Đánh giá về tầm quan trọng của TTĐP hiện nay, Maurice Strong cho rằng: “TTĐP không chỉ quan trọng bởi tính đúng đắn của nó, mà còn bởi những lợi ích mà nó đem lại như: đó là những tri t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ VÂN ANH
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆNGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CỦA NGƯỜI TÀY Ở HUYỆN BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ VÂN ANH
TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƯỜI TÀY Ở
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố Những luận điểm mà luận án kế thừa từ những người đi trước đều ghi rõ xuất xứ và tác giả Nếu có gì gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 5 tháng 9 năm 2017
Tác giả luận án
NCS Chu Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án “Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn
tài nguyên thiên nhiên của người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”, tôi đã nhận
được sự giúp đỡ tận tình của Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể, Sở KH&ĐT tỉnh Bắc Kạn, Sở VH-TT&DL tỉnh Bắc Kạn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn, Cục thống kê tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Ba Bể, Chi cục Thống kê huyện Ba Bể, Phòng Dân tộc huyện Ba Bể, UBND các xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê (huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn), bà con nhân dân các xã thuộc địa bàn nghiên cứu Đồng thời, tôi cũng nhận được sự chỉ bảo về mặt khoa học của thầy giáo hướng dẫn cũng như các thầy cô giáo, các nhà khoa học thuộc Khoa Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội Bên cạnh đó là sự động viên, tạo điều kiện từ phía cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo hướng dẫn: cố PGS.TS Hoàng Lương và PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh Các thầy đã giúp đỡ tôi trong việc gợi mở hướng nghiên cứu, phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, sửa chữa bản thảo và đưa ra những ý kiến khoa học quý báu để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, Khoa Xã hội - Trường Cao đẳng Vĩnh Phúc và các cơ quan ban ngành đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện luận án
Lời cảm ơn sâu sắc, tôi xin được gửi tới các cơ quan đoàn thể tại địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là nhân dân 3 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê (huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) đã tạo điều kiện giúp đỡ về nơi ăn chốn ở, cung cấp tư liệu thực địa để tôi có đủ cơ sở hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành công việc của mình
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn vì những sự giúp đỡ quý báu đó!
Trang 5MỤC LỤC
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 9
3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 9
4 NGUỒN TƯ LIỆU CỦA LUẬN ÁN 10
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 10
6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 11
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phương 12
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương trên thế giới 12
1.1.2 Nghiên cứu tri thức địa phương ở Việt Nam 19
1.1.3 Nghiên cứu về tri thức địa phương của người Tày 24
1.2 Cơ sở lý thuyết 29
1.2.1 Các khái niệm 29
1.2.2 Lý thuyết về sinh thái học nhân văn trong nghiên cứu về tri thức địa phương 33 1.2.3 Lý thuyết về biến đổi và thích ứng văn hóa 34
1.3 Phương pháp nghiên cứu 37
1.4 Khái quát về tộc người và địa bàn nghiên cứu 39
1.4.1 Khái quát về người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 39
1.4.2 Khái quát về các điểm nghiên cứu 44
Chương 2 TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN ĐẤT 2.1 Nhận thức của người Tày Ba Bể về các loại đất 48
2.2 Tri thức địa phương trong sử dụng tài nguyên đất 51
2.2.1 Tri thức địa phương trong trong sử dụng đất ruộng nước (nà) 51
2.2.2 Tri thức địa phương trong sử dụng đất nương 56
2.2.3 Tri thức địa phương trong sử dụng đất làm nhà 61
2.2.4 Tri thức địa phương trong sử dụng đất vườn 63
2.3 Tri thức địa phương trong việc bảo vệ đất 64
2.3.1 Những thực hành trong bảo vệ tài nguyên đất 65
2.3.2 Những hình thức tín ngưỡng liên quan đến đất và một số kiêng cữ 70
2.4 Những biến đổi của tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên đất 75
Trang 6Chương 3:TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
3.1 Nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng 81
3.2 Tri thứcđịa phương trong sử dụng nguồn tài nguyên rừng 82
3.2.1 Đối tượng khai thác 83
3.2.2 Tri thức địa phương trong sử dụng gỗ và các loại phi gỗ 85
3.2.3 Tri thức địa phương trong sử dụng các loại dược liệu……… …94
3.2.4 Tri thức địa phương trong sử dụng các loài thú rừng và côn trùng ………… 96
3.3 Tri thức địa phương trong bảo vệ tài nguyên rừng 102
3.3.1 Tri thức địa phương trong bảo vệ rừng thông qua những hành vi thực tế 102
3.3.2 Tín ngưỡng liên quan đến vấn đề bảo vệ rừng 104
3.4 Những biến đổi của TTĐP trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay…… 107
Chương 4:TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC 4.1 Nhận thức của người Tày về tài nguyên nước 112
4.2 Tri thức địa phương trong sử dụng nguồn tài nguyên nước 114
4.2.1 Tri thức địa phương về dự báo liên quan đến nguồn nước 114
4.2.2 Các nguồn nước phục cho sản xuất và sinh hoạt 116
4.2.3 Các phương thức dẫn nước 119
4.2.4 TTĐPtrong khai thác và sử dụng các nguồn thủy sản của hồ Ba Bể 124
4.3 Tri thức địa phương trong bảo vệ nguồn nước 127
4.3.1 Trong thực hành thường nhật Error! Bookmark not defined. 4.3.2 Các hình thức tín ngưỡng liên quan đến tài nguyên nước 128
4.4 Những biến đổi của tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nước hiện nay 128
Chương 5: TRI THỨC ĐỊA PHƯƠNG - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 5.1 Mối quan hệ giữa các yếu tô đất - nước - rừng trong hệ tri thức địa phương của người Tày Ba Bể……… 135
5.2 Những yếu tố tác động đến TTĐP của người Tày ở Ba Bể 137
5.2.1 Chủ trương thành lập VQG Ba Bể - Sự đứt gãy về tri thức địa phương 137
5.2.2 Nhu cầu từ cộng đồng - nguyên nhân nội tại 140
5.3 Vai trò của chính sách và dự án trong sự phát triển bền vững của người Tày Ba Bể giai đoạn hiện nay 144
5.3.1 Những chương trình, dự án trong nước 144
5.3.2 Những chương trình, dự án nước ngoài 149
5.4 Một số kiến nghị 158
KẾT LUẬN 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………168
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3PAD Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm
tỉnh Bắc Kạn
GEF Quỹ môi trường toàn cầu
IFAD Quỹ Quốc tế và phát triển nông nghiệp
HTX Hợp tác xã
LHQ Liên hợp quốc
NXB Nhà xuất bản
PARC Xây dựng các Khi bảo vệ nhằm Bảo tồn Tài nguyên thiên
nhiên trên cơ sở ứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan
TTĐP Tri thức địa phương
UBND Ủy ban nhân dân
UNDP Chương trình phát triển của Liên hợp quốc
UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc VQG Vườn quốc gia
WIPO Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu dân tộc huyện Ba Bể năm 2009 40
Bảng 2.1: Cách thức nhận biết chất đất của người Tày Ba Bể 48
Bảng 2.2: Một số giống lúa địa phương của người Tày Ba Bể 53
Bảng 2.3: Lịch thời vụ các loại cây trồng của người Tày Ba Bể 55
Bảng 3.1: Công dụng của một số loài thực vật phân họ Tre ở khu vực
Bảng 4.2: Thời vụ khai thác các loại cá trên hồ Ba Bể 121
Bảng 5.1: Đánh giá mức độ quan trọng trong thu nhập của các gia đình ở
Bảng 5.3: Một số kết quả đạt được của dự án PARC tại VQG Ba Bể 145
Bảng 5.4: Bảng so sánh tỷ lệ giảm nghèo của vùng dự án so với toàn tỉnh
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Tri thức địa phương (TTĐP)là một đề tài nghiên cứu không còn xa lạ trong khoa học hiện đại Nhất là trong bối cảnh suy thoái, ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng, sự suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên xảy ra vô cùng nghiêm trọng
mà những kiến thức khoa học không thể giải quyết được Người ta bắt đầu có sự nhìn nhận lại đối với những tri thức truyền thống của các tộc người để kiếm tìm một cứu cánh nhằm giải quyết những vấn đề về môi trường và sinh kế hiện nay cho các cộng đồng cư dân Trong xu thế đó, TTĐP của các tộc người được quan tâm nghiên cứu trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội và nhân văn
TTĐP được hiểu là những sự ứng xử truyền thống của các cộng đồng người đối với môi trường sinh thái Đó là những giá trị được tích lũy, trao truyền và biến đổi qua nhiều thế hệ, là một phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa của tộc người
Vì là một thành tố văn hóa nên TTĐP không bất biến, nó luôn có sự tiếp xúc, giao lưu và tiếp nhận những yếu tố mới để thích nghi với từng điều kiện lịch sử khác nhau Tuy nhiên, có một điểm không thay đổi, đó là những giá trị trong sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho cuộc sống của cộng đồng luôn được coi trọng Các cộng đồng luôn hướng tới sự phát triển bền vững, nhằm sống một cách hài hòa với tự nhiên
Đánh giá về tầm quan trọng của TTĐP hiện nay, Maurice Strong cho rằng:
“TTĐP không chỉ quan trọng bởi tính đúng đắn của nó, mà còn bởi những lợi ích
