1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng anh và các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng việt

243 401 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 243
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những định nghĩa về thuật ngữ của các nhà ngôn ngữ học Nga dù ở trường phái coi thuật ngữ có liên quan với chức năng hay coi thuật ngữ có liên hệ với khái niệm thì chung nhất về cơ bản c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN QUỐC VIỆT

THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH

VÀ CÁC BIỂU THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG

TRONG TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN QUỐC VIỆT

THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH

VÀ CÁC BIỂU THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG

TRONG TIẾNG VIỆT

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH – ĐỐI CHIẾU

MÃ SỐ: 62 22 02 41

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS VŨ ĐỨC NGHIỆU

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới tập thể các giáo sư, các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo Khoa Ngôn ngữ học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ Nghiên cứu sinh trưởng thành rất nhiều về chuyên môn

Tự đáy lòng mình, Nghiên cứu sinh cũng xin bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Vũ Đức Nghiệu - Người đã hướng dẫn Nghiên cứu sinh hoàn thành luận án đúng thời gian theo quy định và đạt được kết quả cao Thầy không những tận tình chỉ bảo, định hướng cho Nghiên cứu sinh trong suốt thời gian học tập mà còn luôn động viên, khích lệ, hết lòng chia sẻ với Nghiên cứu sinh những vất vả, khó khăn để

có được kết quả như hôm nay

Nghiên cứu sinh cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới GS.TS Lê Quang Thiêm, GS.TS Đinh Văn Đức, PSG.TS Hà Quang Năng, PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn, PGS.TS Phạm Hùng Việt , Ban biên tập tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, Ban biên tập tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống đã giúp đỡ Nghiên cứu sinh rất nhiều trong thời gian hoàn thành luận án

Nghiên cứu sinh xin chân trọng cảm ơn Đảng ủy, Hội đồng Quản trị, Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Khoa Ngoại ngữ, Khoa Khoa học cơ bản, các thế hệ Giảng viên, Giáo viên cùng tất cả bạn bè, đồng nghiệp Trường Đại học Lương Thế Vinh

đã luôn cổ vũ, khuyến khích, tạo mọi điều kiện để Nghiên cứu sinh sớm hoàn thành luận án

Cuối cùng lời cảm ơn đặc biệt nhất, Nghiên cứu sinh xin dành cho những người thân yêu nhất trong gia đình, những người bằng tâm huyết và lao động đã giúp đỡ Nghiên cứu sinh cả về vật chất lẫn tinh thần để hoành thành luận án

Hà Nội, ngày 28 tháng 09 năm 2017

Trần Quốc Việt

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả đƣợc nêu trong luận án là trung thực, chƣa từng đƣợc ai công bố ở đâu và trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận án

Trần Quốc Việt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

LỜI CAM ĐOAN 2

MỤC LỤC 3

MỞ ĐẦU 8

1 Lí do lựa chọn đề tài 8

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 8

3 Mục đích nghiên cứu của luận án 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 9

5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận án 11

7 Bố cục của luận án 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 12

1.1 Thuật ngữ và nghiên cứu thuật ngữ 12

1.1.1 Khái niệm thuật ngữ 12

1.1.2 Phân biệt thuật ngữ với một số đơn vị liên quan 18

1.1.3 Đặc điểm của thuật ngữ và những yêu cầu chung khi xây dựng thuật ngữ 23

1.1.3.1 Đặc điểm của thuật ngữ 23

1.1.3.2 Những yêu cầu chung khi xây dựng thuật ngữ 28

1.1.4 Thuật ngữ kinh tế thương mại 35

1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ kinh tế thương mại ở Anh và Việt Nam 37

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ kinh tế thương mại ở Anh 37

1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ kinh tế thương mại ở Việt Nam 39

1.3 Về vấn đề lí luận dịch thuật 47

Trang 6

1.3.1 Khái niệm dịch 47

1.3.2 Lí thuyết dịch 48

1.3.3 Vấn đề và khái niệm tương đương dịch thuật 50

1.4 Hướng nghiên cứu của luận án 54

1.5 Tiểu kết 54

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 56

2.1 Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 56

2.1.1 Về khái niệm thành tố cấu tạo thuật ngữ 56

2.1.2 Phân tích thuật ngữ KTTM tiếng Anh theo thành tố cấu tạo 57

2.1.2.1 Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo một thành tố 57

2.1.2.2 Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo hai thành tố 60

2.1.2.3 Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo ba thành tố 61

2.1.2.4 Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo bốn thành tố 62

2.1.2.5 Thuật ngữ KTTM tiếng Anh có cấu tạo năm thành tố 62

2.1.3 So sánh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt về mặt thành tố cấu tạo và mô hình cấu tạo 63

2.1.3.1 So sánh sự phân bố theo số thành tố cấu tạo của thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 63

2.1.3.2 So sánh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt về mặt mô hình cấu tạo 65

2.2 Đặc điểm định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 80

2.2.1 Khái niệm định danh 80

2.2.2 Quá trình định danh 81

2.2.3 Phương thức định danh 82

2.2.4 Các kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 83

Trang 7

2.2.4.1 Kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo phạm

trù ngữ nghĩa 83

2.2.4.2 Kiểu định danh thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo phương thức biểu thị 84

2.2.5 Phân loại các nhóm thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo phạm trù nội dung ngữ nghĩa 85

2.2.5.1 Thuật ngữ chỉ phương tiện cơ quan thanh toán 86

2.2.5.2 Thuật ngữ chỉ địa điểm, cơ quan nơi diễn ra hoạt động KTTM 93

2.2.5.3 Thuật ngữ chỉ chứng từ 98

2.2.5.4 Thuật ngữ chỉ thuế 100

2.2.5.5 Thuật ngữ chỉ chủ thể (người) tham gia hoạt động KTTM 101

2.2.5.6 Thuật ngữ chỉ hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa trong hoạt động KTTM 103

2.3 Tiểu kết 107

CHƯƠNG 3 : ĐÁNH GIÁ VỀ TƯƠNG ĐƯƠNG DỊCH THUẬT THUẬT NGỮ KINH TẾ THƯƠNG MẠI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 109

3.1 Dịch thuật và tương đương dịch thuật 109

3.2 Các kiểu tương đương dịch và tương đương dịch thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 110

3.2.1 Các kiểu tương đương dịch thuật ngữ 110

3.2.2 Các kiểu tương đương dịch thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 113

3.2.2.1 Phân loại thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo cấp độ tổ chức từ - ngữ 113

3.2.2.2 Phân loại tương đương thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo số lượng thuật ngữ tương đương 116

3.3 Các tiêu chí đảm bảo tương đương của sản phẩm dịch thuật 118

3.4 Định hướng chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt 119

3.4.1 Lí thuyết về chuẩn và chuẩn hóa 119

Trang 8

3.4.2 Một số yêu cầu chung cho việc chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong quá trình dịch 121 3.4.3 Thực trạng thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong quá trình chuyển dịch 125 3.4.4 Một số nguyên tắc chuẩn hóa thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong quá trình dịch 128 3.4.5 Một số điều cần tránh trong việc xây dựng thuật ngữ KTTM tiếng Việt mới 136

3.5 Tiểu kết 137 KẾT LUẬN 139 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143 TÀI LIỆU THAM KHẢO 144 PHỤ LỤC………

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.2.1: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có một thành tố 59

Bảng 2.1.2.2: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có hai thành tố 61

Bảng 2.1.2.3: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có ba thành tố 62

Bảng 2.1.2.4: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có bốn thành tố 62

Bảng 2.1.2.5: Bảng số liệu thuật ngữ KTTM tiếng Anh có năm thành tố 63

Bảng 2.1.3.1: Sự phân bố thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việttheo số thành tố cấu tạo 63

Bảng 2.1.3.2: Các mô hình cấu tạo thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 79

Bảng 2.2.5: Thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 106

theo phạm trù nội dung ngữ nghĩa 106

Bảng 3.2.2.1: Kiểu tương đương thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt 115

theo cấp độ tổ chức từ - ngữ 115

Bảng 3.2.2.2: Kiểu tương đương thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt theo số lượng thuật ngữ tương đương 117

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Trải qua ba mươi năm phát triển và hội nhập, Việt Nam đã và đang từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế thông qua các mối quan hệ kinh tế thương mại (KTTM), văn hóa, xã hội và giáo dục Từ khi trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007, nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển biến rõ rệt Trên con đường hội nhập và phát triển đó, nhu cầu về tiếng Anh trong KTTM, trong các mối quan hệ kinh tế quốc tế ngày

càng rộng mở và phổ biến Do đó, nhu cầu dạy và học tiếng Anh, đặc biệt là hệ

thuật ngữ KTTM tiếng Anh chuyên ngành ở nước ta, đang đặt ra càng ngày càng nhiều hơn, mạnh hơn và yêu cầu của công việc này cũng càng ngày càng cao hơn

Tuy nhiên, hệ thuật ngữ KTTM trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt nói chung cho đến nay vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, chưa có bất

kỳ một công trình nghiên cứu nào về hệ thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt một cách đầy đủ, toàn diện Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong đàm phán, trao đổi, kí kết hợp đồng, trong các mối quan hệ KTTM giữa Việt Nam, Anh và các nước khác; cũng như trong việc dịch các tài liệu liên quan đến chuyên môn

Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề dịch thuật, phiên chuyển các thuật ngữ KTTM cũng như việc biên soạn các nguồn học liệu chuyên ngành KTTM để phát triển, tiến tới chuẩn hóa các thuật ngữ KTTM cũng đã đặt ra một cách sát sườn và cần kíp

Nhằm góp phần giải quyết các vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài

“Thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh và các biểu thức tương đương của chúng

trong tiếng Việt" Đề tài này cần thiết để góp phần xây dựng một hệ thống thuật ngữ

KTTM tiếng Việt chuẩn, đáp ứng yêu cầu của một nền kinh tế, khoa học đang trên con đường phát triển mạnh mẽ

