sát chi trả DVMTR: Chi trả DVMTR đã thực hiện được 3
năm nhưng hiện vẫn chưa có cơ chế giám sát Lý
do chính là giám sát chi trả DVMTR không được quy định trong Nghị định 99 Do đó, để đảm bảo tính bền vững lâu dài của chính sách, cần phải có một hệ thống giám sát thống nhất hơn, đảm bảo
sự hài lòng cho các đối tượng nộp tiền, và bên cung ứng dịch vụ đang cung ứng các dịch vụ phù hợp và được trả tiền cho việc cung ứng đó
Mức chi trả DVMTR còn thấp: Hầu hết các hộ gia
đình nhận tiền chi trả DVMTR đều cho rằng mức chi trả quá thấp và không tương xứng với công
sức họ bỏ ra để bảo vệ rừng Giá điện và nước đã tăng lên nhiều lần nhưng mức chi trả DVMTR vẫn
cố định là 20 đồng/kwh và 40 đồng/kwh Mức chi trả liên quan đến dịch vụ thủy điện và nước sạch cần phải được điều chỉnh tăng hợp lý và tính theo
tỉ lệ phần trăm của giá điện, nước Ngoài ra, chúng
ta không thể khẳng định được rằng chi trả DVMTR
là vì người nghèo vì đơn giản, chúng ta không có
số liệu về việc có bao nhiêu người nhận tiền chi trả DVMTR là người nghèo so với số hộ giàu và trung bình, vì thế cần thu thập số liệu về những người nhận tiền chi trả DVMTR và mục tiêu của các hợp đồng chi trả DVMTR
So sánh với các kinh nghiệm quốc tế:
Bản báo cáo này cũng có so sánh việc thực hiện chi trả DVMTR tại Việt Nam với chi trả DVMTR trên thế giới thông qua việc xem xét quy mô và phạm vi của các chính sách chi trả DVMTR, so sánh về bên cung ứng và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, về thỏa thuận chia sẻ lợi ích và về hiệu quả và giám sát Báo cáo cũng đề cập đến khả năng chi trả DVMTR xuyên biên giới và mối liên kết với REDD+
cũng như các sáng kiến quốc tế khác Báo cáo cũng chỉ ra rằng, các chính sách chi trả DVMTR/DVMT trên thế giới đang hướng tới quá trình toàn diện và có
sự tham gia hơn, và các bài học này cũng có thể áp dụng được ở Việt Nam
Các khuyến nghị khác:
Báo cáo này có phần Khuyến nghị về việc sửa đổi Nghị định 99, Nghị định 05 và các thông tư hướng dẫn cũng như đưa ra một số khuyến nghị cho các nhà tài trợ
Trang 7Ban quản lý rừng phòng hộBảo vệ và phát triển rừngCộng đồng dân cưDịch vụ môi trường rừng
Hộ gia đìnhKinh tế kỹ thuậtNghị định số 99/2010/NĐ-CPNông nghiệp và Phát triển nông thônPhòng cháy chữa cháy rừng
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt NamRừng đặc dụng
Rừng phòng hộRừng sản xuấtTài nguyên và Môi trườngTổng cục Lâm nghiệp
Ủy ban nhân dân
BQLRPHBV&PTRCĐDCDVMTRHGĐKTKTNghị định 99NN&PTNTPCCCRVNFFRĐDRPHRSXTN&MTTCLNUBND
Trang 8MỤC ĐÍCH – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm:
Khảo sát, thu thập thông tin, đánh giá quá trình
3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Việt
Nam từ cấp trung ương đến cấp tỉnh và cấp cơ sở
Cung cấp cho TCLN và VNFF một báo cáo đánh
giá độc lập, khách quan về quá trình 3 năm thực
hiện chính sách chi trả DVMTR ở Việt Nam do các
chuyên gia tư vấn quốc tế và Việt Nam thực hiện
để phục vụ hội nghị quốc gia sơ kết 3 năm thực
hiện chính sách này dự kiến sẽ tổ chức vào cuối
tháng 9/2014
Chia sẻ thông tin và cung cấp các bài học kinh
nghiệm về chi trả DVMTR của Việt Nam với cộng
đồng quốc tế
2 Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng mục đích công việc như trên, các nội
dung nghiên cứu chính bao gồm:
a) Quá trình tổ chức thực hiện chính sách ở cấp
trung ương và cấp địa phương
b) Các loại DVMTR đã thực hiện và chưa thực hiện
c) Các cơ chế chi trả DVMTR đã thực hiện
d) Các kết quả đã đạt được
e) Những tồn tại, vướng mắc cần khắc phục, điều chỉnh
f) Các khuyến nghị về điều chỉnh nội dung chính
sách và việc tổ chức thực hiện
3 Phương pháp nghiên cứu
Để xây dựng báo cáo, nhóm chuyên gia tư vấn đã:
a) Thu thập tài liệu, số liệu, thông tin hiện có tại Văn phòng VNFF ở Hà Nội, bao gồm số liệu của VNFF và số liệu của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng các tỉnh (gọi tắt là Quỹ tỉnh) nộp cho VNFF
b) Thu thập các ý kiến, quan điểm, nhận xét về chính sách chi trả DVMTR và việc thực hiện chính sách này trong 3 năm qua của những người là Lãnh đạo TCLN, Lãnh đạo VNFF và các cán bộ của VNFF trong các cuộc họp tại VNFF (ngày 11/8/2014) và TCLN (ngày 12/8/2014)
c) Thu thập các số liệu, thông tin, tài liệu tại 6 tỉnh:
Lào Cai: Tham dự cuộc thảo luận về chi trả
DVMTR với đại diện của 10 Sở NN&PTNT, Quỹ BV&PTR các tỉnh vùng Tây Bắc và Đông Bắc Làm việc với Quỹ BV&PTR tỉnh Lào Cai
Thừa Thiên Huế: Thu thập thông tin, số liệu và
thảo luận với Chi cục Lâm nghiệp và Quỹ BV&PTR tỉnh Thừa Thiên Huế, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Hương, lãnh đạo UBND xã và các hộ dân xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông
Quảng Bình: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng về triển khai chi trả DVMTR về du lịch, những thuận lợi, khó khăn, trở ngại, phương hướng giải quyết
Bình Phước: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Quỹ BV&PTR tỉnh Bình Phước, Vườn quốc gia Bù Gia Mập về tình hình 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, những kết quả, vấn đề cần kiến nghị Phỏng vấn các hộ dân tham gia bảo vệ rừng về những hoạt động tuần tra rừng họ thực hiện, tiền chi trả DVMTR
họ được nhận, thu nhập và sinh kế, những khó khăn, kiến nghị của họ
Đồng Nai: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Quỹ BV&PTR tỉnh Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên về tình hình 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, những kết quả, cơ chế chi trả của 3 tỉnh (Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai) mà Vườn quốc gia Cát Tiên đang thực hiện, các vấn
đề cần kiến nghị Phỏng vấn các hộ dân tham gia bảo vệ rừng về những hoạt động tuần tra rừng họ thực hiện, tiền chi trả DVMTR họ được nhận, thu nhập và sinh kế, những khó khăn, kiến nghị của họ Làm việc với Công ty Lâm nghiệp La Ngà, là một doanh nghiệp có khoán rừng cho dân bảo vệ để thực hiện chính sách chi trả DVMTR
Hòa Bình: Thu thập thông tin, số liệu và thảo
luận với Nhà máy thủy điện Hòa Bình về những vấn đề của bên phải nộp tiền khi thực hiện Nghị định 99 Làm việc với Sở NN&PTNT và Quỹ BV&PTR tỉnh Hòa Bình về tình hình 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR đối với một tỉnh nằm ở cuối nguồn của sông Đà
d) Các số liệu, tài liệu do PGS.TS McElwee và nhóm nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tài nguyên
và môi trường và trung tâm Tropenbos đã thu thập trong các chương trình khảo sát từ 2011-2013, bao gồm các cuộc điều tra hộ gia đình được thực hiện với sự tham gia của các hộ gia đình ở tỉnh Sơn La và tỉnh Lâm Đồng nhằm hiểu rõ hơn về tác động của PFES với các hộ gia đình và bản chất giảm nghèo
từ chi trả và chia sẻ lợi ích
e) Các số liệu, tài liệu do TS.Nguyễn Chí Thành thu thập: i) tại các đợt khảo sát để chi trả DVMTR ở tỉnh Quảng Nam năm 2011 (tư vấn cho Dự án GASF/Winrock International); ii) tại các đợt khảo sát để
cố vấn cho tỉnh Quảng Nam triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR năm 2012 (tư vấn cho
Dự án của ADB); iii) tại đợt khảo sát tình hình chi trả DVMTR ở các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông năm 2013 (tư vấn cho
Dự án của GIZ); iv) tại đợt khảo sát thu thập số liệu năm 2014 để xây dựng báo cáo đánh giá 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Nghệ
An (tư vấn cho Dự án VFD/Winrock International)
© Winrock International
Trang 91 Giai đoạn thí điểm
Chính sách chi trả DVMTR bắt đầu được thực hiện
ở Việt Nam từ năm 2008 theo Quyết định số 380/
QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ
Khởi đầu là gần 3 năm thí điểm ở tỉnh Sơn La, đầu
nguồn lưu vực sông Đà ở miền Bắc và tỉnh Lâm
Đồng, đầu nguồn lưu vực hệ thống sông Đồng Nai
Tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện cả 3 loại dịch vụ trên,
còn tỉnh Sơn La chỉ thực hiện được 2 loại dịch vụ,
không thực hiện được dịch vụ về du lịch
Các nhà tài trợ quốc tế đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp thực hiện các hoạt động thí điểm
Ví dụ: Với sự tài trợ của USAID, Dự án Winrock
đã trang bị cho tỉnh Lâm Đồng thiết bị thu thập
mẫu và số liệu về xói mòn đất và chất lượng nước
ở đầu nguồn hồ thủy điện Đa Nhim để giám sát
chất lượng cung ứng DVMTR cho hồ thủy điện và
hướng dẫn sử dụng mô hình SWAT để phân tích
mô hình Chuyên gia của Dự án Winrock đã làm
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG Ở VIỆT NAM
việc với Tổng công ty cấp nước Sài Gòn để phối hợp nghiên cứu mức độ đồng thuận của thành phố Hồ Chí Minh trong chi trả DVMTR
Dự án Winrock đã cung cấp cho Bộ NN&PTNT các kết quả nghiên cứu xác định mức chi trả tiền DVMTR của thủy điện, nước sạch và du lịch để trình Thủ tướng Chính phủ Việt Nam xem xét Mức chi trả đã được Thủ tướng quyết định là 20 đồng/
kwh (US$0.0013/kwh) đối với thủy điện, 40 đồng/
tổng doanh thu đối với du lịch Mức chi trả này được áp dụng trong 3 năm thí điểm (2008-2010) tại tỉnh Sơn La và tỉnh Lâm Đồng, sau đó áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định 99
Bên trả tiền DVMTR để thí điểm đã được Thủ tướng Chính phủ quy định tại Quyết định 380 Ở tỉnh Lâm Đồng có: Nhà máy thủy điện Đa Nhim; Nhà Máy thủy điện Đại Ninh; Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (SAWACO), Công ty cấp nước Biên Hòa và 5 doanh nghiệp du lịch ở thành phố Đà Lạt Ở tỉnh Sơn La có: Nhà máy thủy điện Hòa Bình; Nhà máy thủy điện Suối Sập; và một số công ty cấp nước Tiền chi trả DVMTR được chuyển đến Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của hai tỉnh và trong hai năm đầu thí điểm tỉnh Lâm Đồng đã thu được gần 5 triệu USD, tỉnh Sơn La đã thu được gần 3 triệu USD
© VNFF
Trang 10Đến tháng 3/2010, Thủ tướng Chính phủ tổ chức
hội nghị quốc gia để tổng kết giai đoạn thí điểm
chính sách chi trả DVMTR và đánh giá việc thực
hiện thí điểm chính sách đã góp phần quan trọng
vào công tác bảo vệ rừng, xóa đói giảm nghèo cho
đồng bào vùng núi, đặc biệt là đồng bào dân tộc
sống trong vùng rừng, tạo ra một cơ chế tài chính
mới cho ngành Lâm nghiệp
Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì
xây dựng một Nghị định của Chính phủ về chính
sách chi trả DVMTR để áp dụng trên toàn quốc
2 Ban hành Nghị định của Chính phủ về chính
sách chi trả DVMTR
Với sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính của Tổ chức
Winrock International, Bộ NN&PTNT đã hoàn
thành việc dự thảo Nghị định và Thủ tướng Chính
phủ đã ký ban hành Nghị định số 99/2010/NĐ-CP
ngày 24/9/2010, có 5 Chương và 25 Điều
Mục tiêu của chính sách chi trả DVMTR là:
Xã hội hóa công tác bảo vệ rừng thông qua việc
phát huy giá trị kinh tế của môi trường rừng,
thiết lập quan hệ dịch vụ và chi trả giữa những
người sử dụng DVMTR và những người cung
ứng DVMTR
Sử dụng nguồn tiền chi trả DVMTR để cải thiện
thu nhập cho các hộ dân tham gia bảo vệ rừng
để cung ứng DVMTR, từ đó phát huy hiệu quả
của công tác bảo vệ rừng
Tạo ra một cơ chế tài chính mới cho ngành Lâm
nghiệp bằng phương thức chi trả ủy thác nguồn
kinh phí không phải từ ngân sách Nhà nước cho
d) Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;
e) Cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống
tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản
Nghị định 99 quy định 5 loại DVMTR so với 3 loại trong giai đoạn thí điểm, vì:
Khi Nghị định 99 được soạn thảo và chuẩn bị ban hành thì Việt Nam bắt đầu thực hiện Chương trình UN-REDD, nên Chính phủ đã quy định loại DVMTR về “Hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững” để tạo cơ sở gắn kết các chương trình lâm nghiệp
có các mục tiêu và cơ chế chi trả giống nhau
Trong giai đoạn thí điểm, các DVMTR chỉ tập trung cho vùng đầu nguồn của các lưu vực sông
là chính, trong khi Việt Nam có hơn 3.200 km bờ biển với rừng ngập mặn, hệ sinh thái đất ngập nước ven biển và khoảng 2 triệu ha đất ngập nước nội địa, hệ sinh thái rừng tràm, nên Chính phủ đã quy định loại DVMTR về “Cung ứng bãi
đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản”
3.2 Quy định các nguyên tắc chi trả
a) Các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền DVMTR
Tiền chi trả DVMTR là tiền của các tổ chức, cá nhân trong xã hội có sử dụng và được hưởng lợi từ DVMTR
b) Thực hiện chi trả DVMTR bằng tiền thông qua hình thức chi trả trực tiếp và gián tiếp
c) Tiền chi trả DVMTR thông qua Quỹ BV&PTR là tiền của bên sử dụng DVMTR ủy thác cho Quỹ để trả cho các chủ rừng cung ứng DVMTR
Tiền chi trả DVMTR không phải là tiền ngân sách Nhà nước và Quỹ BV&PTR làm nhiệm vụ chi trả theo sự ủy thác của bên sử dụng DVMTR
d) Tiền chi trả DVMTR là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng DVMTR và không thay thế thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật
Các doanh nghiệp có sử dụng DVMTR sẽ hạch toán tiền chi trả DVMTR vào giá thành sản phẩm và đại diện cho những người sử dụng sản phẩm của họ để nộp tiền cho Quỹ BV&PTR hoặc thu trực tiếp từ người
sử dụng thông qua các chứng từ (hóa đơn, vé,…)
Tiền chi trả DVMTR không phải là thuế, phí và lệ phí
e) Đảm bảo công khai, dân chủ, khách quan, công bằng
Quá trình chi trả tiền DVMTR từ nơi nộp tiền đến Quỹ BV&PTR, cho đến các chủ rừng và các hộ dân nhận khoán rừng phải công khai, có sự thảo luận để đạt sự đồng thuận, phù hợp với các điều kiện cụ thể của địa phương và đảm bảo sự công bằng trong chi trả.
