1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự tham gia của cộng đồng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn (nghiên cứu trường hợp hai tỉnh thanh hóa và bình phước) (tt)

33 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 496,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững về mặt xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, thì vẫn còn những quá trình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài……… 1

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ……… 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……….….…5

4 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu……… 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu……… …7

6 Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết………23

PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu……… 25

1.1.1 Trên thế giới……… 25

1.1.2 Ở Việt Nam……… 26

1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu……… 31

1.2.1 Tỉnh Thanh Hóa……… 31

1.2.2 Tỉnh Bình Phước……… 35

1.3 Một số khái niệm công cụ……… 37

1.3.1 Khái niệm sự tham gia của cộng đồng……… 37

1.3.2 Khái niệm về phân cấp ……… … 39

1.3.3 Khái niệm về phát triển lấy cộng đồng làm định hướng……… …… 41

1.3.4 Khái niệm cộng đồng……… … 42

1.3.5 Khái niệm cơ sở hạ tầng nông thôn……… … 43

CHƯƠNG II:

VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM

Trang 4

2.1 Lập kế hoạch có sự tham gia .45

2.2 Lập ngân sách/kiểm toán tham gia .50

2.3 Giám sát có sự tham gia 57

2.4 Đơn thư khiếu nại và tố cáo ……… … 61

2.5 Tiểu kết ……… …… 62

CHƯƠNG III: SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG PHÁT TRIỂN CSHT NÔNG THÔN 3.1 Các nội dung tham gia trong phát triển CSHT ……… 64

3.1.1 Quá trình tiếp nhận thông tin ……… …64

3.1.2 Tham gia trong các cuộc họp lựa chọn công trình……… …….69

3.1.3 Sự tham gia trong Ban điều phối dự án xã……….…….74

3.1.4 Tham gia đóng góp các nguồn lực ……… …… 77

3.1.5 Tham giám sát xây dựng và duy tu bảo dưỡng công trình ……… …………80

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia……… …….84

3.2.1 Các yếu tố về nhân khẩu xã hội của cộng đồng……… ….84

3.2.2 Vai trò của trưởng thôn……… …89

3.2.3 Chính quyền cấp xã……… 92

3.2.4 Các tổ chức trung gian/xã hội dân sự……….… 95

3.2.5 Các yếu tố về cơ chế chính sách……….….99

3.2.5.1 Quá trình phân cấp quản lý đầu tư cho cấp xã……… …………99

3.2.5.2 Việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở……… … … 103

3.3 Tiểu kết ……… ……….105

PHẦN III : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1 Kết luận …… ………107

2 Khuyến nghị………109

2.1 Những khuyến nghị chung……… 109

2.2 Các khuyến nghị cụ thể……… 110

Trang 5

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khâm phục trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Năm 1993 Việt Nam vẫn còn khoảng 58% dân số sống trong nghèo đói, năm 1998 con số này là là 37% và năm 2002 đã giảm xuống 29%1

Những con số này thể hiện một cách tập trung những nỗ lực cải cách của Việt Nam kể từ khi tiến hành đổi mới vào năm 1986 Trên cơ sở không ngừng nâng cao khả năng tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế, Việt Nam đã và đang tiếp tục đạt được những thành quả đáng kể trong quá trình thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Ngoài ra, Việt Nam đang ngày càng hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và đóng một vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế của khu vực và toàn cầu

Khu vực nông thôn có diện tích đất chiếm 92% diện tích lãnh thổ Việt Nam với 75% dân

số sinh sống đang trở thành một trong những trọng tâm của các chính sách phát triển ở Việt Nam Hiện nay, khu vực này mặc dù đã được đầu tư nhiều và đã có những chuyển biến tích cực, song còn nhiều yếu kém Hiện nay trong khu vực nông thôn vẫn còn 16% dân cư sống cảng nghèo đói, 7 triệu người thiếu việc làm [13; 4] Sự yếu kém của khu vực nông thôn còn thể hiện ở cả cơ sở hạ tầng Hai thập kỷ qua, hạ tầng nông thôn tuy đã được đầu tư và cải thiện đáng kể, nhưng về cơ bản vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về

hệ thống đường xã, cung cấp nước tưới và cung cấp điện

Những năm vừa qua, Việt Nam đã có những nỗ lực để phát triển toàn diện khu vực nông thôn thông qua các chương trình, dự án đầu tư Theo đó, các dự án phát triển nông thôn tổng hợp đang ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo và phát triển nông thôn ở Việt Nam trong những thập kỷ gần đây Trong các dự án phát triển nông thôn tổng hợp thì lĩnh vực cơ sở hạ tầng luôn được coi là một trong những khía cạnh được xem xét đầu tư vì nó mang tính quyết định lớn đến sự phát triển chung của nông thôn Cơ sở hạ tầng phát triển sẽ đảm bảo cho người dân ở nông thôn có thể tiếp cận nhiều hơn với thị trường đồng thời cũng cải thiện được tình hình sản xuất và sinh hoạt trong cộng đồng của mình Trong công tác quản lý dự án thì hiệu quả quản lý

