Một mặt, nó giúp hiểu rõ những đặc trưng và quan hệ mang tính hệ thống về cơ cấu nghĩa, về sự phát triển nghĩa của các từ ngữ trong từ vựng và cách định danh sự vật hiện tượng của ngôn n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa của một ngôn ngữ, việc tìm
hiểu các từ ngữ được liên kết với nhau nhờ có một hoặc một số thành tố nghĩa chung đã được xem là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt Một mặt,
nó giúp hiểu rõ những đặc trưng và quan hệ mang tính hệ thống về cơ cấu nghĩa, về sự phát triển nghĩa của các từ ngữ trong từ vựng và cách định danh
sự vật hiện tượng của ngôn ngữ đang xét Mặt khác nó giúp hiểu được phần nào quan hệ giữa hiện thực và lối tri nhận, cách liên tưởng của cộng đồng người nói, qua việc định danh hay sự ghi nhận bằng phương tiện ngôn ngữ, đối với các sự vật hiện tượng của hiện thực này
1.2 Việt Nam có nhiều tôn giáo khác nhau, trong đó Phật giáo là tôn
giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến đời sống xã hội từ nhiều thế kỉ Phật giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến Việt Nam, trong hàng nghìn năm lịch sử Theo thống kê của Ban tôn giáo Chính phủ Việt Nam, năm 2009 có 6.802.318 tín đồ Phật giáo Ảnh hưởng của những văn bản mang tinh thần Phật giáo cần được nghiên cứu để thấy giá trị và đánh giá được sức lan tỏa của tinh thần ấy
ra cộng đồng Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ nhà Phật trong tiếng Việt sẽ góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về vị trí, vai trò Phật giáo trong đời sống hàng ngày và trong văn học nghệ thuật cũng như sự ảnh hưởng ngôn ngữ nhà Phật trong tiếng Việt
1.3 Ca từ Trịnh Công Sơn là một hiện tượng đặc biệt: hội tụ và truyền
tải những tinh hoa của Phật giáo - triết học - nghệ thuật, của chân - thiện - mĩ trong đất nước có hàng triệu tín đồ Phật giáo
Tinh thần trong các ca từ của Trịnh Công Sơn đã xóa nhòa các ranh giới mang tính xã hội giữa các nhóm cộng đồng trong xã hội Người nghe
Trang 2nhạc Trịnh rất đông đảo về số lượng, có sự kế tiếp bởi nhiều thế hệ và đặc biệt
là ít bị chi phối bởi ranh giới trình độ văn hóa, dân trí hay thị hiếu thẩm mĩ.Sáng tác của ông đến được với mọi đối tượng người nghe trong và ngoàinước Có thể khẳng định, một trong những nội dung tinh thần hiện hữu mộtcách phổ biến và sâu sắc nhất trong các ca từ của Trịnh Công Sơn là tinh thầnPhật giáo
Trịnh Công Sơn vốn dĩ là một Phật tử quy y từ khi còn nhỏ tuổi Phật pháp được tác giả tri nhận một các tự nhiên tựa như hơi thở trong cuộc sống, trở thành thế giới quan trong cuộc đời và sự nghiệp sáng tác Sự tiếp thu Phật pháp trong thời gian dài kết hợp với bản tính yêu thích triết học đã khiến sáng tác của ông trở thành một cuộc hội ngộ đầy viên mãn của: tôn giáo - triết học
- nghệ thuật
Ca từ của Trịnh Công Sơn có sự lan tỏa đặc biệt hơn so với nhiều tác giả khác Đặc biệt ở chỗ, nhiều sáng tác của nhạc sĩ mang màu sắc Phật giáo Triết lí nhà Phật vốn đã hiện hữu ở một bộ phận không nhỏ của Tiếng Việt, trong quá trình phát triển Trong quá trình phát triển của ngôn ngữ nói chung
và tiếng Việt nói riêng, mối quan hệ tương tác và gắn bó mật thiết giữa ngôn ngữ và Phật giáo luôn là điều kiện để cho cả hai lĩnh vực trên phát triển Ngôn ngữ là phương tiện cơ bản để truyền đạt giáo lý Ngược lại, một bộ phận không nhỏ ngôn từ nhà Phật đã làm phong phú thêm tiếng Việt Những thuật ngữ vốn có gốc Phạn, gốc Hán trở nên quen thuộc trong tiếng Việt thông qua con đường phiên âm, dịch nghĩa…Vì vậy, việc đi sâu nghiên cứu tinh thần Phật giáo trong ca từ của Trịnh Công Sơn không chỉ làm rõ đặc trưng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả mà còn cho thấy mối quan hệ giữa tiếng Việt và Phật giáo trong quá trình phát triển
Trên thực tế, ca từ của Trịnh Công Sơn đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài khoa học Trong đó, các đề tài triển khai theo hướng
Trang 3hướng tiếp cận của ngôn ngữ học cũng rất phong phú Tuy nhiên, chưa có đềtài nào đi sâu nghiên cứu chi tiết về tinh thần Phật giáo trong ca từ của TrịnhCông Sơn.
Nghiên cứu này cần thiết vì không những tinh thần Phật giáo trong ca
từ Trịnh Công Sơn ảnh hưởng đến đông đảo công chúng thưởng thức nghệ thuật Tinh thần trong ca từ của Trịnh Công Sơn vượt ra khỏi phạm vi âm nhạc trở thành nét đẹp tôn giáo văn hóa
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1 Những nghiên cứu trong nước
Sự nghiệp sáng tác của Trịnh Công Sơn đã trở thành một hiện tượng đặc biệt không chỉ trong lịch sử âm nhạc mà còn trong toàn bộ đời sống văn hóa và nghệ thuật của Việt Nam Các sáng tác của Trịnh Công Sơn đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều đề tài, theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau
Sau khi Trịnh Công Sơn qua đời, nhiều cuốn sách về nhạc sĩ ra mắt bạn đọc như: Hoàng Phủ Ngọc Tường (2001), Trịnh Công Sơn người hát rong qua nhiều thế hệ, Nxb Trẻ Trong cuốn sách, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã chỉ ra quan niệm sống “siêu hình học” của Trịnh Công Sơn Đó là: niềm yêu đời tha thiết nhưng đan xen nỗi tuyệt vọng đớn đau Đến đây thì mọi sự đã ngã ngũ, rằng tình ca Trịnh Công Sơn chính là siêu hình học Điều mà tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường gọi tên là “siêu hình học” có mối liên hệ sâu sắc đến nền tảng thế giới quan tôn giáo mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã thấm nhuần
Tác giả Lê Minh Quốc (2006), Trịnh Công Sơn - rơi lệ ru người, Nxb Phụ nữ - cuốn sách tập trung làm nổi bật đề tài về người phụ nữ, đặc biệt là người mẹ trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn Tác giả đã phản ánh sắc sảo
về thế giới quan trong sáng tác của của nhạc sĩ họ Trịnh: đó là sự lựa chọn cách sống hết mình và nhìn nhận cuộc đời với tính nhị nguyên bao gồm
Trang 43
Trang 5Các tác giả Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thụy Kha, Đoàn Tử Huyến(2002), Một Cõi Trịnh Công Sơn, Nxb Thuận Hóa và Trung tâm văn hóangôn ngữ Đông Tây, Hà Nội - đây là một hợp 51 bài viết bài viết có giá trị.Trong bài viết của mình, tác giả Phạm Duy đánh giá nhạc Trịnh đẹp như tranhtrừu tượng Quỳnh Giao tìm thấy những hình tượng ẩn chứa tính siêu thựctrong ca từ Trịnh Công Sơn Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo khẳng định: ca từ củaTrịnh Công Sơn giàu chất thơ, tính triết lí về tình yêu và thân phận con người.