3.3 Quy định các đối tượng phải chi trả và mức chi trả
a) Các đối tượng đã được quy định mức chi trả:Các cơ sở sản xuất thủy điện: 20 đồng/ 1kwh điện thương phẩm
Các cơ sở sản xuất nước sạch: 40 đồng/ 1m3 nước thương phẩm
Các cơ sở kinh doanh du lịch: 1-2% doanh thu trong kỳ
b) Các đối tượng chưa quy định mức chi trả:
Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước từ rừng
c) Các loại DVMTR chưa xác định được đối tượng chi trả và mức chi trả:
Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản
3.4 Quy định 3 đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR
a) Các chủ rừng là tổ chức;
b) Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
c) Các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng
Trang 11NHỮNG KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2014
1 Kết quả về tổ chức thực hiện
1.1 Thành lập Quỹ BV&PTR từ trung ương đến địa phương
Bộ NN&PTNT đã thành lập Quỹ BV&PTR Việt Nam và Ban điều hành Quỹ
Theo số liệu của VNFF (2014), Ban chỉ đạo chi trả DVMTR đã được thành lập ở 40 tỉnh, trong đó có 36
tỉnh đã thành lập Quỹ BV&PTR và có 22 Quỹ tỉnh trong số này đã ổn định về tổ chức và thực hiện chi trả
DVMTR (xem Bảng 2)
© Winrock International
Trang 121.2 Hoạt động của các Quỹ BV&PTR
1.2.1 Nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR theo Nghị định
05/2008/NĐ-CP
Quỹ BV&PTR (sau đây gọi là Quỹ) được thành lập
theo quy định tại Nghị định số 05/2008/NĐ-CP
ngày 14/1/2008 của Chính phủ (sau đây gọi là Nghị
định 05)
Một trong những mục đích thành lập Quỹ là “Huy
động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ và phát
triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội
hóa nghề rừng”
Điều kiện quan trọng để thành lập Quỹ là có nhu cầu cần thành lập và có khả năng huy động các nguồn tài chính cho Quỹ hoạt động ổn định, lâu dài và hiệu quả
Quỹ là tổ chức tài chính nhà nước, được mở tài khoản tại ngân hàng hoặc Kho bạc Một trong những nhiệm vụ của Quỹ là thực hiện sự ủy thác của các tổ chức và cá nhân ở trong và ngoài nước
Về tổ chức của Quỹ, Nghị định 05 quy định có 2 cấp Quỹ là cấp trung ương và cấp tỉnh theo sơ đồ sau:
1.2.2 Nhiệm vụ của Quỹ BV&PTR theo Nghị định
Điều phối tiền chi trả DVMTR cho các Quỹ tỉnh
Là đầu mối kiểm tra việc nộp tiền của bên nộp
và sử dụng tiền của Quỹ tỉnh Báo cáo tình hình thu chi tiền DVMTR cho Bộ NN&PTNT
1.2.3 Thành lập và hoạt động của Quỹ Bảo vệ và
phát triển rừng Việt Nam
VNFF được thành lập theo Quyết định số 114/2008/
QĐ-BNN ngày 28/11/2008 của Bộ NN&PTNT và trực thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ NN&PTNT
Nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Quỹ như sau1:
e) Thực hiện các quy định của pháp luật về thống kê, kế toán, kiểm toán và báo cáo với Bộ NN&PTNT
f) Bảo toàn, phát triển nguồn vốn của Quỹ và bù đắp chi phí quản lý
g) Hướng dẫn, trao đổi kinh nghiệm về nghiệp vụ quản lý Quỹ
h) Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ NN&PTNT giao
Quyền hạn của VNFF:
a) Phân bổ kinh phí cho từng chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án theo kế hoạch hàng năm được duyệt
b) Kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện chương trình, dự án hoặc các hoạt động phi dự án được Quỹ hỗ trợ
c) Đình chỉ, thu hồi kinh phí đã hỗ trợ khi phát hiện
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
vi phạm cam kết về sử dụng kinh phí hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật có liên quan
d) Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành, bổ sung, sửa đổi các quy định
về đối tượng, hoạt động được hỗ trợ từ Quỹ
(1) Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2011 và kế hoạch công tác năm 2012 của VNFF
Trang 13Tổ chức bộ máy của VNFF:
Tổ chức của Quỹ bao gồm: Hội đồng quản lý Quỹ;
Ban kiểm soát; và Ban điều hành Quỹ (xem sơ đồ 2)
a) Hội đồng quản lý Quỹ có 9 thành viên, do Thứ
trưởng Bộ NN&PTNT là Chủ tịch Hội đồng Các
thành viên là đại diện của Tổng cục Lâm nghiệp,
các Vụ, Cục của Bộ NN&PTNT, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư, Bộ Tài chính
1.2.4 Thành lập và hoạt động của các Quỹ tỉnh
Điều 22 của Nghị định 99 quy định UBND các tỉnh phải thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách chi trả DVMTR (sau đây gọi là Ban chỉ đạo) do Chủ tịch UBND cấp tỉnh là trưởng ban
Tổ chức bộ máy của Quỹ tỉnh
Cũng giống như VNFF, Quỹ BV&PTR của tỉnh cũng bao gồm: Hội đồng quản lý Quỹ; Ban kiểm soát Quỹ; và Ban điều hành Quỹ
Nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức này cũng tương tự như của VNFF
Ban điều hành của các Quỹ tỉnh
Hiện tại, ban điều hành của các Quỹ tỉnh rất khác nhau về cơ cấu tổ chức và nhân lực Cụ thể như sau:
Có Quỹ tỉnh do UBND tỉnh trực tiếp quản lý (Quảng Nam), có Quỹ do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý (Điện Biên, Nghệ An, Lâm Đồng), có Quỹ lại trực thuộc Chi cục Lâm nghiệp (Thừa Thiên Huế)
Có nơi toàn bộ Ban điều hành (BĐH) Quỹ là người kiêm nhiệm kể cả kế toán (là các cán bộ của Chi cục Lâm nghiệp được giao thêm nhiệm
vụ điều hành Quỹ)
Có nơi một bộ phận của BĐH Quỹ là người kiêm nhiệm, một bộ phận là người chuyên trách
Có Quỹ thì toàn bộ nhân viên được hưởng lương
từ nguồn ngân sách tỉnh; có Quỹ chỉ một bộ phận được hưởng lương từ nguồn ngân sách tỉnh còn lại tiền lương từ nguồn kinh phí quản
lý 10%; có Quỹ thì toàn bộ tiền lương nhân viên từ nguồn 10%
b) Ban kiểm soát Quỹ gồm 3 thành viên, làm việc kiêm nhiệm, do Hội đồng quản lý Quỹ quyết định
c) Ban điều hành Quỹ đặt tại Tổng cục Lâm nghiệp, gồm Giám đốc Quỹ, 01 Phó giám đốc Quỹ, kế toán trưởng và các bộ phận nghiệp vụ (xem sơ đồ 3)
Trang 14Trong các Quỹ có toàn bộ nhân viên chuyên trách,
số lượng nhân viên của BĐH cũng khác nhau, có
Quỹ chỉ có 6 người, có Quỹ đến 30 người
Cơ cấu các bộ phận của BĐH Quỹ cũng khác
nhau, có nơi 3 phòng, có nơi 5 phòng nghiệp vụ
Xu hướng chung là số lượng nhân viên của Ban
điều hành Quỹ tỷ lệ thuận với số lượng tiền chi
trả DVMTR mà Quỹ thu được, nghĩa là số tiền
thu được nhiều thì số lượng nhân viên cũng
nhiều hơn
Quỹ BV&PTR tỉnh Lâm Đồng có số lượng nhân viên chuyên trách hưởng lương từ nguồn tiền quản lý (10%) nhiều nhất trong cả nước (30 người) với tỷ lệ bình quân 01 người quản lý 4,7
tỷ đồng (30 người/144,7 tỷ đồng) Trong khi
tỷ lệ này ở một số tỉnh có số lượng tiền chi trả DVMTR thu được thấp là 01 người quản lý 583 triệu đồng (6 người/3,5 tỷ đồng)
Cần có văn bản hướng dẫn và quy định về định mức số lượng nhân viên theo số lượng nguồn thu và trách nhiệm quản lý tiền chi trả DVMTR
Cần có văn bản hướng dẫn và quy định về cấp
cơ quan thẩm quyền quản lý Quỹ tỉnh theo mức
số lượng tiền chi trả DVMTR thu được và phải quản lý Cụ thể: mức số lượng tiền chi trả DVMTR bao nhiêu thì Quỹ trực thuộc quản lý của UBND tỉnh, mức bao nhiêu thì trực thuộc quản lý của
Sở NN&PTNT v.v
(2) Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác năm 2013 của các Quỹ tỉnh nộp cho VNFF
Trang 151.3 Chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn thực hiện chi
trả DVMTR
Các cơ quan từ Bộ NN&PTNT, Tổng cục Lâm nghiệp,
VNFF, UBND các tỉnh, các Sở NN&PTNT, các Quỹ tỉnh
đã rất tích cực chỉ đạo, điều hành, đôn đốc, hướng
dẫn, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong
việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR bằng các
văn bản, các cuộc hội nghị, cuộc họp Đây là yếu
tố có tính quyết định để việc triển khai thực hiện Nghị
định 99 khởi động và vận hành trong thời gian bắt đầu
Theo số liệu thống kê của các Quỹ tỉnh, số lượng
văn bản mà các cơ quan của tỉnh đã ban hành để
triển khai thực hiện Nghị định 99 trong 3 năm qua
bình quân thấp nhất là 11 văn bản, phổ biến là
40-50 văn bản, gồm công văn, quyết định, chỉ thị
Theo khảo sát của chuyên gia Dự án VFD, riêng ở
tỉnh Nghệ An trong 3 năm qua UBND tỉnh đã ban
hành 80 văn bản, Sở NN&PTNT đã ban hành 92 văn
bản, Quỹ tỉnh ban hành 195 văn bản để chỉ đạo,
điều hành triển khai thực hiện Nghị định 99
1.4 Nhận xét chung về công tác tổ chức thực hiện
Có hai yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự
thành công của việc thực hiện chính sách chi trả
DVMTR trong ba năm qua, đó là:
1) Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN&PTNT, Tổng cục
Lâm nghiệp và UBND các tỉnh đã rất khẩn trương
khởi động và vận hành các công việc chi trả DVMTR
Không có sự khởi động của cơ quan nhà nước có
quyền lực thì việc triển khai thực hiện chính sách
này sẽ chậm hơn nhiều
2) Hệ thống Quỹ BV&PTR từ trung ương đến các
tỉnh được thành lập khá sớm, đặc biệt là vai trò
đầu tầu của VNFF đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thu tiền DVMTR từ các doanh nghiệp và từ đó mọi hoạt động chi trả DVMTR mới bắt đầu
Căn cứ vào sự đa dạng trong các cách tiếp cận và quản lý của các cơ quan ban ngành chúng ta có thể thấy rằng:
1) Cần có văn bản chính thức quy định số lượng cán bộ của Quỹ tỉnh tùy theo tổng thu từ chi trả DVMTR gắn với trách nhiệm quản lý cho thống nhất
2) Cần có văn bản quy định về trách nhiệm quản
lý Quỹ tỉnh Điều kiện nào thì Quỹ tỉnh trực thuộc UBND cấp tỉnh quản lý, điều kiện nào thì Quỹ tỉnh trực thuộc Sở NN&PTNT quản lý
2 Kết quả về xác lập cơ chế chi trả DVMTR
2.1 Các loại DVMTR đã thực hiện chi trả
Trong 5 loại DVMTR được quy định tại Nghị định
99, có 3 loại DVMTR đã thực hiện chi trả, gồm:
Dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối
Dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội
Dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn
đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục
2.2 Lý do chưa thực hiện chi trả cho các loại DVMTR khác
Các loại DVMTR chưa thực hiện chi trả và lý do như sau:
1) Dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững
Lý do: Tại Nghị định 99, Chính phủ giao cho Bộ
NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện chi trả đối với loại DVMTR này để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
2) Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản
Lý do: Thủ tướng Chính phủ giao cho Bộ NN&PTNT
tổ chức nghiên cứu thí điểm chi trả loại DVMTR này, sau đó tổng kết, báo cáo Thủ tướng xem xét quyết định Bộ NN&PTNT đang xây dựng đề án thí điểm và chuẩn bị tổ chức thí điểm
Tỉnh Lào Cai vừa mới bắt đầu xây dựng thí điểm cơ chế chi trả DVMTR từ nuôi trồng thủy sản tại nước mặt và hồ chứa Cơ chế thí điểm dự kiến thu từ hoạt động nuôi cá hoặc lượng nước sử dụng trong nuôi trồng (chẳng hạn 30 đồng/m3) và ước tính sẽ thu được khoảng 2 tỷ đồng cho các vùng rừng đầu nguồn cung cấp nước và từ các công ty tư nhân nuôi trồng thủy sản trong tỉnh Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng hầu hết các cơ sở nuôi trồng thủy sản là các hộ gia đình nhỏ lẻ và các công ty thực hiện giao dịch tiền mặt là chính hoặc các công ty