1

Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 của Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam

Trang 6

đầu tư cơ sở hạ tầng cũng sẽ đóng vai trò quyết định đến hiệu quả chung của đầu tư và chất lượng của công trình xây dựng

Trong những năm trước đây, nhiều chương trình của Chính phủ đã sử dụng phương pháp tiếp cận từ trên xuống thiếu sự tham gia của người dân, đặc biệt là người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương, nên đã làm hạn chế tính hiệu quả của các sáng kiến giảm nghèo

và kết quả là thiếu sự cam kết, sự đóng góp và tinh thần làm chủ của người dân đối với những công trình cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động giảm nghèo Kinh nghiệm của nhiều dự án trong vòng 5 năm qua cho thấy một nhu cầu bức thiết phải xây dựng những

cơ chế phù hợp để các nhóm mục tiêu dự án tham gia nhiều hơn vào quy trình ra quyết định, từ việc lập kế hoạch đến giám sát, đánh giá, vận hành bảo dưỡng công trình đầu tư

Có như vậy, hiệu quả của công trình đầu tư mới được đảm bảo và có tính bền vững Hiện nay Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình cải cách theo hướng đảm bảo việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ với chất lượng tốt hơn cho người dân Nhìn chung, Việt Nam đang thí điểm áp dụng một hệ thống lập kế hoạch, lập ngân sách và thực hiện các chương trình, dự án phát triển được phân cấp nhiều hơn cho các cấp địa phương Cụ thể là theo tinh thần của Nghị định số 29 (Ban hành năm 1998) của Chính phủ về “phát huy dân chủ cấp cơ sở” thì các cấp chính quyền đã có cam kết rõ ràng hơn

về trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và đẩy mạnh sự tham gia của người dân vào những công việc quản lý chung ở địa phương

Quá trình phân cấp cùng với nó là sự tham gia mạnh mẽ từ phía người dân đang là một trong những chủ trương đang được triển khai từng bước trong nhiều lĩnh vực như quản

lý quy hoạch, kế hoạch, đầu tư phát triển, ngân sách nhà nước, v.v ở các cấp chính quyền địa phương khác nhau và là một nội dung quan trọng của Chương trình Cải cách hành chính công của Chính phủ giai đoạn 2001-2010 Phân cấp quản lý các hoạt động đầu tư phát triển cấp xã cũng đã được từng bước triển khai trong hệ thống quản lý nhà nước cũng như các dự án phát triển nông thôn sử dụng nguồn vốn trong nước và nguồn tài trợ Việc phân cấp này góp phần thúc đẩy việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và tăng cường hiệu quả và tính bền vững của các hoạt động đầu tư

Ở một khía cạnh khác, xu hướng hội nhập toàn cầu cùng với sự gia tăng những ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã đặt ra những yêu cầu về sự phát triển bền vững về mặt xã hội Điều đó đã quy định cho khoa học Xã hội học những nhiệm vụ nghiên cứu mang tính thực tiễn về sự phát triển bền vững ở Việt Nam

Trang 7

Phát triển bền vững là một khái niệm mang tính học thuật khá phức tạp, mặc dù nó đã và đang gây nhiều tranh cãi, nhưng mục tiêu cuối cùng mang tính khái quát hơn của sự phát triển bền vững lại mang tính xã hội và nhân văn, như được nêu trong Hiến chương của

Liên hiệp quốc về Quyền con người Đó là, “đảm bảo cho mỗi người quyền có được

những điều kiện sống thích hợp cho sức khỏe và phúc lợi bao gồm đồ ăn, quần áo, nhà

ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác”

Về cơ bản, phát triển bền vững xã hội có cốt lõi nằm ở việc giải quyết những mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội, cũng như phát triển con người Tuy nhiên, ngay cả với một cách hiểu sơ lược như vậy, thì sự phát triển bền vững về mặt

xã hội vẫn còn là một chủ đề lớn và phức tạp Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, để đảm bảo cho sự phát triển bền vững về mặt xã hội, bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng

về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, thì vẫn còn những quá trình và những yếu tố xã hội cần được chú ý xem xét đúng mức, chẳng hạn: (i) hệ thống chính sách cần thiết đầu tư cho con người, thúc đầy phát triển con người, đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống của họ, (ii) cải thiện điều kiện sống, cơ sở hạ tầng thiết yếu của nhóm người nghèo, đặc biệt là nhóm xã hội nhạy cảm dễ bị tổn thương, (iii) huy động sự tham gia rộng rãi

và có hiệu quả của cộng đồng và mọi người dân vào quá trình phát triển, và (iv) tăng cường về mặt thể chế các quá trình địa phương của xã hội dân sự

Đây cũng chính là những nhiệm vụ xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước giao phó và yêu cầu đối với khoa học xã hội nói chung và Xã hội học nói riêng