Tựu trung, nhiều tác giả, trong nhận định của mình đã chỉ ra những cách biểu đạt ngôn ngữ đặc biệt của Trịnh Công Sơn so với ca từ của nhiều nhạc sĩ khác Khái quát những nhận định trên, một tinh thần tôn giáo hiện lên
rõ nét hơn cả trong nội dung các sáng tác của Trịnh Công Sơn mà các tác giả của tập sách đã miêu tả bằng những cụm từ như: “trừu tượng”, “siêu thực”,
“thân phận”, “cát bụi”, “những khó hiểu” của ngôn ngữ
Nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của Trịnh Công Sơn theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học, cho tới hiện nay, cũng đã có rất nhiều đề tài như:
Tác giả Bửu Ý (2003) với cuốn Trịnh Công Sơn nhạc sĩ thiên tài, Nxb trẻ - cuốn sách đã điểm lại từng chặng đời của Trịnh Công Sơn và phân tích nghệ thuật trong một số ca từ của ông
Lê Thu Hiền (2007), Quan niệm nhân sinh trong ca từ của Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội; Nguyễn Thị Thanh Huyền (2009), Ẩn dụ tri nhận, mô hình ẩn dụ cấu trúc trên cứ liệu ca từ Trịnh Công Sơn, Luận văn thạc sĩ ngữ văn, Trường ĐHKHXH và NV Tp HCM
Một số công trình khác như Nguyễn Thị Hồng Sanh (2009), Biện pháp
so sánh trong ca từ Trịnh Công Sơn, luận văn thạc sĩ, ĐHSP Huế…
Tác giả Bích Hạnh (2009) Biểu tượng trọng ca từ Trịnh Công Sơn, Nxb Khoa học Xã hội Cuốn sách nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ bằng việc
Trang 6chỉ ra ý nghĩa của các biểu tượng đá, nắng, lời ru, tiếng súng, vườn, con đường… trong ca từ của Trịnh Công Sơn.
2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng được tiến hành theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau như: Luận văn cao học với đề tài Những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn (1991) của tác giả Yoshii Michiko được bảo vệ tại đại học Paris 7 đã chứng minh những bài hát phản chiến của Trịnh Công Sơn
là những kiệt tác về âm nhạc
Một số tác giả đã quan tâm đến vấn đề tư tưởng Phật giáo trong ca từ của Trịnh Công Sơn như: Bùi Vĩnh Phúc (2008), Trịnh Công Sơn – ngôn ngữ và những ám ảnh nghệ thuật, Nxb trẻ Cuốn sách được viết tại Mĩ Tác giảBùi Vĩnh Phúc đã đi sâu phản ánh ám ảnh nghệ thuật trong sáng tác của Trịnh Công Sơn Trong những ám ảnh đó, thời gian – một phạm trù đặc biệt quan trọng trong Phật giáo được tác giả khảo sát kỹ lưỡng với những tính chất như: thời gian phai tàn, tiếc nuối, trông ngóng, hướng về thiên thu, thời gian thực tại
Đáng chú ý là cuốn Trịnh Công Sơn Bob Dylan như trăng và nguyệt(2012) của Jonh Schafer, giáo sư dạy bộ môn văn học đối chiếu tại đại họcHumboldt, California, Mĩ Điều đáng lưu ý là nhân vật được so sánh là BobDylan, ca sĩ, nhạc sĩ đã được trao tặng giải nobel văn học 2016 Tác giả JonhSchafer đã so sánh những bài hát chịu ảnh hưởng bởi Ki- tô giáo của Dylanvới những bài hát chịu ảnh hưởng Phật giáo của Trịnh Công Sơn
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu về các đề tài về Trịnh Công Sơn rất phong phú, đa dạng Tuy nhiên, hướng đi sâu tìm hiểu chi tiết những sự thể hiện ảnh hưởng của Phật giáo qua ngôn ngữ trong phần lời bài hát của tác giả thì còn là một vấn đề chưa được tìm hiểu sâu sắc Tuy nhiên, có thể xem những nghiên cứu trên đây là những gợi ý để chúng tôi triển khai đề tài Tinh thần Phật giáo
Trang 75
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: chỉ ra tinh thần Phật giáo được thể hiện trong
ca từ Trịnh Công Sơn Từ đó góp phần lí giải sự ảnh hưởng của Phật giáo đến ngôn ngữ nghệ thuật và hiệu quả truyền tải Phật pháp bằng ngôn ngữ nghệ thuật
Kết quả luận văn cho thấy một phần đặc điểm phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và giá trị biểu đạt văn bản ngôn ngữ nghệ thuật của Trịnh Công Sơn
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tổng hợp tình hình nghiên cứu và các cơ sở lí thuyết, thực tiễn của đề tài Khảo sát các từ ngữ, cấu trúc diễn ngôn có liên quan đến tinh thần Phật giáo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: từ ngữ, diễn ngôn mang tinh thần Phật giáo trong ca khúc của Trịnh Công Sơn
- Phạm vi: 111 bài hát thuộc tuyển tập ca khúc Trịnh Công Sơn của Nhà xuất bản Thời đại, năm 2015 và văn bản ca tư lưu trữ tại website của Hội văn hóa Trịnh Công Sơn https://www.tcs-home.org/songs
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp miêu tả:
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để khảo sát đặc điểm, phân loại từ
ngữ có màu sắc Phật giáo với từ ngữ không mang màu sắc Phật giáo
- Phương pháp miêu tả được dùng để mô hình hóa một số đơn vị ngôn ngữ trong ca khúc
5.2 Thủ pháp thống kê, phân loại: được sử dụng để thống kê, đánh
giá mức độ, tần xuất của ngôn ngữ chịu ảnh hưởng Phật giáo
Trang 95.3 Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: được sử dụng để làm rõ
nét đặc trưng của từng từ ngữ, ngữ cảnh, văn cảnh và sự vận động của ngôn từđược sử dụng
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về lí luận
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đóng góp cho lí thuyết về từ vựng, ngữ nghĩa và phong cách học, cụ thể là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng đóng góp cho những lí thuyết về mối quan hệ giữa Phật giáo và ngôn ngữ học Cụ thể là mối liên hệ hai chiều chặt chẽ giữa tôn giáo và ngôn ngữ trong quá trình phát triển
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm:
Chương 1 Cơ sở lí thuyết và thực tiễn
Chương 2 Các từ ngữ mang tinh thần
Phật giáo trong ca từ Trịnh Công Sơn Chương 3.Giá trị biểu đạt của ngônngữ mang tinh thần Phật giáo trong
ca từ Trịnh Công Sơn
Trang 107
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí thuyết
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1.1 Những quan niệm về từ trong tiếng Việt
Cho đến hiện nay, trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về từ Các nghiên cứu đưa ra trên 300 khái niệm về từ Quan niệm về từ trong tiếng Việt cũng khá phong phú Bởi lẽ, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, có đặc điểm loại hình khác biệt so với các ngôn ngữ hòa kết Cũng theo đó, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt theo hai khuynh hướng chính:
Khuynh hướng thứ nhất, các nhà nghiên cứu cho rằng: từ tiếng Việt trùng với âm tiết (hay tiếng) Các đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này là: Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp Cao Xuân Hạo cho rằng: “Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị, hình tiết, từ tiết, đơn tiết hoặc đơn giản là từ Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục, được tạo thành bởi các đơn vị là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết” [8, tr.18] Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thểnhỏ nhất có ý nghĩa, dùng để cấu tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [8, tr.168]
Trong khuynh hướng thứ hai, các nhà nghiên cứu cho rằng: từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê quan niệm: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn
Trang 12giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được” [8, tr.18] Theo Đỗ HữuChâu, từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết “cố định, bất biến, có một
ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định,tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng vànhỏ nhất để tạo câu” [12, tr.14]