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh và

Trang 11

các khái niệm và các đối tượng chuyên môn được sử dụng trong lĩnh vực KTTM, bao gồm các hoạt động giao dịch về hàng hóa, hoạt động buôn bán, phương thức thanh toán, các điều khoản trong kí kết hợp đồng

Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn ở các thuật ngữ đang sử dụng trong lĩnh vực KTTM được phản ánh trên các quyển từ điển, sách, báo và giáo trình giảng dạy về KTTM hiện nay Do vậy, các vấn đề lịch sử phát triển, quá trình vận động và biến đổi của hệ thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt qua các giai đoạn lịch sử không nằm trong phạm vi nghiên cứu của luận án Bên cạnh đó, chúng tôi cũng sẽ không đề cập đến tên của các tổ chức quốc tế, tên các cơ quan, tên nhân vật lịch sử và tên nhãn hàng có liên quan đến KTTM

3 Mục đích nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu các đặc điểm của thuật ngữ KTTM tiếng Anh, đối chiếu với các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng Việt, phát hiện những đồng nhất và khác biệt, đánh giá những vấn đề về dịch thuật thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt để góp phần nghiên cứu chuẩn hoá hệ thuật ngữ KTTM tiếng Việt Mặt khác, nghiên cứu của chúng tôi cũng góp phần phục vụ cho công việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành KTTM nói chung và biên soạn từ điển chuyên ngành KTTM nói riêng

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Nhằm đạt được mục đích nêu trên đây, luận án giải quyết những nhiệm vụ sau:

 Hệ thống hóa những quan điểm lí luận về thuật ngữ, thuật ngữ KTTM ở Anh

và Việt Nam, qua đó xác lập cơ sở lí luận cho luận án

 Khảo sát hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh về đặc điểm cấu tạo

 Đối chiếu, phát hiện sự tương đồng và khác biệt của hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh với các thuật ngữ KTTM trong tiếng Việt

 Đánh giá những vấn đề về dịch thuật thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 12

 Đề xuất tiêu chuẩn để chuẩn hoá hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Việt trong khi dịch, làm từ điển

5 Nguồn ngữ liệu và phương pháp nghiên cứu

a) Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu nghiên cứu để thực hiện luận án của chúng tôi chủ yếu dựa vào 6 cuốn từ điển đối chiếu thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt và một số giáo trình đang được giảng dạy tại các cơ sở giáo dục trong nước, bao gồm:

 Trần Văn Chánh (1996), Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Thống Kê, Hà Nội

 Hoàng Văn Châu, Đỗ An Chi (2003), Từ điển kinh tế Quốc tế Anh - Việt, NXB Thống Kê, Hà Nội

 Nguyễn Hữu Dụ (2009), Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Giao thông Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh

 Đức Minh (2005), Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Thống Kê,

Hà Nội

 Minh Trang, Phương Thúy (2008), Từ điển kinh tế - thương mại ứng dụng

Anh - Việt, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội

 Đỗ Hữu Vinh (2009), Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Giao thông Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh

 Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số giáo trình: Market Leader, Economics in English và một số văn bản KTTM song ngữ Anh – Việt

b) Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nghiên cứu các nội dung trong luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp, thủ pháp và thao tác làm việc như sau:

 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp: Dùng để phân tích, mô tả cấu trúc của các thuật ngữ (thành tố cấu tạo, quan hệ ngữ pháp trong các thuật ngữ), từ đó phân loại các thuật ngữ này nhằm xác định các mô hình (dạng) cấu tạo thuật ngữ KTTM trong tiếng Anh, tiếng Việt và đối chiếu các mô hình (dạng) cấu tạo của

Trang 13

 Phương pháp so sánh đối chiếu: Dùng để phát hiện những điểm tương đồng

và khác biệt giữa hệ thống KTTM tiếng Anh và tiếng Việt, lấy đó làm cơ sở cho các đánh giá hữu quan

 Ứng dung lí thuyết dịch trong phân tích: Nhằm đánh giá mặt dịch thuật các thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt, qua đó đề xuất những góp ý cụ thể về chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ này của tiếng Việt

 Các thủ pháp nghiên cứu định lượng: Được sử dụng trong tính toán số liệu thống kê, để phân tích đối chiếu hai hệ thống thuật ngữ KTTM tiếng Anh và tiếng Việt về mặt định lượng

b) Đóng góp về mặt thực tiễn

 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần phục vụ cho công tác biên soạn

và chỉnh lí tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành KTTM nói chung

và từ điển chuyên ngành KTTM nói riêng Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng dạy và học tiếng Anh KTTM tại các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo và các phụ lục kèm theo

Luận án gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2 Đặc điểm thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Chương 3 Đánh giá về tương đương dịch thuật các thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Thuật ngữ và nghiên cứu thuật ngữ

1.1.1 Khái niệm thuật ngữ

Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học, thuật ngữ ra đời và phát triển đóng góp một vai trò to lớn trong ngành ngôn ngữ học hiện nay Tuy nhiên, nhiều nhà ngôn ngữ học trong nước cũng như trên thế giới khi đề cập về thuật ngữ thì lại không đưa ra được một định nghĩa rõ ràng, cụ thể Chính vì thế mà cho đến nay có một số lượng vô cùng lớn định nghĩa về thuật ngữ, như theo cách nói ví von của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Reformatskij, A thì điều này có thể viết được cả một cuốn

sách

Hệ quả là đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập, nghiên cứu thuật ngữ Có quan điểm gắn định nghĩa thuật ngữ với chức năng, lại có quan điểm

gắn định nghĩa thuật ngữ với khái niệm

a) Trước hết, chúng ta cùng xem xét một số quan điểm của các nhà thuật ngữ học coi thuật ngữ có liên quan với chức năng của nó Trong tài liệu nghiên cứu về thuật ngữ, Vinokur, G [1939] viết "thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt đó là chức năng gọi tên" [theo Nguyễn Thị Bích

Hà, 2000: 10]

Nhiều tác giả cũng có cùng quan điểm tương tự như Vinokur, G trong đó phải kể đến Vinogradov, V [1947], Reformatskij, А [1978] Reformatskij, А [1978: 80] viết "trước hết từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu giản đơn, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học" Với quan niệm của tác giả này thì thuật ngữ chỉ là "những từ chuyên môn"

b) Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác thì lại xác định định nghĩa thuật ngữ trong mối quan hệ với khái niệm Quan điểm định nghĩa thuật ngữ gắn với khái

niệm mà nó biểu thị trước hết phải kể đến các học giả trong tác phẩm Đại từ điển

Trang 15

một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hóa, hạn định hóa về sự vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho phạm vi chuyên môn đó" [theo Nguyễn Thị Bích Hà, 2000: 11]

Năm 1966, Akhmanova, O giải thích thêm "thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kĩ thuật ) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn ) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn" [theo Nguyễn Thị Bích Hà, 2000: 11]

Những học giả này lại còn nhấn mạnh vấn đề khái niệm thuật ngữ và định nghĩa thuật ngữ Chẳng hạn như Gerd, A [1978] định nghĩa "thuật ngữ là từ mà một định nghĩa nào đó kèm theo nó một cách nhân tạo, có ý thức Định nghĩa này có liên quan với một khái niệm khoa học nào đó" Còn Danhilenco, V [1977] lại nhấn mạnh vấn đề khái niệm và định nghĩa thuật ngữ với từ thông thường như sau "thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu tương ứng với một khái niệm", cũng theo ông thì "bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân" Những định nghĩa về thuật ngữ của các nhà ngôn ngữ học Nga dù ở trường phái coi thuật ngữ có liên quan với chức năng hay coi thuật ngữ có liên hệ với khái niệm thì chung nhất về cơ bản các quan điểm này đều có những điểm giống nhau đó là giúp cho chúng ta thấy được hình thức cấu tạo thuật ngữ, mối liên hệ giữa thuật ngữ với chức năng, thuật ngữ với khái niệm, và phạm vi sử dụng của chúng [theo Nguyễn Thị Bích Hà, 2000: 11]

Trong những năm gần đây, các tổ chức nghiên cứu, các nhà ngôn ngữ học phương Tây cũng hết sức quan tâm đến công tác nghiên cứu lĩnh vực thuật ngữ và những quan điểm về thuật ngữ mà các tổ chức, học giả này nêu ra ngày một đầy đủ hơn, đa diện hơn

Từ điển Marrian Webster Dictionary [1964: 1801] định nghĩa thuật ngữ là

"các từ, cụm từ đặc biệt hoặc kĩ thuật được dùng trong những lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc những lĩnh vực chuyên biệt"

Trang 16

Khi đề cập đến thuật ngữ, Thorsten, T [1999: 8] cho rằng "thuật ngữ là kí hiệu ngôn ngữ cho một khái niệm Kí hiệu ngôn ngữ này không phải nhất thiết là từ đơn, mà nó cũng có thể là một nhóm từ, một cụm từ cố định được sử dụng để mô tả một khái niệm chuyên môn Đối với một số nhà thuật ngữ học, thuật ngữ chỉ là thành ngữ gồm một từ Điều này dẫn tới nhiều khó khăn bởi vì một số ngôn ngữ không chỉ hình thành thuật ngữ bằng cách ghép từ mà còn bằng cách kết hợp từ Ưu điểm của việc sử dụng thuật ngữ - chỉ là một từ, là ở chỗ nhận ra ranh giới giữa chúng một cách dễ dàng hơn Hầu hết các nhà thuật ngữ chấp nhận các cụm từ ngắn bao gồm hai hoặc ba từ là thuật ngữ"

Dafydd, G [1999] cũng cho rằng "thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm và biểu đạt của nó (bao gồm các kí tự và các đơn vị cụm từ) trong lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt" [theo Vương Thị Thu Minh, 2005: 13]

