1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững ở việt nam hiện nay (tt)

18 188 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 232,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này có nghĩa là con người phải tìm ra một con đường phát triển mà trong đó các vấn đề về dân số, công bằng xã hội, kinh tế, môi trường phải được phát triển một cách hài hoà.. Do đó,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRỊNH VĂN TOÀN

CÔNG BẰNG XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

CHUYÊN NGÀNH : TRIẾT HỌC

MÃ SỐ : 60.22.80

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TS HOÀNG VĂN LUÂN

Trang 2

HÀ NỘI - 2007 MỤC LỤC

Mởđầu……… ….1

Chương I: Công bằng xã hội và phát triển bền vững……… 7

1.1.Công bằng xã hội……….7

1.2.Phát triển bền vững.……… …21

1.3 Vai trò của công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững… 31

Kết luận chương I ……… … 40

Chương II: Thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay………….….41

2.1 Thực trạng thực hiện công bằng xã hội tác động đến phát triển xã hội bền vữngở Việt Nam……….41

2.2 Quan điểm và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay.……… 66

2.2.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về thực hiện công bằng xã hội……… 66

2.2.2 Một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay……… 74

Kết luận chương II……… …… 81

Kết luận… ……… 82

Trang 3

Danh mục tài liệu tham khảo……… ….85

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm và đã ghi lại những dấu ấn đậm nét tương ứng với từng hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi xã hội đều có những bước phát triển tích cực, đồng thời cũng có những tác động tiêu cực đến chất lượng cuộc sống của con người Đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã đạt được những bước tiến vượt bậc, những sản phẩm mà nhân loại tạo ra đã phần nào thoả mãn được nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Những thành tựu đó đã góp phần đưa đến sự phát triển nhanh của nền văn minh nhân loại

Song cũng chính sự phát triển đó đã làm nảy sinh một số vấn đề ngày càng nổi cộm như tăng trưởng dân số quá nhanh, tiêu dùng một cách quá mức của cải, tài nguyên, năng lượng và đặc biệt là sự bất bình đẳng xã hội Những vấn đề này

đã gây trở ngại lớn đối với phát triển kinh tế và làm giảm sút chất lượng cuộc sống, đe doạ cuộc sống của con người cả ở hiện tại và tương lai

Tăng trưởng kinh tế nhanh làm xuất hiện các vấn đề môi trường, tệ nạn xã hội, phân hóa giầu nghèo, bất bình đẳng xã hội, xung đột xã hội trong các xã hội phát triển dẫn đến cản trở sự phát triển xã hội Chính vì vậy, vấn đề phát triển xã hội được đặt ra và là một trong những vấn đề được ưu tiên trong hoạch định chiến

Trang 4

lược, chính sách phát triển của các quốc gia Điều này có nghĩa là con người phải tìm ra một con đường phát triển mà trong đó các vấn đề về dân số, công bằng xã hội, kinh tế, môi trường phải được phát triển một cách hài hoà Đó chính là con đường phát triển bền vững Vậy vấn đề là Phát triển bền vững là gì? Nó có những nội dung nào? Việc thực hiện công bằng xã hội có vai trò gì đối với phát triển bêng vững?

Đối với Việt Nam hiện nay, chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, chế độ xã hội mà nhân dân ta xây dựng mang bản chất công bằng và tính bình đẳng, nó thể hiện qua mục tiêu mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phấn đấu thực hiện là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” Do đó, việc đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo sự bình đẳng giữa người

và người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, trước hết nhằm thực hiện mục tiêu, đồng thời cũng tạo động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đang phát triển nhưng với phương châm đi tắt, đón đầu nhằm phát triển nhanh nhưng không thể không rút ra những bài học kinh nghiệm của các quốc gia

đi trước Thực tiễn thực hiện các chính sách xã hội ở Việt Nam những năm qua trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, ưu đãi, cứu trợ xã hội, giáo dục, văn hóa, đã đạt được những thành tựu quan trọng góp phần đảm bảo công bằng xã hội qua đó, tạo điều kiện bền vững thúc đẩy xã hội phát triển Bên cạnh đó, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường cũng đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của quá trình phát triển xã hội, tác động tiêu cực đến phát triển của Việt Nam Câu hỏi đặt ra là: Công bằng xã hội là gì? Nó có vai trò và vị trí như thế nào đối với phát triển bền vững? Những vấn đề lý luận và thực tiễn đó mà việc làm sáng tỏ chúng sẽ là những đóng góp bổ ích cho việc hoạch định các chính sách góp phần thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”

Trang 5

Do đó, việc nghiên cứu làm rõ sự tác động của công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững, từ đó có biện pháp thực hiện công bằng xã hội nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay là một việc làm rất cần thiết

Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề: “Công bằng xã hội đối với phát triển

xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn và hướng nghiên cứu

của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề công bằng xã hội và phát triển bền vững luôn là một đề tài hấp dẫn,

thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Đến nay, trên bình diện lý luận, đã có nhiều công trình, bài viết về công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững được công bố Trong đó, chúng ta có thể điểm đến một số tác giả và công trình sau:

