1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn khối cơ quan chức năng bộ quốc phòng

118 168 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 781,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghị định số 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;Thông tư 131/2011/TT-BQP ngày 15/7/2011 ban hành quy chế hoạt động của BanVSTB của phụ nữ trong QĐND Việt Nam;

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của ViệtNam mà của các nước trên thế giới, là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triểncủa một xã hội Trên bình diện quốc tế, bình đẳng giới đã trở thành một trong tám mụctiêu phát triển thiên nhiên kỷ của toàn cầu và là một đòi hỏi tất yếu trong quá trìnhtoàn cầu hoá và hội nhập của mỗi quốc gia Ở Việt Nam, trong các văn kiện thành lậpĐảng tháng 2/1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một chủ trương lớn về phương diện

xã hội “thực hiện nam nữ bình quyền” Điều đó chứng tỏ, ngay từ khi thành lập Đảng,vấn đề bình đẳng giới và giải phóng phụ nữ đã được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coitrọng trong xây dựng đường lối cách mạng Hiện nay vị trí, vai trò của phụ nữ ngàycàng được nâng cao và phụ nữ đã từng bước đóng góp nhiều hơn vào sự phát triểnchung của xã hội

Sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung và của đất nước nói riêng gắn liền với quá trình đấu tranh kiên trì của xã hội cho sự bình đẳng giới Bất bình đẳng giới là tác nhân gây ra tác động tiêu cực tới quốc gia, tới mọi thành viên trong xã hội Một xã hội, một quốc gia có mức độ bình đẳng giới càng cao thì thành quả tăng trưởng kinh tế càng lớn phục vụ tốt cho công tác xoá đói giảm nghèo, xoá dần bất bình đẳng trong xã hội

Nhiều năm qua, vấn đề bình đẳng giới và đảm bảo quyền của phụ nữ là chủtrương lớn của Đảng và là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc giatrong quá trình xây dựng, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế Các chủtrương chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳng giới đã được cụ thể hoá trongLuật bình đẳng giới, Luật hôn nhân gia đình, Luật bảo vệ bà mẹ và trẻ em, Luật phòngchống bạo lực gia đình và một số luật khác Bên cạnh đó, ngày 24/12/2010 Thủ tướngChính phủ cũng đã ký Quyết định phê số 2351/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược

Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát là “Đến năm

2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia

và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” Ở Việt Nam, qua nhiều năm thực hiện

Trang 2

1

Trang 3

được nhiều kết quả đáng kể trong nhiều lĩnh vực Phụ nữ tham gia nhiều hơn vào lựclượng lao động sản xuất, đội ngũ trí thức nữ đang phát triển mạnh mẽ về số lượng

và chất lượng, số lượng nữ tham gia quản lý Nhà nước tăng: lần đầu tiên Việt Nam

có 3 nữ tham gia Bộ chính trị, có Chủ tịch Quốc hội là nữ, có 26,8% nữ là đại biểuquốc hội khoá XIV Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam có mặt ở hầu hết các cơ quanquản lý hành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp

Trong những năm qua, phụ nữ Quân đội đã tích cực khẳng định vai trò củamình trên hầu hết các lĩnh vực công tác, góp phần tích cực tạo nên sức mạnh tổng hợpcủa Quân đội nhân dân Việt Nam Nhiều nữ quân nhân được tham gia hầu hết các lĩnhvực hoạt động ở cơ quan, đơn vị, đảm bảo được các quyền bình đẳng về lao động, việclàm, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, chính trị, văn hoá – xã hội… Tuy vậy, vấn đề bìnhđẳng giới thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói chung và trong Quân đội nóiriêng vẫn còn nhiều bất cập, khó khăn và nhiều vấn đề quan tâm giải quyết Cụ thể là:định kiến về giới, phân biệt đối xử vẫn còn tồn tại, lao động nữ vẫn còn nhiều thiệtthòi trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản, về cơ hội được đào tạo thăng tiến, việc bồidưỡng, phát triển cán bộ nữ có nơi còn hạn chế, công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nữchưa gắn với quy hoạch đội ngũ cán bộ chung Các chế độ chính sách, mục tiêu quốcgia của Nhà nước đã ban hành vì sự tiến bộ của phụ nữ có lúc, có nơi chưa triển khaiđồng bộ hoặc chưa thật sự coi trọng Số phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng, lãnh đạo quản