Tóm lại, do đứng từ nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, và cách quan niệm khác nhau về hình vị, âm tiết (tiếng) và từ trong ngôn ngữ dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau Theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng khác nhau Cho đến nay, quan niệm có tính dung hòa, phổ biến được nhiều người tán đồng và được sử dụng trong chương trình giảng dạy cấp học phổ thông là ý kiến của các tác giả thuộc khuynh hướng thứ hai Vì vậy, tác giả của luận văn này cũng chọn lí thuyết về từ thuộc khuynh hướng thứ hai
Trên cơ sở lí thuyết về từ, các tác giả đưa ra quan niệm về từ vựng
“được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngônngữ Đơn vị tương đương với từ là những cụm từ cố định, cái mà người ta vẫnhay gọi là các thành ngữ, quán ngữ” [15, tr 130] Theo đó, nghĩa của từ “ lànhững liên hệ được xác lập trong nhận thức của chúng ta giữa những cái mà
nó (từ) chỉ ra (những cái mà nó làm tín hiệu cho) Từ có liên hệ với nhiềunhân tố, nhiều hiện tượng” [15, tr 166] Nghĩa của từ thường không chỉ baohàm một thành phần nghĩa mà gồm các thành phần nghĩa biểu vật và nghĩabiểu niệm
Nghĩa biểu vật (denotative meaning): “Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động…) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động… đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat) Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất
Trang 13Nghĩa biểu niệm (significative meaning): là liên hệ giữa từ với ý (hoặc
ý nghĩa, ý niệm – signification – nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy tên gọi này) Cái ý đó, người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người)” [15, tr 167]
Ngoài hai thành phần nghĩa trên đây, khi xác định nghĩa của từ, người
ta còn phân biệt hai thành phần nghĩa nữa Đó là nghĩa ngữ dụng và nghĩa cấu trúc Trong đó, nghĩa ngữ dụng: “là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói” [15, tr 167] Trong nghiên cứu ngôn ngữ, hướng đi sâu tìm hiểu nghĩa ngữ dụng chính là: “nghiên cứu những quan hệ ngôn ngữ
và ngữ cảnh đã được ngữ pháp hoá hoặc mã hoá trong cấu trúc của ngôn ngữ” [Levinson, 1983-9 dẫn theo 17] Hoặc theo A.M.Diller – F.Récanati đó là hướng nghiên cứu “việc dùng ngôn ngữ trong diễn từ và các chỉ hiệu đặc thù trong ngôn ngữ” [A.M.Diller – F.Récanati, 1979 dẫn theo 17]
Trên thực tế, khi nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệ với ngữ cảnh, ngữ cảnh đóng vai trò “là một nhân tố trong việc xác định nội dung mệnh đề cho hiện dạng của những phát ngôn thành phẩm cụ thể, trong những tình huống phát ngôn khác nhau” [37, tr 277] Nhưng rõ ràng trong thực tế, ngữ cảnh là một nhân tố quan trọng đến mức theo G Yule: “ý nghĩa của ngữ cảnh, nghiên cứu việc người ta có thể thông báo nhiều hơn điều được nói như thế nào, nghiên cứu những biểu hiện của những khoảng cách tương đối.” [G.Yule, 1996 dẫn theo 13] Trong việc xác định ý nghĩa của ngôn ngữ, từ
trước đến nay quan niệm ngữ cảnh của một từ “là chuỗi từ kết hợp với nó hoặc bao xung quanh nó, đủ để làm cho nó được cụ thể hoá và hoàn toàn xác định về nghĩa” [15, tr 178] đã trở nên quen thuộc và được dùng phổ biến.
Nghĩa cấu trúc: “là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống
từ vựng Quan hệ giữa từ này với từ khác thể hiện trên hai trục: trục đối vị và
Trang 14trục ngữ đoạn Quan hệ trên trục đối vị cho ta xác định được giá trị của từ,khu biệt từ này với từ khác, còn quan hệ trên trục ngữ đoạn cho ta xác địnhđược ngữ trị (valence) – khả năng kết hợp – của từ” [15, tr 167] Như vậy để
có căn cứ xác định nghĩa của từ phải đặt từ vào trong văn bản/ diễn ngôn đểxem xét khả năng kết hợp của từ trong cấu trúc ngữ pháp nói chung và trongmỗi quan hệ với các từ ngữ khác thuộc ngữ đoạn Tuỳ vào ngữ cảnh mà câunói được hiểu theo nghĩa nào, hiệu quả tác động đến người nghe ra sao, đồngthời ngữ cảnh sẽ quy định giải mã câu nói
1.1.1.2 Quan niệm về từ loại trong tiếng Việt
Phương thức cấu tạo từ là “cách thức mà ngôn ngữ học tác động vào hình vị để cho ta các từ” [12, tr.25] Theo Đỗ Hữu Châu, “tiếng Việt sử dụng
ba phương thức: từ hoá hình vị, ghép hình vị và láy hình vị” [12, tr.25]
“Từ hoá hình vị là phương thức tạo từ tác động vào bản thân một hình
vị làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị
thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó Những từ như: nhà,
xe, áo, người, phanh, mì chính, lốp (xe đạp) là những từ hình thành do sự từ hoá các hình vị nhà, xe, áo, người, phanh, mì chính, v.v…” [12, tr.25] Sau
này giáo sư Hoàng Văn Hành đã tiếp thu ý kiến của giáo sư Đỗ Hữu Châu và
định nghĩa: “Từ hoá hình vị là quá trình cấu tạo từ mà trong đó hình vị được
cấp những đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp theo những quy tắc nhất định để thành từ đơn” [35, tr.21] Sự tồn tại khái niệm “từ ghép” trong tiếng Việt, theo ngôn ngữ học truyền thống, như là một tất yếu và được hầu hết các nhà Việt ngữ học công nhận và trở thành một đối tượng nghiên cứu của các nhà Việt ngữ học trong và ngoài nước Theo Diệp Quang Ban từ ghép là từ chứa hai (hoặc hơn hai) hình vị và trong đó nhìn chung không có hiện tượng “hoà phối ngữ âm tạo nghĩa” [4, tr.48] Cùng quan điểm với Diệp
Trang 15Quang Ban, tác giả Đỗ Việt Hùng cho rằng “từ ghép là những từ được tạo ra theo phương thức ghép hình vị” [19, tr.31 - 32].
Từ ghép bao gồm từ ghép chính phụ và từ ghép đẳng lập Trong đó, từ ghép chính phụ bao gồm các hình vị được kí hiệu AB – A là hình vị chính, B
là hình vị phụ Từ ghép chính phụ có tính phân nghĩa Từ ghép đẳng lập (kí hiệu các hình vị là AB) có tính hợp nghĩa
1.1.1.3 Quan niệm về thuật ngữ
Mỗi môn khoa học, kĩ thuật đều có một hệ thống thuật ngữ của mình Tuy nhiên, đó không phải là những từ vựng biệt lập mà chúng là những bộ phận riêng trong từ vựng của một ngôn ngữ thống nhất Các tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: thuật ngữ “là những từ ngữ làm tên gọi cho các khái niệm, các đối tượng được xác định một cách chặt chẽ, chuẩn xác trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học chuyên môn” [15, tr 210] Thuật ngữ luôn luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành đó Hà Quang Năng cho rằng thuật ngữ “ khác với từ phổ thông là từ được nhận thức thông qua hình thái bên ngoài của mình, thì ở thuật ngữ, nội dung của nó được đưa lên hàng đầu” [52] Việc phân tách thuật ngữ ra thành bình diện nội dung và bình diện thể hiện là một cách phân biệt thuật ngữ với từ phổ thông: “bình diên nội dung của thuật ngữ - đó là thuật ngữ - khái niệm, còn bình diện thể hiện - đó là thuật ngữ - từ Tính hai mặt trong bản chất của thuật ngữ làm nó khác với từ bình thường mà thường ở đó ta nói tới sự thống nhất giữa bình diện nội dung và bình diện thể hiện” [52] Cũng theo đó, tác giả Hà Quang Năng xác định: “Tính định danh cao nhất và khả năng lớn nhất tham gia vào việc định danh thuật ngữ là các danh từ Thuật ngữ còn có thể là tính từ, động
từ, trạng từ, nhưng khả năng định danh của chúng thấp hơn nhiều Cần phải phân biệt động từ, tính từ, trạng từ, trong khuôn khổ các văn bản chuyên
Trang 16ngành và các hình thái mà ở đó thuật ngữ có thể được đưa vào từ điển” [52].Bên cạnh đó, việc đặt thuật ngữ trong hệ thống là cần thiết để xác định ýnghĩa: “Ý nghĩa chính xác của thuật ngữ - khái niệm chỉ có thể được hiểu rõtrong hệ thống thuật ngữ của trường thuật ngữ đó” [52] Hệ thống thuật ngữPhật giáo cũng là một trong những bộ phận từ ngữ quan trọng trong tiếngViệt, được dùng phổ biến hiện nay.