Bàn về định nghĩa thuật ngữ, Hornby, A [2000: 767] khẳng định "thuật ngữ

là một từ hoặc cụm từ được sử dụng như tên của một cái gì đó đặc biệt có liên hệ với một loại ngôn ngữ"

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO [2000: 1] viết "thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm của một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt" Còn theo Tổ chức UNESCO [2005: 3] cho rằng "thuật ngữ là những khái niệm khoa học được miêu tả trong một lĩnh vực cụ thể"

Tìm hiểu về thuật ngữ, Erhard, O và Gerhard, B [2003: 12] cũng đưa ra định nghĩa về thuật ngữ Theo các ông "thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi một lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình cấu trúc đại diện cho tập hợp các khái niệm Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học mới và bình luận

về các ngôn bản khác"

Trong mấy chục năm gần đây, ở Việt Nam các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến việc nghiên cứu về thuật ngữ, những định nghĩa về

Trang 17

Năm 1960, Nguyễn Văn Tu viết "thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kĩ thuật, chính trị ngoại giao, nghệ thuật và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên" [tr 176] Tiếp sau đó, năm 1968, ông lại đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn "thuật ngữ là những từ và những từ tổ cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hóa nào đó" [tr 114]

Trong Giáo trình tiếng Việt, Đỗ Hữu Châu [1962: 167] nhấn mạnh rằng

"thuật ngữ trước hết không phải chỉ là phương tiện dùng để biểu thị khái niệm khoa học mà còn chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học nhất định, thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong một phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kĩ thuật nào đấy Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hóa học, toán học, thương mại, ngoại giao đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kĩ thuật nhất định" Tuy nhiên phải đến năm 1981, Đỗ Hữu Châu mới phát biểu chi tiết và cụ thể về thuật ngữ "thuật ngữ khoa học kĩ thuật bao gồm các đơn vị từ vựng được dùng để biểu thị những sự vật, hiện tượng, hoạt động, đặc điểm trong những ngành kĩ thuật công nghiệp và trong những ngành khoa học tự nhiên hay xã hội Khác với từ thông thường, thuật ngữ có trong thực tế, đối tượng của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng Ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng là những khái niệm về các sự vật, hiện tượng này đúng như chúng tồn tại trong

tư duy Về mặt nội dung, ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt thực tế khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ Mỗi thuật ngữ như là một cái nhãn dán vào đối tượng này (cùng với khái niệm về chúng) tạo nên chính nội dung của nó" [tr 221- 222]

Theo Lưu Vân Lăng [1971: 48] thì "thuật ngữ là một bộ phận ngôn ngữ (từ vựng) biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính khoa học, kĩ thuật, chính trị, tức là những lĩnh vực của hiện thực xã hội đã được tổ chức một cách có trí tuệ Thuật ngữ có tính chất hệ thống hoàn toàn dựa trên sự đối lập giữa các kí hiệu Sự

Trang 18

đối lập này về hình thức thể hiện ở chỗ khác nhau về âm thanh hoặc về trật tự sắp xếp các yếu tố"

Trong bài báo bàn về Sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt,

Hoàng Văn Hành [1983: 26] viết "thuật ngữ là những từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ"

Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang và Vương Toàn [1986: 64] đã tổng hợp các quan điểm về thuật ngữ và đưa ra phạm vi sử dụng của thuật ngữ, đồng thời nêu quan điểm của các ông, theo đó thuật ngữ "là từ hoặc cụm từ biểu đạt chính xác khái niệm của một lĩnh vực chuyên môn nào đó Thuật ngữ nằm trong hệ thống từ vựng chung của ngôn ngữ, nhưng chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ cụ thể, nghĩa là nó chỉ dùng trong ngôn ngữ chuyên môn Toàn bộ các thuật ngữ của một lĩnh vực sản xuất, hoạt động tri thức tạo nên một lớp từ đặc biệt tạo thành một hệ thống thuật ngữ"

Trong luận án tiến sĩ ngữ văn về Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt, đặc điểm

và cấu tạo thuật ngữ, Vũ Quang Hào [1991: 4] cho rằng thuật ngữ bao gồm những

nội dung sau đây:

"1 Thuật ngữ là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái niệm) và với vai trò này nó là đơn vị cơ bản của mọi khoa học

2 Thuật ngữ là hình thức ngôn ngữ (là cái vỏ), là tên gọi của một khái niệm khoa học

3 Thuật ngữ là toàn bộ khái niệm trong một lĩnh vực khoa học

4 Thuật ngữ là toàn bộ tên gọi của một khoa học"

Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt tái bản năm 2010, Nguyễn Thiện

Giáp đã đưa ra một khái niệm đề cập đầy đủ những đặc trưng, yêu cầu cần và đủ của thuật ngữ Ông khẳng định "thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ

Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm

Trang 19

Trong luận án tiến sĩ ngữ văn về Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách

phiên chuyển sang tiếng Việt, Vương Thị Thu Minh [2005: 15] quan niệm rằng

"thuật ngữ là những từ, cụm từ cố định, biểu thị các khái niệm, sự vật, hiện tượng thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau Thuật ngữ là bộ phận hạt nhân trong ngôn ngữ khoa học của một thứ tiếng"

Năm 2009, trong giáo trình Cơ sở ngôn ngữ và tiếng Việt của Mai Ngọc Chừ,

Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến đã đưa ra định nghĩa thuật ngữ trong đó nhấn mạnh thuật ngữ luôn luôn biểu thị khái niệm xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành đó, cuối cùng các ông viết "thuật ngữ là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học chuyên môn" [tr 219]

Khác với các tác giả khác khi nghiên cứu về thuật ngữ, Hà Quang Năng [2009: 94] lại cho rằng "thuật ngữ là từ ngữ dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một ngành khoa học nhất định"

Gần đây, sau một thời gian nghiên cứu và tổng kết về thuật ngữ, Nguyễn Đức Tồn [2010: 2] đã đưa ra một định nghĩa khá ngắn gọn, đầy đủ và súc tích "thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện một khái niệm hoặc một đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hoặc chuyên môn"

Như vậy, dù có khác nhau về chiều hướng hay quan điểm trong nghiên cứu

về thuật ngữ, nhưng hầu hết các định nghĩa hay khái niệm mà các tác giả trên đưa ra đều có điểm chung đó là mối quan hệ giữa thuật ngữ với khái niệm, hay thuật ngữ với chức năng mà nó biểu thị, biểu đạt Dựa trên quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về thuật ngữ, chúng ta có thể thấy hai điểm giống nhau quan trọng có liên quan đến thuật ngữ; đó là:

Về nội dung: thuật ngữ biểu thị chính xác các khái niệm hoặc đối tượng chuyên môn của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định

Về hình thức: thuật ngữ được cấu tạo là những từ hoặc từ ghép

Trang 20

Từ đó, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra được những thiếu sót hay những ưu điểm trong quan niệm của các nhà nghiên cứu đi trước về vấn đề này Sau khi tìm hiểu và cân nhắc để đưa ra một khái niệm thích hợp; vậy quan điểm của chúng tôi

về thuật ngữ trong luận án này được hiểu là những từ hay cụm từ cố định dùng để biểu đạt các khái niệm, sự vật, hiện tượng hay đối tượng trong một ngành khoa học hay trong một lĩnh vực chuyên môn nhất định

1.1.2 Phân biệt thuật ngữ với một số đơn vị liên quan

a) Phân biệt thuật ngữ và danh pháp

Vinokur, G [1939] được xem như là nhà khoa học đầu tiên nêu ra sự khác

biệt giữa thuật ngữ và danh pháp Trong tác phẩm Về thuật ngữ kỹ thuật, ông viết

"danh pháp chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lí luận hoạt động với những sự vật này" [theo Ngyễn Thị Bích Hà, 2000: 13]

Năm 1978, Reformatskij, A viết "hệ thuật ngữ trước hết gắn với một hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể, còn danh pháp chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó và danh pháp không có quan hệ trực tiếp với khái niệm khoa học" [tr 47]

Nguyễn Như Ý [1998: 235] chỉ rõ "những quy tắc đặt tên trong một ngành khoa học hay tổng thể những tên gọi biểu đạt những sự vật đơn nhất, không gắn với

hệ thống khái niệm của một khoa học cụ thể chỉ dán nhãn cho đối tượng của nó"

Danh pháp, do vậy, chỉ được dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng khoa học nhiều hơn là gắn với khái niệm Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến [2009: 220] khẳng định "danh pháp và thuật ngữ không phải là một Danh pháp được dùng để chỉ toàn bộ tên gọi cụ thể của các đối tượng được dùng trong từng ngành khoa học mà thôi Chẳng hạn, nếu ta có một danh sách về tên các loài thực vật ở Viêt Nam: xoan, muồng, bằng lăng, lát hoa, lát vân, lim, đinh, sến, táu,

Trang 21

Nguyễn Thiện Giáp [2010: 270] cho rằng "danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong mỗi ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học nào đó mà thôi" Ví dụ, trong địa lí học, các từ như biển, sông, núi, hồ, sa mạc… là những thuật ngữ, còn tên biển, tên sông, tên núi, tên hồ, tên sa mạc cụ thể như: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Vị, núi Ba Vì, núi Ngăm, hồ Vị Xuyên, hồ Núi Cốc, thác Bạc, vịnh Hạ Long… là danh pháp Cũng như vậy, trong thực vật học, các từ cây, hoa, lá, cành là những thuật ngữ, còn tên các cây, các loại hoa, loại quả cụ thể là danh pháp

Trong lĩnh vực KTTM các từ như: khoản vay, lợi nhuận, cổ phiếu, tín dụng, lợi tức hàng năm, giá thành dự kiến, điều khoản giảm trừ, ngân hàng, quỹ, tiền là những thuật ngữ, còn Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Đầu tư và phát triển châu Á, Ngân hàng Hàng Hải, Quỹ tiền tệ thế giới, Quỹ dự trữ liên bang Mỹ, Đô la Mỹ, bảng Anh là những danh pháp Cũng theo ông thì "thuật ngữ có thể được cấu tạo dựa trên cơ sở các từ hoặc hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ

ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng Còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ (Vitamin A, Vitamin B ), là một chuỗi các con số (MA 65, TU 104, MIG 21, B 40 ) hay bất kì các tên gọi võ đoán nào" [tr 270]

Tuy nhiên, Hà Quang Năng [2010: 3] lại cho rằng giữa thuật ngữ và danh pháp cũng có điểm giống nhau duy nhất đó là "tính độc lập của danh pháp và thuật ngữ khỏi ngữ cảnh và tính chất trung hòa về tu từ của chúng, tính mục đích rõ ràng trong sử dụng, tính bền vững và khả năng tái hiện trong lời nói" Superanskaja, A [1976: 7] còn cho rằng "thực ra giữa thuật ngữ và danh pháp không có ranh giới tuyệt đối, hai lớp từ vựng này tác động qua lại lẫn nhau: Danh pháp trong những trường hợp nhất định, có thể chuyển thành thuật ngữ khi nó rơi vào trong hệ thống

từ vựng khác" Như vậy, danh pháp là đặt tên một cách có hệ thống mà không phải bất cứ lĩnh vực khoa học nào cũng có những tiêu chuẩn đặt danh pháp khoa học giống nhau, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực lại có nhu cầu riêng

Trang 22

b) Phân biệt thuật ngữ với từ thông thường

Khi đề cập đến thuật ngữ với từ thông thường, hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều khẳng định rằng giữa chúng không có sự khác biệt lớn [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005: 640; Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến, 2009: 220; Nguyễn Thiện Giáp, 2010: 275 - 276] Điều này được thể hiện rõ nét qua một số đặc điểm sau:

Một là, so với từ thông thường "ở các thuật ngữ không xảy ra sự chia cắt

thực tế khách quan theo cách riêng của ngôn ngữ Mỗi thuật ngữ như một "cái nhãn" dán vào đối tượng này (cùng với khái niệm về chúng) tạo nên chính nội dung của nó" [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005: 640] Cùng với quan điểm trên, khi

so sánh từ thông thường và thuật ngữ Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến [2009: 220] viết "so với từ thông thường thì thuật ngữ có ngoại diên hẹp hơn nhưng nội hàm sâu hơn và được biểu thị một cách lôgic chặt chẽ hơn Trong thuật ngữ không bao giờ biểu thị những sắc thái phụ như thái độ đánh giá của người nói, xấu nghĩa hay đẹp nghĩa, khen hay chê, kính trọng hay xem thường Từ ngữ bình thường cũng biểu thị khái niệm nhưng đó là "khái niệm đời thường chứ không hẳn là khái niệm khoa học, có tính nghiêm ngặt của nó" Vì ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa một cách lôgic khái niệm, chứa đựng nội dung thuần lí trí, nên thuật ngữ không bao giờ biểu thị những sắc thái phụ như thái độ đánh giá của người nói, không có đồng nghĩa, trái nghĩa và các biến thể phong cách chức năng như từ thông thường Điều này có nghĩa là "khác với từ thông thường, thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật của thuật ngữ trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng có thực trong thực

tế, đối tượng của ngành kĩ thuật và ngành khoa học tương ứng" [Đỗ Hữu Châu và

Đỗ Việt Hùng, 2005: 639]

Hai là, người sử dụng từ thông thường đều là những người nói ngôn ngữ,

còn những người sử dụng thuật ngữ là những nhà chuyên môn trong một lĩnh vực

cụ thể Từ thông thường được sử dụng trong những tình huống khác nhau, trong khi việc sử dụng thuật ngữ thuộc một lĩnh vực chuyên ngành lại chỉ giới hạn trong lĩnh

Trang 23

thường lại đều chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung, do đó giữa từ thông thường và thuật ngữ luôn có quan hệ qua lại lẫn nhau, từ thông thường có thể trở thành thuật ngữ và ngược lại "thuật ngữ thực sự là một bộ phận không thể thiếu được trong vốn từ vựng của mỗi ngôn ngữ Thuật ngữ được cấu tạo nên nhờ các phương thức cấu tạo từ của mỗi ngôn ngữ Do được cấu tạo từ các chất liệu ngôn ngữ tạo thành hệ thống từ vựng của ngôn ngữ đó nên thuật ngữ không tách biệt hẳn với các từ ngữ thông thường Tuy nhiên chúng chỉ tồn tại như một thuật ngữ trong ngôn ngữ của các ngành khoa học, ra khỏi hệ thống đó chúng lại là những đơn vị thông thường" [Hà Quang Năng, 2009: 94] Khi

đề cập đến phạm vi sử dụng của thuật ngữ và từ thông thường, Nguyễn Thiện Giáp [2010: 276] khẳng định "khi từ toàn dân trở thành thuật ngữ, ý nghĩa của nó được hạn chế lại, có tính chất chuyên môn hóa: tính chất hình tượng và giá trị gợi cảm mất đi, những mối liên hệ mới xuất hiện" và ngược lại khi các thuật ngữ trở thành từ thông thường thì "các thuật ngữ mở rộng phạm vi hoạt động của mình"

c) Phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp

Khi phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp, chúng ta có thể dễ nhận thấy một

số điểm giống và khác nhau giữa hai lớp từ vựng này:

Thứ nhất: Từ nghề nghiệp thường là những đơn vị từ vựng được sử dụng để

phục vụ cho các hoạt động sản xuất và giữa những người cùng làm trong một ngành sản xuất cụ thể tại một vùng dân cư, một địa điểm sản xuất thủ công nào đó Do đó, các từ nghề nghiệp đều "có đặc tính cơ bản là ý nghĩa biểu vật trùng với sự vật, hiện tượng thực có trong ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm đồng nhất với các khái niệm

về sự vật, hiện tượng đó" [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005: 648 - 649] Cũng giống như thuật ngữ, từ nghề nghiệp "là những tên gọi duy nhất của hiện tượng trong thực tế, và đồng thời lớp từ này dễ dàng có thể chuyển hóa thành từ thông thường khi những khái niệm của chúng được sử dụng phổ biến trong xã hội, làm giàu thêm vốn từ vựng chung của dân tộc" [Nguyễn Thiện Giáp, 1985: 303]

Thứ hai: Từ nghề nghiệp và thuật ngữ cũng có sự khác nhau trong phạm vi

sử dụng giữa chúng Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản

Trang 24

phẩm lao động và quá trình sản xuất của một ngành nghề nào đó trong xã hội, những từ ngữ này thường chỉ được những người trong cùng ngành nghề đó sử dụng

do đó từ nghề nghiệp cũng là lớp từ vựng được sử dụng rất hạn chế Về điểm này,

Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng [2005: 649] cho rằng "vì gắn với những hoạt động sản xuất hoặc ngành nghề cụ thể, trực tiếp, cho nên từ vựng nghề nghiệp có tính cụ thể, gợi hình ảnh cao Mức độ khái quát của các ý nghĩa biểu niệm của chúng cũng

thấp hơn thuật ngữ" Trong tác phẩm Về tính biểu cảm trong thuật ngữ, Prohorova,

N [1978: 132 - 133] viết "thuật ngữ chuyên môn gồm thuật ngữ những ngành khác nhau trong khoa học, các thuật ngữ - định nghĩa, xác định ra khái niệm, nghĩa những thuật ngữ này không mang bất cứ thành tố xúc cảm và biểu cảm nào Từ nghề nghiệp là những hiện thực của các ngành sản xuất khác nhau, của các nghề thủ công có thể mang sắc thái xúc cảm và biểu cảm" Do đó, Kapanadze, L [1978: 14] khẳng định rằng sự khác biệt quan trọng giữa từ nghề nghiệp và thuật ngữ đó là

"từ nghề nghiệp không bao giờ tạo thành một hệ thống kép kín, đó là những đơn vị rời rạc không liên kết với nhau"

Thông qua việc điểm lại các quan niệm của một số tác giả về phân biệt với

từ nghề nghiệp, chúng tôi nhận thấy, hầu như tất cả đều có chung nhận định: từ nghề nghiệp là những từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề nào đó

Và mỗi người, đứng từ các góc độ khác nhau, lại đưa ra những đặc điểm khác nhau của từ nghề nghiệp Phải nói rằng, nếu chỉ dừng lại ở nhận định từ nghề nghiệp là những từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề nào đó (như một số quan niệm) thì sẽ rất khó phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác Chẳng hạn, muốn phân biệt từ nghề nghiệp của những người làm nghiên cứu khoa học của ngành vật lý với thuật ngữ khoa học vật lý thì dùng tiêu chí gì? chẳng lẽ từ ngữ sử dụng trong giao tiếp hàng ngày (khẩu ngữ) là từ nghề nghiệp còn từ ngữ sử dụng trong nghiên cứu (phong cách viết) là thuật ngữ khoa học sao?