lý chưa nhiều Trình độ học vấn, chuyên môn, tay nghề nhiều chị em còn thấp…Nguyên nhân của thực trạng này là do sự tồn tại khá lâu đời của tư tưởng trọng namkhinh nữ Thực tế, môi trường Quân đội từ lâu cũng gần như mặc định chỉ dành chonam giới nên nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp còn xem nhẹ vấn đề bình đẳng giới và vì

sự tiến bộ của phụ nữ Cùng với đó, nhiều chị em còn có tư tưởng an phận, e ngạitrong phấn đấu… Do vậy, cần làm sao để việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳnggiới đạt được hiệu quả thực chất, phù hợp với đặc điểm tình hình của Bộ Quốc phòng

là vấn đề cần nghiên cứu kỹ Trên thực tiễn đó, việc nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn khối cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng” là rất

cần thiết

Trang 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ, công bằng xãhội là bình đẳng giới Đây không chỉ là vấn đề nhận được sự quan tâm chung của cộngđồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á với tưtưởng “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trongcuộc sống xã hội Hiện nay, việc nghiên cứu bình đẳng giới vẫn luôn là đề tài đượcnhiều nhà khoa học quan tâm, đi sâu nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của ngườiphụ nữ và tạo cơ hội cho phụ nữ đóng góp nhiều hơn cho công cuộc xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc và đổi mới đất nước Nhiều công trình là cơ sở để hoàn thiện chính sách phápluật về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ Một số công trình, đề tài nghiên cứu

tiêu biểu: Lương Phan Cừ với “Bình đẳng giới – hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới” (2004): Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giới và tổng quan

về chính sách pháp luật về bình đẳng giới, khái quát thực trạng bình đẳng giới ở ViệtNam nhìn từ góc độ thực thi Trong nội dung đề tài đã phân tích và làm rõ một số thuậtngữ cơ bản liên quan đến giới, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về bìnhđẳng giới, chính sách pháp luật bình đẳng giới ở một số nước trên thế giới, thực trạngthi hành bình đẳng giới ở một số lĩnh vực

Lê Ngọc Hùng – Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Xã hội học về giới và phát triển”,

(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội - 2003): các tác giả đã có những phân tích khoa học

về tình hình phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước dướilăng kính xã hội học về giới

Đăng Trường với “Giới, bình đẳng giới và phát triển bền vững” (NXB Dân

Trí, 2004): Cuốn sách trình bày các vấn đề liên quan đến quá trình đạt tới bình đẳnggiới, mối quan hệ hữu cơ, tất yếu, khác quan giữa bình đẳng giới, nhằm giúp ngườiđọc hiểu rõ hơn vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này trong sự phát triển của mỗiquốc gia và toàn nhân loại

TS Trần Thị Minh Thi - Viện Nghiên cứu gia đình và giới: “Rào cản thể chế

và văn hoá đối với sự tham gia chính trị của phụ nữ ở Việt Nam”, Tạp chí nghiên cứu

gia đình và giới, số t1/2016: bài viết đưa ra những phân tích và lập luận nhằm làm rõthực trạng phụ nữ Việt Nam tham gia các hoạt động chính trị và những rào cản đến sự

3

Trang 5

tham gia và đại diện của họ Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ trong hệ thống chính trị

đã tăng lên trong những năm gần đây nhưng tỷ lệ nữ trong các vị trí quản lý cao nhấtvẫn duy trì ở mức thấp Số lượng nữ tham gia còn quá ít cho nên tiếng nói của họkhông đủ mạnh Thêm vào đó, đại đa số không ở vị trí chủ chốt hay các mảng côngviệc ít mang tầm chiến lược cho nên phụ nữ tham chính có tiếng nói, song không thực