mà nó đem lại như: đó là những tri thức mà cư dân bản địa sở hữu và sống vì nó;
nó gợi ý những kinh nghiệm về sinh kế bền vững cho các cư dân trên toàn Thế giới;
và Trái đất sẽ được nghiên cứu một cách cẩn trọng hơn nếu những tri thức địa phương và những giá trị của nó được lan truyền một cách rộng rãi” (UNESCO,
2007).Quan điểm này được UNESCO bảo trợ trong việc tôn trọng tri thức của các tộc người địa phương như một giải pháp cho sự phát triển bền vững trong điều kiện hiện nay
Trang 10Năm 1992, Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể chính thức được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thành lập đã có những ảnh hưởng nhất định đối với đời sống của các cộng đồng cư dân nơi đây Theo đó, nhiều chương trình, dự án hỗ trợ về sinh kế được triển khai ở địa phương Tuy nhiên kèm theo đó là nhiều biến động Với nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ sự đa dạng sinh học, VQG Ba Bể đã hạn chế những hoạt động khai thác tự do, tự pháttài nguyên thiên nhiên (chủ yếu là khai thác rừng)
của cộng đồng Đồng thời, VQG cũng “khuôn” những hoạt động khai thác và sản
xuất của người dân vào những quy định có sự điều tiết và giám sát đã gây nên những biến đổi sâu sắc trong hoạt động mưu sinh của các tộc người, đặc biệt là với cộng đồng cư dân ở vùng lõi
Trong các cộng đồng cư dân ở VQG Ba Bể, có lẽ chịu tác động mạnh mẽ nhất của chính sách đóng cửa rừng là cộng đồng người Tày ở vùng thấp, vốn được coi là những người đến khai phá và sinh sống sớm nhất ở đây Cư trú ở những khu vực tương đối bằng phẳng và màu mỡ của khu vực miền núi, là chủ thể khai phá và sáng tạo, người Tày Ba Bể đã hình thành nên những giá trị văn hoá đặc trưng của mình Trong đó có vốn tri thức về cách thức ứng xử với môi trường tự nhiên trong khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên như: đất, nước, rừng, khoáng sản theo hướng bền vững Tất cả đã trở thành những kinh nghiệm quý giá đã và đang được sử dụng để phục vụ cho cuộc sống của bản thân cũng như của cả cộng đồng
Tuy nhiên, sự hình thành VQG đã vô hình chung gây nên sự “đứt gãy” trong
hệ thống tri thức của cộng đồng địa phương Với chính sách đóng cửa rừng, hạn chế khai thác tài nguyên rừng đã khiến cho cư dân - những người vốn có kinh nghiệm thực hành kinh tế chiếm đoạt truyền thống - bị ảnh hưởng nghiêm trọng Sinh kế bị thay đổi khiến cho thực hành văn hóa bị đứt đoạn Thực tế đó đã dẫn đến hậu quả là tình trạng thoái hoá nguồn đất, nguồn nước, cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản do sự khai thác ồ ạt của con người vì lợi nhuận kinh tế trong thời kỳ mới Theo đánh giá của cộng đồng cư dân địa phương, hiện nay toàn bộ diện tích rừng nguyên sinh của VQG Ba Bể đã không còn mà thay vào đó là rừng
Trang 11thứ sinh, rừng trồng với sự đa dạng sinh học thấp Đó là một thực trạng cấp bách đối với nước ta nói chung và khu vực Ba Bể (Bắc Kạn) nói riêng
Để giải quyết thực trạng này, nên chăng một lần nữa chúng ta cần xem xét lại những giá trị của TTĐP đã được hình thành, trao truyền qua nhiều thế hệ để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đưa ra những giải pháp cho thực tiễn nhằm mục đích hướng tới sự phát triển bền vững cho cộng đồng.Trên cơ sở nhận thức đó,
tôi đã chọn đề tài "Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên của người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài luận
án Tiến sỹ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án “Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn
tài nguyên thiên nhiên của người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” là trên cơ sở
nghiên cứu về hệ tri thức của tộc người trong thế ứng xử với môi trường tự nhiên cùng với những tác nhân biến đổi của nó để dự báo những xu hướng phát triển trong tương lai Đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm lựa chọn những phương thức cho
sự phát triển bền vững, hướng tới bảo vệ môi trường
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đó, nhiệm vụ của luận án phải:
Thứ nhất: nghiên cứu TTĐP trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên
nhiên: đất, nước, rừng của người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn từ truyền thống đến biến đổi hiện nay
Thứ hai: đề xuất một số kiến nghị nhằm đảm bảo sinh kế của tộc người trên
cơ sở áp dụng tri thức địa phương
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về TTĐP của cộng đồng người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với những tri thức trong sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng) và những biến đổi của nó trong giai đoạn hiện nay Còn những nguồn tài
Trang 12nguyên khác (như: tài nguyên khí hậu, tài nguyên khoáng sản…) sẽ được trình bày xen
kẽ trong nội dung của luận án.i
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian
Đề tài tập trung nghiên cứu TTĐP trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất, nước, rừng truyền thống (trước năm 1992) và những biến đổi từ năm 1992 đến nay Đối với các tài nguyên khác (khoáng sản, khí hậu…) sẽ được trình bày xen kẽ vào
nội dung của các loại tài nguyên trên
- Phạm vi không gian
Đề tài lựa chọn khu vực vùng lõi và vùng đệm của VQG Ba Bể để nghiên cứu, bao gồm 3 xã: Quảng Khê, Khang Ninh (thuộc vùng đệm) và Nam Mẫu (vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt), đây cũng là những xã có đông người Tày cư trú
4 Nguồn tư liệu của luận án
Đề tài sử dụng các nguồn tư liệu sau:
- Nguồn tư liệu sơ cấp: là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận và thực tiễn về vấn đề tri thức địa phương, tri thức truyền thống của các tộc người Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra những quan điểm nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu cho đề tài của mình Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp chúng tôi xác định rõ vấn đề nghiên cứu cho đề tài của mình
- Nguồn tư liệu thứ cấp: là những bảng biểu, báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của các xã, các số liệu thống kê về vị trí địa lý, tình hình dân cư, các báo cáo, văn bản, chỉ thị… của các cấp có thẩm quyền do tác giả thu thập trong quá trình nghiên cứu thực địa; các thuyết minh dự án được tiến hành đối với địa bàn nghiên cứu của luận án
- Nguồn tư liệu thực địa: là nguồn tư liệu quan trọng nhất để chúng tôi trả lời những giả thuyết nghiên cứu và hoàn thành đề tài Để thu thập tư liệu, chúng tôi đã tiến hành đi điền dã Dân tộc học, khảo sát đối tượng nghiên cứu thông qua các kỹ thuật phỏng vấn sâu, quan sát tham dự… trong nhiều năm để thu thậptư liệu cho luận án
Trang 135 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Về khoa học:
- Trên cơ sở nghiên cứu vốn tri thức địa phương của người Tày trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đề tài góp phần làm rõ một khía cạnh văn hóa của người Tày ở Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn ở hướng tiếp cận theo quan điểm sinh thái học nhân văn
- Luận án khái quát những đặc điểm riêng mang tính địa phương trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Tày ở khu vực VQG Ba Bể Bên cạnh những yếu tố truyền thống, với sự tác động bởi chính sách đã khiến cho tri thức của cộng đồng có nhiều biến đổi Qua đó, luận án xem xét sự phù hợp của tri thức địa phương trong xu thế phát triển bền vững hiện nay Trên cơ sở đó cung cấp luận cứ khoa học góp phần vào xây dựng và hoàn thiện chính sách bảo vệ môi trường và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở địa phương
- Góp phần làm rõ thêm hệ thống tri thức địa phương của người Tày ở một địa bàn cụ thể trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên
5.2 Về thực tiễn:
- Luận án góp phần làm phong phú hơn nguồn tư liệu về tri thức địa phương vào
kho tàng tri thức dân gian của người Tày ở Bắc Kạn
- Góp phần làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định những chủ trương, chính sách của Trung ương và địa phương hướng tới sự ổn định trong đời sống của cộng đồng người Tày ở khu vực VQG Ba Bể, đồng thời phát triển kinh tế theo hướng bền vững trên cơ sở kế thừa và phát huy vốn tri thức địa phương của tộc người
Trang 14Chương 3: Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng
Chương 4: Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước
Chương 5: Tri thức địa phương - Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh phát triển bền vững
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phương
1.1.1 Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương (TTĐP) trên thế giới
Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, khi vấn đề môi trường và phát triển bền vững được đặt ra, những nhận thức về hệ tri thức địa phương của các tộc người được quan tâm nghiên cứu như một nỗ lực cho một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm môi trường, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế cho các cộng đồng cư dân Tuy rằng vấn đề TTĐP được quan tâm nghiên cứu từ sớm, nhưng do ảnh hưởng của thuyết vị chủng tộc và thuyết giai tầng đã hình thành nên tư tưởng bài trừ những tri thức địa phương của các thuộc địa, coi đó là lạc hậu, ngu dốt, phi khoa học Hay nói cách khác, TTĐP của người dân lúc này bị “lề hóa” (R.Ellen, 2010, tr11)