Từ những vấn đề đã nêu, có thể khẳng định rằng, sự tham gia của cộng đồng là một trong những chủ đề đang được quan tâm cả về mặt lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển hiện nay

Trên tinh thần "Phát triển nông thôn là công việc của chính người dân nông thôn, với sự

giúp đỡ tích cực của Chính phủ”, sự tham gia của cộng đồng đã và đang là nhân tố quan

trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của công cuộc phát triển nông thôn và

đất nước Với ý nghĩa đó, đề tài nghiên cứu "Sự tham gia của Cộng đồng dân cư trong

việc Phát triển cơ sở hạ tầng Nông thôn" hy vọng sẽ góp phần vào việc nhận thức thực

trạng sự tham gia cũng như một số nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa khoa học

Trang 8

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng các lý thuyết, các khái niệm xã hội học vào việc tìm hiều và mô tả sự tham gia của cộng đồng dân cư qua đó đưa ra được một thực trạng

về sự tham gia của người dân trong các lĩnh vực thuộc về cơ sở hạ tầng nông thôn.Qua

đó tiến hành giải thích thực tế về sự tham gia dưới giác độ xã hội học và tìm hiểu các yếu

tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng

Thông qua quá trình nghiên cứu, các khái niệm liên quan đến cộng đồng và sự tham gia

sẽ được làm sáng tỏ hơn, đồng thời phát hiện ra một số quy luật mang tính xã hội của quá trình tham gia của người dân

Trên cơ sở vận dụng tri thức xã hội học vào nghiên cứu, các khái niệm và các lý thuyết thuộc xã hội học đại cương có điều kiện va chạm và cọ sát với thực tiễn xã hội, qua đó góp phần nhìn nhận lại các khái niệm và lý thuyết và rút ngắn khoảng cách giữa lý luận

và thực tiễn cuộc sống

2.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua mô tả và giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tham gia của người dân, nghiên cứu sẽ khuyến nghị các giải pháp mang tính thực tiễn cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách Cụ thể, nghiên cứu sẽ khuyến nghị những giải pháp tăng cường hiệu quả của sự tham gia của người dân trong việc lập kế hoạch phát triển thôn bản, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, trong phát triển cơ sở hạ tầng ở cơ

Nghiên cứu cũng nhằm đưa ra những bằng chứng đáng tin cậy cho sự nhìn nhận lại vai trò của người dân nông thôn cũng như sự tham gia của họ đối với chính các quyết định liên quan trực tiếp đến đời sống của họ dưới góc độ xã hội học Như đã đặt vấn đề ở phần mở đầu, sự nghiệp phát triển nông thôn là công việc của chính người dân nông thôn, với ý nghĩa đó họ phải được tham gia vào các quá trình kinh tế xã hội diễn ra và có ảnh hưởng đến chính cuộc sống của họ bằng các phương pháp và công cụ hiệu quả nhất

Trang 9

Ngoài ra, với tỷ lệ dân cư sinh sống ở vùng nông thôn cao, nghiên cứu cũng mong muốn góp phần xác định lại những ảnh hưởng mang tính tất yếu của các cộng đồng dân cư nông thôn đối với toàn bộ tiến trình hình thành và phát triển xã hội nông thôn và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập và mở cửa

Cuối cùng, trên cơ sở toàn bộ kết quả nghiên cứu, đề tài cũng mong muốn sẽ đóng góp được một phần đối với chính quyền địa phương trong việc quản lý đời sống kinh tế xã hội ở nông thôn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Dựa vào mục đích đã nêu, nghiên cứu sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Làm rõ những khái niệm, những cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp luận nghiên cứu vấn đề sự tham gia của cộng đồng

 Khái quát một số nghiên cứu về sự tham gia của người dân và quá trình phân cấp trên thế giới và Việt Nam

 Phân tích thực trạng về sự tham gia của người dân trong phát triển cơ sở hạ tầng thông qua việc làm rõ nội dung, hình thức và hiệu quả của sự tham gia Phân tích các nguyên nhân thành công và thất bại trong quá trình huy động sự tham gia của người dân

 Phân tích và làm rõ vai trò của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, qua đó dự báo xu hướng về

sự tham gia

 Đưa ra các kết luận, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp, các khuyến nghị cho việc huy động sự tham gia của người dân đạt hiệu quả cao

Trang 10

4 Đối tượng khách thể và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2006

4.4 Giới hạn nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc phát triển cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, sự tham gia của cộng đồng dân cư là một quá trình rộng lớn và đề tài này sẽ không đề cập đến phạm vi rộng lớn đó Đề tài chỉ đề cập đến những nội dung tham gia cơ bản nhất của người dân trong việc phát triển cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ ở cấp thôn bản Cụ thể, đề tài sẽ tập trung vào phân tích sự tham gia của người dân trong việc xây dựng các loại hình công trình sau:

Đường giao thông nông thôn (bao gồm cả cầu và đập tràn);

Trang 11

hưởng đến quá trình tham gia như đặc điểm nhân khẩu xã hội, vai trò của chính quyền cơ

sở, của các tổ chức trung gian và một số yếu tố về thể chế chính sách Sự tham gia của cộng đồng trong nghiên cứu này được xem xét như một quá trình, từ giai đoạn lựa chọn công trình cho đến khi công trình hoàn thiện và bàn giao cho cộng đồng quản lý và sử dụng Thông qua quá trình đó, sự tham gia của cộng đồng sẽ được biểu hiện ra ở nhiều khía cạnh mang tính xã hội như: hình thức tham gia, mức độ tham gia, hiệu quả tham gia

và các tác động về mặt xã hội của sự tham gia đó đối với việc cải thiện đời sống của họ

5 Phương pháp luận và phương pháp nghhiên cứu

5.1 Phương pháp luận

5.1.1 Phương pháp luận Mác – Lênin

Chủ nghĩa Duy vật biện chứng và Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử cho rằng, thực tế xã hội có thể nhận thức được; và quá trình nhận thức này phải đi từ đơn giản đến phức tạp, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ khía cạnh bên ngoài, không bản chất của các hiện tượng xã hội đến khía cạnh sâu hơn của chúng Điều đó cũng có nghĩa rằng nhận thức xã hội cần phải bắt đầu từ những nghiên cứu thực nghiệm, song không dừng lại ở

đó Nói cách khác, không chỉ nên dừng lại ở việc mô tả, quan sát, phân loại các sự kiện

mà phải tiếp tục đi xa hơn, sâu hơn vào bản chất của sự kiện xã hội để chỉ ra được tính quy luật xã hội học, để tạo ra các giả thuyết mới, các quan điểm và nhận định khoa học mới cũng như các lý thuyết mới và chính từ các giả thuyết mới này xuất hiện sự cần thiết các cuộc nghiên cứu xã hội học mới để kểm tra và khẳng định giả thuyết đó Quá trình này được tiếp tục sẽ giúp chúng ta nhận thức được ngày càng sâu sắc về bản chất của thực tế xã hội [23; 60]

Mặt khác, trong các nghiên cứu xã hội học, phương pháp luận triết học Mác xít yêu cầu không được xem xét các hiện tượng xã hội một cách siêu hình, mà phải xem xét chúng một cách biện chứng Có nghía là các hiện tượng xã hội cần phải được xem xét một cách

hệ thống, chúng cần phải được đặt trong tương quan liên hệ với các sự vật hiện tượng xã hội khác; và chúng cần phải được xem xét trong mối quan hệ có tính quy luật, có sự phục thuộc và quyết định lẫn nhau

Các sự kiện,hiện tượng xã hội không thể được nghiên cứu như những vật thể bất động, hoặc chỉ có sự thay đổi về số lượng; mà chúng cần phải được nghiên cứu và xem xét như

là đang trong trạng thái vận động có tính quy luật, trong đó nhìn nhận sự phát triển bao gồm cả về mặt số lượng và chất lượng Các sự vật hiện tượng cần phải được xem xét ở cả

Trang 12

mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài để từ đó có thể thấy được nguồn gốc của sự vận động và phát triển

Các nghiên cứu xã hội học cũng cần phải được đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể Có nghĩa là ki phân tích một sự vật hiện tượng xã hội thì cần phải xuất phát từ thực tế lịch

sử xã hội cụ thể chứa đựng sự vật hiện tượng đó Thực tế lịch sử cần được xem xét như

cơ sở, mục tiêu, tiêu chuẩn của thông tin thực nghiệm [23; 61]

Vì vậy, đề tài sẽ xem xét sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn không phải là một hoạt động mang tính đơn lẻ, mà nó có mối liên hệ biện chứng cũng như mối liên hệ nhân quả với các quá trình kinh tế xã hội khác Có nghĩa là sự tham gia của người dân, một mặt sẽ tác động lên các quá trình xã hội khác như là một nguyên nhân mang tính khách quan; mặt khác nó lại bị tác động bởi các yếu

tố xã hội khác ở ngay chính xã hội nông thôn như một hệ quả tất yếu

5.1.2 Một số lý thuyết được sử dung trong nghiên cứu

5.1.2.1 Lý thuyết phát triển cộng đồng

Phát triển cộng đồng như một khái niệm lý thuyết và thực hành xuất hiện vào những năm

1940 tại các nước thuộc địa của Anh Năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử dụng khái niệm này như một công

cụ để thực hiện các chương trình phát triển quốc gia với nhiều chương trình việc trợ quy

mô lớn về kỹ thuật, phương pháp và tài chính vào thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ trước

Lý thuyết phát triển cộng đồng dựa trên nguyên lý cho rằng mục tiêu cuối cùng của PTCĐ là tạo ra sự chuyển biến xã hội trong đó tăng cường năng lực tổ chức, khả năng đoàn kết xã hội, hướng tới khả năng nâng cao tính cộng đồng