1.1.1.4 Quan niệm về đoản ngữ
Trong cách kết hợp từ ngữ, các thành tố kết hợp với nhau tạo ra các tổ hợp tự do Các tổ hợp này được Nguyễn Tài Cẩn phân chia thành ba loại: liên hợp, mệnh đề và đoản ngữ, dựa trên số lượng từ trung tâm trong các tổ hợp
đó Theo tác giả, đoản ngữ là “tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ” [7, tr 150] Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ tổ hợp loại này vẫn được gọi là ngữ Theo đó, Nguyễn Tài Cẩn chỉ ra đặc điểm của đoản ngữ: “Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành
tố phụ quây quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa” [7, tr 150] Trong so sánh giữa toàn đoản ngữ với từ trung tâm, nếu đứng tự do đơn lẻ, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “toàn đoản ngữ
có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm, nhưng
nó vẫn giữ được đặc trưng ngữ pháp của trung tâm” [7, tr 151] “Trung tâm thuộc vào loại từ nào thì toàn đoản ngữ cũng vẫn giữ các đặc trưng của từ loại
đó Vì vậy có thể căn cứ vào trung tâm để phân loại đoản ngữ thành đoản ngữ danh từ (danh ngữ), đoản ngữ động từ, tính từ (động, tính ngữ) v v ” [7, tr.151] Về chức vụ ngữ pháp của đoản ngữ (danh, động, tính…ngữ), tác giả Nguyễn Tài Cẩn cho rằng “trung tâm có thể giữ một chức vụ gì trong một tổ hợp khác thì hoàn toàn đoản ngữ thường thường cũng có thể đảm nhiệm được chức vụ đó” [7, tr.151]
Trang 171.1.1.5 Đặc điểm cấu trúc của từ ngữ Phật giáo tiếng Việt
Từ ngữ Phật giáo phần lớn là từ ngữ vay mượn, sao phỏng, dịch nghĩa
từ ngôn ngữ nước ngoài mà nhiều nhất là từ tiếng Hán, và một số từ trong tiếng Phạn Do vậy, khi tìm hiểu đặc điểm từ ngữ Phật giáo trong tiếng Việt cần phân loại theo nguồn gốc Theo tác giả Vương Dĩnh (Wang Ying):
“Trong tiếng Hán tùy theo các cách dịch khác nhau mà từ ngữ Phật giáo được chia thành ba loại: từ phiên âm, từ dịch nghĩa và từ hỗn hợp Trong tiếng Việt,
từ ngữ Phật giáo cũng được vay mượn hoàn toàn từ ba loại này trong từ ngữ Phật giáo tiếng Hán” [20, tr 62] Trong đó, từ phiên âm “được vay mượn cả
âm và nghĩa từ ngữ trong tiếng Phạn, trong Phật điển Tiếng Hán chỉ có tác dụng để ghi âm, chứ không có liên quan đến ngữ nghĩa của từ” [20, tr 62] Nguồn gốc từ phiên âm đã lí giải những trường hợp nghĩa không phân tích được trong những từ như: bồ tát, bồ đề, bát nhã, cà sa, kiếp, Phật, sát na
….Cũng theo Vương Dĩnh, từ có nguồn gốc hỗn hợp “do hai bộ phận cấu tạo: một là từ tố Phạn, một là từ tố Hán” [20, tr 63] Tác giả dẫn các ví dụ: thiền môn, a di đà kinh…Trường hợp thứ ba, theo Vương Dĩnh đó là từ tiếng Hán bao gồm từ dịch nghĩa và từ tiếng Hán Phật hóa “Trong tiếng Hán, từ dịch nghĩa và từ tiếng Hán Phật hóa là hai loại từ khác nhau, từ dịch nghĩa là theo phương thức cấu tạo của tiếng Hán và sử dụng những từ tố đã có trong tiếng Hán để cấu tạo thành một từ mới Từ tiếng Hán Phật hóa là sử dụng tiếng Hán
cũ để biểu hiện ý nghĩa Phật giáo Nhưng khi được vay mượn vào tiếng Việt,
từ dịch nghĩa và từ tiếng Hán Phật hóa có điểm chung đó là từ tiếng Hán”[20,
tr 64], ví dụ một số từ như: duyên khởi, bát giới…
Đối với bộ phận từ ngữ Phật giáo Hán Việt Việt tạo “không phải lànhững từ ngữ vay mượn hoàn toàn từ từ tiếng Hán, mà là do người Việt sửdụng từ tố Hán Việt để sáng tạo ra theo phương thức cấu tạo từ tiếng Việt”[20, tr 65] Theo đó, tác giả Vương Dĩnh dẫn các ví dụ: ác tăng, duyên kiếp,
Trang 18cửa Bồ đề, tòa sen… Bộ phận từ ngữ Phật giáo thuần Việt “là những từ ngữđược cấu tạo do một hoặc hai từ tố thuần Việt cấu tạo thành, một bộ phận củanhóm từ này có thể tìm thấy từ với nghĩa tương đương trong tiếng Hán, số cònlại thì không” [20, tr 65], ví dụ: chùa, ăn chay… Cách phân loại từ ngữ Phậtgiáo theo nguồn gốc trên đây là căn cứ để khảo sát từ ngữ Phật giáo trong ca
từ của Trịnh Công Sơn
1.1.1.6 Quan niệm về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
Quan niệm về diễn ngôn
Cho đến hiện nay, các ngành khoa học có rất nhiều quan điểm khác nhau về diễn ngôn Tuy nhiên, nhìn chung cách hiểu về diễn ngôn theo quan niệm của Guy Cook (1989) là cách tiếp cận đã trở nên phổ biến trong phân tích diễn ngôn Theo đó, “diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết
là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích Những hiện tượng thuộc về nghĩa logic (xét trong quan hệ với tình huống bên ngoài) và chức năng (ý định hay mục đích của người phát ) có quan hệ đến tài liệu đó thuộc về diễn ngôn Những trường hợp giải thích các từ ngữ bằng mối quan hệ của chúng với tình huống vật lí và xã hội bên ngoài văn bản, và việc tìm hiểu ý định của người phát cũng thuộc về diễn ngôn, và được thực hiện như một phần quan trọng trong phân tích diễn ngôn (phân tích văn bản cũng là một bộ phận trong phân tích diễn ngôn)” [5, tr 215]
Quan niệm về phân tích diễn ngôn
Phân tích diễn ngôn: “là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện
trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa
dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)” [5, tr 258]
Trang 19Trong định nghĩa trên các yếu tố được đặt trong mối quan hệ với nhau: Tàiliệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu được đặt trong tính đa diện của hiệnthực và được tiếp cận nghiên cứu bằng phương pháp phân tích Trong đó, Yếu
tố thứ nhất liên quan đến các dạng tồn tại của ngôn ngữ Yếu tố thứ hai có nộidung phong phú, gồm những yếu tố nhỏ hơn như ý nghĩa của các từ ngữ trongvăn bản/ diễn ngôn xét trong quan hệ giữa chúng với nhau (ngữ cảnh trongvăn bản), và trong quan hệ với ngữ cảnh bên ngoài, bao gồm cả các hiện
tượng thuộc liên kết và cả quan niệm về trường (field) và thức (mode).