Những thập niên đầu thế kỷ XX, nhằm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thường chiến tranh, các nước phương Tây tích cực thực hiện các dự án theo hình thức “Top
- down” đối với cá nước thuộc địa Thực chất những dự án này thể hiện ý mốn chủ quan của các nước thực dân, hoàn toàn lờ đi vai trò của cư dân chủ thể, chú trọng đến kết quả của các dự án hơn là nhu cầu của chính cộng đồng thụ hưởng dự án (quan điểm etic) Từ đó, các mô hình kinh tế - xã hội vốn được nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm phương Tây được mang đi áp dụng rộng rãi vào thực tiễn xã hội của các nước thuộc thế giới thứ ba mà hoàn toàn phủ định vai trò nền tảng của những giá trị văn hóa, kiến thức về tự nhiên, xã hội của cư dân bản địa Điều đó tất yếu dẫn đến hậu quả là hàng loạt các dự án phát triển sau thế chiến thứ II của các nước thực dân bị thất bại, mà theo nhiều nhà khoa học, những dự án đó là những
“bài thơ hay” nhưng lại là “khoa học dở”(R.Ellen , 2010) Từ thực trạng đó, vấn
đề “lề hóa tri thức địa phương”đã bắt đầu được đánh giá lại
Trước sự bất lực của khoa học và công nghệ phương Tây trong việc giải thích về thế giới tự nhiên, người ta phát hiện ra rằng, những cư dân bản địa với lối
Trang 16ứng xử văn hóa truyền thống là những người sống hài hòa, thân thiết với tự nhiên (R.Ellen , 2010).Khoa học phương Tây bắt đầu có sự nhìn nhận lại đối với hệ tri thức của những người dân bản địa Hàng loạt các công trình cũng như các hội thảo được tổ chức để đưa ra quan điểm nghiên cứu, nhìn nhận lại vai trò của tri thức địa phương đối với sự phát triển của các tộc người
Vào năm 1972 tại Stockholm (Thụy Điển) đã diễn ra một cuộc hội thảo của UNCTAD (Hội thảo Thương mại và Phát triển) về môi trường sống liên quan đến quyền con người và tính bền vững của môi trường Sự kết nối sau đó được công nhận bởi nhiều quốc gia, bao gồm cả những người trong OECD (Tổ chức Hợp tác
và Phát triển kinh tế) Hội nghị này đã dẫn tới nhiều hiệp định môi trường đa phương như WHC (Hiệp ước về di sản văn hóa và thiên nhiên của Thế giới) vào năm 1972 và CITES (Thương mại quốc tế trong nguy cơ tuyệt chủng động và thực vật) năm 1973 Tất cả những hiệp định này đều liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của người dân địa phương như là những người góp phần cho sự phát triển bền vững (Sillitoe, P & Bicker, A, 2004, tr.9)
Vào đầu những năm 80, dưới tác động của sự nóng lên của toàn cầu gây nên những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con người như hiệu ứng nhà kính… dẫn tới hiện tượng thuật ngữ “bền vững” luôn được gắn liền với “phát triển” Liên hiệp quốc đã thành lập WECD (Hiệp ước về môi trường và phát triển Thế giới - hiệp ước Brundtland) nhằm tìm hiểu các vấn đề về môi trường tại các nước đang phát triển Sự hoạt động này có liên quan tới người bản địa và trong báo cáo của
Hiệp ước này “Tương lai chung của chúng ta” (1987) nhấn mạnh tới giá trị của tri
thức truyền thống, được nêu ra cho việc trao quyền cho cộng đồng địa phương và bảo vệ quyền sử dụng đất và tài nguyên của họ(Sillitoe & Bicker, 2004, tr 9)
Năm 1988, tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về sinh thái tộc người được tổ chức tại Belém (Brazil) đưa ra bản tuyên bố Belém liên quan đến các tri thức truyền
thống của tộc người Xuất phát từ thực tế “các khu rừng nhiệt đới và các hệ sinh
thái mong manh khác đang dần biến mất, rất nhiều giống loài, cả động và thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng, các văn hóa bản địa trên toàn thế giới đang bị phá vỡ
Trang 17và hủy hoại”, trên cơ sở nhận thức về mối liên hệ gắn kết giữa đa dạng sinh học và
đa dạng văn hóa, bản tuyên bố Belém đãđưa ra hàng loạt những khuyến cáo trong
hành động đối với vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … cho các tộc người trên cơ sở tôn trọng kinh nghiệm truyền thống ở các địa phương Từ đóđưa ra chiến lược bảo tồn các giá trị văn hóa địa phương(M Osseweijer, 1997)
Tại Hội thảo của LHQ về môi trường và phát triển (UNCED) năm 1992 tại Rio, hay còn được gọi là Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất (Noejovich 2001), cộng đồng quốc tế tiếp tục thừa nhận rằng người bản địa đóng 1 vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững
Năm 1996, Hội nghị Bellagio về sở hữu trí tuệ cũng đưa ra bản tuyên bố, trong đó khẳng định sẽ xem xét những chế độ “đặc biệt” cho việc “bảo vệ các sản
phẩm dân gian, bảo vệ các sản phẩm của di sản văn hóa, “bí quyết”để bảo vệ tri
thức (Know - how) về sinh học và sinh thái của các dân tộc truyền thống” (R.Ellen…, 2010, tr77) Vấn đề tri thức tộc người đãđược xem xét ở một mức độ cao hơn và chính thức được luật pháp quốc tế bảo trợ
Vấn đề TTĐP cũng nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học ở cả lĩnh vực tự nhiên lẫn xã hội Các nghiên cứu khoa học dường như cố gắng
ở mức độ cao nhất trong việc tôn trọng diễn ngôn từ phía cộng đồng, thậm chí được coi như nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu điền dã xã hội học và dân tộc học (C.Culas, 2010) Có thể nói, từ sau những năm 60 trở lại đây, TTĐP trở thành một đề tài nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà khoa học phương Tây với hàng loạt những công trình cùng quan điểm nghiên cứu khác nhau
Về mặt thuật ngữ TTĐP có những quan điểm khác nhau Nếu như R.Ellen và
H.Haris coi TTĐP là một bộ phận trong tri thức bản địa (R.Ellen , 2010) thì M.Osseweijer lại cho rằng TTĐP bao gồm tri thức bản địa và những tri thức ngoại
sinh (M.Osseweijer, 2010) Theo quan điểm của Geertz, “địa phương không chỉ liên
quan đến địa điểm, thời gian, loại và một loạt vấn đề khác mà còn liên quan đến nhiều mô tả theo ngôn ngữ địa phương về cái xảy ra liên quan đến những tưởng tượng về cái có thể xảy ra”(M.Osseweijer, 2010, tr83) Từ đây đã mở rộng phạm vi
Trang 18của khái niệm TTĐP ra ngoài khuôn khổ những lĩnh vực thông thường của đời sống
mà nó còn bao gồm cả những diễn ngôn của cư dân địa phương với những vấn đề
có thể xảy ra (theo quan điểm của họ)
Cũng xuất phát từ việc đề cao vai trò của cộng đồng trong nghiên cứu Nhân học, C.Culas đưa ra quan điểm nghiên cứu về TTĐP trên cơ sở tôn trọng tiếng nói của cộng đồng Từ đóđặt ra yêu cầu về mặt phương pháp luận đối với các nhà nghiên cứu phải có kỹ thuật quan sát tham dự tốt, có một thời gian nghiên cứu thực địa đủ dài để có thể hiểu về giá trị văn hóa truyền thống cũng như những tri thức của tộc người trong thế ứng xử, khai thác môi trường tự nhiên Thực tiễn từ các dự
án phát triển cộng đồng cũng như của nền khoa học Việt Nam đặt ra yêu cầu các nhà khoa học nên là những nhà nghiên cứu phát triển hơn là nghiên cứu ứng dụng (vốn là một loại hình nghiên cứu phổ biến ở Việt Nam hiện nay nhưng lại ít được thừa nhận) (C.Culas, 2010)
Theo quan điểm của Pamela McElwee, tri thức bản địa chính là những kiến thức của cộng đồng đối với hệ động thực vật không chỉ ở mặt diễn ngôn mà nó nằm
ở cả trong đời sống tâm linh của tộc người (như tôn giáo, tín ngưỡng, các thực hành nghi lễ…) Tác giả quan tâm đến những giá trị tinh thần như là một cơ chế hữu hiệu
để bảo tồn tự nhiên Vai trò của những tri thức truyền thống của cộng đồng cư dân
là vô cùng quan trọng để giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn lợi từ tự nhiên (PMcElwee,2010, tr.20)
Tựu chung lại, từ những năm 60, 70 thế kỷ XX đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về TTĐP thuộc về hai quan điểm nghiên cứu sau:
Quan điểm thứ nhất: coi TTĐP như là một nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của môi trường, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên Luận điểm này được thể hiện trong nghiên cứu về người Aru của M.Osseweijer đãđưa ra kết luận chính những tri thức ngoại nhập là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường của người bản địa
Quan điểm thứ hai: coi TTĐP là cách tiếp cận hữu hiệu trong việc giải quyết những vấn đề suy giảm môi trường sinh thái ở các cộng đồng dân cư TTĐP được
Trang 19coi là “một nguồn tài nguyên quan trọng có thể hỗ trợ quá trình phát triển một cách
có hiệu quả về mặt chi phí, có sự tham gia và bền vững… Nó là cơ sở để đưa ra quyết định ở cấp địa phương trong nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chuẩn bị thức
ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và là cơ sở cho các hoạt động khác trong các cộng đồng nông thôn”(P.McElwee, 2010, tr.69) Rất nhiều nhà nghiên
cứu TTĐP đồng thuận với ý kiến này như C.Culas, P.McElwee, D.A.Posey, R.Ellen, H.Haris… Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng TTĐP là một phạm trù động, nó luôn có những biến động trên cơ sở nền tảng văn hóa địa phương cụ thể
Vào năm 1997, một cuộc hội thảo với chủ đề “Tri thức bản địa về môi
trường và những biến đổi”đãđược tổ chức tại trường Đại học Kent (Canterbury,
Hoa Kỳ) Hội thảo nhằm mục đích thảo luận chuyên sâu về khái niệm “tri thức bản địa” bao gồm các vấn đề: sự hình thành tri thức, cách thức vận hành nó trong thực tiễn xã hội và các bước phát triển thăng trầm của nó Từ đó, các nhà khoa học đánh giá một cách khách quan và nghiêm túc về thực trạng nghiên cứu tri thức bản địa trong những ngành khoa học khác nhau cả về phương diện thực tiễn và lý luận Đồng thời đánh giá lại vai trò của tri thức bản địa trong những bối cảnh cụ thể