có hệ thống kế toán tài chính không rõ ràng, do đó việc thu tiền chi trả DVMTR sẽ có khó khăn (phỏng vấn tỉnh ngày 8/8/2014)
3) Tại Nghị định 99, Chính phủ cũng giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ có liên quan xây dựng văn bản hướng dẫn thực hiện chi trả đối với các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nước trực tiếp từ nguồn nước đối với loại DVMTR
về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất
Lý do: Chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện
2.3 Xác định các đối tượng nộp tiền chi trả DVMTR
Như phần trên đã trình bày, trong 3 năm qua có 3 loại DVMTR được thực hiện chi trả, gồm:
Dịch vụ về bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối đối với sản xuất thủy điện
Dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội đối với sản xuất nước sạch
Dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch
Theo số liệu của VNFF, tính đến tháng 8/2014 các Quỹ BV&PTR đã ký được 351 hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với các cơ sở sản xuất thủy điện, nước sạch và kinh doanh du lịch Trong tổng số
Trang 16Qua các số liệu trên có thể nhận thấy: Tại 28 tỉnh
thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiền chi
trả DVMTR thu được từ:
Tất cả 28 tỉnh có nguồn thu từ các nhà máy thủy
điện (100% ngân sách) Nguồn thu này do VNFF
quản lý hoặc được Quỹ tỉnh tự thu, điều này tùy
thuộc vào địa điểm đặt nhà máy thủy điện
Có 17 tỉnh có thu nhập từ các công ty cung cấp
nước (61% ngân sách) Nguồn thu này do VNFF
điều phối hoặc do Quỹ tỉnh tự thu, phụ thuộc
vào địa điểm đặt công ty cấp nước
4 tỉnh (14% ngân sách) có nguồn thu từ các công
ty du lịch, và tất cả đều do Quỹ tỉnh thu (Lào Cai,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, và Lâm Đồng
Số lượng hợp đồng mà VNFF và các Quỹ tỉnh ký
với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện chiếm
phần lớn trong tổng số hợp đồng và đã tạo ra
nguồn thu chủ yếu để thực hiện chính sách chi
trả DVMTR Nguồn thu từ du lịch rất hạn chế, cơ
bản là do hầu hết các tỉnh chưa xác định được
chính xác các sản phẩm/dịch vụ du lịch và các công ty du lịch nào hiện đang sử dụng DVMTR (xem thêm phần trao đổi về vấn đề này tại Phần 4)
Tỷ lệ giữa các hợp đồng đã phản ánh đúng thực trạng về tiềm năng cung ứng dịch vụ môi trường của rừng và khả năng chi trả của các đối tượng
Tuy nhiên, cho đến nay rất nhiều người vẫn cho rằng các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch và du lịch là các đối tượng sử dụng DVMTR nên phải trả tiền DVMTR Và rất nhiều người dân bảo vệ rừng được nhận tiền DVMTR nhưng họ cũng không
hiểu đó là tiền của những người dân sử dụng điện, nước sạch, sản phẩm du lịch đã ủy thác cho các doanh nghiệp trả cho họ Điều này chứng tỏ công
tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật về chính sách chi trả DVMTR còn rất thiếu và yếu (xem
sơ đồ 4)
Một trong những nguyên tắc chi trả DVMTR quy định tại Nghị định 99 (khoản 1 điều 5) là mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội được hưởng lợi từ DVMTR phải chi trả tiền DVMTR cho những người bảo vệ khu rừng để tạo ra dịch vụ đã cung ứng
Điều này cần được làm cho cả xã hội hiểu rõ và đúng để thấy nghĩa vụ và quyền lợi của mình
Đặc biệt là các doanh nghiệp phải nộp tiền chi trả DVMTR hiểu rõ lý do và bổn phận mà họ phải nộp
2.4 Xác định các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR
a) Các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR theo quy định tại Nghị định 99
Điều 8 Nghị định 99 quy định các đối tượng này bao gồm:
1) Các chủ rừng là tổ chức 2) Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn
3) Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng với các chủ rừng là tổ chức nhà nước
b) Các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR trên thực tế
Theo báo cáo và số liệu tổng kết công tác chi trả DVMTR của các Quỹ tỉnh năm 2011, 2012, 2013 và
sơ kết 3 năm (2011-2013), đồng thời qua kết quả khảo sát thực tế công tác chi trả DVMTR ở một số tỉnh, các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR bao gồm:
1) Các chủ rừng là hộ gia đình2) Các chủ rừng là cộng đồng dân cư
Trang 173) Các chủ rừng là tổ chức (doanh nghiệp, thanh
niên xung phong,….)
4) Các hộ dân có hợp đồng nhận khoán bảo vệ
rừng ký với chủ rừng nhà nước
5) Các nhóm hộ dân có hợp đồng nhận khoán bảo
vệ rừng ký với chủ rừng nhà nước do trưởng nhóm
hộ làm đại diện được các hộ trong nhóm bầu
Các đối tượng được nhận tiền chi trả DVMTR là
những hộ dân, công nhân, bộ đội, thanh niên
xung phong, du kích xã đang sống và làm việc
trong vùng rừng có cung ứng các DVMTR, họ là
những người trực tiếp bảo vệ rừng Các đối tượng
này phù hợp với quy định của Nghị định 99
Để được nhận tiền chi trả DVMTR, các đối tượng
này phải có quyết định giao rừng (nếu là chủ
rừng), hợp đồng khoán bảo vệ rừng với tổ chức
chủ rừng nhà nước (nếu là hộ dân, bộ đội biên
Công việc này được các tỉnh thực hiện theo Thông
tư hướng dẫn số 60/2012/TT-BNNPTNT ngày
09/11/2012 (sau đây gọi là Thông tư 60) của Bộ
NN&PTNT “Quy định về nguyên tắc xác định diện
tích rừng trong lưu vực phục vụ chi trả DVMTR”
Phần lớn các tỉnh tiến hành công việc này khá
thuận lợi bằng các kỹ thuật xử lý ảnh viễn thám,
GIS và các nguồn tài liệu hiện có ở địa phương,
thuê các đơn vị tư vấn có năng lực kỹ thuật trong
lĩnh vực này
Việc xác định diện tích lưu vực cung ứng các DVMTR cho các nhà máy thủy điện và sản xuất nước sạch để làm cơ sở xác định diện tích rừng chi trả DVMTR, đồng thời thể hiện trách nhiệm giữa bên cung ứng và bên sử dụng DVMTR Nhưng hiện không có số liệu thống kê diện tích của các lưu vực cung ứng DVMTR theo từng hồ chứa, từng tỉnh và cả nước, vì vậy chưa thể rà soát độ chính xác của các bản đồ trong báo cáo này
Xin lưu ý rằng các ranh giới lưu vực rừng chủ yếu
là lưu vực của nhà máy thủy điện và công ty nước sạch và sẽ không sử dụng được các thông tin này cho xây dựng cơ chế khác như cơ chế chi trả cho dịch vụ lọc giữ các bon hay du lịch, với các cơ chế này cần phải có các hoạt động khác
Các công ty thủy điện đều yêu cầu không được điều tiết số tiền chi trả DVMTR họ nộp để bảo
vệ diện tích rừng phòng hộ cho lưu vực hồ chứa của họ sang bảo vệ rừng đầu nguồn của lưu vực khác Hay nói cách khác, các nhà máy thủy điện chỉ muốn trả tiền cho các vùng rừng ngay quanh lòng hồ của họ
Yêu cầu này là hoàn toàn chính đáng, vì theo số liệu do chính các công ty thủy điện cung cấp trong
2 ví dụ sau đây sẽ thấy rõ mối quan hệ trực tiếp giữa rừng phòng hộ đầu nguồn và lưu lượng nước của hồ chứa:
Hồ thủy điện A Vương (tỉnh Quảng Nam) có dung tích hồ chứa 266 triệu m3 nước Sản lượng điện của nhà máy là 1 tỷ kwh/năm Muốn sản xuất ra sản lượng điện này nhà máy cần 1,3 tỷ m3 nước Vậy hơn 1 tỷ m3 nước sẽ nằm trên rừng đầu nguồn, nhờ sự điều tiết của rừng cho
hồ chứa
Hồ thủy điện Đa Nhim (tỉnh Lâm Đồng) có dung tích hồ chứa 165 triệu m3 nước Sản lượng điện của nhà máy là 1 tỷ kwh/năm Muốn sản xuất ra sản lượng điện này nhà máy cần 550 triệu m3 nước Vậy gần 400 triệu m3 nước sẽ nằm trên
rừng đầu nguồn, nhờ sự điều tiết của rừng cho
hồ chứa
Số liệu này cũng chứng tỏ rừng là một yếu tố có tính quyết định trong sản xuất kinh doanh thủy điện, công lao động bảo vệ rừng để điều tiết nước cho hồ chứa thủy điện, dù là hồ nhỏ hay hồ lớn, là một yếu tố đáng ra phải được tính trong giá thành sản xuất thủy điện nhưng từ lâu đã bị bỏ ra ngoài
2.6 Rà soát xác định ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng trong lưu vực
Công việc này cũng được các tỉnh thực hiện theo Thông tư hướng dẫn số 60 của Bộ NN&PTNT
Theo số liệu tổng hợp bước đầu của các Quỹ tỉnh nộp cho VNFF, tính đến 31/12/2013, tổng diện tích rừng chi trả DVMTR được xác định trong phạm vi các lưu vực cung ứng DVMTR là 4.180.486 ha
Theo số liệu của VNFF, hàng năm nguồn tiền DVMTR đã chi trả cho các chủ rừng để bảo vệ từ 2,8 đến 3,37 triệu hecta rừng trong tổng số 13,8 triệu hecta rừng của cả nước, chiếm 20% đến 27%
Công việc xác định ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng chi trả DVMTR vẫn đang được tiếp tục tiến hành ở các tỉnh Vì vậy, số lượng diện tích rừng chi trả DVMTR sẽ còn nhiều hơn
Tuy nhiên, trong 3 năm qua tiến độ triển khai thực hiện chi trả DVMTR ở phần lớn các tỉnh rất chậm
mà một trong những nguyên nhân do công tác rà soát hiện trạng rừng gặp nhiều khó khăn Yêu cầu
để chi trả DVMTR là phải làm rõ vị trí, ranh giới, hiện trạng rừng của từng đối tượng nhận tiền chi trả DVMTR (từng hộ dân, nhóm hộ dân) trong khi
số liệu và bản đồ hiện trạng rừng đã có không đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và khả năng kinh phí từ ngân sách nhà nước để thực hiện là rất hạn hẹp
Chẳng hạn, tỉnh Lào Cai đã ước tính rằng họ cần khoảng 100 tỷ đồng để xác định chủ rừng cho
toàn tỉnh nhưng họ chỉ có 1,9 tỷ đồng từ nguồn kinh phí quản lý của Quỹ tỉnh, vì vậy họ không thể
sử dụng tiền chi trả DVMTR cho hoạt động lập bản
đồ Phần lớn các tỉnh bắt đầu việc thực hiện chi trả DVMTR từ Quý IV năm 2012 Trừ hai tỉnh Sơn
La và Lâm Đồng tiếp tục thực hiện sau giai đoạn thí điểm, còn các tỉnh khác có thời gian thực hiện chi trả DVMTR tính đến 31/12/2013 chỉ có hơn một năm, khoảng 18 tháng
Việc rà soát hiện trạng rừng ở các tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn do các trạng thái rừng trong các tài liệu và bản đồ hiện có so với các trạng thái rừng trên thực địa ở thời điểm hiện tại khác nhau rất lớn, muốn có số liệu và bản đồ chính xác hơn phải tốn nhiều thời gian và kinh phí
Thí dụ:
Theo báo cáo đánh giá tình hình 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở tỉnh Nghệ An
do Dự án Rừng và Đồng bằng (VFD) khảo sát và xây dựng, tính đến tháng 6/2014, tỉnh Nghệ An
có tổng diện tích rừng cung ứng DVMTR trong các lưu vực trên địa bàn tỉnh là 187.572,95 ha, nhưng mới thực hiện chi trả ở lưu vực thủy điện Bản Vẽ có diện tích 61.682,62 ha, đạt 32,8% do chỉ mới hoàn thành việc rà soát rừng cho từng đối tượng nhận tiền DVMTR cho lưu vực này Theo báo cáo sơ kết 3 năm chi trả DVMTR của Quỹ BV&PTR tỉnh Điện Biên, tổng số tiền DVMTR thu được đến năm 2013 là 101.645.639.000 đồng, nhưng tiến độ chi trả tiền DVMTR chỉ đạt 15,8% do chưa rà soát được hiện trạng rừng và chủ rừng
Theo báo cáo sơ kết 3 năm chi trả DVMTR của Quỹ BV&PTR tỉnh Thừa Thiên Huế, kế hoạch thu tiền DVMTR của 3 năm (2011-2013) là 38.194.726.000 đồng, nhưng chỉ thu được 10.606.955.570 đồng, đạt 27,8% và đến tháng 8/2014 vẫn chưa tiến hành công tác chi trả DVMTR do chưa rà soát xong hiện trạng rừng và chủ rừng