Trọng tâm của PTCĐ là con người (thành viên của cộng đồng) và phát triển con người vì con người Điều này có nghĩa thước đo của phát triển được hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm này, tăng trưởng kinh tế chỉ là một trong những khía cạnh của phát triển Những tiến bộ về vật chất không kèm theo sự phát triển của khả năng con người và định chế xã hội chỉ là những thành công có tính thời hạn và không bền vững Do vậy, mục tiêu bao

trùm của PTCĐ là góp phần mở rộng và phát triển các nhận thức và hành động có tính

chất hợp tác trong cộng đồng, phát triển năng lực tự quản cộng đồng Mục tiêu tổng

quát trên được thể hiện dưới 4 khía cạnh sau:

- Hướng tới cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng, với sự cân bằng về vật chất và tinh thần, qua đó, tạo những chuyển biến xã hội trong cộng đồng

Trang 13

- Tạo sự bình đẳng trong tham gia của mọi nhóm xã hội trong cộng đồng, kể cả các nhóm thiệt thòi nhất đều có quyền nêu lên nguyện vọng của mình và được tham gia vào các hoạt động phát triển, qua đó, góp phần đẩy mạnh công bằng xã hội

- Củng cố các thiết chế/ tổ chức để tạo điều kiện cho chuyển biến xã hội và tăng trưởng

- Thu hút sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển

Hai khái niệm then chốt của phát triển cộng đồng là tăng cường năng lực và tạo quyền

lực được coi là hai trọng tâm của phát triển cộng đồng, để tạo được điều này, phát triển

cộng đồng phải là một quá trình luôn tiếp diễn Mục tiêu cuối cùng của một chương trình

phát triển cộng đồng là giúp cho cộng đồng đi từ một tình trạng kém phát triển, không tự mình giải quyết các vấn đề của riêng mình tới tự lực [27; 50]

Phát triển cộng đồng là một quá trình diễn ra theo các bước tuần tự từ thấp đến cao bao gồm bước chính là thức tỉnh (nhận diện vấn đề), tăng cường năng lực (chuẩn bị nguồn

lực - tập luyên) và tự lực (tự giải quyết các vấn đề của mình) Trong đó, thức tỉnh là giai

đoạn cộng đồng nhận diện về tình trạng phát triển của mình, xác định các khó khăn

thuận lợi và xác lập những vấn đề ưu tiên Sau đó cộng đồng sẽ được tăng cường năng

lực thông qua những hỗ trợ từ phía bên ngoài và kết hợp với khả năng của bản thân để

khắc phục những hạn chế và tăng cường kiến thức và kỹ năng để hành động Tăng cường hoạt động liên kết, khả năng tổ chức, lãnh đạo và quản lý để hành động tập thể có hiệu

quả hơn Các hoạt động trong 2 bước nêu trên sẽ giúp cộng đồng trở nên tự lực Mục

đích cuối cùng không phải là mọi khó khăn, khủng hoảng không còn nữa, mà mỗi lần gặp khó khăn, cộng đồng có thể tự huy động nguồn lực từ bên trong và bên ngoài để giải quyết vấn đề [27; 51]

Phát triển cộng đồng tuân thủ những định hướng nhất định, đó là phát triển cộng đồng

phải dựa trên phương pháp luận từ dưới lên (bottom – up) xuất phát từ nhu cầu của

chính người dân Muốn tự phát triển chính người dân phải tự ý thức cũng như tự tổ chức

để bảo vệ quyền lợi của mình Phát triển cộng đồng phải đồng bộ trên mọi khía cạnh

của đời sống xã hội: kinh tế, xã hội, văn hóa…phải cùng được nâng lên Chỉ tiến công

vào một khía cạnh thì không thể nào phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn của nghèo đói, dốt nát và bệnh tật Nguồn lực thì có hạn nhưng tính đồng bộ của sự phát triển luôn đòi hỏi

các chương trình phải có tính toán các điểm đột phá khẩn, từ đấy tìm ra chìa khóa của sự

phát triển Ngoài ra, cần phải đẩy mạnh sự tham dự của quần chúng và coi đó là đường lối phát triển cộng đồng Yếu tố tổ chức là hết sức quan trọng Các tổ chức thuộc chính

Trang 14

quyền địa phương phải được điều chỉnh để thực hiện chưc năng phát triển, cũng như phải

hỗ trợ để xây dựng và củng cố các tổ chức của người dân tại cộng đồng Sự tham gia của

chính quyền phải được coi như một nhân tố bên trong, nó không phải là một lực lượng đứng bên ngoài hoặc bên trên cộng đồng, mà là một thành phần quan trọng của cộng

đồng [27; 49]