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB), “Tri thức bản địa là một bộ
phận quan trọng cấu thành nên văn hóa và lịch sử của cộng đồng Chúng ta cần học hỏi từ những cộng đồng địa phương để làm phong phú hơn quá trình phát triển” (J.P.Wolfensolin, 1997) Trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa và tiếng nói từ
cộng đồng, WB đề xuất những dự án phát triển đều phải xuất phát từ đối tượng được thụ hưởng và là cơ sở quan trọng để thành công Đó là quan điểm thống nhất của WB khi lập dự án phát triển cho các cộng đồng địa phương, nhưng hiệu quả của
nó vẫn còn nhiều hạn chế Cụ thể là ở Ba Bể, những bất cập từ những dự án của WB
sẽ được đề cập tới và phân tích ở những nội dung sau
Trên cơ sở nhận thức về sự tương đồng giữa các khái niệm “tri thức bản địa”,
“tri thức địa phương”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”, UNESCO đã đưa ra
quan điểm của mình về vấn đề này: “tri thức bản địa là hệ tri thức địa phương của
Trang 20một nền văn hóa hoặc một xã hội duy nhất Nó tương đồng với các thuật ngữ “tri thức địa phương”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”, “tri thức truyền thống” hay “khoa học truyền thống” Tri thức này được trao truyền qua nhiều thế
hệ bằng hình thức truyền miệng hay những thực hành văn hóa, được thể hiện một cách căn bản nhất ở kỹ thuật canh tác, ẩm thực, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bảo tồn và mở rộng phạm vi ảnh hưởng của những hoạt động giúp cho sự phát triển bền vững của các cộng đồng trên Thế giới”(UNESO, 2010).Chính những cộng đồng bản
địa là người sáng tạo và lưu giữ những giá trị này, là cơ sở để họ khai thác tự nhiên theo hướng bền vững Tuy nhiên, UNESCO cũng cảnh báo, những vấn đề của xã hội hiện đại khiến cho những tri thức này đứng trước những thách thức lớn, nhưng những giá trị của nó đối với phát triển bền vững vẫn không thay đổi Tôn trọng tri thức của các cộng đồng trở thành nguyên tắc hành động cơ bản của UNESCO khi
nghiên cứu về văn hóa
Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) trong diễn ngôn của mình cũng
đưa ra quan điểm về TTĐP: “là những tri thức được hình thành và phát triển theo
thời gian, và vẫn luôn phát triển TTĐP phụ thuộc vào kinh nghiệm; thường xuyên được kiểm nghiệm trong thực hành qua nhiều thế kỷ; phù hợp với văn hóa và môi trường địa phương; được thể hiện trong thực hành xã hội, các tổ chức, mối liên hệ
và các nghi lễ; được lưu giữ bởi các cá nhân và cả cộng đồng; linh hoạt và luôn biến đổi”(FAO, 2007)
Trên đây là một số quan điểm nghiên cứu chính về TTĐP của các nhà khoa học trên thế giới trong thời gian qua Tuy còn những ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại đều xem xét TTĐP với nền tảng là văn hóa bản địa là cơ sở để đưa ra những chính sách, những chương trình hành động xuất phát vì lợi ích của cộng đồng TTĐP trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của các chương trình phát triển Nhưng cùng với đó phải có quan điểm phê phán khách quan trong đánh giá tính hiệu quả và hợp lý của các tri thức đó
Trang 211.1.2 Nghiên cứu TTĐP ở Việt Nam
Vấn đề tri thức truyền thống của các tộc người đãđược các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ sớm nhưng nó chưa thực sự trở thành một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt Trong các nghiên cứu về các tộc người, đặc biệt là những công trình Dân tộc học có đề cập đến các tập quán sinh hoạt, đến những cách thức sản xuất và sinh hoạt như là một bộ phận hữu cơ cấu thành nên văn hóa tộc người Do vậy nó là một phần không thể thiếu trong các chuyên khảo dân tộc học, là đặc điểm
để nhận dạng các tộc người ở Việt Nam Phải đến những năm 90 của thế kỷ XX, cùng với những chuyển biến về chính trị đã giúp cho nền khoa học Việt Nam có điều kiện hội nhập vào nền khoa học Thế giới Đây là thời kỳ mà vấn đề phát triển bền vững được đặt ra hết sức cấp thiết đối với tất cả các ngành khoa học Đối với Dân tộc học, người ta quay trở lại với những thế ứng xử truyền thống của các cộng đồng cư dân đối với tài nguyên xung quanh họ Đó chính là sự quay trở lại đối với những kiến thức bản địa, những tri thức truyền thống của các tộc người
Trong hơn hai thập kỷ qua, từ vị trí là một đặc điểm thuộc về văn hóa tộc người, TTĐP đã trở thành một đề tài nghiên cứu độc lập, thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học ở nhiều lĩnh vực: sinh thái học, dân tộc học, nông nghiệp, du lịch… TTĐP trở thành một mảnh đất màu mỡ được cày đi xới lại rất nhiều lần nhưng vẫn là mới mẻ do sự khác biệt bởi tính địa phương của nó
Hiện nay, tri thức địa phương có nhiều cách tiếp cận:
Thứ nhất là cách tiếp cận TTĐP ở khía cạnh lý luận:
Ở cách tiếp cận này,Ngô Đức Thịnh đãđưa ra định nghĩa về thuật ngữ “tri
thức bản địa” (được hiểu là một bộ phận thuộc “tri thức địa phương”) như sau: “Tri
thức bản địa là toàn bộ những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dài của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất và thích ứng môi trường Nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội Tri thức bản địa gồm các lĩnh vực sau: tri thức tự nhiên và môi trường (kể cả vũ trụ); tri thức về bản thân con người (cơ thể
Trang 22học, dưỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng; tri thức về sáng tạo nghệ thuật” (Ngô Đức Thịnh, 2010, tr.3)
Theo định nghĩa trên, tác giả đã giải quyết khá cơ bản những vấn đề liên quan đến khái niệm “tri thức bản địa” như nội hàm của khái niệm, cơ chế hình thành và tồn tại cũng như các lĩnh vực cụ thể của nó Tuy không phải là một định nghĩa chính danh cho thuật ngữ TTĐP, nhưng với quan điểm xem hệ tri thức bản địa như là một bộ phận của nó, chúng ta cũng có thể thấy rằng, định nghĩa này có vai trò quan trọng trong việc định hướng nghiên cứu về hệ thống tri thức địa phương của các cộng đồng người
Trần Hồng Hạnh cũng đưa ra quan điểm về TTĐP: “TTĐP được hiểu là các
kiến thức bao gồm cả tri thức bản địa và tri thức truyền thống, đãđược cư dân sống tại một địa bàn cụ thể tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, và chịu sự tác động của kiến thức mới hay hiện đại Để thích ứng với môi trường biến đổi, cả về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính trị, người dân đã tích lũy những kiến thức vốn có từ lâu đời kết hợp với việc áp dụng các kiến thức hiện đại vào cuộc sống thường ngày của họ Dần dần, thông qua sự kết hợp này, các kiến thức mới được người dân địa phương hóa cho phù hợp với điều kiện môi trường sống của họ và trở thành các kinh nghiệm của họ Do đó, tri thức của người dân luôn ở trạng thái động, thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của người dân địa phương cũng như trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác” (Trần
Hồng Hạnh, 2005, tr 28)
Có thể nói định nghĩa của Trần Hồng Hạnh cơ bản đã giải quyết vấn đề về nội hàm cho khái niệm “tri thức địa phương” Trong đó thể hiện rõ nhất sự phân biệt hệ tri thức này với các loại tri thức khác trong mỗi tộc người với ý nghĩa đây là
hệ tri thức mang tính chất bao trùm (vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại, vừa là bản địa, vừa là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa)
Cách tiếp cận thứ hai: TTĐP được tiếp cận theo quan điểm sinh thái học nhân văn
Trang 23Từ những năm 90 thế kỷ XX trở lại đây, TTĐP trở thành đề tài nghiên cứu phổ biến Nhiều vấn đề về môi trường được đặt ra như cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô nhiễm môi trường ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế cũng như sức khỏe của người dân Bên cạnh đó, những giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng người ngày càng bị mai một Vấn đề phát triển bền vững được đặt ra ngày càng cấp thiết hơn bao giờ hết
Có thể nói, khởi xướng cho xu hướng nghiên cứu này là các nhà sinh thái học nổi tiếng như Lê Trọng Cúc (1995, 1997, 2002), Hoàng Xuân Tý (1998, 2000), Trần Đức Viên (2008), T.Ramboo (1995, 2008)… với hàng loạt các công trình nghiên cứu về hệ sinh thái ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Cơ sở
lý thuyết của các công trình này dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường để từ đó các cộng đồng đưa ra những phương thức ứng xử phù hợp Đồng thời cũng đề cập đến những biến đổi trong nhận thức cũng như hành động của các cộng đồng đối với tự nhiên giữa truyền thống với hiện đại Từ đó hình thành lý thuyết về sinh thái học nhân văn trong nghiên cứu về văn hóa tộc người
Trên cơ sở của lý thuyết sinh thái học nhân văn, hàng loạt các công trình nghiên cứu về TTĐP từ sách báo chuyên ngành đến các tham luận hội thảo và các
đề tài khóa luận, luận văn và luận án tiến sỹ được công bố Có thể kể đến các công trình của các học giả Việt Nam như Hoàng Hữu Bình (1998, 2003), Lê Trọng Cúc (1995, 1997, 2003), Hoàng Xuân Tý (1998, 2000), Trần Đức Viên (2008), Ngô Văn