“Trường (field), là sự kiện tổng quát trong đó diễn ngôn/ văn bản hành
chức, cùng với tính chủ động có mục đích của người nói/ người viết, gồm cả
đề tài – chủ đề, nói vắn tắt, trường là tính chủ động xã hội được thực hiện;
Thức (mode), là chức năng của văn bản trong sự kiện hữu quan, gồm nói và
viết, ứng khẩu và có chuẩn bị, các thể loại của diễn ngôn/ văn bản, các phép
tu từ v v , nói vắn tắt, thức là vai trò của ngôn ngữ trong tình huống ” [5,
tr 259] Các yếu tố trên tạo ra một cách tiếp cận để hiểu (lí giải) cách sử dụng ngôn ngữ trong thực tế
1.1.2 Cơ sở về văn hóa nghệ thuật và tôn giáo
Quan niệm về ca từ: ca từ “bao gồm toàn bộ phần ngôn ngữ văn học
trong âm nhạc bắt đầu từ cái nhỏ nhất: tên gọi tác phẩm, tiêu đề…, cho đến cái lớn nhất: kịch bản nhạc cảnh, nhạc kịch…, và dừng lại ở thể thơ được phổ nhạc” [3, tr 3]
Những vấn đề liên quan đến tinh thần Phật giáo
1/ Thế giới quan Phật giáo
Trong kiến giải về sự tồn tại của thế giới, Phật giáo không thừa nhận sự hiện hữu của tự thân vật chất Tất cả mọi tồn tại, hiện hữu tri giác được chỉ là
ảo ảnh Điều đó được thể hiện trong quan niệm về không tính Không, hư vô,
Trang 20hư không…là sự tồn tại mang tính tuyệt đối Đó là tính chất chân thật nhất và vĩnh viễn của mọi tồn tại.
Tuy nhiên, mọi tồn tại lại luôn trong quá trình vận động, biến đổi không ngừng nghỉ Quá trình đó được đề cập trong nội dung luật vô thường
Tất cả là vô thường là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật giáo (vô thường, vô ngã và niết – bàn tịch tịnh) Ba nguyên lý này dựa trên toàn bộ cấu
trúc của đạo Phật: Phật giáo Nguyên thủy, Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa…Theo đó, “Không có sự tồn tại mà chỉ có sự xứng hợp duynhất, mỗi trạng thái riêng biệt của chúng sinh không xảy ra cùng một lúc
mà sinh diệt liên tục Tất cả các pháp bao gồm con người, sự vật… chúng ta tìm thấy hình thái và đặc tính riêng biệt của chúng để cấu thành một vật thể Hơn nữa, trong mỗi cá nhân không có sự tương phản về mối liên quan của vạn vật, các yếu tố hợp thành nó là sự thay đổi thường hằng và không bao giờ giống nhau, vì hai sự vật sinh diệt tiếp liền nhau” [36] Phật giáo cho rằng Sát na vô thường là: “Chỉ trong một khoảnh khắc một sát – na
có đủ bốn tướng sinh, trụ dị diệt, chuyển biến vô thường” [27, tr 1062]
Sinh diệt vô thường là sự vô thường nhanh chóng trong từng ý niệm
Nó thay đổi hoàn toàn, cái mà xảy ra bên trong bất cứ một chúng sinh nào hay một sự vật nào, ngoài sự tập hợp của các pháp thì xuất hiện sự sinh diệt ngay lúc đó Như vậy, mỗi người, mỗi vật luôn luôn thay đổi và không bao giờ giống nhau, vì hai sự kiện hoạt động tiếp nối nhau Triết học Phật giáo gọi đó
là “sinh diệt vô thường” Nguyên lý này được giải thích theo quan điểm Phật giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sinh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc “Một ngày 24 giờ có 6.499.99.980.000.000 sát-na (kṣaṇas); tập hợp năm uẩn (skandhas) sinh diệt trong từng sát-na Ngay cảcuộc sống của một chúng sinh cũng vậy chỉ kéo dài trong giai đoạn rất ngắn
Trang 2117
Trang 22trong một ý niệm và khi ý niệm đó dừng lại thì sự sống cũng dừng lại Như vậy, chúng sinh trong quá khứ đã sống mà không sống” [36].
2/ Nhân sinh quan Phật giáo
Theo quan niệm Phật giáo, con người giống như vạn pháp khác đến từ
hư vô, hiện hình trong sắc tướng một cách giả tạm ở trần thế, trong thời gian ngắn ngủi một kiếp người Kiếp người tuân theo luật vô thường, liên tục quá trình biến đổi: Sinh – trụ - dị - diệt, Sinh – lão – bệnh – tử Sự biến đổi một cách nhanh chóng khiến kiếp người trở về với dạng thức vĩnh hằng của vật chất Đó là hư vô Quy luật này đi ngược lại với mong muốn thường xuyên của con người là bất tử, an lạc, an bình…Vậy nên, chính luật vô thường là căn nguyên của mọi khổ đau trong nhân thế
“Khổ”, trong quan niệm Phật giáo, được lí giải bởi từ duhkha “là một
từ tiếng Phạn gồm hai từ ghép lại là: duh và kha Kha có nghĩa là cái lỗ tròn ở giữa bánh xe dùng để đưa cái trục xe vào đó Duh có nghĩa là: bất ổn, bất an, rối loạn” [54] Như vậy duhkha không phải chỉ giản dị có nghĩa là những
khổ đau thuộc thân xác, khổ đau chủ yếu bởi trạng thái không toại nguyện, thường xuyên cảm thấy “bất an”, “bất ổn”, “rối loạn” trong những thay đổinhanh chóng, thường hằng của cuộc đời Những thay đổi đó chính là sự thể
hiện của luật vô thường Vì thế, cách hiểu về khổ đau - duhkha rộng hơn “là
bất toại nguyện thì phải được hiểu đầy đủ với 4 nghĩa: Khổ, Vô thường, Không và Vô ngã - đây là 4 Pháp ấn quan trọng của Phật giáo” [54] Phật giáo phân chia khổ thành nhiều loại, dựa trên các nguyên nhân gây nên nỗi khổ Trong đó “bát khổ” chỉ ra những nguyên nhân phổ biến như: Sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ thịnh ấm khổ
Trang 23Thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo bao gồm nhiều quan niệm khác như giáo lí duyên khởi, vô ngã, giải thoát Tổng thể nội dung các quan niệm này đều có mối liên quan mật thiết với nhau.
1.2 Vài nét về cuộc đời, sự nghiệp của Trịnh Công Sơn
Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi
là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến Hiện nay chưa có thống kê chính xác
về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc) Tuy nhiên “số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc) Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly” [50, tr 8]
Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao - hiện nay là phườngThống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở quê làngMinh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế Lúcnhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sauvào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau SàiGòn và tốt nghiệp tú tài tại đây Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn,khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết vàphải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiềusách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏigiường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc Nói như vậyhình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩnchứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy" [59,
tr 98]
Tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản
An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh Thúy Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ
Trang 24em tại trường Sư phạm Quy Nhơn Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trườngtiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng Tên tuổi của ông được nhiều người biết đếnhơn từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn từ cuối năm 1966.Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩtrình diễn, đặc biệt là Khánh Ly.
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản
năm 1970 như Diễm Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca dao Mẹ, Ngủ đi con Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu đĩa) ở Nhật Bản với bài Ngủ đi con , trong Ca khúc da vàng, qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có tên trong
Từ điển bách khoa Pháp
Sau năm 1975, Trịnh Công Sơn làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố
Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc Từ đầu thập niên 1980, ông bắt đầu sáng tác
lại các ca khúc như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ
Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh 1 tháng 4 năm 2001 Hàng ngànngười đã đến viếng ông Nhạc sĩ được an táng tại Nghĩa trang Gò Dưa, BìnhDương Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.Năm 2004, ông được trao Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới
Cuộc đời và sự nghiệp âm nhạc của Trịnh Công Sơn gắn bó sâu sắc với Phật giáo Trịnh Công Sơn cũng đã quy y với Hòa thượng chùa Phổ Quang và
có pháp danh là Nguyên Thọ “Nguyên là suối nguồn, Thọ là trao truyền, được trao truyền từ suối nguồn Trao truyền cái gì? Trao truyền lòng nhân ái,
từ bi và dũng cảm” [18]
Trịnh Công Sơn khi còn trẻ đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây Trịnh
Trang 25Công Sơn từng khẳng định “Huế và Đạo Phật ảnh hưởng sâu đậm trên tìnhcảm thời thơ ấu của tôi” [60, tr 540] Nhạc sĩ ý thức sâu sắc điểm gặp gỡ giữatriết học Phật giáo và chủ nghĩa hiện sinh của phương Tây Trịnh Công Sơncho rằng: “Hiện sinh chân chính không phải là xấu Mình cho rằng bậcthượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật Tại vì Phật dạy ta phải thức tỉnhtrong từng sát – na của cuộc sống Thực tình, khi con người mà thức tỉnhtrong từng sát na một thì chủ nghĩa hiện sinh không là gì cả Người này sốngbình tĩnh trong từng sát na chứ không phải sống theo đời thường theo kiểuhiện sinh sống vội sống vàng” [60, tr 526].