Nguyễn Thị Hoà: “Giới, việc làm và đời sống gia đình”, (NXB Khoa học xã

hội, 2007): Cuốn sách đề cập đến năng lực và vị trí của nữ giới trong xã hội đô thị, nêulên các vấn đề phụ nữ trong gia đình đương đại, phân tích vấn đề tri thức nữ trong cáccông ty liên doanh và một vài hiện tượng đặc thù trong đời sống ở đô thị của giới nữ

Lê Thi – Viện KHXH Việt Nam: “Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân số, văn hoá và sự phát triển bền vững”, (NXB Khoa học xã hội, 2004): Giới thiệu vai trò, vị

trí của gia đình và người phụ nữ trong mối quan hệ và tác động lẫn nhau với vấn đềdân số, văn hóa cũng như sự phát triển bền vững của môi trường, hướng tìm ra conđường tốt nhất cho tương lai phát triển của nhân dân, của gia đình và người phụ nữViệt Nam, ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa đối với sự phát triển của nước ta

TS Đỗ Thị Thạch: “Phát huy nguồn lực nữ tri thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH-HĐH”, (NXB Chính trị quốc gia, 2005): Cuốn sách tập trung làm rõ quan niệm

về trí thức, trí thức nữ, những cơ sở khẳng định phẩm chất trí tuệ cũng như những yếu

tố tác động đến sự phát triển trí tuệ của phụ nữ Tác giả đi sâu phân tích sự hình thành,đặc điểm của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, những đóng góp của họ đối với đất

Trang 6

nước; và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Namtrong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Viện nghiên cứu phát triển xã hội với nghiên cứu “Các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam” (2016): Tài liệu này dựa trên kết quả cuộc nghiên cứu

về các yếu tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam do Viện Nghiên cứuPhát triển Xã hội thực hiện từ cuối năm 2012 đến năm 2015 với sự tài trợ của QuỹFord, Oxfam Novib và Chính phủ Australia với mục tiêu là tìm hiểu những chiều cạnh,bản chất và những yếu tố quyết định của tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam, tìmhiểu những yếu tố góp phần tạo nên tình trạng bất bình đẳng giới và xây dựng cáckhuyến nghị nhằm cải thiện chính sách và các chương trình can thiệp nhằm thúc đẩybình đẳng giới ở Việt Nam

Bên cánh đó còn rất nhiều nghiên cứu, bài báo… về các chính sách bình đẳnggiới trên các tạp chí nghiên cứu gia đình và giới, tạp chí xã hội học, khoa học về phụnữ… Cùng với các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, Đảng, Chính phủ vàNhà nước Việt Nam cũng đã có nhiều văn bản luật, thông tư, nghị định, chương trìnhquốc gia về bình đẳng giới của Việt Nam như: Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chínhtrị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chiếnlược Quốc gia về BĐG giai đoạn 2011 – 2020; Chương trình hành động của Chính phủđến năm 2020 về thực hiện NQ số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị vềcông tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chương trình quốc gia vềbình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015; Nghị định 48/2009/NĐ-CP ngày 19/05/2009của Chính phủ về các biện pháp bảo đảm BĐG; Nghị định số 56/2012/NĐ-CP ngày16/7/2012 quy định trách nhiệm của Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việcbảo đảm cho các cấp Hội LHPN Việt Nam tham gia quản lý nhà nước…

Nhằm cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bình đẳnggiới, Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đã ban hành nhiều văn bản, nghịquyết, chương trình hành động, chỉ thị, hướng dẫn như: Chương trình hành động số195/Ctr-ĐU ngày 4/6/2009 thực hiện nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị vềcông tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Chỉ thị 70/CT-BQP ngày18/3/2009 về việc triển khai thi hành Luật BĐG; Hướng dẫn 902/HD-CT ngày7/7/2009 thực hiện