Yêu cầu đối với phát triển cộng đồng là phải tạo được những chuyển biến xã hội Đó là

sự thay đổi nhận thức, hành vi của người dân nhằm mục đích phát triển Đó là việc tạo được chuyển biến trong cơ cấu tổ chức và các mối tương quan lực lượng trong chính cộng đồng đó Ngoài ra, phát triển cộng đồng cũng yêu cầu một sự phát triển năng lực

trên cơ sở không “làm thay”, “làm cho” người dân Người dân không thể hành động nếu

thiếu năng lực Họ cũng không thể hành động đơn phương, riêng lẻ mà phải kết hợp với các cá nhân, tổ chức cùng một chí hướng và quyền lợi để tạo thành quyền lực chung Muốn cho người dân tự làm thì tổ chức thông qua đào tạo, huấn luyện là then chốt

Ngoài ra hoạt động đánh giá cũng là một bước quan trọng để “đo lường” hiệu quả xã hội

của các dự án phát triển cộng đồng và mở ra những vấn đề mới cho cộng đồng Từ đó tăng cường tính hiệu quả của các dự án [27; 49]

Phát triển cộng đồng phải tuân thủ theo những quy tắc hành động nhất định trên cơ sở niềm tin rằng mọi người dân và các cộng đồng hoàn toàn có khả năng giải quyết các vấn

đề của họ trong cuộc sống Năng lực tự quản là một năng lực tự có và tiềm ẩn trong các cộng đồng, vấn đề của phát triển cộng đồng là cần đánh thức hoặc củng cố năng lực đó Phát triển cộng đồng chỉ có thể thành công trên cơ sở xuất phát từ ý chí và nội lực từ bên

trong “Làm thay, “nghĩ hộ” là những tư duy và hành động xa lạ với phát triển cộng

đồng Mọi chương trình hành động phải do cộng đồng tự quyết nhằm bảo đảm tính tự chịu trách nhiệm của họ Trong phát triển cộng đồng, cần chú ý và đảm bảo tính dân chủ

và công bằng xã hội trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung của cộng đồng Tuy nhiên, dân

chủ đòi hỏi một quá trình làm quen, trong đó hình thức dân chủ nhất chính là tính tổ

chức và tính kỷ luật Hoạt động phát triển cộng đồng là các hoạt động mang tính nhân -

quả, muốn tạo ra hiệu quả mang tính tổng thể phải có một chuỗi các hoạt động liên quan

và phụ thuọc lẫn nhau Bên cạnh đó, phát triển cộng đồng cần ưu tiên các hoạt động mang tính đột phá cũng như các mục tiêu ưu tiên trên cơ sở đặt trong một cách nhìn mang tính tổng thể Phát triển cộng đồng bao gồm các đối tượng ưu tiên là người nghèo

và người thiệt thòi Nghèo, dân trí thấp…là các vấn đề của phát triển cộng đồng Các hình thức hợp tác là cơ sở để phát huy tinh thần trách nhiệm và tinh thần cộng đồng trong phát triển cộng đồng Song song với nó, cần xây dựng và củng cố khả năng hợp tác

Trang 15

để cộng đồng có khả năng ứng phó trong các tình huống nảy sinh khó khăn Việc xác định những hỗ trợ từ bên ngoài từ chuyên môn đến các nguồn lực vật chất – tài chính là rất cần thiết đối với công tác phát triển cộng đồng Tuy nhiên, các vấn đề đó chỉ được coi

là chất xúc tác Điều quan trọng là “cách nghĩ” và “cách làm” của người dân đã thay

đổi đến mức độ nào [27; 53]

5.1.2.2 Lý thuyết về Xã hội dân sự/ xã hội công dân (civil society)

Hiện nay ở Việt Nam đang diễn ra các cuộc luận đàm về các hiện tượng và thực tế hoạt động của các hiệp hội; người ta nhận thấy ngày càng có nhiều quan tâm tới các tổ chức ở trong nước với thực tế là con số các tổ chức ngày càng tăng lên trong hầu hết các lĩnh vực của cuộc sống Thậm chí nhà nước cũng ngày càng quan tâm hơn tới các tổ chức và làm sao để cho các tổ chức này đóng một vai trò hữu ích hơn trong việc phát triển xã hội

và hạn chế tham nhũng Mặc dù hầu hết mọi người dân cho rằng các tổ chức quần chúng

là các tổ chức phổ biến chủ yếu ở Việt Nam, Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội

2006-2010 (SEDP) - chiến lược phát triển của Việt Nam cho thời gian tới do Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 10 tổ chức vào tháng 4/2006 phê duyệt, đã đề cập tới sự tồn tại và khả năng tham gia của các tổ chức khác nhau Chỉ riêng điều đó thôi cũng là một minh chứng

về sự quan tâm của chính phủ và dân chúng đang tăng lên [9; 7]

Xã hội Dân sự là: Vũ đài nằm ngoài gia đình, nằm ngoài Nhà nước, nằm ngoài thị

trường, là nơi người dân liên kết với nhau để thúc đẩy các quyền lợi chung [9; 7]