1.3 Tiểu kết
Trong chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về lí thuyết
và thực tiễn Đó là cơ sở lí luận cho đề tài, bao gồm:
Cơ sở ngôn ngữ học: trong mục này, chúng tôi vận dụng những líthuyết về từ ngữ - từ, từ vựng, ngữ nghĩa của từ, ngữ cảnh, từ loại, thuật ngữ,đoản ngữ (danh ngữ, động ngữ, tính ngữ) diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
để làm cơ sở khoa học để triển khai đề tài của luận văn
Cơ sở về văn hóa nghệ thuật và tôn giáo: trong mục này, luận văn trình bày quan niệm về ca từ và tổng hợp về thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo bao gồm những quan niệm về bản chất của thế giới vật chất và con người
như: vô thường, hư không, khổ
Luận văn cũng điểm lại những dấu mốc quan trọng trong cuộc đời, sựnghiệp của Trịnh Công Sơn Bằng việc thống kê tư liệu, chúng tôi chỉ ra sựảnh hưởng của Phật giáo đối với Trịnh Công Sơn
Trang 26Chương 2 CÁC TỪ NGỮ MANG TINH THẦN PHẬT GIÁO
TRONG CA TỪ TRỊNH CÔNG SƠN 2.1 Đặc điểm và cấu tạo các từ ngữ thể hiện tinh thần Phật giáo
2.1.1 Từ loại
Các từ ngữ mang tinh thần Phật giáo xuất hiện nhiều lần trong các ca khúc khác nhau của Trịnh Công Sơn Trong 111 ca khúc được khảo sát của luận văn, kết quả cho thấy nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sử dụng nhiều danh từ nhất, 17 từ: hồn, linh hồn, kiếp, tiền thân, tiền kiếp….Trong đó, những danh
từ có gốc Phạn đã trở nên quen thuộc trong từ vựng tiếng Việt như: kiếp, Phật, bồ đề Một số danh từ được dùng phổ biến trong ngôn ngữ phổ thông như: bờ, cõi vốn được dịch nghĩa tương đương từ các thuật ngữ gốc Hán của Phật giáo như: giới, ngạn.
Số lượng động từ và tính từ ít hơn so với danh từ Tác giả sử dụng 6
động từ: hóa kiếp, ăn năn, đầu thai, viên thành; 5 tính từ: hư không, hư vô, vô thường, từ bi, không.
Trường hợp từ không được đưa vào sử dụng trong các ngữ cảnh khác
nhau Trong một số ngữ cảnh, từ không là một danh từ, ví dụ:
Còn hai con mắt, một con khóc người Con mắt còn lại nhìn đời là không
(Con mắt còn lại) Trong ngữ cảnh khác, từ không lại là một tính từ, ví dụ:
Xin đứng yên trong chiều treo tình trên chiếc đinh không
(Tình xót xa vừa)
Trang 27Bảng 2.1 thống kê từ ngữ theo từ loại
Trang 28“cõi”,“bờ”… dịch nghĩa tương đương với: “giới”, “ngạn”, vốn là thuật ngữ gốc Hán trong Phật giáo đã được sử dụng rộng rãi trong đời sống.
Từ ghép: có số lượng nhiều nhất, 15 từ chiếm tỉ lệ 55.5 % trong tổng
số các loại từ mang tinh thần Phật giáo được khảo sát trong luận văn Trong
đó, từ ghép theo phương thức hợp nghĩa có 6 từ, chiếm tỉ lệ 22.2% Từ ghép theo phương thức phân nghĩa có 9 từ chiếm 33.3% Trong đó, sự xuất hiện
của từ ghép phân nghĩa hóa kiếp và tiền kiếp là sự kết hợp giữa một từ gốc
Hán và một từ gốc Phạn
Kết quả thống kê – phân loại
Trang 29Bảng 2.2 Bảng hống kê từ theo cấu tạo
1/ Danh ngữ có thuật ngữ Phật giáo là danh từ trung tâm
Sự sáng tạo trong cách sử dụng thuật ngữ Phật giáo của Trịnh Công Sơn được thể hiện rõ nét trong cách cấu tạo các danh ngữ
Vốn dĩ các thuật ngữ Phật giáo bao chứa nội dung ý nghĩa trừu tượng đối với người ngoại đạo hoặc chưa giác ngộ đạo Trịnh Công Sơn giác ngộ Phật pháp một cách sâu sắc Việc sử dụng những danh ngữ như một cách sáng tạo hoặc đặt những tên gọi mới gắn với những sự vật hiện tượng vốn quen thuộc Cách hạn định loại đối tượng hiện thực, nói cách khác là cách đặt tên, gọi tên như vậy là của riêng Trịnh Công Sơn Có thể coi đó là một trong những cách sử dụng, sáng tạo ngôn ngữ mang phong cách cá nhân của nhạc sĩ
Kiếp rong chơi (Cát bụi) Kiếp xa nhau (này em có nhớ) Kiếp lưu vong (Tình xót xa vừa) Kiếp đá (Ngày nay không còn bé) Cõi bao la (Hoa vàng mấy độ) Cõi đi về (Một cõi đi về)
Cõi chia lìa (Còn mãi tìm nhau) Hồn tuyết bao la mang theo (Có một ngày như thế)
Trang 30Hồn xanh buốt (Diễm xưa) Hồn giá lạnh băng (Du mục)….