Lí do đề cập đến khái niệm "thuật ngữ" và ''từ nghề nghiệp''; bởi vì, chúng tôi cần xác định giới hạn của hai lớp từ này cũng như mối quan hệ của chúng một cách

Trang 25

chung chung Chẳng hạn, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của những nhà nghiên cứu kinh tế học hay ngôn ngữ học… không phải là từ nghề nghiệp bởi không thể nói rằng cùng một lớp từ, khi ở phong cách nói là từ nghề nghiệp, còn ở phong cách viết là thuật ngữ khoa học Từ nghề nghiệp là khái niệm chỉ dùng để gọi tên những

từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề thủ công truyền thống ở một địa phương cụ thể, mang đặc trưng của địa phương đó

Ngoài những điểm giống và khác nhau trên, nhìn chung, giữa từ nghề nghiệp

và thuật ngữ còn đang diễn ra sự xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau "khá nhiều từ nghề nghiệp vốn lưu hành trong những ngành nghề thủ công, khi ngành nghề đó được công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chúng được chuyển thẳng lên thành thuật ngữ Mặt khác, các ngành nghề thủ công nghiệp đang tồn tại song song với các ngành sản xuất công nghiệp tương ứng lại sẵn sàng chấp nhận các thuật ngữ khoa học, biến chúng thành từ nghề nghiệp để hiện đại hóa mình" [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005: 649]

Nói cách khác, từ nghề nghiệp là một bộ phận hữu cơ của hệ thống thuật ngữ khoa học trong cùng một chuyên môn Đây chính là điều làm nên sự gần gũi của từ nghề nghiệp và thuật ngữ khoa học

1.1.3 Đặc điểm của thuật ngữ và những yêu cầu chung khi xây dựng thuật ngữ

Việc xây dựng, thống nhất thuật ngữ khoa học liên quan chặt chẽ tới việc xây dựng các tiêu chuẩn và yêu cầu của thuật ngữ Tuy nhiên, từ trước đến nay không phải tất cả các nhà khoa học đều có quan niệm giống nhau về chúng của thuật ngữ

1.1.3.1 Đặc điểm của thuật ngữ

Ở Nga, Reformatskij, A [1978: 80] là nhà nghiên cứu về ngôn ngữ đầu tiên đưa ra yêu cầu của một thuật ngữ cần phải có đó là "tính đơn nghĩa, tính hệ thống và không có từ đồng nghĩa"

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO nhấn mạnh thuật ngữ cần phải có 12 tiêu chuẩn chính sau:

Trang 26

1 Thuật ngữ phải liên hệ trực tiếp với khái niệm Thuật ngữ phải biểu đạt khái niệm một cách rõ ràng

2 Thuật ngữ phải có tính hệ thống về mặt từ vựng, phải tuân theo cấu trúc

từ vựng hiện hành, nếu từ vựng có nguồn gốc nước ngoài thì việc phiên âm phải thống nhất

3 Thuật ngữ phải tuân theo các nguyên tắc chung về hình thành thuật ngữ của mỗi một ngôn ngữ, các trật tự từ ghép và các cụm từ

4 Thuật ngữ nên tạo ra khả năng sản sinh thuật ngữ mới dựa trên các phụ

7 Không nên có các thuật ngữ đồng nghĩa hoàn toàn hoặc tương đối

8 Thuật ngữ không nên có các biến thể hình thái học

9 Thuật ngữ không được có từ đồng âm dị nghĩa

10 Thuật ngữ phải đơn nghĩa

11 Nội dung thuật ngữ phải chính xác, không được trùng về nghĩa với các thuật ngữ khác

12 Ngữ nghĩa của thuật ngữ nên độc lập với ngữ cảnh" [theo Sager, 1990:

89 - 90]

Trong tác phẩm The importance of terminology, Dafydd, G [1999] cho rằng

"thuật ngữ kĩ thuật phải chính xác, chỉ chứa những đặc điểm cần thiết và nên có một hình thái ngữ pháp phù hợp với khái niệm… thuật ngữ kĩ thuật không nên thay đổi

vì bất cứ một lí do nào thuật ngữ kĩ thuật lí tưởng chỉ nên biểu hiện một khái niệm, trong trường hợp chưa rõ, phải chỉ ra sự thay đổi" [theo Vương Thị Thu Minh, 2005: 12]

Trang 27

Học giả đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về thuật ngữ là Hoàng Xuân Hãn

Trong tác phẩm Danh từ khoa học xuất bản năm 1942, ông đã nêu ra một cách khá

đầy đủ và có hệ thống các tiêu chuẩn đối với một thuật ngữ là:

"1 Mỗi ý phải có một danh từ để gọi

2 Danh từ ấy phải dùng riêng về ý ấy

3 Mỗi ý đừng có nhiều danh từ

4 Danh từ phải làm cho dễ nhớ đến ý

5 Danh từ trong các môn phải thành một toàn thể duy nhất và liên lạc

6 Danh từ phải gọn

7 Danh từ phải có âm hưởng Việt Nam

8 Danh từ phải đặt theo lối các tiếng thường và phải có tính chất quốc gia" [tr 49]

Năm 1964 tại Hà Nội, trong bản báo cáo tại hội nghị bàn về việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ do Ủy ban Khoa học Nhà nước tổ chức mặc dù chưa có sự đồng thuận hoàn toàn giữa các quan điểm về tiêu chí xây dựng thuật ngữ khoa học, nhưng hầu hết các đại biểu đều nhất trí về một số các đặc điểm của thuật ngữ; đó là:

Nguyễn Văn Tu [1968: 114] viết "đặc điểm của thuật ngữ là một từ chỉ có một nghĩa, không có từ đồng nghĩa, không có sắc thái tình cảm, có thể có tính chất quốc tế (tùy từng ngành)"

Trang 28

Theo quan điểm của Lê Văn Thới [1973: 5] khi đề cập đến một danh từ khoa học:

"Về nội dung:

1 Danh từ phải chỉ riêng một ý mà thôi

2 Một ý không nên có nhiều danh từ

3 Danh từ trong một bộ môn phải nằm trong một hệ thống chung

4 Danh từ phải gợi đến ý chính

Về hình thức:

1 Danh từ phải đặt ngắn gọn chừng nào tốt chừng ấy

2 Danh từ phải nằm trong hệ thống chung của ngôn ngữ"

Năm 1977, Lưu Vân Lăng khẳng định lại "Theo chúng tôi, thuật ngữ tiếng Việt phải:

Quan điểm này lại được Lưu Vân Lăng [1987: 19] thể hiện rõ nét trong luận

án phó tiến sĩ bảo vệ năm 1987, khi cho rằng trong quá trình xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học cho dân tộc mình chúng ta nên dựa vào phương châm, tiêu chuẩn hay là những yêu cầu cơ bản của thuật ngữ cần có là: 1) tính chính xác, 2) tính hệ thống, 3) tính chất ngôn ngữ dân tộc hay tính bản ngữ, 4) tính ngắn gọn (cô đọng), và 5) tính dễ dùng

Hồng Dân [1979: 118] viết "những đặc điểm trên (là một khối chặt chẽ hoàn chỉnh, ít có khả năng biến dạng ổn định về cấu tạo, ngắn gọn, có sức sinh sản) tạo ra cho thuật ngữ tính đơn vị định danh, tính chất này đảm bảo cho thuật ngữ có khả

Trang 29

biểu thị", cũng theo ông "thuật ngữ phải ngắn gọn, số lượng yếu tố cũng như số lượng các quan hệ ngữ pháp trong cấu tạo nội bộ của một thuật ngữ càng ít bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu"

Trái với các quan điểm của các nhà nghiên cứu về thuật ngữ, Nguyễn Hỹ Hậu [2001: 81 - 87] lại cho rằng một thuật ngữ khoa học cần phải có 9 đặc điểm cụ thể:

"a) Một khái niệm phải có một thuật ngữ phản ánh đúng ý

i) Việc kế thừa, phê chuẩn"

Tuy nhiên, theo ông thì thuật ngữ cần có các tiêu chuẩn như: chính xác, có hệ thống, ngắn gọn, dễ dùng, đúng về ngữ học cũng như tính chất ngôn ngữ dân tộc

Năm 2009, Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến cũng đưa

ra một số đặc điểm cấu tạo của từ dựa trên khái niệm của thuật ngữ Theo các ông thuật ngữ cần phải có ba đặc điểm cơ bản: 1) Tính chính xác, 2) Tính hệ thống, và 3) Tính quốc tế [tr 220 - 221]

Cùng với quan điểm của tác giả trên, trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt,

Nguyễn Thiện Giáp [2010: 271 - 274] cũng đã nêu ra những đặc điểm cơ bản của thuật ngữ gồm: a) Tính chính xác; b) Tính hệ thống; và c) Tính quốc tế

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng các nhà khoa học hay các học giả nghiên cứu về thuật ngữ ở trong nước cũng như ở nước ngoài đều nhất trí và nhấn mạnh một số những điểm cơ bản:

Một là, thuật ngữ phải có tính khoa học hay tính chính xác

Hai là, thuật ngữ phải có tính hệ thống

Trang 30

Ba là, thuật ngữ phải có tính quốc tế

Bốn là, thuật ngữ phải ngắn gọn, phải có tính dân tộc và tính dễ sử dụng Dựa trên những phân tích về các đặc điểm của thuật ngữ, dưới đây chúng tôi

sẽ đi sâu vào phân tích, tìm hiểu kỹ hơn những yêu cầu chung của thuật ngữ để từ

đó thấy rõ được tầm quan trọng của từng tiêu chuẩn này Đây cũng chính là tiền đề

cơ sở chính để chúng tôi xem xét, đánh giá việc xây dựng thuật ngữ KTTM sau này

1.1.3.2 Những yêu cầu chung khi xây dựng thuật ngữ

 Tính chính xác

Muốn có tính khoa học thì trước hết thuật ngữ phải đảm bảo được sự chính xác, rõ ràng trong khoa học Có nghĩa là thuật ngữ phải phản ánh đúng nội dung, khái niệm khoa học một cách tường minh nếu không sẽ gây ra sự nhầm lẫn Mức chính xác khoa học yêu cầu thuật ngữ thể hiện đúng nội dung khái niệm khoa học một cách rõ ràng, rành mạch Một thuật ngữ chính xác tuyệt đối không làm cho người nghe hiểu sai hoặc nhầm lẫn từ khái niệm này sang khái niệm khác Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến [2009: 220] khẳng định "chính xác ở đây là chính xác và chuẩn tắc về nội dung và khái niệm do thuật ngữ biểu thị Nội dung đó có thay đổi hay không, thay đổi như thế nào là tùy thuộc vào sự phát triển, khám phá của ngành khoa học" Chúng ta có thể dễ nhận thấy một ví dụ điển hình trong trường hợp một thuật ngữ dùng để chỉ nhiều khái niệm khác nhau: danh

từ vừa là noun (danh từ), lại vừa là term (thuật ngữ) Chính tình trạng này đã làm

cho thuật ngữ mất đi tính chính xác khoa học chặt chẽ

Tuy nhiên cũng không thể đòi hỏi thuật ngữ phản ánh một cách đầy đủ mọi phương diện, mọi khía cạnh của khái niệm, thậm chí có trường hợp cá biệt thuật ngữ chỉ có thể phản ánh một đặc trưng không cơ bản, nhưng đó là đặc trưng đủ để khu biệt thuật ngữ ấy với thuật ngữ khác Chẳng hạn như, trong sinh vật học đó là

các thuật ngữ: graine là hột và grain là hạt Do vậy, về nguyên tắc để tạo ra một

thuật ngữ chính xác cần cố gắng sao cho "mỗi khái niệm khoa học chỉ có một thuật ngữ và ngược lại mỗi thuật ngữ cũng chỉ có một khái niệm khoa học điển hình mà