Hình 1 Ranh giới mờ nhạt của vũ đài xã hội dân sự

Trang 16

[Nguồn: Irene Norlund, Khỏa lấp sự cách biệt: Xã hội dân dự mới nổi tại Việt Nam, Hà

Nội – 2007]

Như đã được trình bày bằng hình vẽ nêu trên, điểm quan trọng về định nghĩa này là rộng

và mở, và nó nhấn mạnh vào các ranh giới mờ nhạt giữa các khu vực khác nhau, đây là một vấn đề vô cùng quan trọng ở một đất nước như Việt Nam, nơi mà xã hội dân sự có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhà nước và không tách khỏi nhà nước, như một số định nghĩa khác đưa ra Định nghĩa này cũng nhằm mục đích đề cập đến trong định nghĩa của mình các chức năng hơn là các hình thái của các tổ chức đó, hay có thể nói là định nghĩa này bao hàm mọi nỗ lực nhằm hỗ trợ các hoạt động và các giá trị để cải thiện phúc lợi của người dân thông qua các hoạt động từ thiện, nhân đạo và các phương thức khác

Luận điểm này coi các tổ chức và các hiệp hội như là cốt lõi của xã hội dân sự, do các nhóm không chính thức và các liên minh không được tính đến Việc này mở rộng định nghĩa về xã hội dân sự vượt ra khỏi giới hạn chỉ là lĩnh vực hiệp hội đoàn thể để tăng cường các hoạt động nhằm thúc đẩy các quyền lợi chung Định nghĩa này hàm chứa đầy

đủ và đủ linh hoạt để điều chỉnh đối với các quốc gia riêng biệt, bởi vì tiêu chí riêng cho việc định nghĩa xã hội dân sự phụ thuộc vào quan điểm quốc gia

Từ giữa thập niên 90, một số ít học giả Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu các tổ chức nhân dân Vào đầu những năm 2000, một nghiên cứu về các tổ chức công dân đã được khởi xướng Các học giả nước ngoài cũng đã bắt đầu viết về đề tài này từ giữa thập niên

90, nhưng hầu hết các học giả này không xem các tổ chức quần chúng là một bộ phận của XHDS, đúng hơn, các tổ chức này được xem là một phần của hệ thống Đảng

Hiện trạng của các NGO Việt Nam mới nổi cũng gây tranh cãi, do các tổ chức này không có cơ sở hội viên và lãnh đạo của các tổ chức này đa phần xuất phát từ các cơ quan Nhà nước hoặc cơ quan Đảng Hầu hết các tổ chức này không được xếp loại tổ chức độc lập Theo tiêu chí nổi bật nhất (tân-tự do), cơ bản ở Việt Nam là không có XHDS, cho dù một vài tổ chức có tiềm năng phát triển thành một XHDS2

Một trong những thách thức căn bản để hiểu XHDS ở Việt Nam là đương đầu với thực tế

là các tổ chức không độc lập với Nhà nước và Đảng mà ngược lại gắn kết chặt chẽ với nhau và với Nhà nước Kể từ sau cuộc cách mạng, nhà nước đã xem khu vực nhà nước là

2

Mark Sidel là một trong những học giả đầu tiên chỉ ra số lượng lớn các tổ chức ở Việt Nam trong Sidel (1995) Sự nổi lên của khu

vực phi lợi nhuận và từ thiện tại nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Trong: T adashi Yomamoto ed (1995) Xã hội Dân sự