Trang 7

5

Trang 8

nghị định số 48/2009/NĐ-CP quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới;Thông tư 131/2011/TT-BQP ngày 15/7/2011 ban hành quy chế hoạt động của BanVSTB của phụ nữ trong QĐND Việt Nam; Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ củaphụ nữ và bình đẳng giới trong quân đội giai đoạn 2011 – 2015 và giai đoạn 2016-2020…

Với các công trình nghiên cứu, các bài báo, các văn bản, Nghị định, Nghị quyết trên thực sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến chính sách bình đẳng giới tuy nhiên chưa thực sự có công trình khoa học, báo cáo nghiên cứu về thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn khối cơ quan Bộ quốc phòng Vì vậy luận văn nghiên cứu về tình hình thực hiện và đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực thi chính sách về bình đẳng giới ở Bộ Quốc phòng hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn vận dụng cơ sở lí luận chuyên ngành chính sách công để tìm hiểu việcthực hiện chính sách bình đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong lĩnh vực giáodục đào tạo nói riêng từ thực tiễn khối cơ quan chức năng Bộ quốc phòng, từ đó đềxuất những giải pháp tăng cường thực thi chính sách bình đẳng giới trong khối các cơquan chức năng Bộ quốc phòng hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan các nghiên cứu về chính sách bình đẳng giới nói chung và trongquân đội nói riêng

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách bình đẳng giới để làm khung phân tíchcho đề tài

- Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách BĐG trong khối các cơ quanBQP: các chính sách đang triển khai hiện nay và phân tích các kết quả, những mặt đãlàm được cũng như những hạn chế, những khoảng trống về chính sách bình đẳng giới,trong đó tập trung đi sâu phân tích, nghiên cứu về thực hiện chính sách BĐG tronglĩnh vực giáo dục đào tạo từ thực tiễn khối cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng

- Phân tích các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách BĐG

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khung chính sách, tăng cường hiệuquả thực thi chính sách bình đẳng giới tại khối cơ quan Bộ Quốc phòng

Trang 9

6

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực

tiễn khối các cơ quan chức năng BQP

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu những chính sách liên quan đến việc

thúc đẩy bình đẳng giới, tình hình thực thi chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn khối

cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng

Phạm vi thời gian: Phân tích số liệu có sẵn trong thời gian 5 năm, từ 2012 đến

2017 và khảo sát nhóm cán bộ khối cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng năm 2017

Phạm vi khách thể nghiên cứu: lãnh đạo khối các cơ quan chức năng, nam và

nữ quân nhân thuộc khối các cơ quan chức năng BQP

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận: Luận văn sử dụng hệ tư tưởng của Đảng cộng sản Việt

Nam, về quyền bình đẳng nam nữ, bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ

Tiếp cận chính sách công: Tiếp cận chính sách công giúp cho việc nghiên cứu

tình hình thực hiện chính sách bình đẳng giới được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau,

từ đó sẽ có những giải pháp hoàn thiện hơn nữa việc thực thi chính sách về bình đẳnggiới từ thực tiễn BQP hiện nay Cùng với đó là tiếp cận xã hội học sẽ giúp đi sâu, nhấnmạnh vào các quan hệ xã hội bên trong và bên ngoài gia đình, gia đình với cộng đồng

và xã hội, trong đó các quan hệ bên trong gia đình là những yếu tố quyết định: quan hệkinh tế, tái sinh sản, tình cảm, quan hệ giữa các thành viên, thế hệ, vợ - chồng, bố mẹ -con cái, ông bà-con cháu, dòng họ

Tiếp cận Hệ thống: Tiếp cận hệ thống dựa vào định hướng chính trị, vào năng lực

thực tế của chủ thể tham gia thực hiện, vào môi trường thực hiện và tồn tại của chínhsách và tình trạng pháp luật trong xã hội đó

Tiếp cận Liên ngành: Tiếp cận liên ngành được vận dụng trên nền tảng những

phân tích đa chiều, đa ngành để tránh nhìn nhận phiến diện, chủ quan Tiếp cận liênngành luôn là cần thiết khi muốn soi sáng, tìm hiểu nhiều chiều cạnh của giá trị BĐGvốn rất cần các tiếp cận của chuyên ngành khác, gần gũi với xã hội trong triển khai

7

Trang 11

nghiên cứu đề tài (như tâm lý học, kinh tế học, nghiên cứu con người, nghiên cứu giađình,….).