Trang 31

Theo Vương Thị Thu Minh [2005: 23] trong tiếng Anh thuật ngữ y học thì

các từ shin (xương ống chân) và shank (xương ống cẳng) không thể phân biệt được

là xương trong hay xương ngoài của hai xương ống cẳng chân, trong khi các từ tibia (xương chày) và fibula (xương mác) có tính chuyên biệt hơn, phân biệt rõ ràng hơn,

không gây nhầm lẫn nên đã được chọn Những hiện tượng này không có trong ngôn

ngữ thông thường

Vì định danh là chức năng chủ yếu, duy nhất của thuật ngữ cho nên tính chính xác về ngữ nghĩa làm những yếu tố biểu thái hầu như không xuất hiện ở thuật ngữ Do vậy mà chúng ta không thể tìm thấy yếu tố biểu thái trong hệ thống thuật ngữ Muốn đảm bảo mức độ chính xác của thuật ngữ thì khi đặt thuật ngữ sao cho trong cùng một ngành khoa học, một lĩnh vực chuyên môn nên chỉ có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại mỗi thuật ngữ chỉ được dùng để chỉ một khái niệm tránh những hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa "tính chính xác về ngữ nghĩa cũng loại trừ những hiện tượng đồng nghĩa Một thuật ngữ khoa học tốt nhất là chỉ biểu thị một khái niệm và một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học (đúng hoặc sai) ứng với

nó mà thôi" [Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng, 2005: 641]

Theo Nguyễn Thị Kim Thanh [2005: 12] phải điều chỉnh làm sao cho thuật ngữ có "một nghĩa và không có nét nghĩa nào trùng với nghĩa của một thuật ngữ khác trong hay ngoài hệ thống"

Lẽ đương nhiên chúng ta không thể tuyệt đối hóa được nguyên tắc này.Vì một lí do nào đó mà trong trường hợp do sự phát triển của khoa học mà một thuật ngữ cũ vẫn song song tồn tại một thời gian với thuật ngữ mới Bên cạnh đó, thuật ngữ nên có tính một nghĩa, vì hiện tượng một nghĩa cũng như việc tránh đồng nghĩa

là yêu cầu đối với các thuật ngữ cùng thuộc một ngành khoa học, còn giữa các ngành khoa học khác nhau việc đòi hỏi các thuật ngữ như vậy e là không hoàn toàn

có tính thuyết phục cho lắm Ngoài ra, khi trong cùng một ngành khoa học mà sẵn

có những khái niệm về cơ bản giống nhau thì nên thống nhất dùng chung một thuật

ngữ Chẳng hạn, trong ngôn ngữ học từ function được dùng là chức năng, trong sinh

Trang 32

vật học cũng nên dùng thuật ngữ ấy mà không nên dùng thuật ngữ ấy với nghĩa là

chức phận dễ gây hiểu nhầm là chức vụ con người Hoặc structure cũng nên dùng

thống nhất trong toàn ngành là cấu trúc [Nguyễn Thị Bích Hà, 2000: 18]

 Tính hệ thống

Thuật ngữ không những phải đảm bảo tính chính xác, mà còn đảm bảo tính

hệ thống Khi đề cập đến tính chất hệ thống của thuật ngữ khoa học, chúng ta cần phải chú ý đến cả hai khía cạnh: hệ thống khái niệm (xét về nội dung) và hệ thống

kí hiệu (xét về hình thức) Ngôn ngữ là cái vỏ của tư duy, vì tư duy con người chỉ có thể thực hiện thông qua ngôn ngữ, mà ngôn ngữ chỉ là những kí hiệu ghi lại kết quả công tác trừu tượng của tư duy Những kí hiệu đó lại nằm trong một hệ thống nhất định, làm cho ngôn ngữ trở thành một hệ thống tín hiệu mà từ là những tín hiệu Tuy nhiên, nhiều nhà ngôn ngữ học lại có những cách hiểu khác nhau về vấn đề hệ thống tín hiệu của thuật ngữ khoa học Budagov, R [1978: 3 - 36] cho rằng "thuật ngữ có tính hệ thống hai mặt: một mặt nó là yếu tố của hệ thống thuật ngữ, mặt khác, nó lại là yếu tố của hệ thống ngôn ngữ" Trong khi đó, Danhilenco, V [1977] thừa nhận trong tính hệ thống có bản chất phân loại [theo Nguyễn Thị Bích Hà, 2000: 18] Còn Reformatskij, A [1978: 51] lại cho rằng thuật ngữ có tính hệ thống

về mặt cấu tạo

Trong tác phẩm Ngôn ngữ học và tiếng Việt, Lưu Vân Lăng [1998: 427]

khẳng định rằng trước khi đặt hệ thống kí hiệu (về hình thức) cần phải xác định cho được hệ thống khái niệm (về nội dung) của nó Không thể tách rời từng khái niệm ra

để đặt thuật ngữ, mà phải hình dung, xác định vị trí của nó trong toàn bộ hệ thống khái niệm Trong khoa học, các khái niệm được tổ chức thành hệ thống, có tầng, có lớp, có bậc hẳn hoi, có khái niệm hạt nhân làm trung tâm tập hợp, nhiều khái niệm khác nhau thành từng trường khái niệm, thành từng nhóm, từng cụm Mỗi trường khái niệm có thể được ví như là một hệ thống con Mỗi hệ thống con lại có một khái niệm hạt nhân và khái niệm hạt nhân này lại có thể tập hợp nhiều khái niệm hạt nhân khác (cũng tựa hồ như hệ thống hành tinh trong vũ trụ) Do đó, một hệ thống

Trang 33

hạn như, khoa học gồm khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Trong khoa học tự nhiên có toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học Hóa học có hóa học hữu cơ và hóa học vô cơ Cũng giống như các thuật ngữ trong ngôn ngữ học được cấu tạo bằng yếu tố âm: âm vị, âm tố, âm tiết, âm đoạn, âm hưởng, âm điệu, âm vực Rõ ràng, tính hệ thống có thể làm tăng thêm khả năng sinh sản của thuật ngữ và mỗi thuật ngữ không chỉ tồn tại trong một hệ thống thuật ngữ của một ngành khoa học nào đó mà còn tồn tại trong hệ thống ngôn ngữ chung "thuật ngữ không chỉ hiểu đơn giản là từ và ngữ chuyên môn dùng trong khoa học kỹ thuật, công nghệ, dịch vụ

mà đó là hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học, là tri thức khoa học công nghệ, là trí tuệ dân tộc và nhân loại" [Lê Quang Thiêm, 2001: 8]

Bàn về thực tại cụ thể của ngôn ngữ, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Thuỵ Sĩ Saussure, F [2005: 149] viết "cũng giống như một bàn cờ, toàn bộ nằm trong thế phối hợp của những quân cờ khác nhau, ngôn ngữ có tính chất hệ thống hoàn toàn dựa trên sự đối lập của những đơn vị cụ thể của nó" Còn theo ý kiến của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến [2009: 221] cho biết "mỗi thuật ngữ đều nằm trong một hệ thống nhất định Trước hết là phải đảm bảo tính hệ thống về mặt nội dung trong toàn bộ hệ thống các khái niệm của từng ngành Từ tính hệ thống về nội dung, dẫn đến tính hệ thống về hình thức biểu hiện, và ngược lại tính

hệ thống về hình thức lại giúp chúng ta biểu thị được và nhận ra được tính hệ thống trong nội dung" Do đó, muốn đảm bảo tính chính xác, rõ ràng trong khoa học thì nhất định mỗi khái niệm phải có một thuật ngữ Khi tìm một thuật ngữ nào đó để biểu đạt một khái niệm, chúng ta không thể tách khái niệm đó ra đứng một mình riêng lẻ, mà phải xem xét khái niệm đó trong cái thế đối lập với những khái niệm khác, phải đặt nó nằm trong toàn bộ hệ thống

Những điều trên đây nêu rõ tầm quan trọng của tính hệ thống của thuật ngữ Nếu đạt được mức chính xác mà còn có tính hệ thống thì hệ thuật ngữ càng có đủ tính chất khoa học Tuy nhiên, vấn đề hệ thống, một mặt cần tránh xa xu hướng bạ đâu đặt đó, làm cho thuật ngữ rời rạc, lộn xộn, thiếu tính hệ thống Nhưng mặt khác, nếu chỉ có biết tính hệ thống, quá nhấn mạnh vào tính hệ thống mà bỏ qua hoặc xem

Trang 34

nhẹ các tiêu chuẩn khác như một số quan niệm lại là sai lầm lớn [Lưu Vân Lăng, 1987: 40]

 Tính quốc tế

Trong thực tế, thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ biểu đạt các khái niệm khoa học và khả năng vay mượn thuật ngữ nước ngoài cũng tạo điều kiện làm tăng thêm vốn từ vựng của tiếng Việt Theo Nguyễn Như Ý [1996: 117] thuật ngữ là