Lương Xuân Quỳ, trong cuốn: “Xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội

chủ nghĩa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam”, (Nhà xuất bản

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002), đã đề cập đến khái niệm, thực trạng, hệ quan điểm, phương hướng, giải pháp xây dựng quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan

hệ phân phối, quan hệ quản lý) định hướng xã hội chủ nghĩa và việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam

Trong tác phẩm “Về động lực của phát triển kinh tế- xã hội” của tập thể tác

giả do giáo sư Lê Hữu Tầng chủ biên, vấn đề công bằng xã hội đã được nghiên cứu

từ góc độ triết học Các tác giả đã cố gắng làm rõ khái niệm công bằng xã hội và đặt nó trong quan hệ với bình đẳng xã hội Trong tác phẩm này các tác giả đã luận chứng được công bằng xã hội là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

Trang 6

“Lợi ích, động lực của sự phát triển xã hội bền vững”, Luận án tiến sĩ (Hoàng

Văn Luân, 2000), tác giả đã trình bầy rõ quan niệm khoa học về phát triển xã hội nói chung và phát triển xã hội bền vững nói riêng Tiếp đó, tác giả trình bầy và phân tích quan niệm về lợi ích và vai trò động lực của lợi ích đối với sự phát triển

xã hội bền vững Cũng trong công trình này, tác giả đưa ra một số nguyên tắc, biện pháp và công cụ điều chỉnh các quan hệ lợi ích nhằm phát huy vai trò động lực của lợi ích cho sự phát triển xã hội bền vững

“Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội”, Luận án tiến sĩ (Nguyễn Minh

Hoàn, 2005), tác giả luận án đã làm rõ vai trò và vị trí của công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội, trên cơ sở đó tác giả đã làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách cần được giải quyết nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay

Cuốn “Phát triển bền vững ở Việt Nam: thành tựu, cơ hội, thách thức và triển

vọng”, (Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2007), của Nguyễn Quang Thái và Ngô

Thắng Lợi đã làm rõ được khái niệm về phát triển bền vững và tình hình phát triển bền vững ở Việt Nam và đưa ra một số giải pháp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững tại Việt Nam

Các công trình nghiên cứu trên đã có những cách tiếp cận khá phong phú về vấn đề công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững Qua đó, các nhà nghiên cứu, ít nhiều đã góp phần làm sâu sắc và phát triển nhiều vấn đề của công bằng xã hội và phát triển xã hội bền vững Tuy nhiên, mối quan hệ giữa công bằng xã hội

và phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam cũng như việc đề xuất giải pháp phát triển xã hội bền vững từ góc độ thực hiện công bằng xã hội chưa đặt ra và nghiên cứu thỏa đáng Đó là vấn đề còn bỏ ngỏ và với luận văn này chúng tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ bé về vấn đề này

Trang 7

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là trên cơ sở phân tích và khái quát khái niệm và quan

hệ giữa công bằng xã hội với phát triển xã hội bền vững, khảo sát thực trạng vấn

đề thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong những năm vừa qua và tác động của nó đến sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam để đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa việc thực hiện công bằng xã hội nhằm phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới

Để đạt mục đích này, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm rõ khái niệm công bằng xã hội và quan hệ giữa công bằng

xã hội đối với phát triển xã hội bền vững

- Khảo sát, đánh giá việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua và tác động của nó đến sự phát triển xã hội bền vững

- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện công bằng xã hội đảm bảo phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Công bằng xã hội và việc thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam trong quan hệ với phát triển xã hội bền vững

- Phạm vi nghiên cứu: Đối tượng được khảo sát trên bình diện quan điểm chủ trương của Đảng và chính sách vĩ mô của Nhà nước từ 1986 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn được xây dựng trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa

Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công bằng xã hội, các chủ trương, đường

Trang 8

lối của Đảng cộng sản Việt Nam về chiến lược và mục tiêu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam, các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của thế giới mà trong đó Việt Nam là một thành viên tham gia tích cực Ngoài ra luận văn còn dựa vào sự nghiên cứu tham khảo các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này

Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy

vật biện chứng kết hợp với các phương pháp phân tích- tổng hợp, lôgíc - lịch sử,

6 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu đề tài này, luận văn đã góp phần làm rõ vai trò của công bằng xã hội đối với phát triển xã hội bền vững, thực trạng của việc thực hiện công bằng xã hội đối với sự phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam Từ đó, đề ra một số giải pháp thực hiện công bằng xã hội đáp ứng với yêu cầu phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam

7 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những giải pháp phát triển xã hội bền vững từ góc nhìn của công bằng xã hội Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm

tài liêu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Chương I: Công bằng xã hội và phát triển bền vững

Chương II: Thực trạng và giải pháp thực hiện công bằng xã hội đảm bảo

Trang 9

phát triển xã hội bền vững ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG I CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