5.2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:

Phân tích tư liệu, văn bản thứ cấp: Trên cơ sở thu thập các tài liệu nghiên cứu

trong và ngoài nước xoay quanh chủ đề BĐG, đề tài sẽ phân tích, tổng hợp các vănbản chính sách, pháp luật, chỉ thị, nghị quyết và báo cáo liên quan của Đảng, Nhànước, bộ ngành ở Trung ương và của BQP Luật và các văn bản pháp quy hướng dẫnthực hiện BĐG, các chương trình quốc gia về BĐG, tình hình thực hiện BĐG ở BQP,các nghiên cứu và báo cáo đã có về thực hiện chính sách BĐG được thu thập và phântích để thấy xu hướng bình đẳng giới ở khối các cơ quan chức năng BQP

Phân tích thống kê so sánh: Là tổng hợp, trình bày các số liệu và đánh giá tính

thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp vớimục tiêu và điều kiện thực tế

Phỏng vấn sâu các nhà quản lý và quân nhân nhằm tìm hiểu những hiểu biết,

đánh giá về các bước thực hiện chính sách BĐG ở BQP, những tồn tại bất cập trong

triển khai thực hiện chính sách để đề xuất các giải pháp khắc phục (3 lãnh đạo quản lý,

3 nữ quân nhân và 3 nam quân nhân đang công tác tại khối các cơ quan chức năng BQP).

Khảo sát bảng hỏi tìm hiểu về quá trình triển khai thực hiện chính sách BĐG ở

BQP theo tiếp cận các bước trong chính sách công, trong đó đi sâu nghiên cứu về

BĐG trong lĩnh vực giáo dục đào tạo (120 quân nhân đang công tác tại khối các cơ quan chức năng BQP trong đó đảm bảo cân bằng về giới, tuổi và vị trí công tác).

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu về chính sách bình đẳng giới không phải là vấn đề

mới ở Việt Nam tuy nhiên lại rất mới trong Quân đội hiện nay, đặc biệt là lĩnh vựcnghiên cứu về vấn đề thực hiện chính sách Đây hoàn toàn là công trình mới, mangtính thực tế cao, phản ánh thực trạng về tình hình thực hiện các chính sách về bìnhđẳng giới và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sáchbình đẳng giới tại cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng

Trang 12

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo, vận dụng

trong quá trình thực thi chính sách về bình đẳng giới ở cơ quan Bộ Quốc phòng hiện nay

7 Cơ cấu của luận văn

Luận văn được chia làm 3 chương, không kể phần mở đầu, kết luận, danh mụctài liệu tham khảo

Chương 1 Những vấn đề lý luận về bình đẳng giới và thực hiện chính sách bìnhđẳng giới

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn khối cơquan chức năng Bộ Quốc phòng hiện nay

Chương 3 Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bình đẳng giới

Trang 13

9

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI

1.1 Một số vấn đề lý luận về bình đẳng giới

1.1.1 Khái niệm bình đẳng giới

Quan điểm “nam nữ bình quyền” của Đảng và Bác Hồ đã xác định từ Cươnglĩnh năm 1930, là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam, tiếp tụcđược khẳng định trong Nghị quyết trong các nhiệm kỳ, được thể chế hoá trong các bảnHiến pháp và nhiều văn bản Luật

Bình đẳng giới theo quan niệm xã hội học là sự đối xử ngang quyền giữa haigiới nam và nữ, cũng như giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểmriêng của nữ giới, được điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý.Hay nói cách khác, bình đẳng giới là sự thừa nhận, sự coi trọng ngang nhau đối vớicác đặc điểm giới tính và sự thiết lập các cơ hội ngang nhau đối với nữ và nam trong

xã hội

Theo khoản 3, Điều 5 Luật bình đẳng giới quy định: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”.