Trang 182.7 Rà soát xác định chủ rừng, hộ nhận khoán và
rừng của từng đối tượng
Theo báo cáo số 1404/BC-BNN-TCLN ngày
24/5/2011 của Bộ NN&PTNT về “Tổng kết Dự án
5 triệu hecta rừng và chương trình bảo vệ, phát
triển rừng giai đoạn 2011-2020”, đến năm 2011
cả nước đã thực hiện giao 2.806.357 ha rừng cho
hộ gia đình và cá nhân và đã khoán 2.454.480 ha
rừng cho các hộ gia đình để bảo vệ rừng Số liệu
thống kê đến năm 2010 có 1.249.602 hộ gia đình
tham gia bảo vệ rừng và trồng rừng, trong đó có
484.893 hộ nghèo (chiếm 38,6%), chủ yếu là hộ
đồng bào dân tộc ở vùng rừng núi Các hộ gia đình
là chủ rừng hoặc nhận khoán bảo vệ rừng đã thực
sự trở thành lực lượng quan trọng thực hiện Dự án
5 triệu hecta rừng
Từ năm 2011, Nhà nước đã kết thúc Dự án 5 triệu
hecta rừng và chuyển sang thực hiện “Kế hoạch
bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020”
theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012
của Thủ tướng Chính phủ
Tháng 3/2010, Thủ tướng Chính phủ đã tổ chức hội
nghị tổng kết giai đoạn thí điểm thực hiện chính
sách chi trả DVMTR và đánh giá chính sách này
đã thực sự mang lại hiệu quả cho công tác bảo vệ
rừng và xóa đói giảm nghèo Thủ tướng Chính phủ
đã giao cho Bộ NN&PTNT chủ trì xây dựng Nghị
định của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR
Nghị định số 99/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính
phủ về chính sách chi trả DVMTR bắt đầu có hiệu
lực thi hành từ ngày 01/01/2011 với mục đích như
đã trình bày ở phần trên, tiền của những người
sử dụng DVMTR sẽ được chuyển trả ủy thác cho
những người bảo vệ rừng để cung ứng DVMTR,
chủ yếu là các hộ gia đình là chủ rừng và các hộ
gia đình nhận khoán rừng, với yêu cầu mỗi hộ gia
đình phải biết rõ vị trí, ranh giới, hiện trạng khu rừng có nghĩa vụ bảo vệ và số tiền chi trả DVMTR
bộ hồ sơ giao rừng và khoán rừng không đầy đủ thì việc triển khai thực hiện Nghị định 99 gặp rất nhiều khó khăn
Tại Quyết định số 2284/QĐ-TTg ngày 13/12/2010
về “Phê duyệt Đề án triển khai Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR”, Thủ tướng Chính phủ
đã giao cho UBND cấp tỉnh tiến hành xác định diện tích rừng chi trả DVMTR và các đối tượng phải chi trả, được chi trả tiền DVMTR cho mỗi lưu vực sông
Tuy nhiên, đối với những tỉnh có khối lượng công việc rà soát rừng, chủ rừng, hộ nhận khoán lớn thì công việc này đòi hỏi một lượng kinh phí và thời gian lớn, trong khi nguồn ngân sách nhà nước thì
eo hẹp và thời gian triển khai thực hiện chính sách đòi hỏi rất khẩn trương vì từ năm 2012 các doanh nghiệp sản xuất thủy điện và nước sạch đã bắt đầu nộp tiền chi trả DVMTR, họ đòi hỏi các Quỹ tỉnh phải chi trả số tiền này cho những đối tượng bảo vệ rừng trong lưu vực của họ Đây cùng là một trong những nguyên nhân làm cho tiến độ triển khai chính sách chi trả DVMTR chậm
Tiến độ triển khai công tác rà soát rừng và chủ rừng của một số tỉnh được trình bày trong Bảng 4 dưới đây Tỷ lệ 100% thể hiện mức độ hoàn thành
rà soát rừng đến từng hộ gia đình
Theo báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của 18 tỉnh trình bày ở Bảng 4 trên đây cho thấy:
Chỉ có 5 tỉnh hoàn thành (100%) việc rà soát lưu vực, hiện trạng rừng, xác định chủ rừng để lập hồ
bộ diện tích rừng cung ứng DVMTR và tiền chi trả DVMTR mới có thể đến được các hộ dân bảo
vệ các diện tích rừng này
(3) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các tỉnh
Trang 192.8 Xác định tiền chi trả DVMTR bình quân cho
một hecta rừng
Bảng 5 dưới đây sẽ trình bày số liệu về số tiền chi
trả bình quân cho một hecta rừng của một số tỉnh
đã thực hiện chi trả DVMTR
Số liệu của Bảng 5 cho thấy:
a) Có sự chênh lệch lớn giữa mức chi trả tiền DVMTR cao nhất và thấp nhất cho một hecta rừng giữa các lưu vực trong phạm vi một tỉnh
Có nơi sự chênh lệch không đáng kể như: tỉnh Lâm Đồng (360.000 đồng/325.000 đồng), tỉnh Lai Châu (382.620 đồng/302.837 đồng)
(4) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các Quỹ tỉnh nộp cho VNFF
(5) Không kể các nhà máy thủy điện nộp tiền chi trả DVMTR cho VNFF
Có nơi chênh lệch rất lớn: tới 330 lần như tỉnh Bình Định (604.690 đồng/1.828 đồng), tới 310 lần như tỉnh Điện Biên (256.000 đồng/826 đồng)
Mức độ chênh lệch lớn hay nhỏ tùy thuộc vào số tiền thu được từ các công ty thủy điện trong lưu vực và số diện tích rừng cung ứng DVMTR trong lưu vực đó Nếu nhà máy thủy điện có sản lượng điện thương phẩm càng lớn thì số tiền chi trả DVMTR phải nộp càng lớn Nếu diện tích rừng cung ứng DVMTR trong lưu vực đó lớn thì mức tiền chi trả DVMTR cho một hecta rừng nhỏ và ngược lại
b) Mức chi trả tiền DVMTR thấp nhất của tỉnh có nơi quá thấp, như 826 đồng (chưa đến 1.000 đồng) ở tỉnh Điện Biên, 1.828 đồng ở tỉnh Bình Định, 8.000 đồng ở tỉnh Đồng Nai, 38.000 đồng ở tỉnh Lào Cai, hay 60.000 đồng ở tỉnh Quảng Nam
Theo số liệu của Quỹ tỉnh Quảng Nam, diện tích rừng bình quân cao nhất khoán cho một hộ dân bảo vệ là 30,62 ha, bình quân thấp nhất là 4,36 ha
Trong trường hợp một hộ dân được khoán 30,62 ha rừng để bảo vệ với mức chi trả 60.000 đồng/ha/năm, thì hộ dân đó sẽ được nhận 1.837.200 đồng/năm, tính ra 153.100 đồng/tháng Số tiền 1.837.200 đồng sẽ được nhận làm 2 lần trong năm, mỗi lần khoảng 900.000 đồng Họ phải đi đến trụ sở của UBND xã hoặc ban quản lý rừng để nhận một số tiền quá nhỏ bé
Cho nên trong các chuyến khảo sát, tham vấn các
hộ dân từ Bắc đến Nam, họ đều kiến nghị mức tiền chi trả DVMTR đối với thủy điện phải tăng theo sự tăng giá chung
Ở những nơi có mức tiền chi trả DVMTR cho một hecta quá thấp người dân không nhiệt tình với việc bảo vệ rừng và thực hiện chính sách chi trả DVMTR
c) Sự chênh lệch về mức chi trả giữa 2 tỉnh cũng
là một vấn đề cần được xem xét Theo báo cáo của Quỹ tỉnh Đồng Nai và Vườn quốc gia Cát Tiên,
mức tiền DVMTR mà tỉnh Lâm Đồng chi trả cho các
hộ dân huyện Cát Tiên là 400.000 đồng/ha/năm Trong khi đó, các hộ dân của tỉnh Đồng Nai ở ngay bên bờ sông đối diện, cũng bảo vệ rừng phòng hộ cho dòng sông Đồng Nai đó chỉ được nhận 50.000 đồng/ha/năm, ít hơn 8 lần, nhân dân ở đây đã so sánh và thắc mắc
d) Nếu tính bình quân giữa số tiền cao nhất và số tiền thấp nhất trong một tỉnh để tham khảo thì giá trị cao nhất là 342.734 đồng/ha/năm (tỉnh Lai Châu) và giá trị thấp nhất là 32.500 đồng/ha/năm (tỉnh Đồng Nai) Cho dù thực hiện chi trả với giá trị cao nhất 342.734 đồng/ha/năm thì nếu diện tích rừng bình quân của một hộ dân là 10 ha, số tiền được nhận trong một năm cũng chỉ có 3.427.340 đồng, tính ra 285.612 đồng/hộ/tháng
e) Nhìn chung các hộ gia đình muốn làm rõ hơn mức chi trả khác nhau giữa các diện tích rừng
và giữa các hộ gia đình Các hộ dân địa phương thường thắc mắc về sự khác nhau trong số tiền mà
họ nhận được, vì họ không hiểu được lý do tại sao
họ lại nhận được ít tiền hơn các hộ liền kề trong khi cùng bỏ ra thời gian và công sức lao động như nhau để bảo vệ rừng Các hộ gia đình được phỏng vấn nhấn mạnh rằng, công việc của họ trong chi trả DVMTR phụ thuộc vào sức lao động: họ chủ yếu đi thăm diện tích rừng được khoán theo thời gian đã định, đi bộ quanh bìa rừng một lần một tuần hoặc,
và họ thường không dùng từ “bảo vệ” mà dùng từ
“công sức” khi nói về hoạt động của họ Với những công việc sử dụng “công sức” như nhau thì phải được trả công như nhau trong thị trường lao động
mở cửa, các hộ gia đình thuộc dự án chi trả DVMTR mong muốn nhận được tiền lương công bằng cho công sức lao động họ bỏ ra
2.9 Xác định hệ số K
Nghị định 99 (Điều 16) quy định các hệ số K để làm
cơ sở xác định mức chi trả tiền DVMTR với các điều kiện rừng khác nhau Các điều kiện gồm: Trạng thái
Trang 20rừng (là khả năng tạo DVMTR); Loại rừng (đặc dụng,
phòng hộ, sản xuất); Nguồn gốc hình thành rừng
(rừng tự nhiên, rừng trồng); Mức độ khó khăn, thuận
lợi đối với việc bảo vệ rừng (yếu tố xã hội và địa lý)
UBND tỉnh quy định hệ số K với đối tượng chi trả là
chủ rừng Đối với hộ nhận khoán, cách tính hệ số K
theo quy định của cơ quan có thẩm quyền
Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 80/2011/
TT-BNNPTNT ngày 23/11/2011 (sau đây gọi là
Thông tư 80) hướng dẫn phương pháp xác định
tiền chi trả DVMTR, trong đó có hệ số K Theo văn
bản này, hệ số K được tính cho từng lô trạng thái
rừng và bao gồm 4 hệ số K thành phần:
K1: theo trạng thái và trữ lượng rừng (quy định tại
Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10/6/2009
của Bộ NN&PTNT)
K2: theo mục đích sử dụng rừng (đặc dụng, phòng hộ, sản xuất)
K3: theo nguồn gốc hình thành rừng (rừng tự nhiên K=1, rừng trồng K=0,9)
K4: theo mức độ khó khăn đối với bảo vệ rừng (rất khó khăn, khó khăn, ít khó khăn), gồm yếu
Qua số liệu của Bảng 6 cho thấy, trong số 14 tỉnh:
Có 8 tỉnh áp dụng hệ số K=1 (cả 4 hệ số K thành phần đều là 1)
Có 2 tỉnh áp dụng cả 4 hệ số K thành phần (K1;
K2; K3; K4) Trong đó, tỉnh Đồng Nai chỉ xác định
4 hệ số K thành phần cho từng khoảnh, còn tỉnh Bình Phước xác định 4 hệ số K thành phần cho từng lô
Có 1 tỉnh (Đắc Nông) áp dụng 2 hệ số K thành phần (K2; K3) Họ không áp dụng hệ số K1 và K4 vì cho rằng yếu tố về điều kiện khó khăn rất trừu tượng, khó xác định, mỗi địa bàn có những đặc điểm khó khăn, thuận lợi riêng, rất khó để
so sánh với nhau, còn yếu tố về trạng thái và trữ lượng rừng rất phức tạp khi áp dụng
Có 3 tỉnh (Sơn La, Điện Biên, Yên Bái) chỉ áp dụng một hệ số K3 (rừng tự nhiên và rừng trồng), vì cho rằng việc áp dụng các hệ số K thành phần khác là khá phức tạp trong điều kiện cụ thể của địa phương
Nếu có sự tham vấn cộng đồng trước khi quyết định hệ số K thì ở những địa bàn có đồng bào dân tộc bà con đều chọn hệ số K=1
Thí dụ:
Năm 2009, khi các chuyên gia dự án Winrock cùng các đồng nghiệp ở tỉnh Lâm Đồng tham vấn bà con dân tộc K’Ho ở xã Đa Nhim về hệ
số K, bà con đề nghị hệ số K=1 UBND tỉnh Lâm Đồng đã thay đổi quyết định về hệ số K theo ý kiến cộng đồng
Năm 2012, ở xã Mà Cooih, huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) khi các chuyên gia dự án của ADB cùng các đồng nghiệp ở tỉnh Quảng Nam tham vấn bà con dân tộc Cơ Tu về hệ số K, bà con đề nghị hệ số K=1 và UBND tỉnh Quảng Nam
đã ban hành quyết định về hệ số K theo ý kiến cộng đồng
Tháng 6/2014, ở tỉnh Nghệ An, khi các chuyên gia dự án của VFD cùng các đồng nghiệp ở tỉnh Nghệ An phỏng vấn bà con dân tộc Thái ở các bản của xã Huồi Tụ, xã Mỹ Lý (huyện Kỳ Sơn) về
hệ số K, bà con đồng ý hệ số K=1 như quyết định của UBND tỉnh Nghệ An
Đồng bào các dân tộc vùng núi có tập quán làm việc và sinh hoạt theo cộng đồng Có thể mỗi