Lệ (2012), Ngô Đức Thịnh (2010), Lê Sỹ Giáo (1989, 1990, 2000, 2003), Phạm Quang Hoan (2003, 2005), Vương Xuân Tình (1996, 2000, 2003, 2012, 2015), Nguyễn Duy Thiệu (1999), Nguyễn Ngọc Thanh (2009, 2012), Trần Hồng Hạnh (2005, 2015), Vũ Trường Giang (2007, 2009, 2010, 2012), Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Trần Hồng Thu (2009), Mai Văn Tùng (2011), Nguyễn Diệp Mai (2011) … Hay các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về tri thức địa phương của các tộc người Việt Nam như: G.Codominas (1997), A.T.Rambo (1995), Pam McElwee (2010), J.Ambler (2000), G.Evan (2001), C.Culas (2010)…
Trang 24Với tư cách là một nhà sinh thái học, Lê Trọng Cúc trên cơ sở những nghiên cứu thực địa, đãđưa ra quan điểm đồng nhất giữa tri thức địa phương và tri thức bản địa( Lê Trọng Cúc, 1995, tr.215) Quan niệm về tri thức địa phương của Lê Trọng Cúc khá đầy đủ, đề cập đến các vấn đề về lịch sử hình thành cũng như cơ chế tồn tại của chúng Bên cạnh đó, tác giả cũng quan tâm đến nội hàm của nó bao gồm mối quan hệ giữa con người - tự nhiên và quan hệ giữa con người - con người Đây cũng
là đặc trưng của trường phái sinh thái học nhân văn khi nhìn nhận về các tác nhân trong vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái
Cũng trên cơ sở nhằm làm rõ mối quan hệ giữa sinh thái môi trường và con người cũng như những tác động của môi sinh đối với các tộc người nhất định, Phạm Quang Hoan cũng đãđưa ra quan điểm về TTĐP trong các nghiên cứu của mình (Phạm Quang Hoan, 2003 tr.87) Với việc nhìn nhận tri thức địa phương ở hai góc
độ, tác giả đã cho thấy được vai trò của tự nhiên trong việc hình thành nền văn hóa của các tộc người Không những thế, ứng với mỗi một vùng sinh thái sẽ hình thành nên những giá trị văn hóa nhất định Điều đóđã tạo nên “bản sắc văn hóa” của các tộc người, phân biệt họ với các tộc người khác
Cách tiếp cận thứ ba: TTĐP đồng nghĩa với luật tục, với kiến thức kỹ thuật bản địa, với văn hóa dân gian, với phong tục tập quán… của các tộc người
Như trên đã nói, các học giả có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ TTĐP, trong đó có quan điểm đồng nhất với “luật tục” hoặc với những giá trị văn hóa của tộc người Trong đó tiêu biểu là quan điểm của các học giả sau:
Ngô Đức Thịnh đã cho rằngluật tục chính là một bộ phận tạo nên “tri thức bản địa” Đó là các cơ chế quản lý xã hội truyền thống được cả cộng đồng thừa nhận và tuân thủ một cách nghiêm ngặt Có thể đó là những văn bản thành văn, nhưng phần đa trong số chúng là những văn bản bất thành văn, được truyền qua các thế hệ theo cơ chế truyền miệng hoặc thông qua “thực hành sản xuất” và “thực hành
xã hội” Do vậy, nghiên cứu về tri thức bản địa nói riêng và tri thức địa phương nói chung là phải dành sự quan tâm đặc biệt đối với hệ thống “lệ làng” này (Hoàng Xuân Tý, 2000,tr.312)
Trang 25Trên cơ sở nghiên cứu về nhiều vùng cao Châu Á, học giả John Ambler đã phân biệt tri thức địa phương gồm có hai loại chính, đó là “kiến thức kỹ thuật bản địa”, và “luật dân gian” (hay “luật truyền thống”)… Tác giả đã nghiên cứu kỹ các nhóm nông dân làm ruộng, làm thủy lợi, nhóm đánh cá hay những người thợ săn để thấy được vai trò của luật tục trong việc điều hành các mối quan hệ xã hội, nhằm đảm bảo tính công bằng và thậm chí, trong nhiều trường hợp, “luật tục” thể hiện tính hiệu quả hơn so với “luật pháp” Cùng với đó, luật tục tạo nên cơ chế cho sự vận hành các “kiến thức kỹ thuật bản địa hết sức hiệu quả” Hệ kiến thức rất phong phú, đa dạng và chi tiết về sự thích ứng của từng giống loài thực vật với mỗi loại đất, chế độ ẩm, hình thức tưới tiêu, cách thức chọn giống, tiềm năng đất đai, kỹ thuật trồng trọt… Đây là những kiến thức vô giá giúp cho các cộng đồng người thích ứng và phát triển trên mỗi vùng địa lý khác nhau và nó được củng cố bởi luật tục Do vậy, khi nghiên cứu về hệ tri thức địa phương của các tộc người, chúng ta phải thấy được mối quan hệ gắn kết giữa luật tục với các “kiến thức kỹ thuật bản
địa” nhằm duy trì sự bình ổn của xã hội “Nếu tinh thông kiến thức bản địa thì
chúng ta đôi khi cũng có thể xác định quan hệ giữa con người đối với tài nguyên”(J.Ambler, 2000, tr233)
Sau hơn hai thập kỷ nghiên cứu, các nhà khoa học Việt Nam đã dần làm sáng
tỏ những vấn đề cơ bản của TTĐP như về phương pháp tiếp cận hay đánh giá vai trò của nguồn tri thức này đối với cộng đồng trong quá khứ cũng như trong bảo vệ tài nguyên, quản lý xã hội trong tương lai theo hướng phát triển bền vững Có thể phân loại các công trình nghiên cứu về tri thức địa phương của tộc người trên thuộc các lĩnh vực cơ bản sau:
- Những công trình mang tính lý luận: tuy TTĐP ở Việt Nam có lịch sử nghiên cứu khá lâu (hơn hai thập kỷ), nhưng những vấn đề mang tính lý luận còn ít được đề cập đến Trong các chuyên khảo về TTĐP từ sớm, các nhà nghiên cứu đã
cố gắng đưa ra một định nghĩa thống nhất về TTĐP nhưng vấn đề này vẫn được tranh luận nhiều Bởi thực chất hiện nay, sự phân định thế nào là TTĐP, hay TTĐP giống và khác loại hình tri thức khác (tri thức bản địa, tri thức truyền thống…) như
Trang 26thế nào vẫn được đặt ra Để giải quyết vấn đề này, đáng chú ý có quan điểm của Phạm Quang Hoan và Trần Hồng Hạnh Trên cơ sở nghiên cứu thực địa về tri thức các tộc người ở Việt Nam cũng như tham khảo những quan điểm của các học giả nước ngoài, các tác giả khái quát thành khái niệm về TTĐP cùng với nội hàm của
nó Trong đó đều thống nhất TTĐP là cách ứng xử truyền thống của một cộng đồng nhất định đối với môi trường tự nhiên, đặc biệt nhấn mạnh yếu tố động của TTĐP
Đó cũng chính là cơ sở để Trần Hồng Hạnh phân biệt TTĐP với các hệ tri thức khác của cộng đồng (Trần Hồng Hạnh, 2005)
- Những công trình mang tính thực tiễn chiếm phần lớn những nghiên cứu về TTĐP trong thời gian qua Lý thuyết sinh thái học nhân văn được sử dụng làm cơ
sở lý luận cho những công trình này Các tác giả luôn cố gắng tìm kiếm những tri thức về cách ứng xử truyền thống của tộc người và so sánh nó với thực hành trong đời sống hiện nay Đó là những tri thức được thể hiện trong văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, truyện kể), trong thực hành cuộc sống thường nhật, trong những kiêng
kỵ hoặc những hoạt động tín ngưỡng… Trên cơ sở so sánh giữa những tri thức truyền thống và hiện đại, các học giả tìm cách lý giải những nguyên nhân về sự biến đổi của các tri thức đó Có thể đó là những nguyên nhân chủ quan nhưng cũng có không ít những nguyên nhân khách quan liên quan đến chính sách, pháp luật của Nhà nước, các dự án phát triển
1.1.3 Nghiên cứu về TTĐP của người Tày
Người Tày là tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái có dân số đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Namii Hiện nay người Tày có mặt trên tất
cả 63 tỉnh, thành phố trong cả nước Tuy có nhiều nhóm địa phương khác nhau (Pa
Dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao), nhưng đều có ý thức về một tộc danh thống nhất
Với số lượng dân số đông, cùng với địa bàn cư trú rộng, văn hóa truyền thống của người Tày sớm được quan tâm nghiên cứu Bởi vậy những kiến thức về TTĐP của người Tày cũng được đề cập đến trong các chuyên khảo nghiên cứu về tộc người này
Trang 27Ở phương diện tộc người, người Tày là nhóm cư dân được nghiên cứu nhiều trong ngành Dân tộc học và Văn hóa học Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, trong luận án này, chúng tôi sử dụng hơn 40 tư liệu nghiên cứu về tộc người này để khảo cứu Đây chỉ là những công trình có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận
án mà chúng tôi thu thập được, còn lại rất nhiều những nghiên cứu khác về người Tày được công bố trên sách, báo, tạp chí mà chúng tôi chưa có điều kiện tiếp cận Bởi theo thống kê, hiện này tại các thư viện lớn ở Hà Nội, có trên 200 đầu sách, báo, tạp chí và báo cáo khoa học liên quan đến tộc người này(Nguyễn Thị Thanh Bình,
2016, tr.27)
Kế thừa quan điểm từ những nhà nghiên cứu trước đó, hệ thống tư liệu được
dùng để khảo cứu cho luận án được chia thành nhiều phương diện Thứ nhất là về
phương diện tổng quan tộc người, công trình nghiên cứu về các tộc người ở miền núi phía Bắc của Viện Dân tộc học năm 1979, một bức tranh khái quát về người Tày từ tên gọi, lịch sử tộc người, địa bàn cư trú, tổ chức xã hội, đến đặc điểm văn hóa vật chất và tinh thần, trong đó, có nhiều chi tiết đề cập đến tri thức truyền thống trong hoạt động sản xuất của tộc người Sau đó, là những công trình nghiên cứu của
Lã Văn Lô (1984), Hà Văn Thư (1984), Đặng Nghiêm Vạn (1984) Tuy nhiên, có thể
nói, những công trình này “nặng về mô tả đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa của các
tộc người ở dạng tĩnh, với những khuôn mẫu đã được định hình trong lịch sử”(Nguyễn Thị Thanh Bình, 2016, tr35) Giai đoạn từ đầu những năm 90 thế kỷ XX
trở đi, nghiên cứu tổng quan về người Tày cũng được đẩy mạnh với những công trình của Hoàng Quyết (1993), Khổng Diễn (1996), Bế Viết Đẳng (1996), Nịnh Văn Độ (2003), Hoàng Lương (2009), Hoàng Nam (2011, 2015), Vi Văn An (2009), Hà Đình Thành (2010), La Công Ý (1977, 2009, 2010)… Về cơ bản, những nghiên cứu này cho biết những tri thức khái quát, cơ bản nhất nhằm định danh cho tộc người trong bản đồ 54 thành phần dân tộc ở Việt Nam
Trên cơ sở phê phán những nghiên cứu đi trước, công trình “Các dân tộc ở
Việt Nam” tập 2 về nhóm ngôn ngữ Thái - Kađai như một sự tiếp nối mạch nguồn