mới nổi trong Cộng đồng Châu á T hái Bình Dương Singapore, ISEAS

Ngày đăng: 11/11/2017, 11:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Abers, R. (1998). "Từ chủ nghĩa khách hàng đến sự hợp tác: Chính quyền địa phương, chính sách tham gia và việc tổ chức dân sự ở Porto Allegre, Brazil".Chính trị và xã hội 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chủ nghĩa khách hàng đến sự hợp tác: Chính quyền địa phương, chính sách tham gia và việc tổ chức dân sự ở Porto Allegre, Brazil
Tác giả: Abers, R
Năm: 1998
5. Goetz, AM và Gaventa, J. (2001) “Đưa tiếng nói của người dân và trọng điểm khách hàng vào cung cấp dịch vụ". Tài liệu làm việc trang 138, Brighton, IDS Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa tiếng nói của người dân và trọng điểm khách hàng vào cung cấp dịch vụ
6. Gomiero, T., và các tác giả khác (2000). "Miền núi Việt Nam: Khía cạnh môi trường và Kinh tế - xã hội của việc phân đất rừng và quá trình phá rừng", Môi trường, Phát triển và tính Bền vững 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miền núi Việt Nam: Khía cạnh môi trường và Kinh tế - xã hội của việc phân đất rừng và quá trình phá rừng
Tác giả: Gomiero, T., và các tác giả khác
Năm: 2000
10. J. London, "Tƣ duy lại hệ thống y tế và giáo dục phổ thông của Việt Nam," Tƣ duy lại Việt Nam, chủ biên, Duncan McCargo (London: Routledge Curzon, 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tƣ duy lại hệ thống y tế và giáo dục phổ thông của Việt Nam
11. Malarney, S.K. (1997). "Biến đổi văn hoá, đạo đức, và chính trị tại miền Bắc Việt Nam đương thời," Tạp chí nghiêu cứu châu Á 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi văn hoá, đạo đức, và chính trị tại miền Bắc Việt Nam đương thời
Tác giả: Malarney, S.K
Năm: 1997
12. McElwee, P. (2004) "Anh nói bất hợp pháp, tôi nói hợp pháp: Quan hệ giữa việc khai thác rừng trái phép và sử dụng đất, nghèo đói và quyền sử dụng rừng ở Việt Nam", Tạp chí Lâm nghiệp bền vững 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh nói bất hợp pháp, tôi nói hợp pháp: Quan hệ giữa việc khai thác rừng trái phép và sử dụng đất, nghèo đói và quyền sử dụng rừng ở Việt Nam
14. Nan – Li, “Social Capital – A Theory of social structure and Action” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Capital – A Theory of social structure and Action
15. Nawaz, R. (2004) "Phân cấp quản lý ngân sách cơ sở hạ tầng cấp thôn xã: Nguyên tắc và cách tiếp cận: Dự án xây dựng năng lực phát triển nông thôn tổng hợp", Tài liệu chuẩn bị cho Hội nghị quan hệ đối tác hỗ trợ các xã nghèo nhất, tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân cấp quản lý ngân sách cơ sở hạ tầng cấp thôn xã: Nguyên tắc và cách tiếp cận: Dự án xây dựng năng lực phát triển nông thôn tổng hợp
18. Nguyễn Thị Thu, "Thực hiện Quy chế Dân chủ ở các phường Quận 5 - thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và giải pháp", Học việc Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Quy chế Dân chủ ở các phường Quận 5 - thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - Thực trạng và giải pháp
23. Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh, “Phương pháp nghiên cứu xã hội học”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
28. Tống Văn Chung, “Xã hội học Nông thôn”. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học Nông thôn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
29. Trần thị Thu Trang, "Chính trị địa phương và dân chủ tại cộng đồng người Mường"; Nhóm đặc nhiệm giảm nghèo (2004). Đánh giá nghèo theo phương pháp tham gia: Báo cáo tổng hợp về sự tham gia, hành chính công và môi trường (Hà Nội: Nhóm đặc nhiệm giảm nghèo) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị địa phương và dân chủ tại cộng đồng người Mường
Tác giả: Trần thị Thu Trang, "Chính trị địa phương và dân chủ tại cộng đồng người Mường"; Nhóm đặc nhiệm giảm nghèo
Năm: 2004
34. AP (2005). "Dân làng Việt Nam đốt trụ sở chính quyền địa phương, bắt quan chức làm con tin vì tranh chấp đất đai", Hãng thông tấn AP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân làng Việt Nam đốt trụ sở chính quyền địa phương, bắt quan chức làm con tin vì tranh chấp đất đai
Tác giả: AP
Năm: 2005
35. Báo cáo “Quản lý và Điều hành, Báo cáo phát triển Việt Nam 2005”, báo cáo chung của các nhà tài trợ cho Hội nghị CG 12/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và Điều hành, Báo cáo phát triển Việt Nam 2005
43. GTZ (2003)./ "Dân chủ cơ sở và lập kế hoạch theo kiểu phân cấp: Biên bản Hội thảo Quốc gia tại Hà Nội" (GTZ/Viện QLKTTƢ/SFDP Sông Đà); GTZ (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ cơ sở và lập kế hoạch theo kiểu phân cấp: Biên bản Hội thảo Quốc gia tại Hà Nội
Tác giả: GTZ
Năm: 2003
50. Thông tấn xã Việt Nam (2005). "Hội phụ nữ chú trọng cải thiện vị thế phụ nữ Việt Nam," Vietnam News Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội phụ nữ chú trọng cải thiện vị thế phụ nữ Việt Nam
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2005
2. Antlov, và các tác giả khác, Sự tham gia của công dân vào quản trị địa phương: kinh nghiệm của Thái Lan, Inđônêxia và Philipin. Logolink. Brington Khác
3. Bích Ngọc, “Quốc hội thể hiện sức mạnh và điểm yếu trong giám sát, VietnamNet, 23 tháng 3 năm 2004 Khác
4. Estrella, M. và J. Gaventa (1997). Ai có trách nhiệm về thực tại? Giám sát và đánh giá mang tính tham gia: một báo cáo tổng kết (Tài liệu làm việc IDS, Sussex) Khác
7. Hoàng Chí Bảo,Vấn đề quan hệ giữa xã và thôn, quản lý và tự quản - Những vấn đề xã hội học trong công cuộc đổi mới (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w