hộ được khoán một lô rừng để bảo vệ có hệ số
K khác nhau, nhưng bà con trong cộng đồng sẽ
tự tổ chức đi tuần tra rừng theo nhóm, tổ luân phiên nhau trên địa bàn của tất cả các lô rừng trong cộng đồng Trong trường hợp này hệ số
K sẽ là 1
Việc các tỉnh vận dụng quy định tại Nghị định
99 và Thông tư 80 để áp dụng các hệ số K khác nhau cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương là đúng với quy định của Nghị định 99
2.10 Quản lý và sử dụng tiền chi trả DVMTR 2.10.1 Quản lý và sử dụng tiền 0,5 % của VNFF
Theo số liệu của VNFF, trong 3 năm 2011-2013 VNFF đã quản lý và sử dụng số tiền 0.5% là 9.319.634.993đồng Chi tiết việc sử dụng số tiền này trong Bảng 7 dưới đây:
Trang 21Số liệu trên cho thấy:
Trong tổng số tiền đã chi (7,294,427,443 đồng) VNFF chi cho các hạng mục của văn phòng VNFF
là 3.051.675.866 đồng, chiếm 41,8% Số còn lại 58,2% là chi cho các hoạt động chung triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR (thông tin, tuyên truyền, đào tạo, tập huấn, hội nghị,…)
Trong 3 năm, các hoạt động chi chỉ thực hiện trong 2 năm 2012 và 2013 Với tổng số tiền đã chi 7,294,427,443 đồng thì bình quân số tiền chi một năm là khoảng 3,6 tỷ đồng
2.10.2 Quản lý và sử dụng tiền chi trả DVMTR của
các Quỹ tỉnh
Sau khi nhận được tiền DVMTR từ VNFF chuyển đến và nguồn tự thu trong tỉnh, các Quỹ tỉnh thực hiện việc chi trả ủy thác số tiền này đến các chủ rừng và các tổ chức không phải chủ rừng có thực hiện chi trả DVMTR
Bảng 8 dưới đây thống kê các hạng mục cơ cấu chi tiền DVMTR trong báo cáo của một số Quỹ tỉnh có các số liệu này
Trang 22Qua số liệu của Bảng 8 trên đây, có thể nhận xét
như sau:
Số liệu chi của Quỹ tỉnh năm 2013 nhưng báo
cáo VNFF vào thời điểm 31/12/2013, còn một
số hạng mục chi của năm tài chính 2013 tiếp
tục thực hiện đầu năm 2014 nên chưa thống kê
vào báo cáo Tuy vậy, số liệu này cũng giúp thấy
được cơ cấu tỷ lệ giữa các hạng mục chi mà một
số Quỹ tỉnh đã thực hiện, vì hoạt động chi trả
tiền DVMTR của phần lớn các Quỹ tỉnh thực hiện
trong năm 2013
Tỷ lệ chi cho các chủ rừng và các tổ chức không
phải chủ rừng được giao quản lý rừng tại thời điểm
đến 31/12/2013 trong số 12 tỉnh trên như sau:
1 tỉnh đã chi hơn 80%
6 tỉnh đã chi từ 30% đến 50%
5 tỉnh đã chi từ 10% đến 29%
Số tiền còn lại chưa chi để chờ hoàn thành công
việc kiểm tra, nghiệm thu kết quả chi trả DVMTR
của các cơ quan chức năng
Không có báo cáo nào trình bày chi tiết về chi
tiêu các hạng mục quản lý (10%) của Ban điều
hành Quỹ tỉnh Các số liệu trong bảng cho thấy
tại thời điểm 31/12/2013 không có Quỹ nào chi
vượt 10% quy định
Về kinh phí dự phòng, theo quy định tại Điều 15
Nghị định 99 Quỹ tỉnh trích tối đa 5% của tổng
số tiền DVMTR để chi hỗ trợ cho các hộ dân bảo
vệ rừng trong hoàn cảnh thiên tai, khô hạn
có hoặc có nhưng rất thấp thì sẽ sử dụng để hỗ trợ chi trả cho các hộ dân tiếp tục bảo vệ rừng, hay cứ mỗi năm đều trích 5% Và những yếu tố nào để xác định thời tiết là thiên tai, khô hạn ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR
Trong điều kiện các công ty thủy điện và nước sạch vẫn chi trả tiền DVMTR bình thường, thời tiết không có thiên tai, khô hạn nhưng tỉnh Đắc Nông
đã sử dụng nguồn kinh phí dự phòng để chi bù cho những nơi có mức chi trả thấp là không đúng với quy định của Nghị định 99
2.10.3 Quản lý và sử dụng tiền chi trả DVMTR của
các chủ rừng là tổ chức
Không có số liệu nên không có nhận xét về Mục này
2.10.4 Hồ sơ chi trả tiền DVMTR
Công tác triển khai thực hiện Nghị định 99 đã tiến hành được 3 năm, từ năm 2011, thực tế việc chi trả tiền DVMTR đến các chủ rừng bắt đầu từ Quý
IV năm 2012, tính đến nay (Quý III/2014) được gần
2 năm
Lãnh đạo Bộ NN&PTNT và Lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp khi trả lời phỏng vấn của báo chí và kết luận tại các hội nghị đều khẳng định chi trả DVMTR là một chính sách quan trọng của ngành Lâm nghiệp
và cơ chế chi trả là bền vững, ổn định, đã mang lại những kết quả to lớn cho công tác bảo vệ rừng và giúp cải thiện thu nhập cho các hộ dân tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc
và các hộ nghèo
Như vậy, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR
sẽ lâu dài, với một số tiền chi trả bình quân hàng
năm rất lớn, khoảng hơn 1.000 tỷ đồng Do đó, hồ
sơ chi trả tiền DVMTR đòi hỏi phải rõ ràng, thống nhất trên cả nước và có quy định pháp luật để quản lý một cách chặt chẽ và lâu dài
Bộ NN&PTNT và Bộ Tài chính đã ban hành Thông
tư liên tịch số 62/2012/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 16/11/2012 về “Hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR” (sau đây gọi là Thông
tư 62) Thông tư này quy định tại Điều 14: Các Quỹ BV&PTR, các chủ rừng là tổ chức, các tổ chức không phải là chủ rừng nhưng được giao quản lý rừng phải tổ chức công tác kế toán và bố trí nhân
sự làm kế toán để quản lý nguồn kinh phí chi trả DVMTR theo quy định của pháp luật về kế toán
Chứng từ kế toán tiền chi trả DVMTR được quản lý theo quy định của pháp luật về kế toán và lưu giữ tại đơn vị kế toán
Theo quy định này, trong phạm vi tỉnh có chi trả DVMTR phải thiết lập hệ thống kế toán từ Quỹ tỉnh đến các đơn vị chủ rừng là tổ chức, các tổ chức không phải là chủ rừng nhưng được giao quản lý rừng để quản lý các hồ sơ chi trả tiền DVMTR trong
Theo quy định tại Nghị định 99 về quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR, trong trường hợp chi trả gián tiếp, hồ sơ chi trả tiền DVMTR gồm các hợp phần như sau:
a) Hợp phần 1: Hồ sơ, chứng từ nộp ủy thác tiền chi trả DVMTR của các doanh nghiệp sản xuất thủy điện, nước sạch, du lịch cho Quỹ BV&PTR
b) Hợp phần 2: Hồ sơ, chứng từ để quản lý, sử dụng tiền quản lý của Quỹ, tiền trích lập Quỹ dự phòng, bao gồm cả lãi tiền gửi ngân hàng
c) Hợp phần 3: Hồ sơ, chứng từ quản lý tiền chi trả ủy thác từ Quỹ tỉnh đến các đơn vị chủ rừng là
tổ chức, các tổ chức không phải chủ rừng nhưng được chi trả DVMTR, cho đến các hộ gia đình là chủ rừng và các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng được nhận tiền DVMTR
Theo Thông tư 62, hồ sơ và chứng từ kế toán được lưu giữ lâu dài tại VNFF, các Quỹ tỉnh, các đơn vị chủ rừng là tổ chức, các tổ chức không phải chủ rừng nhưng được chi trả DVMTR và các đơn vị thực hiện việc chi trả khác được cơ quan có thẩm quyền giao trách nhiệm chi trả
Thông tư 62 quy định các chứng từ phải lưu giữ tại đơn vị kế toán nên các đơn vị chủ rừng là tổ chức phải chịu trách nhiệm lưu giữ các chứng từ vì các đơn vị này phải chi trả ủy thác một khối lượng tiền DVMTR rất lớn cho các hộ nhận khoán
Quỹ tỉnh Đồng Nai và Vườn quốc gia Cát Tiên phản ánh rằng Vườn quốc gia Cát Tiên được nhận tiền chi trả DVMTR từ 3 tỉnh (Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai) do nằm trên địa bàn của 3 tỉnh này, nhưng mẫu hồ sơ chi trả của mỗi tỉnh khác nhau, nên gặp khó khăn khi thực hiện
Cuộc khảo sát vào giữa tháng 6/2014 của Dự án VFD cho thấy hồ sơ chi trả tiền DVMTR của các Ban quản lý rừng phòng hộ Kỳ Sơn, Tương Dương thực hiện theo các mẫu khác nhau, dù cùng trên một lưu vực và cùng một tỉnh
Do đó, cần có quy định mẫu hồ sơ, chứng từ thống nhất và chặt chẽ cho khoản tiền chi trả DVMTR chiếm tỷ lệ rất lớn này
Trang 232.11 Nhận xét chung về cơ chế chi trả DVMTR
Một trong những điều thành công nhất trong ba
năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR vừa qua là
một cơ chế mới trong ngành lâm nghiệp đã được
hình thành, đã được triển khai và phát huy hiệu
quả một cách rõ rệt Cơ chế này đã tạo ra một lộ
trình chuyển ủy thác tiền chi trả DVMTR từ doanh
nghiệp tới những người dân bảo vệ rừng không
qua hệ thống tài chính của Nhà nước để làm nền
tảng từng bước thiết lập mối quan hệ chi trả bền
vững hơn, chặt chẽ hơn giữa bên sử dụng và bên
cung ứng các DVMTR, nhằm xã hội hóa công tác
bảo vệ rừng Đây là một cơ chế tài chính được các
hộ dân bảo vệ rừng và quốc tế đánh giá rất cao
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện cơ chế cần được điều chỉnh, hướng dẫn để đạt hiệu quả tốt hơn Từ những quy định trong chính sách đến khi đưa chính sách vào cuộc sống sẽ phát sinh những vấn đề chưa hoàn chỉnh, từ thực tiễn
đó sẽ đúc rút những bài học kinh nghiệm để từng bước hoàn thiện Những nội dung cụ thể cần điều chỉnh, bổ sung sẽ được trình bày ở các phần sau
3 Kết quả về kinh tế
3.1 Số tiền chi trả DVMTR đã thu từ năm 2011 đến tháng 8/2014
Theo số liệu của bảng trên, tổng số tiền chi trả DVMTR đã thu được từ năm 2011 đến tháng 8/2014 là
3.329.018,8 triệu đồng, tương đương với 157.000.000 USD
Chi tiết như sau:
a) Tỷ lệ thu theo các năm:
Tổng thu của năm 2011:
Như vậy, số lượng tiền chi trả DVMTR thu được năm
2012, 2013 và dự kiến năm 2014 là tương đối ổn định
b) Tỷ lệ thu giữa các Quỹ:
Tổng thu của VNFF:
2.687.429,2 triệu đồng, chiếm 80,7%
Tổng thu của các Quỹ tỉnh:
641.589,6 triệu đồng, chiếm 19,3%
Số lượng tiền chi trả DVMTR do VNFF thu gấp 4 lần
so với số thu của các Quỹ tỉnh do lưu vực sông của các nhà máy thủy điện và nước sạch thường nằm trên địa bàn nhiều tỉnh
(6) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99 của Bộ NN&PTNT (9/2014)
Trang 243.2 Số tiền chi trả DVMTR đã thu theo đối tượng nộp và loại DVMTR
(7) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99 của Bộ NN&PTNT (9/2014)
Tỷ lệ nguồn thu giữa các đối tượng và loại DVMTR trình bày trong biểu đồ sau:
Trang 25Theo số liệu trong Bảng 11, tiền chi trả DVMTR thu
từ thủy điện năm 2013 thấp hơn năm 2012 là 93,8
tỷ đồng, trong khi tiền thu từ nước sạch và du lịch
đều tăng đáng kể Do không có số liệu chi tiết về
số tiền thu của các nhà máy thủy điện qua các năm
nên không nhận xét hiện tượng này Số tiền thu
từ thủy điện giảm đi sẽ làm cho mức chi trả bình
quân trên một ha rừng cũng giảm đi, từ đó thu
nhập của các hộ dân từ nguồn tiền chi trả DVMTR
Trang 26Qua số liệu của Bảng 12 có thể thấy:
a) Trong số 29 Quỹ tỉnh đã thu tiền DVMTR, tỷ lệ
theo số lượng tiền như sau:
Như vậy, có 21 tỉnh có nguồn thu từ 10 tỷ đồng
trở lên chiếm 72,4% của tổng số 29 tỉnh Trong số
21 tỉnh này, có 11 tỉnh (37,9%) có số lượng tiền
DVMTR thu được từ 50 tỷ đồng trở lên
b) Vùng Tây Bắc có 4 tỉnh, tổng diện tích có rừng
1.689.816 ha, chiếm 12,1% tổng diện tích có
rừng của cả nước, cả 4 tỉnh đã thực hiện chi trả
DVMTR, tổng số tiền chi trả DVMTR đã thu được là 703.064.106.000đồng, chiếm 33.45% tổng số tiền DVMTR của 29 tỉnh
c) Vùng Tây Nguyên có 5 tỉnh, tổng diện tích có rừng 2.848.681 ha, chiếm 20,4% tổng diện tích
có rừng của cả nước, cả 5 tỉnh đã thực hiện chi trả DVMTR, tổng số tiền chi trả DVMTR đã thu được là 955.057.843.000đồng, chiếm 45.44% tổng số tiền DVMTR của 29 tỉnh