truyền thống của Viện Dân tộc học từ năm 1979 (Vương Xuân Tình, 2016) Bên cạnh
Trang 28những vấn đề quan trọng về lịch sử cộng cư, những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần, tác giả cũng quan tâm đến tính phát triển của những giá trị văn hóa, đó là vấn đề
di cư trong nội bộ quốc gia và di cư xuyên quốc gia, đó là vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế, vấn đề hôn nhân hỗn hợp tộc người và hôn nhân xuyên quốc gia, vấn đề tiếp biến ngôn ngữ cũng như sự mai một dần những yếu tố văn hóa truyền thống… Những kiến giải của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình khiến cho những giá trị văn hóa
của người Tày trở nên “đời” hơn với nhiều vấn đề được đặt ra và cần phải được giải
quyết trong tương lai
Thứ hai là phương diện những giá trị văn hóa cụ thể Văn hóa Tày là một nền
văn hóa thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứuở cả lĩnh vực vật chất lẫn tinh thần Trên cơ sở chia văn hóa thành những giá trị văn hóa vật chất (bao gồm ăn, mặc, ở, hoạt động kinh tế…) và những giá trị văn hóa tinh thần, đáng lưu ý có những công trình sau:
Về văn hóa ẩm thựccủa người Tày, tiêu biểu là những nghiên cứu của Ma
Ngọc Dung về tập quán ăn uống của người Tày ở vùng Đông Bắc (2004, 2007) Trong đó tác giả quan tâm đến mối liên hệ với môi trường tự nhiên để đưa ra những đặc trưng trong tập quán ăn uống của tộc người như “tính tiết kiệm”, “ưa đồ chua”,
“thích thịt và mỡ”… cũng như những cách thức ứng xử trong ăn uống Ẩm thực không chỉ thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự nhiên mà còn thể hiện rõ nhất mối quan hệ xã hội thông qua những ứng xử trong ăn uống Tác giả Phạm Công Hoan trong công trình nghiên cứu của mình (2005) đã làm rõ những mối quan hệ giữa con người - con người đầy tính nhân văn, mang đậm dấu ấn văn hóa và tính chất phụ quyền trong gia đình và dòng họ của tộc người
Về hình thức nhà ở của người Tày có công trình của Ma Ngọc Dung (2013)
về loại hình nhà sàn truyền thống của cộng đồng người Tày ở Đông Bắc Tư liệu được tác giả sử dụng là những cộng đồng người Tày ở Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang trong cái nhìn so sánh Riêng đối với loại hình nhà sàn của người Tày
ở Ba Bể, do sống ở rừng với nguồn nguyên liệu gỗ phong phú, họ vẫn luôn tự hào
về kiến trúc ngôi nhà sàn của họ thường chắc, khỏe và bền hơn so với những người
Trang 29đồng tộc ở các địa phương khác Đó chính là những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng cho cư dân nơi đây.Tác giả Lê Thị Thúy Hoàn cũng đã lựa chọn nghiên cứu về cấu trúc nhà sàn của người Tày ở huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang), vốn là địa phương có nhiều người Tày sinh sống làm đề tài luận án tiến sĩ ngành Văn hóa học (Lê Thị Thúy Hoàn, 2010)
Về hoạt động sản xuất: người Tày nói riêng và cư dân Tày - Thái ở Việt Nam
nói chung vốn được xem là chủ nhân của nền nông nghiệp lúa nước ở vùng cao Họ
sở hữu trong mình những vốn tri thức quí giá về cách thức chọn đất canh tác với hệ
thống thủy lợi hoàn bị để “dẫn thủy nhập điền” (La Công Ý, 1977) nhằm tận dụng
tối đa nguồn đất có hạn ở vùng thung lũng trước núi Môi trường sinh thái cũng là điều kiện quan trọng tạo nên những đặc trưng trong văn hóa mưu sinh của tộc người với những cách thức lựa chọn những vật nuôi, cây trồng phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã hình thành nên những tri thức của tộc người trong cách hoạt động khai thác và sản xuất (Lê Sỹ Giáo, 1990, 2000; Trần Bình, 2011)
Văn hóa tinh thần của người Tày trở thành đối tượng nghiên cứu quen thuộc
với nhiều công trình về văn hóa truyền thống (Lã Văn Lô, 1984) hay những giá trị văn hóa tinh thần cụ thể như: tập tục cưới xin (Hoàng Quyết, 1993),tang ma (Hoàng Tuấn Nam, 1999; Lương Thị Hạnh, 2015), phong tục tập quán (Hoàng Quyết, Tuấn Dũng, 1994; Nịnh Văn Độ, 2003), luật tục (Hoàng Xuân Tý, 2000; Vương Xuân Tình, 2000), tín ngưỡng, tôn giáo (Nguyễn Thị Yên, 2009; Đàm Thị Uyên, 2011, 2012), các lễ hội (Hoàng Lương, 2011; Hoàng Văn Páo, 2011, 2012), văn học dân gian (Vi Hồng, 1979; Nguyễn Thị Yên, 2006, 2007; Hoàng Văn Chữ, Nông Phúc Tước, Hoàng Nừng, 2012) Tuy nhiên có thể nói, những công trình này đều cố gắng
mô tả những giá trị truyền thống, ít chú trọng đến sự vận động, biến đổi của các dạng thức văn hóa hay cách thức vận hành của nó trong xã hội hiện nay Hoặc nếu
có bàn thì khá mờ nhạt so với phần truyền thống Bởi văn hóa luôn biến đổi, nó không phải là một phạm trù bất biến
Ở khía cạnh địa phương của tộc người, do tập trung đông ở miền núi phía
Bắc nên những công trình nghiên cứu về người Tày chủ yếu về khu vực này(Lã Văn
Trang 30Lô, 1984; Hoàng Nam, 2015; Hoàng Quyết, 1983, 1994; Hà Văn Thư, Lã Văn Lô, 1984; Hà Đình Thành, 2010; La Công Ý, 2009), hoặc những công trình nghiên cứu
về người Tày ở từng địa phương cụ thể, như ở Lạng Sơn (Vương Xuân Tình, 2015), Cao Bằng (Đàm Thị Uyên, 2011, 2012; Nguyễn Thị Yên, 2003, 2006), Bắc Kạn (Nguyễn Thị Yên, 2006, 2007), Thái Nguyên, Tuyên Quang (Nịnh Văn Độ, 2003; Nguyễn Ngọc Thanh, 2016)
Qua những công trình nghiên cứu trên, mọi khía cạnh của tộc người Tày ở Việt Nam đã được làm sáng tỏ cả về quá trình lịch sử tộc người, tộc danh, địa bàn
cư trú và những giá trị văn hóa truyền thống cũng như những biến đổi trong bối cảnh hiện nay Trong những công trình đó cũng chứa dựng nội dung liên quan đến TTĐP của tộc người với tư cách là một phần trong tổng thể bức tranh về tộc người
Nó nằm rải rác, xen kẽ ở đâu đó như là tiền đề nhằm định hình một nền văn hóa Hơn nữa, các nhà nghiên cứu không chủ đích tìm hiểu về nó nên sự lý giải của họ còn khá mơ hồ, đơn giản Đây cũng là một nguồn tài liệu vô cùng quan trọng khi nghiên cứu về TTĐP bởi nó sẽ cung cấp cho ta cơ sở để thấy được chiều hướng biến đổi của vốn tri thức này theo thời gian cũng như những tác nhân của nó
Từ những khảo cứu về các công trình nghiên cứu về TTĐP nói chung và TTĐP của người Tày nói chung, có thể kết luận một số vấn đề như sau:
- Nghiên cứu về TTĐP là một lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học bởi tính thời sự của nó Do vậy mà những nghiên cứu về TTĐP vẫn luôn phong phú về địa bàn, về tộc người và thời điểm, trong đó đáng chú ý là những nghiên cứu của ngành sinh thái học, môi trường và ngành Dân tộc học/Nhân học
- Về mặt phương pháp luận: các nhà nghiên cứu cố gắng tìm hiểu và mô tả
về TTĐP của các tộc người sao cho gần nhất với thực tiễn cuộc sống trên cơ sở khảo cứu nhiều tài liệu cũng như kéo dài thời gian thực địa Những nghiên cứu về thực hành trong cuộc sống luôn gắn với những câu ca dao, tục ngữ được bảo lưu trong kho tàng văn học dân gian cũng như những phong tục tập quán và điều kiêng kỵ
- Nhiều tộc người đã trở thành đối tượng nghiên cứu về TTĐP (điển hình là người Mường, Thái…) Tuy nhiên, do sự phong phú về tộc người cũng như tính địa
Trang 31phương của các tộc người nên vẫn còn rất nhiều khoảng trống trong nghiên cứu về TTĐP, trong đó có người Tày
Vì vậy, đề tài của luận án nghiên cứu về TTĐP của người Tày ở Ba Bể (Bắc Kạn) là một đề tài không trùng lặp
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Các khái niệm
* Khái niệm “Tri thức địa phương”
Liên quan đến khái niệm TTĐP, các nhà nghiên cứu Việt Nam và thế giới còn sử dụng các khái niệm “Tri thức bản địa”(Indigenous Knowledge), “Tri thức truyền thống” (Traditional Knowledge)và “Tri thức tộc người” (Ethnic Knowledge).Tuy nhiên vấn đề phân loại các thuật ngữ này rất khó, bởi nó đều là những hệ tri thức do cộng đồng sáng tạo ra, trao truyền qua các thế hệ dựa trên kinh nghiệm, qua cơ chế truyền miệng và thực hành thường nhật Đó là những tri thức có phạm vi bao quát hẹp, đôi khi chỉ tồn tại trong những cộng đồng nhỏ lẻ Nó hoàn toàn khác với “tri thức hàn lâm”, “tri thức khoa học” được hình thành trên cơ sở thực nghiệm, được khái quát thành hệ thống và truyền lại qua học vấn và sách vở (Vũ Trường Giang, 2012, tr.55)
Warburton & Martin đã đưa ra quan điểm của mình trong phân loại các hệ tri thức này Theo đó:
“Tri thức địa phương (Local knowledge): là tập hợp những hiện thực và mối quan hệ của toàn bộ hệ thống các khái niệm, niềm tin, sự nhận thức mà con người
có được về thế giới xung quanh Nó cũng bao gồm cả cách thức mà họ quan sát và đánh giá về xung quanh, cách thức mà họ giải quyết vấn đề và những xác nhận về những tri thức mới Nó cũng bao gồm cả quá trình mà những tri thức đó được hình thành, lưu giữ, ứng dụng và truyền bá ra bên ngoài
Nội hàm của “Tri thức truyền thống” (traditional knowledge) ngụ ý về sự cô lập của những cộng đồng ở nông thôn với phần còn lại của Thế giới và hệ tri thức
đó dường như tĩnh và không có sự tương tác với những hê tri thức khác
Trang 32Tri thức bản địa (indigenous knowledge) là hệ thống tri thức của cư dân bản địa thay vì bị hạn chế bởi chính sách, các dự án và chương trình, thì nó tìm kiếm cách thức thực hành từ chính những người nông dân ở nông thôn Hơn nữa, ở một vài quốc gia, thuật ngữ “bản địa” còn mang ý nghĩa tiêu cực bởi bị coi là lạc hậu hay mang ý nghĩa tộc người và chính trị.” (FAO, 2007)