2/ Danh ngữ có thuật ngữ Phật giáo là định ngữ
Các danh ngữ này xuất hiện không phổ biến như danh ngữ có thuật ngữ Phật giáo là từ trung tâm Tuy nhiên, cách cấu tạo các danh ngữ loại này cũng
là một điểm đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn, ví dụ:
Chiếc đinh không (Tình xót xa vừa)
Lá hư không (Gần như niềm tuyệt vọng) Mắt trần gian (Những con mắt trần gian) Đường trần (Phôi pha)
Hội trần gian (Còn có bao ngày) Đóa hoa vô thường (Đóa hoa vô thường)
Em hư vô (Con mắt còn lại)
Áo chân như (Giọt lệ thiên thu) Giọt hư không (Tiếng thoái lưỡng nan) Tiếng hư không (Nghe những tàn phai)
Có thể thấy trong cách gọi tên sự vật, hiện tượng của nhạc sĩ trong các danh ngữ này đều lấy sự vật, hiện tượng trong đời sống là điểm nhìn căn bản, đầu tiên – danh từ trung tâm Những sự vật vốn gần gũi, dễ dàng tri nhận bằnggiác quan: đóa hoa, em, áo, lá, mắt….trở nên rất mới mẻ đến mức lạ lùng, khó hiểu trong cách đặt đằng sau đó một thuật ngữ nhà Phật
Cấu tạo danh ngữ theo cách này thể hiện ý niệm của tác giả về mối quan hệ giữa mọi sự tồn tại với Phật giáo: mọi sự tồn tại, mọi hiện tượng (tựnhiên và đời sống xã hội) đều mang trong mình Phật tính Danh ngữ có định ngữ là thuật ngữ không, hư vô, hư không… (thuộc không tính) xuất hiện nhiều nhất Không tính là bản thể luận trọng yếu, căn bản có phần siêu hình khi biện giải về mọi tồn tại Vì vậy, khi gắn định ngữ: không, hư vô…với sự
Trang 31vật hiện tượng trong đời sống sẽ tạo ra sự đa nghĩa trong quá trình tiếp nhận
và lĩnh hội những hình hượng do danh ngữ tạo nên Điều này là điểm gặp gỡgiữa đặc trưng ngôn ngữ tôn giáo và ngôn ngữ nghệ thuật
Về mặt ngôn ngữ: Ca từ biểu đạt được những nội dung triết lí rất sâu sắc Mặt khác, thông qua ca từ, người nghe hiểu được thế giới tinh thần thấm nhuần Phật pháp của nhạc sĩ Các danh ngữ của Trịnh Công Sơn tạo ra sự đa dạng, mới mẻ trong cách sử dụng, làm giàu có phong phú thêm kho từ ngữ tiếng Việt và tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người nghe Đây cũng là một trong những sáng tạo làm nên phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Trịnh Công Sơn Ngôn ngữ trong các ca từ của nhạc sĩ đã gây ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đối với người nghe nhạc mà còn đối với nhiều thế hệ nhạc sĩ, trong các thập kỉ qua
Về giá trị biểu đạt ý nghĩa: các sáng tạo danh ngữ của Trịnh Công Sơn, đặc biệt là các danh ngữ mang tinh thần Phật giáo đã mở rộng nội dung phản ánh, hiệu quả biểu đạt của ngôn nghệ thuật Ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ nghệ thuật và các thuật ngữ Phật giáo được hòa trộn trong một lăng kính cảm xúc thẩm mỹ rất dễ dàng để đồng cảm Những danh ngữ mới lạ kích thích trí tưởng tượng phong phú của người lĩnh hội Ở bất cứ góc độ hoặc thị hiếu thẩm mĩ nào, người nghe cũng cảm nhận được cái đẹp của nghệ thuật thông qua ngôn từ và tính chân thiện của Phật giáo thông qua cách kết hợp thuật ngữ với từ ngữ rất gần gũi trong đời sống
Cách kết hợp này khiến cho những thuật ngữ giảm bớt tính chất kinh viện của từ ngữ nhà Phật Các quan niệm Phật giáo trở nên gần gũi, giàu cảm xúc đời sống hơn Vì vậy, có thể coi đây là thành công của Trịnh Công Sơn trong việc dùng âm nhạc để phổ biến triết lí Phật giáo
Trang 323/ Động ngữ và tính ngữ
Trong khảo sát của luận văn này, động ngữ và tính ngữ mang tinh thần phật giáo không phổ biến:
Từ bi bất ngờ - tính ngữ (Ru em) Hóa kiếp thân tôi – động ngữ (Cát bụi)
Tuy nhiên, khi đặt hai đoản ngữ này vào trong câu, thông điệp mà nhạc
sĩ truyền tải lại rất mới lạ, ấn tượng: “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”, “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi”
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữ thể hiện tinh thần Phật giáo
2.2.1 Kết quả thống kê phân loại từ ngữ thể hiện tinh thần Phật giáo
Bảng 2.3 Bảng thống kê số lượng từ mang tinh thần
Tỉ lệ ca khúc có nhóm từ Phật giáo/
Trang 331/ Nhóm từ ngữ thể hiện quan niệm “không”
Trong khảo sát của luận văn này, việc sắp xếp các từ: không, hư không, vô vi, vô biên, có…vào cùng một nhóm bởi lí do những từ này cùng
biểu đạt nội dung bản thể luận Phật giáo Đây là một triết lý quan trọng bậc nhất, đầu tiên gắn kết và chi phối các quan niệm khác trong giáo lý nhà Phật
Có và không là hai thuộc tính luôn đi đôi với nhau Muốn hiểu được Hữu và Sắc (có) thì phải nắm được Không và ngược lại.
21/111 bài có sự xuất hiện của từ trong nhóm từ này, chiếm tỉ lệ 18,9%.Trong đó, “Hư không” xuất hiện 8 lần, là thuật ngữ Phật Giáo, gồm hư
và không là hai từ đồng nghĩa
Hư không nghĩa là “Hư và không là cách gọi khác của Vô Hư là không hình chất, Không là không chướng ngại, cho nên gọi là Hư không Hư không này có thể có tướng Thể là bình đẳng khắp cả Tướng là tùy theo vật chất mà
có sự khác biệt nọ kia.” [27, tr 537] ví dụ:
Giọt hư không
(Tiến thoái lưỡng nan)
Trang 34Phố hư không
(Có nghe đời nghiêng)
Lá hư không
(Gần như niềm tuyệt vọng)
Trời hư không
(Khói trời mênh mông)
Tiếng hư không
(Nghe những tàn phai)
Phút chốc hư không
(Cúi xuống thật gần)
Sự vật hiện tượng khác nhau (giọt, phố, lá, trời, tiếng, phút chốc) được
hạn định cụ thể tên gọi bằng việc dùng tính từ định ngữ hư không Nhờ đó, sự vật thị hiện được tính chất một cách rõ nét (Sắc) Hư không vừa là bản chất
của tồn tại, vừa là điều tồn tại sâu xa trong tâm của người giác ngộ Phật pháp
Trong sắc đã thấy hư không Hư không, ở một giai đoạn nào đó, luôn hiện
hình trong sắc Nhưng quan trọng hơn là hư không sinh ở trong tâm, là một trạng thái quán tưởng của Phật tử
Trong một số ngữ liệu khác, tác giả nhạc sĩ diễn giải một quá trình có
Mọi sự hiện hữu, toàn bộ sắc giới đều đang vận động tiến đến hư không
– chân tính của Phật giáo Quá trình đó, dù là ngắn ngủi (một câu nói) hay
một cuộc sinh thành, cuộc đời (“vòng nôi”)…cuối cùng vẫn về với hư không.
Trang 35Không xuất hiện 4 lần Trong từ loại tiếng Việt phổ thông, không là
danh từ, tính từ, phó từ Không của Phật giáo có nghĩa là: “trống không, không có thật, không có cảnh, không có thể Tất cả các sự vật trong tam giới đều không phải là thật Nhận ra điều đó tức là Không" [27, tr 581] ví dụ:
Chiếc đinh không
(Tình xót xa vừa)
Đời là không
(Con mắt còn lại)Trong một số trường hợp, tác giả đã tách các thuật ngữ vốn thường
sóng đôi với nhau trong Phật pháp thành hai vế đối lập về nghĩa.Vốn dĩ: có (hữu hoặc sắc) liên quan mật thiết với không (hư hoặc vô); duyên liên quan mật thiết với nợ (nghiệp) Đây cũng là sự phản ánh trạng thái tồn tại của hiện
thực được ý thức bởi người theo đạo Phật Khi giác ngộ sâu sắc về vòng luân
chuyển sắc sắc không không con người đã tri nhận được đầy đủ quy luật vận
động của vạn sự, vạn pháp và căn bản là giác ngộ được không tính vĩnh hằng