"những bộ phận từ vựng biểu đạt các khái niệm khoa học, là thuộc tính của khoa học" Còn Nguyễn Thiện Giáp [2010: 274] khẳng định thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt biểu hiện những khái niệm khoa học chung cho những người nói các tiếng khác nhau Thông thường, khi đề cập đến tính quốc tế của thuật ngữ, chúng ta chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự như nhau, chúng xuất phát một gốc chung Rõ ràng nhất là những thuật ngữ của một thứ tiếng nước ngoài nào đó được sao phỏng để tạo thành các thuật ngữ trong những ngôn ngữ khác nhau cả về nguồn gốc lẫn loại hình, chẳng hạn như các thứ tiếng Anh - Đức - Pháp - Nga và tiếng Việt

Ví dụ:

1 Tiếng Việt: Điện thoại, điện tín, điện tử Tiếng Anh: Telephone

Tiếng Đức: Telefon Tiếng Pháp: Téléphone Tiếng Nga: телефон

2 Tiếng Việt: Giá cả Tiếng Anh: Price Tiếng Đức: Preis Tiếng Pháp: Prix Tiếng Nga: цена Tuy nhiên, khi xét đến tính quốc tế chúng ta không thể không chú ý đến hai mặt nổi bật đó là: mặt nội dung và mặt hình thức Về mặt nội dung của thuật ngữ là

Trang 35

chung của nhân loại Về mặt hình thức, tính quốc tế được xét ở mặt ngữ âm và các thành tố liên quan cấu tạo nên thuật ngữ Hầu hết các thuật ngữ có tính thống nhất

về hình thức thường dùng các thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau Ví dụ như ở các khu vực Châu Âu thì sử dụng tiếng Latin, khu vực Bắc Phi, Tiểu Á, Cận Đông thì

sử dụng tiếng Arập, khu vực Ấn Độ với tiếng Pali, Sanscrit, khu vực Đông Á, Đông Bắc Á, Trung Quốc với tiếng Hán Trong bất cứ ngôn ngữ nào, số lượng các thuật ngữ như oxy, acid, gien, angorit, radio… được sử dụng với các hình thức phiên âm khác nhau rất lớn, xuất hiện ở hàng loạt các loại ngôn ngữ Thậm chí, có những ngành khoa học như y học, dược học, sinh vật học, thực vật học ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều sử dụng tiếng Latin mà không cần phải phiên chuyển âm hay chuyển tự chúng sang hình thức ngữ âm hay hình thức văn tự phù hợp với riêng từng ngôn ngữ

Theo Hà Quang Năng [2009: 95] thì khác với các đơn vị từ vựng thông thường khác "thuật ngữ bao giờ cũng có tính quốc tế vì những khái niệm của các ngành khoa học công nghệ là tài sản tri thức chung của toàn nhân loại" và "tính quốc tế của thuật ngữ giúp cho sự truyền bá khoa học, kĩ thuật và công nghệ được nhanh chóng và hiệu quả hơn, đó là một đặc trưng thiết yếu của thuật ngữ"

Thực ra, do sự đa dạng về lịch sử và sự phong phú về văn hóa giữa các ngôn ngữ, cho nên về hình thức cấu tạo, tính quốc tế của thuật ngữ chỉ mang tính chất tương đối, rất khó có thể đạt được ở mức cao "chúng ta không thể đòi hỏi sự quốc tế hóa hoàn toàn về mặt hình thức của các thuật ngữ được, vì mỗi ngôn ngữ có những thuộc tính riêng của nó Có nên chăng là chỉ phấn đấu đạt tới tính quốc tế ở cách xây dựng cấu trúc của mỗi thuật ngữ mà thôi" [Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu và Hoàng Trọng Phiến, 2009: 221] Nếu một thuật ngữ có tính quốc tế về hình thức và nội dung là điều rất tốt Tuy nhiên, trong thực tế điều này là rất khó bởi vì các ngôn ngữ khác loại hình có thể rất khác nhau về cấu trúc hình thức Do đó, tính quốc tế ở đây là một trong những yêu cầu quan trọng, bắt buộc và chủ yếu được đòi hỏi ở mặt nội dung

 Tính ngắn gọn, dân tộc và dễ hiểu

Trang 36

Thuật ngữ không những phải chính xác, có hệ thống, mà còn phải ngắn gọn,

dễ hiểu Đứng trên khía cạnh thông tin mà nói, thuật ngữ đưa ra mà cồng kềnh, dài dòng, hay phức tạp thì lượng thông tin của nó đưa ra không được cao, thiếu chính xác, đôi khi còn làm lu mờ hoặc thậm chí phá vỡ tính chất thuật ngữ của nó Do đó, muốn kết cấu của thuật ngữ được chặt chẽ, đảm bảo tính chất định danh của thuật ngữ thì về mặt hình thức đòi hỏi thuật ngữ phải ngắn gọn, cô đọng Đỗ Hữu Châu

và Đỗ Việt Hùng [2005: 642] cũng nhấn mạnh về những yêu cầu mà mặt hình thức của thuật ngữ cần phải có đó là: Thứ nhất, các hình vị tạo nên chúng phải cố gắng, phù hợp đến mức tối đa với khái niệm mà chúng biểu thị; thứ hai, không được chứa đựng những hình vị dư thừa có thể gây hiểu lầm; thứ ba, các hình vị cần phải được biến đổi, phát triển cho phù hợp với sự phát triển của các khái niệm khoa học; thứ

tư, phải sử dụng các kiểu cấu tạo phù hợp với tính trí tuệ của thuật ngữ

Tiếng Việt là loại hình ngôn ngữ đơn lập phân tiết tính, từ tiếng Việt phần lớn chỉ bao gồm một hoặc hai âm tiết nên yêu cầu ngắn gọn đối với thuật ngữ không những phù hợp với quy luật tiết kiệm trong ngôn ngữ, mà còn phù hợp với đặc điểm của tiếng Việt, phù hợp với tâm lí chung của người sử dụng Điển hình như trong

ngành y, thuật ngữ "thrombosis (Chứng huyết khối: chỉ sự hình thành một cục máu

trong mạch máu hoặc trong tim làm tắc nghẽn sự tuần hoàn) được sử dụng để thay

thế "formation of a clot in the heart or a blood vessel which obstructs the

circulation" Từ Hy lạp: thrombosis có nghĩa là cục, khối, hòn, đóng khối, đóng lại,

chứng huyết khối Sự hình thành một cục máu trong mạch máu hoặc trong tim làm nghẽn sự tuần hoàn" [Nguyễn Hỹ Hậu, 2001: 81]

Thuật ngữ khoa học, dù là ở bất cứ lĩnh vực khoa học hay chuyên môn nào thì nhất thiết phải là một bộ phận của ngôn ngữ dân tộc Do đó, thuật ngữ phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc, mang tính bản ngữ Cùng chung với quan điểm trên Lưu Vân Lăng [1977: 58] cũng chỉ ra rằng "thuật ngữ, dù thuộc lĩnh vực khoa học, chuyên môn nào, cũng nhất thiết phải là một bộ phận của từ ngữ dân tộc Do đó thuật ngữ phải có tính chất dân tộc, phải mang màu sắc ngôn ngữ dân tộc" Theo Vũ

Trang 37

khai thác, tận dụng và phát triển những từ thông thường sẵn có trong tiếng nói của dân tộc, cụ thể:

Về mặt từ vựng: Bản chất của các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ phải mang tính dân tộc cao (quen dùng)

Về mặt ngữ âm, văn tự: hình thức âm hưởng của các yếu tố thuật ngữ được thể hiện ra ở cách nói, cách đọc, cách phát âm cũng như cách viết sao cho phù hợp với đặc điểm của tiếng nói, chữ viết của dân tộc

Về mặt ngữ pháp: Cách sắp xếp các yếu tố trong thuật ngữ phải theo cú pháp dân tộc

Như vậy, trên thực tế các nhà khoa học trong và ngoài nước đều có chung quan điểm khi bàn về những đặc điểm hay đưa ra tiêu chuẩn (hay là các yêu cầu) đối với việc xây dựng thuật ngữ Các tiêu chuẩn đó không chỉ bao gồm những đặc điểm về nội dung của thuật ngữ mà còn bao gồm cả những đặc điểm về các mặt từ vựng, ngữ pháp (trật tự ghép các yếu tố tạo nên thuật ngữ), mặt ngữ âm, mặt chữ viết (sao cho thuật ngữ đặt ra dễ nhớ, dễ hiểu, dễ viết và dễ đọc)

1.1.4 Thuật ngữ kinh tế thương mại

Tên gọi "thuật ngữ KTTM" còn tương đối mới mẻ, được dùng để chỉ hệ thống thuật ngữ thuộc lĩnh vực KTTM, hiện chưa được nghiên cứu sâu về mặt lí luận và thực tiễn ở nước ta Bản thân tên gọi KTTM ở đây được hiểu như một loại hình, một tiểu loại kinh tế, cũng như kinh tế nông nghiệp, kinh tế du lịch, kinh tế biển chứ không phải là “kinh tế và thương mại”

Thuật ngữ KTTM tiếng Việt chưa được tập hợp thành một cuốn từ điển thuật ngữ riêng cùng với định nghĩa của nó như trong tiếng Anh, mà hầu hết chỉ xuất hiện chủ yếu cùng với các thuật ngữ của một số lĩnh vực liên quan như: kinh tế, tài chính, ngân hàng dưới dạng đối chiếu giữa tiếng Việt với các thứ tiếng khác như:

Nga, Anh, Pháp, Nhật Chẳng hạn như: Từ điển ngoại thương Anh – Việt – Nga –

Pháp của nhóm tác giả Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu và Vũ Hoài

Thủy (1985); Từ điển ngoại thương Nhật – Anh – Việt của tác giả Nguyễn Văn Hảo (1992); Từ điển tài chính ngân hàng do PGS.TS Lê Văn Tề (1996); Từ điển thương

Trang 38

mại Anh - Việt hiện đại của tác giả Lê Kim Thùy (2002); Từ điển Thuật ngữ chuyên ngành: Thị trường - Kỳ hạn - Tài chính - Hàng hóa - Chứng khoán Anh – Việt của

tác giả Trần Vũ Khanh (2003) Những cuốn từ điển này là công cụ, ngữ liệu hữu ích

và tiện lợi cho các nhà ngôn ngữ trong lĩnh vực nghiên cứu, dịch thuật, cho các giảng viên, sinh viên thuộc các khoa KTTM trong các trường đại học, cho các doanh nhân làm việc trong lĩnh vực kinh doanh, hoạt động doanh nghiệp…

Vậy khái niệm thuật ngữ KTTM được hiểu như thế nào?