3.4 So sánh số lượng tiền DVMTR của Quỹ tỉnh và cấp quản lý
Bảng 13 dưới đây được lập để mô tả mối quan
hệ giữa số lượng tiền chi trả DVMTR của Ban điều hành Quỹ tỉnh với cấp cơ quan đang trực tiếp quản
lý Ban điều hành Quỹ nhằm nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý cho phù hợp và hiệu quả
(8) Nguồn: Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo Nghị định 99 của Bộ NN&PTNT (9/2014)
Trang 27Số liệu trên cho thấy:
Có 8 Ban điều hành Quỹ tỉnh do UBND cấp tỉnh
trực tiếp quản lý và có 21 Ban điều hành Quỹ
tỉnh do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý
Việc phân cấp quản lý Ban điều hành Quỹ tỉnh
không phụ thuộc vào số lượng tiền chi trả
DVMTR Quỹ tỉnh thu được, cũng không phụ
thuộc vào số lượng diện tích rừng cung ứng
DVMTR Yếu tố để phân cấp quản lý có lẽ phụ
thuộc vào sự nhận thức về tầm quan trọng của
Ban điều hành Quỹ BV&PTR ở địa phương
Có những Ban điều hành Quỹ tỉnh có số lượng
tiền chi trả DVMTR Quỹ tỉnh thu được và số
lượng diện tích rừng cung ứng DVMTR rất lớn,
đang do Sở NN&PTNT trực tiếp quản lý nhưng
hoạt động hiệu quả như ở tỉnh Lâm Đồng và
tỉnh Lai Châu
3.5 Nhận xét chung kết quả về kinh tế
Từ năm 2011 đến tháng 8/2014 các Quỹ BV&PTR từ trung ương đến địa phương đã thu được số lượng tiền chi trả DVMTR khá lớn, hơn 3,3 ngàn tỷ đồng
Nguồn tiền này thực sự là một yếu tố rất quan trọng
để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng khi nguồn ngân sách nhà nước từ Dự án 5 triệu ha rừng đã kết thúc Với nguồn tiền chi trả DVMTR này, khoảng 30% của tổng diện tích rừng cả nước đã được bảo
vệ, hàng trăm ngàn hộ đồng bào dân tộc ở vùng rừng núi đã tham gia bảo vệ rừng và được chi trả tiền DVMTR, thu nhập được cải thiện, dù còn chưa tương xứng với giá trị lao động của họ
Nguồn tiền mà các Quỹ BV&PTR thu được do các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch, du lịch nộp thực chất là tiền của những cá nhân, tổ chức trong
xã hội chi trả gián tiếp cho các chủ rừng và hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng để cung ứng các DVMTR cho họ sử dụng Nhưng hầu như phần lớn
mọi người trong xã hội chưa hiểu và chưa nhận thức được điều này, nhiều người vẫn cho rằng nguồn tiền chi trả DVMTR là tiền của các doanh nghiệp Trong khi Chính phủ đã cho phép các doanh nghiệp được hạch toán vào giá thành các sản phẩm có sử dụng DVMTR Chưa có nhận thức
rõ ràng về vai trò khác nhau của bên sử dụng dịch
vụ, doanh nghiệp và bên cung ứng dịch vụ trong chính sách chi trả DVMTR Đối tượng sử dụng hiện
là đối tượng ít được phổ biến về những gì họ đang phải chi trả trong hóa đơn tiền điện và tiền nước của họ
Trong một số chuyến khảo sát và tham vấn với các
hộ gia đình từ tham gia chi trả DVMTR từ miền Bắc đến miền Nam, tất cả các hộ gia đình đều đề xuất Chính phủ tăng mức chi trả DVMTR đối với các đối tượng và các loại DVMTR, đặc biệt là thủy điện
Trong 3 năm qua giá điện đã tăng nhiều lần, nhưng mức tiền chi trả DVMTR vẫn giữ nguyên
4 Kết quả về môi trường
4.1 Tổng diện tích rừng đã được chi trả tiền DVMTR để bảo vệ
Theo số liệu tại Phụ lục 10 “Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2013 và kế hoạch công tác năm 2014 của Quỹ BV&PTR Việt Nam”, tổng diện tích rừng đã được quản lý, bảo vệ bằng tiền chi trả DVMTR năm 2013 là 4.180.486 ha, trên địa bàn của 24 tỉnh (Bảng 14)
Trang 28(9) Theo Quyết định số 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 29/7/2014 của Bộ NN&PTNT về công bố diện tích rừng toàn quốc năm 2013
Trang 29Số liệu trong bảng trên cho thấy:
Đến năm 2013 mới có 24 tỉnh báo cáo VNFF số
liệu diện tích rừng đã được chi trả tiền DVMTR
để bảo vệ trong khi báo cáo “Tổng kết tình hình
thực hiện nhiệm vụ năm 2013 và kế hoạch công
tác năm 2014” của VNFF ghi nhận có 34 tỉnh đã
thành lập Quỹ BV&PTR
Hai vùng có tỷ lệ bình quân diện tích rừng được
chi trả tiền DVMTR để bảo vệ so với tổng diện
tích rừng của tỉnh cao nhất là vùng Tây Bắc
số liệu dưới đây để phác thảo về loại rừng nào
đã được quản lý, bảo vệ bằng nguồn tiền chi trả DVMTR để thấy rõ hơn về hiệu quả của quá trình 3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR
Trang 30Ghi chú:
Tỉnh Lào Cai có 6.323 ha rừng chi trả DVMTR
ngoài quy hoạch đất LN
Tỉnh Quảng Nam có 661 ha rừng chi trả DVMTR
ngoài quy hoạch đất LN
Từ số liệu của bảng trên có thể thấy:
Diện tích rừng tự nhiên được quản lý, bảo vệ
bằng nguồn tiền chi trả DVMTR nhiều hơn so với
diện tích rừng trồng
Diện tích rừng phòng hộ đầu nguồn và rừng sản
xuất được quản lý, bảo vệ bằng nguồn tiền chi
trả DVMTR nhiều hơn so với diện tích rừng đặc
dụng
Trong thời gian tới công việc thống kê diện tích
các loại rừng được quản lý, bảo vệ bằng nguồn
tiền chi trả DVMTR cần được quan tâm hơn
4.3 Giám sát tình hình rừng sau khi thực hiện chi
trả DVMTR
Đến nay chưa có hệ thống thu thập số liệu để
đánh giá chính xác về hiệu quả bảo vệ rừng của
chính sách chi trả DVMTR tại các diện tích rừng đã
được chi trả tiền DVMTR
Theo số liệu tổng hợp bước đầu, trong 3 năm qua
trong 3 năm qua đã có 4.180.486 hecta rừng được
bảo vệ bằng nguồn tiền chi trả DVMTR, 355.047 hộ
dân tham gia bảo vệ diện tích rừng này, nhưng số
lượng và chất lượng rừng diễn biến thế nào, hoạt
động bảo vệ rừng của các hộ dân thực hiện ra sao,
tiêu chí và chỉ tiêu nào để giám sát và đánh giá tình
hình rừng, thu nhập của các hộ dân là những vấn
đề còn thiếu quy định trong Nghị định 99 và chưa
được thực hiện đầy đủ ở địa bàn chi trả
Hơn nữa, các hộ dân tham gia không được giám sát thường xuyên để xác định xem họ có thực hiện các nghĩa vụ khoán bảo vệ rừng hay không Hầu hết các tỉnh đã nghiệm thu và phê duyệt các thủ tục chi trả DVMTR đến các hộ dân theo quy định tại Thông tư số 20/2012/TT-BTNPTNT ban hành ngày 7/5/2012 về “hướng dẫn trình tự và thủ tục nghiệm thu thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng”, tuy nhiên, công việc này chủ yếu mang tính thủ tục để thanh toán tiền chi trả DVMTR, không phải là hoạt động giám sát quá trình chi trả DVMTR Hầu hết việc giám sát quá trình thực hiện hợp đồng của các hộ dân diễn ra không chính thức thông qua chủ rừng (trong trường hợp các hộ gia đình ký hợp đồng với chủ rừng nhà nước) hoặc qua cơ quan kiểm lâm trong trường hợp ký hợp đồng với chủ rừng tư nhân Nhưng các nỗ lực giám sát này không thường xuyên hoặc có hệ thống, và thường không được báo cáo cho VNFF
Nhìn chung, các tỉnh đánh giá hiệu quả môi trường của chính sách chi trả DVMTR chủ yếu thông qua yếu tố về độ che phủ rừng và số vụ vi phạm vào rừng tăng hay giảm theo báo cáo của cơ quan kiểm lâm về diễn biến rừng hàng năm chung của
cả tỉnh, không có số liệu cụ thể của địa bàn chi trả DVMTR Hai yếu tố về diễn biến chất lượng rừng
và thu nhập của hộ dân từ khi được nhận tiền chi trả DVMTRchưa được xác định các tiêu chí để giám sát
Ngoài ra, các yếu tố về chế độ thủy văn, mức độ xói mòn và rửa trôi đất, diễn biến mực nước và chất lượng nước trong hồ chứa trong mối tương quan với diện tích rừng và chất lượng rừng chi trả DVMTR cũng chưa được quy định để thực hiện Dự
án Winrock International/USAID đã tài trợ cho tỉnh Lâm Đồng bộ thiết bị quan trắc lưu lượng nước và mức độ rửa trôi đất ở nhánh suối đầu nguồn hồ
thủy điện Đa Nhim, do Trung tâm quan trắc môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng quản lý và thực hiện quan trắc Nhưng sau khoảng 2 năm hoạt động thiết bị đã bị hư hỏng và sau đó đã được tháo dỡ về cất tại Sở Tài nguyên và Môi trường
Tuy nhiên, một khó khăn rất lớn là để thiết lập
và vận hành hệ thống giám sát quá trình chi trả DVMTR đòi hỏi một nguồn kinh phí và nhân lực không nhỏ Không thể sử dụng nguồn kinh phí quản lý (10%) của Quỹ tỉnh và tổ chức chủ rừng cho công việc này và nguồn kinh phí này cũng
không thể đáp ứng nhu cầu của công tác giám sát, trong khi ngân sách nhà nước thì rất khó khăn Do vậy, công việc này sẽ phải triển khai, nhưng cần có các biện pháp và cơ chế thích hợp
4.4 Giảm các hành vi vi phạm đồng thời với Chi trả PFES
Theo số liệu từ Cục kiểm lâm, các hành vi vi phạm lâm luật trong ba năm vừa qua đã giảm (xem Bảng 16) Điều này trùng với thời điểm giới thiệu chi trả PFES
Trang 31Trong khi một số tỉnh được phỏng vấn nói rằng họ
không thể trực tiếp đóng góp khoản tiền PFES để
giảm vi phạm lâm luật, nhiều cán bộ tin rằng PFES
đã góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa người dân
địa phương và các chủ rừng nhà nước trong một
số lĩnh vực, dẫn đến kết quả cao hơn trong việc
thực thi lâm luật
4.5 Nhận xét chung kết quả về môi trường
Chính sách chi trả DVMTR bắt đầu được thực hiện
từ năm 2011, đúng vào thời điểm Dự án 5 triệu
hecta rừng chấm dứt, nguồn ngân sách nhà nước
chi cho công tác bảo vệ rừng vô cùng khó khăn,
trong khi ngành Lâm nghiệp và toàn xã hội có
trách nhiệm phải bảo vệ 13.954.454 hecta rừng
Nhưng chỉ sau 3 năm thực hiện, đã có 4.180.486
hecta rừng được bảo vệ bằng nguồn tiền chi trả
DVMTR, phần lớn trong đó là rừng tự nhiên và
rừng phòng hộ đầu nguồn Đây là một kết quả rất
có ý nghĩa về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng
sinh học và ứng phó với các tác động của biến đổi
khí hậu mà Việt Nam là một trong những quốc gia
chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất
Diện tích rừng cung ứng DVMTR sẽ tăng lên nếu
trong thời gian tới các loại DVMTR còn lại được
triển khai thực hiện
Nguồn thu tiền chi trả DVMTR trong 3 năm qua
chủ yếu từ thủy điện Nhưng việc giám sát số lượng
và chất lượng rừng cung ứng DVMTR cho các nhà
máy thủy điện chưa tiến hành Việc giám sát số
lượng và chất lượng nước ở hồ chứa như một đối
chứng cho việc quản lý, bảo vệ rừng đầu nguồn
cung ứng DVMTR cũng chưa tiến hành Thiếu sót
này ảnh hưởng đến tính bền vững của quan hệ
dịch vụ chi trả giữa bên sử dụng và bên cung ứng
DVMTR
Các DVMTR khác có đóng góp tương đối it cho sự
phát triển quỹ, đó là DVMTR cho du lịch DVMTR
như hấp thụ và lưu trữ cac bon đã không được chi trả đầy đủ, và trong tương lai cần có hướng dẫn về việc thực hiện chi trả DVMTR đối với các dịch vụ này
Bản đồ rừng được làm cho từng lưu vực để xác định phạm vi trách nhiệm chi trả của các doanh nghiệp
sử dụng DVMTR Nhưng còn thiếu cơ chế đảm bảo diện tích rừng này được bảo vệ tốt, không bị chuyển mục đích sử dụng để duy trì năng lực cung ứng DVMTR cho các đối tượng trả tiền sử dụng dịch vụ
Trong 3 loại rừng, rừng đặc dụng được chi tiền DVMTR ít nhất để bảo vệ, trong khi loại rừng này đang chứa đựng các giá trị cao về hệ sinh thái tự nhiên và đa dạng sinh học, là đối tượng ưu tiên hàng đầu để bảo tồn, phục vụ cho sự phát triển bền vững về kinh tế và xã hội Chưa có phân tích nào về nguyên nhân của tình trạng này Cũng chưa