Trong đó, hữu nghĩa là có: “Đối lại với chữ Vô hoặc Không, có các
nghĩa khác nhau như Thực hữu (có thật), giả hữu (có giả) và diệu hữu (siêu việt thật và giả) Ba đời là có thật; các pháp do nhân duyên sinh ra là có giả; Tính viên thành thực là diệu hữu” [27, tr 546] ví dụ:
Đời như có như không
(Còn có bao ngày)
Duyên nợ thở dài
Có duyên không nợ Một ngày đã phai Hai hai mà một Một đời có có Nhớ em không nợ
Trang 36Một đời không không Một mình có không
(Có duyên không nợ)
Hư vô xuất hiện 9 lần, là thuật ngữ Phật giáo, từ gốc Hán có nghĩa là
“thực thể của vô vật, vô vi tự nhiên” [27, tr 541]
Hư vô (tính từ hoặc danh từ): “1 Có mà như không, thực mà như hư,
cơ sở vật chất đầu tiên của vũ trụ, quy luật của giới tự nhiên, có ở khắp nơi, nhưng không có hình tượng để thấy được” “2 Hoàn toàn không có gì tồn tại hết” Đồng nghĩa với hư không [71, tr 418] ví dụ:
Gió hư vô
(Còn mãi tìm nhau)
Tuổi trời hư vô
(Còn tuổi nào cho em)
Trời hư vô
(Khói trời mênh mông)
Em hư vô
(Con mắt còn lại)Các danh từ được hạn định phạm vi gọi tên là: gió, tuổi trời, trời phù
hợp với tính chất mà tính từ, thuật ngữ hư vô biểu nghĩa Trường hợp em là một sự lựa chọn biểu đạt mang tính sáng tạo Bởi vốn em là thực thể thường
tri nhận được bằng giác quan Tuy nhiên, khi đã nhìn từ thế giới quan Phật giáo, mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong chân tính hư vô vĩnh hằng Vậy
nên, em ở đây không phải là một cá thể riêng biệt Đó là một ý niệm về con
người trong tổng thể sự tồn tại, hiện hữu
Trong các ngữ liệu khác, hư vô như là một không gian, là đích đến của
những hoạt động của con người, ví dụ:
Trang 37Bước tới hư vô
(Giọt lệ thiên thu)
đi trong hư vô
(Tuổi đá buồn)
nằm chìm dưới hư vô
(Chìm dưới cơn mưa)
bỏ mặc hư vô
(Em đi bỏ mặc con đường)
Vì hư vô vừa là một không gian rộng lớn, mang tính tâm linh và là sản
phẩm của những quán tưởng tâm lý “Đi trong hư vô”, “Bờ bến thiên thu nằm chìm dưới hư vô”
Vô vi: Đại thừa nghĩa chương quyển 2 “Theo Tì – đàm, hư không có hai loại 1 Hữu vi; 2 Vô vi” Vô vi không (thuật ngữ): “Không hạn lượng, không biên tế, chân không tịch diệt, xa lìa tất cả các chướng ngại Tất cả các vật thể hữu ngại được hành động tự tại trong nó Đó thuộc về sở duyên của ý thức.” [27, tr 540] Vô vi không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô
vi là Hữu vi Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các pháp còn lại đều là hữu vi Trong ngữ cảnh:
trăng quá vô vi
(Nguyệt ca)
Vô vi thể hiện tính chất ánh trăng, trong sự phản ánh của Trịnh, không
còn là thực thể của thiên nhiên Trăng là một cõi thoát tục Trăng mang tính chất của vô vi hư không nghĩa là mang tính chất chân không tịch diệt của cõi Niết-bàn, cực lạc
2/ Nhóm từ ngữ thể hiện quan niệm: “hồn”, “linh hồn”
Từ hồn xuất hiện trong 20/ 111 bài hát được khảo sát, chiếm tỉ lệ 18 %
Trang 38Hồn (danh từ) có những nét nghĩa: “1.Thực thể tinh thần mà tôn giáo vàtriết học duy tâm cho là độc lập với thể xác, khi nhập vào thể xác thì tạo ra sự sống và tâm lí của con người, đồng nghĩa với linh hồn; 2 Tư tưởng và tình cảm của con người (nói khái quát) 3 (dùng trong một số tổ hợp, sau động từ, tính từ) tinh thần của con người, về mặt chịu tác động mạnh từ bên ngoài, hoảng hồn, sợ hết hồn” [70, tr 406].
Theo quan niệm Phật giáo, cách hiểu về hồn trong ngôn ngữ phổ thông
chính là nghĩa của thuật ngữ Hồn thần “là tên gọi khác của tâm thức, tục gọi
là linh hồn.” [27, tr 528] Hồn thần bao gồm Lục thức (theo quan niệm của Tiểu thừa) đó là: Nhãn thức, nhĩ thức, tị thức, thiệt thức, thân thức, ý thức Đó
là nói về sáu căn, lần lượt tương ứng với sáu cảnh là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sinh ra tác dụng: thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác, biết.Tục gọi
là linh hồn Đây là pháp môn thông thường của Đại, Tiểu thừa ở vị trí thứ 1 đến thứ 6 trong số 8 thức mà Đại thừa nêu ra nên thường gọi là tiền lục thức (sáu thức trước)
Trong một số ngữ liệu hồn được biểu đạt như một đối tượng chịu tác
động từ ngoại cảnh, theo cách giải thích trong nét nghĩa thứ ba của từ điển tiếng Việt Cách dùng thông thường trong ngôn ngữ phổ thông là: sợ hết hồn, hoảng hồn…Cách dùng từ của Trịnh Công Sơn có điểm đặc biệt mới lạ Linh hồn không được miêu tả ở những trạng thái tâm lí: sợ, hoảng…mà là: Tâm hồn có trạng thái giao thoa, đồng điệu, nhất thể hóa… giữa tinh thần con người với thiên nhiên: gió, sóng, nước… Trạng thái này mang đặc trưng rõ nét của của tâm thế thiền định Phật giáo, ví dụ:
trùng dương gió ngập hồn
(Biển nhớ)
sóng đong đưa linh hồn
(Một ngày như mọi ngày)
Trang 39dòng nước mắt trong tim chảy lai láng vào hồn
(Nước mắt cho quê hương) Hồn được dùng với nghĩa chuyển khiến thành phố được nhân cách hóa
khi gắn với quan niệm về hồn - vốn luôn là tinh thần gắn với con người.
dùng các từ ngữ: hồn ta, hồn mình, hồn này, hồn tôi, hồn ai…
Các đại từ đều ở ngôi thứ nhất Trường hợp hồn ai – đại từ phiếm chỉ
nhưng vẫn ghi dấu ấn của chủ thể khi đặt trong ngữ cảnh
Có hồn ai đang nhè nhẹ sầu lên
(Tôi ơi đừng tuyệt vọng)
Từ đó trong hồn ta ôi tiếng chuông não nề
(Đóa hoa vô thường)Với cách dùng từ như vậy, tác giả đang biểu lộ sự chia sẻ cảm xúc của bản thân một cách rất trực tiếp như muốn chuyện trò với người nghe Phổ
biến nhất là cách Trịnh Công Sơn tạo lập các cách gọi tên hồn khác nhau
Trang 40trong các bài hát Các danh ngữ được nhạc sĩ tạo lập để hạn định đặc điểm, tính chất của hồn.
hồn lẻ (Biển nhớ) Hồn tuyết bao la mang theo (Có một ngày như thế) một linh hồn rỗi (Cuối cùng cho một tình yêu) hồn xanh buốt (Diễm xưa)
hồn phai những vết thương đau (Đôi mắt nào mở ra) hồn muôn trùng (Mưa hồng)
hồn tả tơi (Một ngày nhơ mọi ngày) hồn buồn dâng mênh mang (Nắng thủy tinh) hồn bao la (Ngày nay không còn bé)
hồn những năm xưa (Phôi pha) hồn thơm cây trái (Ru tình) linh hồn lạnh lẽo (Tôi ơi đừng tuyệt vọng) hồn giá lạnh băng (Du mục)
Phần lớn các từ được lựa chọn làm danh ngữ đứng sau danh từ linh hồn đều là từ biểu nghĩa buồn đau, cô đơn như: lẻ, xanh buốt, tả tơi, buồn, lạnh lẽo, giá lạnh băng, tuyết…Duy nhất trường hợp: “hồn thơm cây trái” định danh hồn một cách nhẹ nhàng, tươi sáng Cách biểu đạt về linh hồn của
Trịnh Công Sơn rất gần gũi với quan niệm của Phật giáo Hồn cảm nhận về thế giới như các giác quan (lục thức): thấy, nghe, ngửi, nếm, cảm giác, biết Các tính từ: thơm, lạnh lẽo, xanh buốt…được tác giả sử dụng để miêu tả rất độc đáo, khác biệt với cách biểu đạt thường thấy về hồn
3/ Nhóm từ thể hiện quan niệm “kiếp”
Nhóm từ kiếp kiếp xuất hiện trong 14/ 111 bài hát, chiếm tỉ lệ 12.6% Kiếp (thuật ngữ gốc Phạn, từ nguyên Kalpa phiên âm tiếng Việt Kiếp –
ba, gọi tắt là kiếp) “có nghĩa là phân biệt thời gian Kiếp là thời kì rất dài