Như vậy, TTĐP theo cách hiểu này như một khái niệm mang tính chất bao trùm đối với các khái niệm tri thức còn lại Bởi nó bao gồm cả quá trình hình thành tri thức lẫn cách thức họ vận hành nó trong cuộc sống Nếu tri thức truyền thống nhấn mạnh đến yếu tố tĩnh (static) và cô lập (isolated) của tri thức, thì tri thức bản địa lại thiên về những thực hành văn hóa đôi khi nó lại bị xem là lạc hậu (negative connotation) và bị hạn chế bởi yếu tố tộc người (ethnic) và chính sách (political)
Cùng với quan điểm trên, dựa trên nghiên cứu của Mugabe về sự khác biệt giữa TTĐP và tri thức truyền thống trong đó nhấn mạnh sự tích hợp giữa yếu tố bản địa và yếu tố ngoại lai, Trần Hồng Hạnh đã đưa ra mô hình thể hiện mối quan hệ của 3 hệ tri thức trên trong mối quan hệ với tri thức hiện đại
Mô hình: Hệ thống tri thức (Trần Hồng Hạnh,2005, t.28)
Trên cơ sở xác định nội hàm của các khái niệm tri thức, tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng thể hiện quan điểm về tính bao trùm của TTĐP với tri thức bản đia và văn hóa dân gian (Trần Hồng Hạnh, 2005,tr.24) Theo đó, TTĐP là những giá trị văn hóa tạo nên bản sắc của mỗi tộc người Nó bao gồm các kiến thức truyền thống và các tri thức hiện đại được cộng đồng tiếp nhận làm phong phú hơn
Tri thức địa phương
Tri thức TT Tri thức BĐ Tri thức hiện đại
Trang 33cho kho tàng văn hóa của cộng đồng TTĐP cũng là một bộ phận tạo nên bản sắc tộc người và là yếu tố cần phải được bảo tồn và phát triển
Tiếp thu quan điểm tiếp cận theo thuyết “sinh thái học nhân văn”, chúng tôi xin đưa ra luận điểm về “Tri thức địa phương” cho nghiên cứu của mình như sau:
“Tri thức địa phương” (Local Knowledge) là hệ thống những kinh nghiệm, những hiểu biết của một cộng đồng người về môi trường tự nhiên và môi trường xã hội gắn với một phạm vi không gian văn hóa cụ thể Vốn tri thức này liên quan đến mọi lĩnh vực của cuộc sống Hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng hình thức truyền miệng thông qua sản xuất và quan hệ xã hội, được củng cố và duy trì thông qua luật tục và dư luận xã hội Tuy nhiên, nó không phải là một hằng số bất biến mà nó luôn ở trạng thái động, sẵn sàng tiếp thu những tri thức mới, cải biến nó sao cho phù hợp với hệ thống tri thức truyền thống và phù hợp với địa phương TTĐP chính là di sản văn hóa quý giá, tạo nên bản sắc văn hóa của tộc người”
Từ định nghĩa trên, có thể thấy khái niệm “tri thức địa phương” theo quan điểm của chúng tôi bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất: TTĐP được hình thành trong lịch sử tộc người liên quan đến một
vùng địa vực nhất định Nó được trao truyền qua các thế hệ và trở thành những giá trị văn hóa riêng có của mỗi tộc người qua cơ chế truyền miệng hoặc qua chính những thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội
Thứ hai: phạm vi ứng dụng của TTĐP bao gồm toàn bộ các lĩnh vực trong
cuộc sống của con người được qui thành hai mối quan hệ cơ bản: con người - con người và con người - môi trường sinh thái
Thứ ba: mỗi một tộc người, tương ứng với từng điều kiện tự nhiên đều hình
thành cho mình một hệ thống tri thức để thích ứng với nó, có nghĩa yếu tố địa - văn hóa chi phối sâu sắc đối với quá trình hình thành các tri thức này Do vậy, TTĐP chính là những giá trị tạo nên bản sắc văn hóa của các tộc người
Trang 34Thứ tư:TTĐP là yếu tố động, bởi nó luôn có sự tích hợp những yếu tố mới để
làm giàu thêm vốn tri thức của tộc người Đó là kết quả của quá trình tiếp xúc và tiếp biến văn hóa
*Khái niệm “nguồn tài nguyên thiên nhiên”
Quan điểm thống nhất coi phạm vi của TTĐP bao gồm các tất cả các lĩnh vực liên quan đến đời sống xã hội, bao gồm: tri thức tự nhiên và môi trường (kể cả
vũ trụ); tri thức về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức về ứng
xử xã hội và quản lý cộng đồng; tri thức về sáng tạo nghệ thuật” (Lê Bá Thảo, 2008, tr.3) Có thể nói đây là một khái niệm có nội hàm rất rộng Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ chú trọng nghiên cứu về một bộ phận nhỏ của tri thức địa phương trong thế ứng xử với các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Vậy, tài nguyên thiên nhiên là gì?
“Theo nghĩa rộng, tài nguyên thiên nhiên gồm tất cả các nguồn năng lượng, nguyên liệu, thông tin có trên Trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng để phục vụ cuộc sống và sự phát triển của mình Tài nguyên là tất cả mọi dạng vật chất hữu dụng phục vụ cho sự tồn tại và phát triển cuộc sống con người và thế giới động vật Tài nguyên thiên nhiên là một phân của các thành phần môi trường, chẳng hạn như rừng cây, đất đai, nguồn nước, khoáng sản cùng tất cả các loài động thực vật khác”( Lê Thanh Vân, 2008, tr.130)
Về cơ bản, tài nguyên thiên nhiên được chia làm hai loại:Tài nguyên tái tạo được (như: tài nguyên rừng, nước, đất…) và tài nguyên không tái tạo được (như than đá, dầu mỏ, khí đốt…)
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi quan tâm nghiên cứu về tri thức của tộc người trong vấn đề sử dụng cũng như những biện pháp bảo vệ nhằm sử dụng lâu dài đối với những nguồn tài nguyên có thể tái sinh là nguồn tài nguyên nước, tài nguyên đất và tài nguyên rừng Còn một nguồn tài nguyên quan trọng, có tác động lớn đối với toàn bộ nguồn tài nguyên của một vùng, đó chính là tài nguyên khí hậu Tuy nhiên trong công trình này, chúng tôi không nghiên cứu riêng lẻ mà xen kẽ nó khi
Trang 35nghiên cứu về các nguồn tài nguyên khác với tư cách là yếu tố quan trọng nhất trong sự hình thành hệ sinh thái liên quan đến một vùng địa vực nhất định
* Khái niệm sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên:đó là cách thức
mà cộng đồng ứng xử với các nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua hiểu biết, qua những kinh nghiệm thực hành được đúc kết trong quá trình khai thác các nguồn tài nguyên Nó thể hiện trong hành vi thường nhật, trong tập quán canh tác và khai thác tài nguyên, đồng thời cũng được thể hiện rõ nét trong đời sống tín ngưỡng, trong các thực hành tâm linh của cộng đồng
1.2.2 Lý thuyết về sinh thái học nhân văn trong nghiên cứu về TTĐP
Sinh thái học nhân văn là lý thuyết nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa con người và môi trường Mục đích của nghiên cứu sinh thái nhân văn là tìm hiểu
và nhận biết các đặc điểm và các mối quan hệ qua lại giữa hệ thống xã hội (xã hội con người) và hệ sinh thái (môi trường thiên nhiên) và sự hình thành những hình thái đặc trưng trong hệ thống xã hội và hệ sinh thái Hay đó là cấp độ thứ hai trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (Nguyễn Trường Giang, 2015, tr.33)
Trong lý thuyết sinh thái học nhân văn có hai hệ thống là hệ sinh thái (môi trường thiên nhiên) và hệ xã hội (xã hội con người) Trong đó hệ sinh thái là một hệ chức năng bao gồm các nhân tố vô sinh và hữu sinh có tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một hệ thống động thống nhất Hệ xã hội được hình thành dựa trên các yếu tố dân số, khoa học - kỹ thuật, phong tục - tập quán, văn hóa - xã hội,chuẩn mực đạo đức, thể chế và cơ cấu xã hội…
Nếu như ở cấp độ thứ nhất trong mối quan hệ giữa con người với hệ sinh thái, con người là một thực thể thụ động trong hệ thống đó, thì ở cấp độ thứ hai, bằng sự chủ động của mình, con người đã có sự tác động tương hỗ trở lại với các điều kiện tự nhiên Như vậy, nếu như xem tự nhiên là yếu tố quan trọng hình thành nên những đặc trưng văn hóa của các cộng đồng người, khi điều kiện sinh thái thay đổi sẽ kéo theo những sự chuyển biến về văn hóa do cơ chế tiếp biến Nhưng ngược lại, khi văn hóa thay đổi, tức là cách thức ứng xử của con người với tự nhiên thay
Trang 36đổi, nó cũng sẽ tác động trở lại đối với hệ sinh thái theo cả chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực
Vận dụng lý thuyết sinh thái học nhân văn vào nghiên cứu đề tài để thấy được sự thích ứng truyền thống của cộng đồng với môi trường tự nhiên xung quanh
và những tác động của hệ sinh thái đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội… Điều
đó đã tạo nên bản sắc riêng của mỗi một cộng đồng ở một khu vực nhất định Trong khi xem xét mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường sinh thái và hệ nhân văn mà nó tác động, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến mối quan hệ sinh thái - chính trị bởi những chính sách trong từng thời kỳ khác nhau là tác nhân quan trọng dẫn đến những sự biến đổi trong TTĐP của các tộc người Trong trường hợp này, chúng tôi đặt giả thuyết: sự thành lập VQG Ba Bể là tác nhân quan trọng nhất dẫn tới những thay đổi trong phương thức mưu sinh của tộc người Tày ở đây Đều đó dẫn đến yêu cầu phải xem xét đến mối quan hệ giữa vấn đề thành lập VQG (theo chủ trương của Chính phủ nhằm bảo tồn tài nguyên) và giải quyết vấn đề mưu sinh của người dân ở khu vực này khi mà phương thức sống của họ đã có sự thay đổi Để làm được điều
đó, chúng tôi phải chia thành các nhóm đối tượng (người quyết định, người thực thi
và người sử dụng)iii để thấy được thái độ cũng như đánh giá của từng đối tượng về vấn đề này Vì vậy, nội dung về sinh thái học chính trị cũng cần được quan tâm để giải quyết vấn đề này
1.2.3 Lý thuyết về biến đổi và thích ứng văn hóa