1.1 Công bằng xã hội

Công bằng xã hội là một phạm trù lịch sử Trong mỗi giai đoạn phát triển của

lịch sử nhân loại, con người có quan niệm và đánh giá khác nhau về công bằng xã

hội

Vấn đề công bằng được đặt ra trong lịch sử xã hội loài người ngay từ khi con

người ý thức được những bất công trong xã hội, nhận thức được bất công ở mức độ

nào sẽ hướng con người vươn tới sự công bằng xã hội Như vậy, về mặt nhận thức

luận, bất công và công bằng là những khái niệm luôn nằm trong quá trình sinh

Trang 10

thành và phát triển trên cơ sở của thực tiễn phát triển xã hội Có thể thấy rằng, khái niệm công bằng xã hội là một khái niệm mở và đang từng bước hoàn thiện cả về nội hàm lẫn ngoại diên của nó gắn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội

Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn xuất bản năm 2004,

“Công bằng: theo đúng lẽ phải, không thiên vị” Trong ngôn ngữ Anh và Pháp công bằng (justice) thường được hiểu là sự đúng đắn, chính đáng, lẽ phải, công lý Theo từ điển bách khoa triết học, (Matxcơva 1983), định nghĩa: “Công bằng là khái niệm đạo đức - pháp quyền, đồng thời cũng là khái niệm chính trị - xã hội Khái niệm công bằng bao hàm trong nó yêu cầu về sự phù hợp giữa vai trò thực tiễn của

cá nhân (nhóm xã hội) với địa vị của họ trong đời sống xã hội, giữa những quyền và nghĩa vụ của họ, giữa làm và hưởng, giữa lao động và sự trả công, giữa tội phạm và

sự trừng phạt, giữa công lao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phù hợp trong những quan hệ đó được đánh giá là sự bất công”

Có thể thấy, bản chất của công bằng xã hội chính là sự tương xứng (sự phù hợp) giữa đóng góp và hưởng thụ (theo nghĩa tích cực) và giữa phá hoại và trừng phạt của cá nhân (nhóm xã hội) đối với sự phát triển của cộng đồng, xã hội Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn triết học với cái nhìn lạc quan hướng tới tương lai, luận văn chủ yếu đề cập đến công bằng xã hội theo nghĩa tích cực: sự công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ

Ngày nay, công bằng xã hội không chỉ được giới hạn ở công bằng về kinh tế - mặc dù đây vẫn là yếu tố nền tảng- mà còn được mở rộng trong những lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hoá, xã hội… Công bằng xã hội là một giá trị cơ bản định hướng cho việc giải quyết mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc: cống hiến về vật chất và tinh thần cho xã hội ngang nhau thì được hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần ngang nhau

Trang 11

do xã hội tạo ra Song, vì hoàn cảnh của mỗi người khác nhau, nên tạo điều kiện cho mọi người, nhất là những người khó khăn đều có cơ hội tiếp cận công bằng các

cơ hội phát triển, các nguồn lực phát triển, tiếp cận các nguồn lực xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, việc làm… luôn là một vấn đề cơ bản trong thực hiện công bằng xã hội Tất nhiên, sự cống hiến phải được xem xét suốt cả chiều dài của quá trình phát triển bao gồm những đóng góp công hiến trong quá khứ, hiện tại, và cả

sự đầu tư tập trung phát triển cho tương lai Sự hưởng thụ chỉ thực sự công bằng khi nó tương ứng với sự cống hiến

Trong tư duy hiện đại, nội hàm của công bằng xã hội được bổ sung, mở rộng và phát triển đáng kể Những thay đổi đó trước hết thể hiện ở chỗ nội dung quan trọng

nhất của công bằng xã hội là công bằng về cơ hội phát triển Đây là tiêu chuẩn cơ

bản để đánh giá sự công bằng Nếu trong xã hội còn tình trạng tạo cơ hội cho

người này mà không tạo cơ hội cho người kia thì chưa thể có công bằng Công

bằng về cơ hội là yếu tố chi phối nhất trong tất cả những thứ công bằng khác Khi

mỗi chủ thể có cơ hội phát triển bình đẳng với các

Trang 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] - Nguyễn Đức Bình (chủ biên năm 2003), Về chủ nghĩa xã hội và con

đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội

[2] - Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb

CTQG

[3] - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002), Hướng tới phát triển bền vững ở Việt

Nam, Kỷ yếu hội thảo

[4] - Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Khuôn khổ thực hiện dự án VIE/ 01/021 giai

đoạn 2003 - 2005

[5] - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Định hướng chiến lược phát triển bền

vững ở Việt Nam

[6] - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Hội nghị tập huấn thực hiện phát triển

bền vững ở Tây Nguyên

[7] - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2004), Hội nghị tham vấn: nghiên cứu khoa học

về phát triển bền vững

[8] - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1997), Xoá đói giảm nghèo với

tăng trưởng kinh tế, Nxb Lao động, Hà Nội

[9] - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Kỉ yếu hội thảo vấn đề

phân phối và phân hoá giầu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Nxb Lao động Xã hội, Hà

Nội

Ngày đăng: 11/11/2017, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w