Trong luận án tiến sĩ ngữ văn về So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế - thương

mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Thị Bích Hà [2000: 28],

khái niệm KTTM được hiểu là "những từ và cụm từ cố định gọi tên các khái niệm,

đối tượng được dùng trong lĩnh vực thương mại gồm có mua bán hàng hóa cùng các

tổ chức và các loại dịch vụ liên quan"

Từ điển giải thích Collins Concise Dictionary của Sinclair, J [2001: 298] thì

khái niệm KTTM "là một hoạt động bao gồm tất cả các hình thức mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ"

Bộ luật thương mại do Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ thứ 7 khóa XI năm 2005 giải thích khái niệm KTTM là

"hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác"

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê [2012: 1.249] cho rằng KTTM được hiểu

theo nghĩa cùng với "thương nghiệp" là "ngành kinh tế quốc dân thực hiện lưu thông hàng hóa bằng mua bán"

Trong luận án của chúng tôi, thuật ngữ KTTM được hiểu là những từ, cụm từ

cố định biểu đạt các khái niệm, đối tượng được sử dụng trong lĩnh vực KTTM

Trang 39

1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ kinh tế thương mại ở Anh và Việt Nam

1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ kinh tế thương mại ở Anh

Nước Anh là một trong những trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị và giáo dục có ảnh hưởng lớn nhất châu Âu nói riêng và thế giới nói chung Từ thế kỷ 15, người Anh đã quan hệ, tiếp xúc với nhiều dân tộc trên khắp thế giới Ngay từ năm

1552, Richard, H đã cho xuất bản cuốn từ điển giải nghĩa đầu tiên của tiếng Anh, gồm 26.000 từ Tuy nhiên, trong từ điển này số lượng thuật ngữ KTTM xuất hiện rất ít Mãi đến năm 1604, cuốn từ điển này mới được xuất bản một cách rộng rãi và với số lượng thuật ngữ KTTM được nâng lên rất nhiều

Từ thế kỷ 18 và 19 ở Anh, các nhà kinh tế học cũng như các nhà ngôn ngữ học cũng đã dành nhiều thời gian quan tâm đến vấn đề nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ KTTM; ví dụ: Smith, A với bài The Wealth of Nations (1776); Mill, J với bài Commerce defended (1808); Torrens, R với bài An essay on Money and

Paper currency (1821); và Mill, J S với bài The Distribution of Gains of commerce among the Commercial World (1829) Tuy nhiên, họ cũng chỉ mới đề cập các khái

niệm thuật ngữ KTTM thông qua các ấn phẩm như sách, báo, bài luận, chưa tập trung nghiên cứu kĩ thuật ngữ KTTM và cũng không xuất bản các quyển từ điển chuyên biệt

Đến đầu thế kỷ 20, sự tiến bộ như vũ bão của khoa học, kĩ thuật đòi hỏi không chỉ việc đặt tên cho những khái niệm mới mà còn bởi sự xuất hiện của các khái niệm thuật ngữ khoa học đã được đưa vào sử dụng một cách đại trà Chính điều này đã dẫn đến một thực tế là thuật ngữ khoa học đã bắt đầu được xem xét nghiên cứu theo những lĩnh vực chuyên môn nhất định Người đầu tiên có công trong việc xây dựng hệ thống thuật ngữ ở Anh là Holmstrom, J với hàng loạt tác phẩm nổi

tiếng như: How translators can help in improving scientific terminology (1951);

How translators can contribute to improving scientific terminology (1955); Bibliography of Interlingual Scientific and Technical Dictionaries (1956) Các nhà

Trang 40

ngôn ngữ học hiện đại đều nhất trí ghi nhận sự đóng góp quan trọng của ông và xem ông là một trong những cha đẻ về thuật ngữ, đã có công rất lớn trong việc truyền bá

và phổ biến thuật ngữ trên quy mô thế giới

Để xúc tiến công tác nghiên cứu thuật ngữ, Hoàng gia Anh đã cho thành lập Hội đồng Anh năm 1934, Viện nghiên cứu ngôn ngữ năm 1960 Năm 1989, Anh trở thành thành viên của Viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế với trên 100 thành viên của hơn 40 nước trên toàn thế giới Hằng năm dưới sự cho phép của Hội đồng Anh, Hiệp hội thuật ngữ Anh đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề xây dựng, chuẩn hóa thuật ngữ Đây cũng là diễn đàn cho các nhà khoa học, các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước có cơ hội được trao đổi, thảo luận các quan điểm về thuật ngữ

Ở Anh quốc, đối với thuật ngữ nói chung, các vấn đề sau đây thường đã được quan tâm hoặc ưu tiên nghiên cứu nhiều:

- Quan điểm về thuật ngữ

- Định nghĩa hay khái niệm về thuật ngữ

- Các tiêu chí để phân biệt hệ thống thuật ngữ với hệ thống từ vựng

- Các tiêu chuẩn để đánh giá thuật ngữ và cấu tạo thuật ngữ

- Tiêu chuẩn để đánh giá, thẩm định hay kiểm tra thuật ngữ trong cả nước trên các phương diện khoa học

Đối với thuật ngữ KTTM tiếng Anh, từ trước tới nay, các nhà ngôn ngữ học Anh tập trung chủ yếu vào những vấn đề như lí luận về thuật ngữ, xây dựng thuật ngữ ứng dụng, biên soạn từ điển và thiết kế giáo trình giảng dạy Trong phạm vi nguồn ngữ liệu mà chúng tôi đã khảo sát được, chúng tôi thấy việc nghiên cứu thuật ngữ KTTM ở Anh được tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau:

(1) Lịch sử phát triển và nguồn gốc hình thành của thuật ngữ KTTM

(2) Mối quan hệ giữa thuật ngữ KTTM tiếng Anh với những ngôn ngữ khác thông qua nguồn gốc, chẳng hạn như việc sử dụng các yếu tố gốc từ Latin, Hi lạp, Đức, Ý, Pháp

Ngày đăng: 11/11/2017, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hoài Ân (2005), "Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ", Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (2), tr.3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương đương dịch thuật và tương đương thuật ngữ
Tác giả: Lê Hoài Ân
Năm: 2005
2. Belakhov L. (1976), Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ, Nhƣ Ý dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề tiêu chuẩn hóa Nhà nước về thuật ngữ
Tác giả: Belakhov L
Năm: 1976
3. Budagov R. A. (1978), Thuật ngữ học và kí hiệu học, Tuấn Tài dịch, Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ học và kí hiệu học
Tác giả: Budagov R. A
Năm: 1978
4. Trần Văn Chánh (1996), Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế - thương mại Anh - Việt
Tác giả: Trần Văn Chánh
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 1996
5. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình tiếng Việt, T2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1962
6. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1981
7. Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng (2005), Đỗ Hữu Châu tuyển tập: Từ vựng - Ngữ nghĩa, T1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Hữu Châu tuyển tập: Từ vựng - Ngữ nghĩa
Tác giả: Đỗ Hữu Châu và Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
8. Hoàng Văn Châu, Đỗ An Chi (2003), Từ điển kinh tế Quốc tế Anh - Việt, NXB Thống Kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển kinh tế Quốc tế Anh - Việt
Tác giả: Hoàng Văn Châu, Đỗ An Chi
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2003
9. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2009), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
10. Nguyễn Hồng Cổn (2001), "Về vấn đề tương đương trong dịch thuật", Tạp chí Ngôn ngữ (11), tr.51-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề tương đương trong dịch thuật
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2001
11. Nguyễn Hữu Dụ (2009), Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt, NXB Giao thông Vận tải, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ kinh tế - thương mại Anh - Việt
Tác giả: Nguyễn Hữu Dụ
Nhà XB: NXB Giao thông Vận tải
Năm: 2009
12. Nguyễn Văn Dũng (2015), "Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của định danh: Khảo sát các từ ngữ chỉ phương tiện, công cụ nghề nghiệp biển ở Thanh Hóa", Tạp chí Ngôn ngữ & Đời sống (6), tr.58-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngôn ngữ - văn hóa của định danh: Khảo sát các từ ngữ chỉ phương tiện, công cụ nghề nghiệp biển ở Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 2015
13. Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy (1985), Từ điển ngoại thương Anh - Việt - Nga - Pháp, NXB Đại học Ngoại thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển ngoại thương Anh - Việt - Nga - Pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dy, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài Thủy
Nhà XB: NXB Đại học Ngoại thương
Năm: 1985
14. Đào Trọng Đủ (1960), Ca dao toán học, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao toán học
Tác giả: Đào Trọng Đủ
Năm: 1960
15. Quách Thị Gấm (2014), Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt
Tác giả: Quách Thị Gấm
Năm: 2014
16. Gerd A. C. (1978), Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ, Lê Ngọc Văn dịch, Viện ngôn ngữ học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa thuật ngữ và các kiểu loại ý nghĩa thuật ngữ
Tác giả: Gerd A. C
Năm: 1978
17. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
18. Nguyễn Thiện Giáp (2010), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
19. Nguyễn Thị Bích Hà (2000), So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế - thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế - thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hà
Năm: 2000
20. Lê Thanh Hà (2014), Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Viện Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu thuật ngữ du lịch Việt - Anh
Tác giả: Lê Thanh Hà
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w