Như giả thuyết trên đã nêu, từ năm 1992 khi VQG Ba Bể được thành lập đã dẫn đến những biến đổi lớn trong phương thức mưu sinh của cộng đồng cư dân ở địa phương Từ đó kéo theo những thay đổi nhất định trong văn hóa tộc người Do vậy cần phải dựa trên cơ sở của lý thuyết biến đổi và thích ứng văn hóa để giải thích cho những sự thay đổi này
Theo quan điểm của Dennis O’Neil, tất cả các nền văn hóa thay đổi qua thời gian, không có nền văn hóa nào bất biến Tuy nhiên, hầu hết các nền văn hóa về cơ bản là bảo thủ trong đó có xu hướng chống lại sự thay đổi hoặc có những cách thức bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống qua luật lệ hoặc tạo sự ngăn cách với
Trang 37những luồng văn hóa ngoại lai Nhưng ngược lại, có những nền văn hóa hoàn toàn
mở cửa để đón nhận sự thay đổi như trường hợp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong 2 thập kỷ gần đây Tuy nhiên, có thể thấy rằng quá trình thay đổi các nền văn hóa là rất phức tạp bởi chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố nội tại cũng như ngoại lai
Vì vậy để hiểu một cách sâu sắc về những dạng thức của sự thay đổi, D.O’Neil khuyến cáo các nhà nghiên cứu phải có cách tiếp cận toàn diện đối với nền văn hóa cũng như môi trường mà nó thâu thuộc, bởi văn hóa và môi trường có mối quan hệ biện chứng với nhau.Ông đã tóm tắt về thuyết biến đổi và thích ứng văn hóa của mình theo sơ đồ sau:
Bên trong xã hội Giữa các xã hội
Tiếp biến văn hóa
Chuyển biến văn hóa
Sự năng động của nhóm bên trong và nhóm bên ngoài
Nguồn: Dennis O’Neil, 2008
Khi xem xét sự biến đổi và thích ứng văn hóa, D.O’Neil quan tâm đến 2
phạm vi: bên trong xã hội (within a society - nguyên nhân chủ quan) và sự tác động, liên kết giữa các nhóm xã hội (between societies - nguyên nhân khách quan) đối với
sự thúc đẩy quá trình thay đổi cũng như kìm hãm, thậm chí chối từ đối với sự chuyển biến Trong một xã hội, quá trình dẫn đến thay đổi bao gồm sự sáng tạo
(invention) của cộng đồng xã hội đó và mất văn hóa (culture loss) Sự sáng tạo (invention) có thể là công nghệ hay tư tưởng hoặc chính sách của những thể chế chính trị mới Mất văn hóa (culture loss) là một kết quả tất yếu của các mô hình văn
hoá cũ không còn phù hợp được thay thế bằng những cái mới, nhưng nó vẫn được bảo lưu trong tín ngưỡng, trong hành vi văn hóa đặc biệt là ở tầng lớp những người
Trang 38lớn tuổi Quá trình phản kháng sự thay đổi (processes resulting in resistence to
change) bao gồm tập quán (habit) và sự tíchhợp của những đặc điểm văn hóađương
đại (integration of existing culture traits) tạo nên lực cản lớn khiến cho những giá trị
văn hóa mới khó có điều kiện tiếp cận và ảnh hưởng đối với cộng đồng
Trong mối liên hệ đa xã hội (between societies), các thiết chế văn hóa hội
nhập với nhau và sự ảnh hưởng lẫn nhau là nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi Quá trình dẫn đến sự thay đổi như là kết quả liên hệ giữa các xã hội, đó là: sự
khuếch tán (diffusion), tiếp biến văn hóa (acculturation) và chuyển biến văn hóa (transculturation) Còn yếu tố kìm hãm sự thay đổi (change) chính là sự năng động của bản thân cộng đồng đó và các cộng đồng bên ngoài (ingroup - outgroup
dynamics).Tuy nhiên, D O’Neil cũng khuyến cáo các nhóm cộng đồng phải có sự
khuếch tán có chọn lọc (stimulus diffusion) những giá trị văn hóa sao cho phù hợp
với sự sáng tạo của cộng đồng
Vận dụng vào trong đề tài luận án, chúng ta phải nhận thức được rằng, sự thay đổi là đặc điểm tất yếu của bất kỳ nền văn hóa nào Tuy nhiên, có những thay đổi là do tự thân, nhưng cũng có những thay đổi là do tác động từ nhiều yếu tố bên
ngoài, trong đó D.O’Neil đề cập đến 3 tác nhân: những yếu tố xã hội (forces at work
within a society), sự liên kết xã hội (contact between societies) và sự thay đổi của
môi trường (changes in the natural enviroment) Ở đây, tác nhân quan trọng cần đề
cập tới đó chính là chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thông qua việc thành lập VQG đã có những ảnh hưởng lớn đối với sự biến đổi văn hóa Mục đích của luận án là phải tìm hiểu xem chiều hướng của những biến đổi đó như thế nào và tác động của nó đối với đời sống người Tày nói riêng và những giá trị văn hóa truyền thống của tộc người nói chung Trong quá trình bị tác động đó, những giá trị văn hóa mới được hình thành có thể tương đồng hoặc dị biệt so với truyền thống Vấn đề đặt ra là đánh giá một cách khách quan vai trò của TTĐP trong xu thế hội nhập và phát triển của tộc người hiện nay để có những kiến nghị phù hợp đối với các chủ trương, chính sách và dự án hỗ trợ đối với cộng đồng trong tương lai, hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 391.3 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận án, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu về TTĐP là một nghiên cứu mang tính liên ngành nên để hoàn thành luận án, chúng tôi rất coi trọng công tác thu thập những nguồn tư liệu liên quan đến vấn đề này Đó là những nghiên cứu thuộc lĩnh vực môi trường, sinh học, sinh thái học, văn hóa học, dân tộc học/nhân học… để từ đó đưa ra được chiến lược nghiên cứu hợp lý nhất cho luận án của mình Bên cạnh đó là những chủ trương, chính sách về các khu bảo tồn tự nhiên, các VQG đã được ban hành từ năm 1992 đến nay Đồng thời tranh thủ ý kiến của các chuyên gia về lĩnh vực này thuộc các ngành môi trường, sinh thái học và đặc biệt là các nhà dân tộc học/nhân học đã từng nghiên cứu về vấn đề này
- Phương pháp thống kê cũng được sử dụng tích cực trong nghiên cứu Trên
cơ sở khảo cứu tư liệu, chúng tôi rất quan tâm đến những tài liệu thống kê về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, những chỉ báo về tự nhiên của địa bàn nghiên cứu Vì đây là một nghiên cứu mang tính so sánh thể hiện trong các bảng biểu thống kê nhằm thấy được những sự biến đổi của cộng đồng về mọi mặt qua từng thời kỳ
- Phương pháp điền dã dân tộc học: là phương pháp nghiên cứu chủ đạo để thu thập thông tin và phân tích vấn đề của luận án Để thực hiện luận án, chúng tôi
đã tiến hành nhiều đợt đi khảo sát thực địa theo chu kỳ nông nghiệp, thu thập các thông tin định lượng và định tính phục vụ cho đề tài Trong các chuyến đi đó, chúng tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn sâu đối với những người dân địa phương để tìm hiểu về những tri thức của họ đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên Đối tượng lựa chọn để phỏng vấn là những người nông dân thuần túy và những người có nghề nghiệp kết hợp (vừa làm nông nhưng vẫn đi đánh cá, đi rừng, làm dịch vụ, làm công tác chính quyền) và những người đã thoát ly nông nghiệp Trong quá trình đi điền
dã, chúng tôi đã tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn với những người thuộc các độ tuổi
khác nhau, để thấy được sự “chênh” về nhận thức trong hệ tri thức địa phương giữa
các thế hệ Cùng với đó, chúng tôi cũng tiến hành phỏng vấn đối với những người làm công tác chính quyền ở địa phương cũng như làm nhiệm vụ bảo tồn của VQG
Trang 40để thấy được sự vận hành của chính sách cũng như những tác động của các chương trình, dự án đối với môi trường sinh thái và sinh kế của người dân địa phương thời gian qua Qua đó tìm hiểu về quá trình thực hiện chủ trương cũng như thái độ của cộng đồng, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện và sự hợp tác giữa các bên Quan trọng nhất là tìm hiểu về thái độ của những người thực thi chính sách đó
về vấn đề bảo vệ văn hóa tộc người trong quá trình thực hiện
Trong quá trình điền dã, kỹ thuật quan sát tham gia được vận dụng để nghiên cứu về đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thông qua những câu
chuyện về cuộc đời (life stories) của những người chịu tác động của chính sách
đóng cửa rừng (những người khai thác gỗ, người làm nương, trồng bông dệt vải…) cùng những bước thăng trầm để thấy được những cuộc sống của người dân đã thay đổi như thế nào cùng với thái độ của họ.Chúng tôi cũng tiến hành trao đổi với những người trực tiếp thực thi chính sách này tại địa phương (Ban quản lý VQG, UBND huyện Ba Bể, cán bộ kiểm lâm, cán bộ xã…) vừa là những người thực thi đồng thời cũng là những người chịu tác động mạnh bởi chính sách này
- Phương pháp hồi cố được sử dụng tích cực trong các cuộc phỏng vấn sâu, thông qua những câu hỏi mang tính lịch sử để thu thập những thông tin liên quan đến phương thức mưu sinh truyền thống của cộng đồng, đặc biệt là giai đoạn trước năm 1992 Do mốc thời gian này chưa quá xa nên phương pháp này được vận dụng khá linh hoạt đối với những người trung niên và cao niên - là những người trực tiếp chứng kiến những biến động từ chính sách thành lập VQG Qua đó thấy được thái
độ cũng như sự đánh giá của cộng đồng về tác động của chính sách này đối với đời sống vật chất và tinh thần của họ trong thời gian qua
- Phương pháp so sánh cũng được chúng tôi vận dụng khi phân tích những luận điểm trong luận án Do đây là khu vực đa tộc người nên không tránh khỏi sự tiếp xúc và tiếp biến văn hóa giữa cộng đồng người Tày với các nhóm tộc người khác Vì vậy, để làm rõ tính tộc người trong văn hóa, luận án sử dụng phương pháp
so sánh giữa tri thức của người Tày với những cư dân đồng tộc ở Tuyên Quang, Lào Cai … khác để làm rõ tính địa phương Vận dụng lý thuyết sinh thái học nhân văn