rõ tiền chi trả DVMTR có đang được chi cho các diện tích đất lâm nghiệp chịu rủi ro mất rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng cao nhất hay không,
vì bản đồ PFES cơ bản được xây dựng trên cơ sở bản
đồ lưu vực, chứ không phải dựa vào mức độ rủi ro mất rừng
Công việc giám sát chi trả DVMTR chưa được quy định để thực hiện, bao gồm giám sát diễn biến tình hình số lượng và chất lượng của những diện tích rừng cung ứng DVMTR và giám sát diễn biến thu nhập của các hộ dân sau khi được nhận tiền chi trả DVMTR
Hộ dân là chủ rừng được nhận tiền trực tiếp từ Quỹ tỉnh hoặc một tổ chức chi trả tiền DVMTR
do UBND tỉnh quy định
Hộ dân ký hợp đồng với chủ rừng là tổ chức nhà nước để nhận khoán bảo vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR trực tiếp từ tổ chức chủ rừng
Nhóm hộ dân được thành lập, bầu ra một người đại diện là trưởng nhóm để ký hợp đồng với chủ rừng là tổ chức nhà nước nhận khoán bảo vệ rừng, thay mặt nhóm nhận tiền chi trả DVMTR, sau đó phân chia cho từng hộ trong nhóm theo một quy chế do cả nhóm đồng thuận Có nơi không gọi là nhóm mà gọi là tổ bảo vệ rừng, nhưng cách thức tổ chức tổ, phân công đi tuần tra rừng, phân chia tiền chi trả DVMTR cũng tương tự như nhóm Có nơi nhóm hộ được thôn/
bản (sau đây gọi là thôn) cử làm đại diện để ký hợp đồng với chủ rừng là tổ chức nhà nước nhận khoán bảo vệ rừng, nhưng việc thực hiện nghĩa
vụ bảo vệ rừng do Lãnh đạo thôn phân công cho tất cả các hộ trong thôn thực hiện và tiền chi trả DVMTR chia đều cho tất cả các hộ trong thôn
Vì họ xác định trách nhiệm bảo vệ rừng là của tất
cả dân trong thôn, chứ không riêng của nhóm
hộ, tiền chi trả DVMTR có thể ít nhưng chia đều
sẽ công bằng, không mâu thuẫn giữa các hộ
Theo số liệu của các Quỹ tỉnh trong báo cáo sơ kết
3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR và báo cáo bổ sung nộp cho VNFF vào tháng 8/2014, tình hình tham gia thực hiện chính sách chi trả DVMTR của các hộ dân ở một số tỉnh như sau:
© Nga Dang/Winrock International
Trang 32(10) Số liệu tính đến 31/12/2013
Trang 33Với số liệu thống kê chưa đầy đủ của 29 tỉnh, sau 3
năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR, số lượng
hộ dân tham gia như sau:
Chính sách chi trả DVMTR đã mang lại công việc
làm và thu nhập từ lao động bảo vệ rừng cho
375.991 hộ dân, trong đó có 63.653 hộ dân là
chủ rừng, 127.496 hộ dân và 2.640 nhóm hộ/
cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng
Có 4.422 thôn/bản thuộc 776 xã có các hộ dân,
và đồng nghiệp 2014) Nhóm khảo sát đã phỏng vấn các hộ dân lý do họ tham gia thực hiện chi trả DVMTR Các hộ dân được tự do lựa chọn từ một loạt các lý do và hai lý do phổ biến nhất được đưa
ra là: nhận được khoản tiền thanh toán và có được lợi ích từ việc quản lý rừng hiệu quả hơn (xem Bảng 18)
Số liệu trong Bảng 18 cho thấy ở nơi có mức chi trả tiền DVMTR cao như tỉnh Lâm Đồng, các hộ gia đình gần như cho rằng họ tham gia chủ yếu
để được nhận một nguồn tài chính đáng kể Còn ở nơi có mức chi trả tiền DVMTR tương đối thấp như tỉnh Sơn La, thì các hộ gia đình lại đưa ra các lý do khác giải thích sự tham gia của họ
Tuy nhiên, không phải tất cả các hộ dân tại các khu vực đủ điều kiện thực hiện chi trả DVMTR đều tham gia vào chương trình Ở tỉnh Lâm Đồng không phải tất cả các hộ gia đình ở địa bàn thí điểm đều được tham gia chi trả DVMTR, việc lựa chọn hộ tham gia do tổ chức chủ rừng nhà nước
phối hợp với chính quyền địa phương, thường là những hộ đã từng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng và trồng rừng trước đây Số liệu Bảng 18 cho thấy gần một phần tư số hộ khảo sát không tham gia chi trả DVMTR Hầu hết lý do đưa ra là không được chính quyền địa phương hay các thành viên trong cộng đồng yêu cầu phải tham gia, hoặc do thiếu diện tích rừng chi trả DVMTR gần đó, hoặc
lý do khác là danh sách đăng ký tham gia đã “đủ” Không có hộ gia đình nào đưa ra lý do lo ngại về
sự hạn chế trong việc sử dụng rừng khi tham gia chi trả DVMTR, đây là tín hiệu đáng mừng cho thấy chính sách chi trả DVMTR được xem là cơ hội tốt cho sinh kế tại các địa phương
Trang 34Khi tập trung vào các nhóm mục tiêu, chúng tôi đã
có thể củng cố thêm các phát hiện này Một số hộ
dân không tham gia chi trả DVMTR tại Lâm Đồng
là những hộ có người già, không đủ nhân lực để
tuần tra rừng thường xuyên; phụ nữ làm chủ hộ
gia đình không có lao động là nam giới, do bảo
vệ rừng được xem như là công việc của nam giới;
và các hộ gia đình thường xuyên đi làm việc ở nơi
khác như lao động thời vụ nên không thể dành đủ
thời gian cho công tác bảo vệ rừng
Tại Sơn La, các hộ gia đình là chủ rừng thuộc diện
nghèo, không có tiền trồng rừng và các hộ gia
đình có lao động trẻ nhưng không có đất rừng
thường không có trong danh sách thực hiện chi
trả DVMTR Các hợp đồng chi trả DVMTR được ký
kết với từng chủ rừng là hộ gia đình riêng biệt
5.3 Tác động đối với thu nhập và sinh kế của các
hộ dân và cộng đồng
Một câu hỏi đặt ra là người dân tham gia thực hiện
chính sách chi trả DVMTR là thực hiện trách nhiệm
công dân hay một “nghề” của họ Vì chính sách của
Chính phủ là “chi trả dịch vụ”, nghĩa là một sự chi
trả sòng phẳng giữa bên cung ứng dịch vụ và bên
sử dụng dịch vụ, lao động cung ứng DVMTR là một
“nghề” của người dân sống trong vùng rừng (Điều
3 Nghị định 99) Đã là một “nghề” thì phải có thu
nhập từ nghề Nhưng cơ chế để xác định tiền thu
nhập của người dân thì lại khá phức tạp, có thể vì
việc bảo vệ rừng là một nghề đặc biệt
Ví dụ: Hộ dân cung ứng DVMTR cho công ty thủy
điện Công ty này sử dụng DVMTR do hộ dân
cung ứng, nhưng lại nộp tiền cho Quỹ BV&PTR
Mức chi trả tiền cung ứng DVMTR trên một hecta
rừng trong một năm là bao nhiêu không do bên
sử dụng DVMTR quyết định, lại do UBND cấp tỉnh
quyết định
Do đó, mức thu nhập của hộ dân từ tiền chi trả DVMTR phụ thuộc vào số lượng diện tích rừng họ bảo vệ và mức tiền chi trả cho một hecta rừng trong một năm Cả hai yếu tố này do UBND tỉnh, UBND huyện (đối với hộ dân là chủ rừng) và tổ chức chủ rừng nhà nước (đối với hộ dân nhận khoán rừng) quyết định
Tỉnh Lâm Đồng có mức chi trả cao nhất 450.000 đồng/ha/năm Bình quân mỗi hộ dân được khoán
20 ha rừng để bảo vệ Tổng số tiền hộ dân được nhận là 9 triệu đồng/năm Tính ra 750.000 đồng/
hộ/tháng Nếu hộ có 5 người, bình quân thu nhập
từ nguồn chi trả DVMTR là 150.000 đồng/người/
tháng Nếu hộ dân coi cung ứng DVMTR là một
“nghề rừng” và phân công một lao động làm “nghề”
này, thì mức thu nhập 750.000 đồng/tháng cũng không thể giúp họ sống được bằng “nghề rừng”
Tương tự như vậy, tỉnh Quảng Nam có mức chi trả cao nhất 345.000 đồng/ha/năm Bình quân mỗi
hộ dân được khoán 26 ha rừng để bảo vệ Tổng số tiền hộ dân được nhận là 7 triệu đồng/năm Tính ra 580.000 đồng/hộ/tháng
Tỉnh Nghệ An có mức chi trả cao nhất 350.000 đồng/ha/năm Bình quân mỗi hộ dân được khoán
20 ha rừng để bảo vệ Tổng số tiền hộ dân được nhận là 8.970.000 đồng/năm Tính ra 747.500 đồng/
Quỹ tỉnh nào đề cập đến vấn đề này trong các báo cáo năm gửi cho VNFF Tuy nhiên, số liệu khảo sát
hộ gia đình năm 2011 tại Lâm Đồng và Sơn La có thể giúp so sánh hai mức chi trả khác nhau có tác động như thế nào đến thu nhập chung của hộ gia đình tại hai địa điểm nghiên cứu này
Bảng 20 cho thấy khoản tiền mà các hộ gia đình tại Lâm Đồng và Sơn La nhận được trong năm 2011
có sự khác biệt đáng kể Các hộ gia đình tham gia tại Lâm Đồng trung bình nhận được 8.919.307 đồng/năm (tương đương 425 USD) trong khi tại Sơn La mức này chỉ là 120.092 đồng/năm (tương đương 7 USD)
Mức chi trả tại Lâm Đồng cao hơn đáng kể so với mức chi trả tại Sơn La vì hai lý do: Một là, mức chi trả do UBND tỉnh quy định cao hơn (400.000 đồng/ha); và Hai là, các hộ gia đình ở Lâm Đồng được khoán bảo vệ diện tích rừng lớn hơn Tại Sơn La, mức chi trả thấp hơn nhiều (chưa đến 100.000 đồng/ha) và diện tích rừng bình quân của mỗi hộ chưa đến 15 ha Tỉnh Sơn La còn sử dụng tiền chi trả DVMTR để chi cho việc phát triển hạ tầng nông thôn (như phòng học) để tăng phúc lợi chung của cộng đồng nên mức chi trả cho các hộ gia đình thấp hơn
Trang 35Từ bảng trên có thể thấy nơi nào có mức chi trả
tiền DVMTR cho một hecta rừng trong một năm
cao hơn và số lượng diện tích rừng hộ dân bảo vệ
lớn hơn thì thu nhập của hộ dân khá hơn Tại Lâm
Đồng, theo các hộ gia đình được khảo sát thì số
tiền chi trả DVMTR họ nhận được có thể trang trải
cho khoảng 20% nhu cầu chi tiêu của hộ, trong khi
tại Sơn La số tiền chi trả DVMTR chỉ đáp ứng chưa
tới 1% nhu cầu chi tiêu của hộ dân
Năm 2012-2013, các chuyên gia Dự án của ADB đã
đưa ra sáng kiến cho các nhóm hộ chi trả DVMTR ở
xã Mà Cooih, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam
là mỗi nhóm sẽ trích lại từ 30-40% tổng số tiền
DVMTR của cả nhóm để làm nguồn vốn tín dụng
xoay vòng cho các hộ gia đình trong nhóm vay làm
vốn sản xuất, cải thiện sinh kế Gần 30 nhóm hộ
của 7 thôn đều đồng tình thực hiện, trong đó vai
trò của Trưởng thôn và Trưởng nhóm hộ rất quan
trọng UBND tỉnh Quảng Nam đã ban hành Quyết
định về cơ chế này để thực hiện với mục đích giúp
cho các hộ dân sử dụng tiền chi trả DVMTR như
một nguồn vốn đầu tư sản xuất làm tăng thêm
thu nhập cho gia đình Việc trích tỷ lệ bao nhiêu,
hộ nào được vay vốn trước, mức vay bao nhiêu do
cộng đồng trong nhóm họp lại và tự quyết định
Các nhóm đều chọn những hộ nghèo nhất, thiếu
vốn nhất để cho vay, thường là 2-3 hộ trong cùng
dòng họ để hỗ trợ nhau trong sản xuất Ban quản
lý rừng ở địa phương cho biết đến nay mô hình
này vẫn đang được thực hiện và phát huy hiệu quả
rất tốt
5.4 Tác động đối với vấn đề giới trong chi trả
DVMTR
Chúng ta không có đủ số liệu để đánh giá mức độ
tham gia của nữ giới vào việc thực hiện chính sách
chi trả DVMTR trong ba năm qua Kết quả khảo sát
và phỏng vấn các hộ gia đình tại một số tỉnh cho
thấy nữ giới có xu hướng ít tham gia vào việc tuần
tra bảo vệ rừng để cung ứng DVMTR do quan niệm
việc tuần tra rừng nguy hiểm, là công việc của nam giới Trong những trường hợp này, hầu hết những người chồng hoặc con trai trong gia đình
sẽ đi tuần tra rừng Tại một số tỉnh như Đồng Nai, những người được phỏng vấn cho rằng nữ giới thỉnh thoảng có đi tuần tra rừng nếu nam giới bận
Các hộ gia đình được phỏng vấn nói rằng, dù nam giới là những người tham gia chính vào các hoạt động tuần tra rừng để nhận tiền chi trả PFES, nhưng họ thường đưa tiền cho vợ mình quản lý và chi dùng chung cho cả gia đình
Một vấn đề khác mà chúng tôi chưa có dữ liệu đó
là có thể khi nam giới trong các hộ gia đình đi tuần tra rừng sẽ làm tăng khối lượng công việc cho nữ giới trong gia đình khi họ phải đảm nhiệm thêm các công việc đồng áng hoặc các công việc khác
Sau này khi có các nghiên cứu về tác động của chính sách chi trả DVMTR đối với vấn đề giới sẽ giúp trả lời câu hỏi này
5.5 Sự hài lòng của người dân khi tham gia thực hiện chính sách
Nhiều hộ gia đình được phỏng vấn về sự hiểu biết
và nhận thức của họ đối với chính sách chi trả DVMTR thì họ đã trả lời không biết gì về chính sách này, chỉ biết đang được nhận tiền từ việc bảo vệ rừng nhưng không biết tiền ấy từ đâu ra và khác với các chương trình trước đây như Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng như thế nào Ví dụ: trong khi khảo sát 150 hộ gia đình ở Sơn La và Lâm Đồng trong năm 2011, chỉ 34% số người được hỏi nói rằng họ đã từng nghe nói về chi trả DVMTR, số còn lại chưa nghe hoặc không biết về khái niệm này
Một nửa trong số những người đã nghe thì nghĩ chi trả DVMTR là một chương trình của Nhà nước
về bảo vệ rừng Chỉ một số ít người được phỏng vấn biết đó là một chính sách mà những người sử dụng DVMTR trả tiền bảo vệ rừng cho họ
Những hộ gia đình hiểu tiền chi trả DVMTR là tiền của Nhà nước vì họ được nhận tiền từ Quỹ BV&PTR, Ban quản lý rừng của nhà nước, có sự tham gia của chính quyền địa phương vào việc chi trả, mà không biết đó không phải là tiền ngân sách nhà nước, là tiền của các công ty thủy điện, nước sạch trả cho họ nhưng phải thông qua các cơ quan nhà nước Vì nhận thức như vậy nên một nghĩa vụ quan trọng của họ nhưng họ không hiểu, đó là tiền chi trả DVMTR có thể được nhận ít đi, hoặc không được nhận, thậm chí phải đền bù nếu họ không làm tốt công việc bảo vệ rừng, để xảy ra mất rừng, khác với các chương trình trước đây họ không đi tuần tra rừng mà vẫn được phát tiền từ ngân sách nhà nước
Mặc dù thiếu hiểu biết về việc nguồn gốc tiền chi trả DVMTR từ đâu mà có, nhưng nhìn chung những hộ dân được phỏng vấn đều có thái độ tích cực khi nói về sự tham gia của họ trong các công việc bảo vệ rừng Ví dụ: Trong đợt khảo sát năm
2011 tại Lâm Đồng và Sơn La đối với những hộ dân tham gia thực hiện chính sách chi trả DVMTR, 76% hộ dân đề cập đến các lợi ích tích cực của bảo
vệ rừng; 60% hộ dân cho biết về các hiệu quả môi trường nói chung, như ngăn ngừa lũ lụt và quản
lý nước; trong khi 40% đề cập đến lợi ích chính là được nhận khoản chi trả tiền mặt Các lý do khác được các hộ phỏng vấn đưa ra đó là việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR sẽ giúp họ tiếp cận tốt hơn đến các lâm sản ngoài gỗ khác, được nhận
quyền sở hữu đất, nâng cao tiếng nói và sự tham gia của mình và mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng Số còn lại, 24% hộ dân trong khảo sát tại Sơn La và Lâm Đồng năm 2011 cho thấy quan điểm tiêu cực của họ về các dự án bảo vệ rừng Các
hộ này đều cho rằng yêu cầu về nhân lực và lao động cho bảo vệ rừng quá lớn nhưng các khoản được thanh toán thì quá thấp, trong khi một số nghĩ rằng việc chi trả tiền DVMTR dẫn đến những mâu thuẫn giữa các cộng đồng và hàng xóm với nhau khi việc chi trả không công bằng
Mặc dù nhìn chung thái độ của các hộ dân về chính sách chi trả DVMTR là tích cực, nhưng vẫn có một
số hộ bày tỏ không hài lòng với số tiền chi trả Số liệu của đợt khảo sát năm 2011 cho thấy, 67% hộ dân được nhận tiền DVMTR cảm thấy số tiền này quá nhỏ so với thời gian họ bỏ ra để bảo vệ rừng Một số hộ dân đề xuất mức chi trả 5 triệu đồng/ha/năm, trung bình là 781.750 đồng/ha/năm, gần gấp đôi mức chi trả tại thời điểm đó (năm 2011) của tỉnh Lâm Đồng (400.000 đồng/ha/năm) và cao hơn đáng kể so với mức chi trả của tỉnh Sơn Lalà 100.000/ha/năm Các hộ dân còn đề xuất ngoài việc trả tiền DVMTR bằng tiền mặt, Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho họ
để họ đầu tư sản xuất Một số hộ dân đề xuất đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho cộng đồng nông thôn và một số đề xuất có thể chi trả DVMTR bằng hiện vật là gạo
© Winrock International
Trang 365.6 Tác động đối với hoạt động lâm nghiệp của
hộ gia đình
Do có tương đối ít các hoạt động giám sát chi trả
DVMTR tại cấp hộ gia đình, nên không có số liệu
chứng minh các tác động của chính sách chi trả
DVMTR sẽ giúp thay đổi công việc quản lý rừng
của các hộ gia đình và cộng đồng, đặc biệt là khi
mức tiền chi trả thấp Ví dụ: 25% số hộ gia đình
được phỏng vấn trong năm 2011 cho biết không
có gì khác về mặt sử dụng đất sau khi nhận được
tiền chi trả DVMTR (Bảng 19) Đối với các hộ gia
đình khác có quan điểm tích cực về quản lý sử
dụng đất, hầu hết đều nói rằng họ đã theo dõi
cháy rừng một tuần một lần, hai tuần một lần hoặc
một tháng một lần Tại Lâm Đồng, đa số các thay đổi có liên quan đến phòng chống cháy rừng là cấm người ngoài xâm nhập vào rừng Tại Sơn La,
đa số các hộ gia đình nói rằng ít có thay đổi trong quản lý rừng sau khi thực hiện chính sách chi trả DVMTR, một số vụ cháy rừng hoặc người ngoài xâm phạm vào rừng đã được ngăn chặn, hoặc việc thu lượm củi trong rừng cũng đã được hạn chế
Mức chi trả rất thấp tại Sơn La có thể là yếu tố góp phần vào việc có ít thay đổi tích cực hơn trong các hoạt động bảo vệ rừng
5.7 Công tác tập huấn, tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR
Công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức về chính sách chi trả DVMTR và tập huấn kỹ thuật đã được Tổng cục Lâm nghiệp, VNFF và các Quỹ tỉnh rất quan tâm
Theo số liệu thống kê của VNFF, chi phí cho công tác tập huấn, tuyên truyền của VNFF trong 3 năm
là 2.645.133.773 đồng, chiếm đến 36,2% tổng số tiền chi trả DVMTR mà VNFF đã sử dụng Đối tượng tuyên truyền và tập huấn là cán bộ quản lý, cán
bộ kỹ thuật của các cơ quan trung ương, các cơ quan cấp tỉnh, là những người có trách nhiệm triển khai công tác chi trả DVMTR ở trung ương và địa phương VNFF cũng phối hợp với các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình để tuyên truyền chính sách chi trả DVMTR bằng các bản tin, các phóng sự để thông tin và chia sẻ kinh nghiệm
Ngoài ra, VNFF còn phối hợp và nhờ sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như Winrock International, GIZ, CIFOR, ADB,… ) để tổ chức các lớp tập huấn, đào tạo, các hội thảo, hội nghị nhằm nâng cao kiến thức và năng lực chi trả DVMTR
Các Quỹ tỉnh cũng đã chi một số lượng tiền DVMTR đáng kể trong khoản 10% quản lý của Quỹ cho công tác tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR cho các đối tượng là cán bộ các cơ quan cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và nhân dân vùng chi trả DVMTR Các Quỹ tỉnh đã phối hợp với các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình để tuyên truyền chính sách này một cách rộng rãi ở địa phương
Nhìn chung, công tác thông tin, tuyên truyền, tập huấn đã mang lại kết quả rõ rệt về nhận thức và
sự hiểu biết của xã hội và các cơ quan, ban, ngành các cấp về chính sách rất mới này Đó là một trong những yếu tố quan trọng góp phần làm nên kết quả tốt đẹp trong 3 năm đầu tiên thực hiện Nghị định 99 trên cả nước Các cán bộ của VNFF và các Quỹ tỉnh mặc dù cũng là những người mới tiếp cận với chính sách này nhưng đã rất nỗ lực thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, đặc biệt
là tập huấn nghiệp vụ về kỹ thuật và quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR Theo Báo cáo tổng kết
3 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR của Bộ NN&PTNT, sau hơn 3 năm, các Quỹ BV&PTR và các
cơ quan từ trung ương đến địa phương đã thực hiện một khối lượng đáng kể các ấn phẩm tuyên truyền về chính sách này, gồm: 351 bài báo, 4.177 lượt phát thanh, 129 tin phóng sự truyền hình, 287.876 tờ rơi, tờ gấp
Tuy nhiên, qua một số chuyến khảo sát các hộ dân, các lãnh đạo thôn/bản, lãnh đạo xã và huyện ở một số tỉnh từ vùng Tây Bắc, Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ thì phần lớn các đối tượng này gần như chưa biết gì hoặc biết rất ít về chính sách chi trả DVMTR, trong khi họ là những đối tượng chính của chính sách, là những người trực tiếp bảo vệ rừng, những người ở cấp cơ sở tổ chức cho dân bảo vệ rừng và nhận tiền chi trả DVMTR Rất nhiều
hộ dân khi được hỏi có biết nguồn gốc tiền mà họ được nhận ở đâu, thì câu trả lời phần lớn là “không biết” Các hộ dân xã Yên Na, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An nhận tiền DVMTR do nhà máy thủy điện Bản Vẽ chi trả nhưng họ không biết tiền của
ai trả cho họ, dù khu rừng họ bảo vệ và nhà họ chỉ cách nhà máy thủy điện này khoảng hơn 1 km
Trang 375.8 Nhận xét chung kết quả về xã hội
Một trong những mục đích chính của chính sách
chi trả DVMTR là huy động, thu hút các hộ dân
tham gia bảo vệ rừng thông qua biện pháp chi trả
DVMTR để cải thiện thu nhập cho họ Đồng thời,
thay đổi tập quán bảo vệ rừng bằng việc gắn số
tiền DVMTR được nhận với nghĩa vụ bảo vệ rừng
một cách cụ thể Kết quả là sau 3 năm, theo số liệu
thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 350.000 hộ dân
trên cả nước tham gia thực hiện chính sách này và
đã được nhận tiền chi trả DVMTR, trong đó hơn
50% số hộ dân của vùng Tây Bắc và Tây Nguyên
Hầu hết các hộ dân khi tham gia thực hiện chính
sách chi trả DVMTR đều phấn khởi và đánh giá tốt
về chính sách này Đây là một thành công to lớn
nhất của chính sách chi trả DVMTR của Việt Nam,
sau một quá trình thực hiện còn rất ngắn, chỉ hơn
3 năm Đây cũng là một trong số ít chính sách của
Chính phủ và của ngành Lâm nghiệp thực sự đi
vào cuộc sống
Khi phỏng vấn lãnh đạo Bộ NN&PTNT và Tổng cục
Lâm nghiệp, tất cả đều nhận định rằng chính sách
chi trả DVMTR là một chính sách quan trọng của
ngành Lâm nghiệp và cơ chế chi trả là bền vững,
ổn định, đã mang lại các kết quả đáng kể cho công
tác bảo vệ rừng và cải thiện thu nhập của các hộ
gia đình tham gia bảo vệ rừng, đặc biệt là các hộ
gia đình nghèo và người dân tộc thiểu số
Tuy nhiên, việc theo dõi, giám sát có hệ thống các
tác động về thu nhập và sinh kế của chính sách chi
trả DVMTR chưa được thực hiện ở cấp hộ gia đình,
vì vậy khó nói chắc chắn rằng chính sách này đã hỗ
trợ giảm nghèo như thế nào, hay có tác động như
thế nào đối với nhóm nữ giới
Tại các khu vực mà mức tiền chi trả DVMTR thấp,
sự nhiệt tình tham gia các hoạt động bảo vệ rừng thấp hơn tại các khu vực có mức chi trả cao hơn Sự không công bằng trong các khoản chi trả giữa các
hộ gia đình cũng đã có tác động đến sự tham gia
và cảm nghĩ thiếu tích cực của người dân
Trong tương lai, công tác giám sát, đánh giá tác động của chính sách chi trả DVMTR đến cấp hộ, đặc biệt là các hộ nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số là rất cần thiết để đảm bảo cho sự bền vững hơn và hiệu quả hơn của chính sách này