Theo tài liệu “Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định chính sách” do Uỷ

ban quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xuất bản năm 2004, “Bình đẳng giới

là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ

và nam giới nam giới và phụ nữ cùng có vị thế bình đẳng và được tôn trọng như nhau Phụ nữ và nam giới có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội”.

Với các khái niệm trên có thể hiểu bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và namgiới có vị trí như nhau và có cơ hội như nhau để làm việc và phát triển Nói bình đẳng

10

Trang 15

giới không có nghĩa là chỉ đấu tranh quyền lợi cho phụ nữ mà là đấu tranh cho sự bấtbình đẳng của cả hai giới Nhưng trong thời đại ngày nay, nhìn chung sự bất bìnhđẳng xảy ra đối với phụ nữ là đa số nên người ta nói nhiều đến việc đòi quyền lợicho phụ nữ Bình đẳng giới không chỉ đơn giản là số lượng của phụ nữ và nam giới,hay trẻ em trai và trẻ em gái tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau, cũngkhông có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau, mà bình đẳng giới có nghĩa lànam giới và phụ nữ được công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội.Đồng thời, sự tương đồng và khác biệt giữa nam và nữ được công nhận Từ đónam và nữ có thể trải nghiệm những điều kiện bình đẳng để phát huy đầy đủ cáctiềm năng của họ, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi bình đẳng từ côngcuộc phát triển của quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.

Như vậy, bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ tháicực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỉ

lệ 50/50 mà là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai tròchính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thànhviên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam, nữ phát triển toàn diện về mọi mặt.Đồng thời tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việcmang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình đem lại

1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách bình đẳng giới

Theo Điều 7 Luật Bình đẳng giới khẳng định, chính sách của Nhà nước về Bìnhđẳng giới đó là bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,

xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hộinhư nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự pháttriển; Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện

để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏphong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; Khuyến khích

cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới;

Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết

Trang 16

để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số pháttriển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.

Như vậy, có thể hiểu chính sách bình đẳng giới là những quy định, quan điểm,

hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừanhận thể hiện ý chí của nhà nước nhằm đảm bảo việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngangnhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển củacộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó trên

cơ sở giáo dục thuyết phục và cưỡng chế

Việc tổ chức thực hiện chính sách BĐG là quá trình chuyển các quan điểm, cácứng xử của Nhà nước thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt được mụctiêu và tạo sự phát triển, chuyển biến rõ rệt về BĐG Tổ chức thực hiện chính sáchBĐG là bước hiện thực hoá chính sách BĐG vào thực tế đời sống xã hội, làm cho mọingười dân hiểu rõ và có những hành vi ứng xử với phụ nữ cũng như nhận thức về bìnhđẳng giới hiệu quả, tích cực

Tổ chức thực hiện chính sách BĐG là một quá trình gồm nhiều bước khác nhauvới nhiều phương pháp, nội dung khác nhau nhằm giảm sự chênh lệch giữa nam và nữ

về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sựphát triển và nâng cao vị thế của phụ nữ trong các lĩnh vực còn bất bình đẳng hoặc cónguy cơ bất bình đẳng cao

1.1.3 Khái niệm khối các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng

Bộ Quốc phòng là cơ quan tham mưu cho Đảng và Nhà nước về đường lối,nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốcphòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huyQuân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của phápluật Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa là người chỉ đạo thực hiện các chức năng quản lýnhà nước về quân sự, quốc phòng theo quy định của pháp luật, vừa chịu trách nhiệm tổchức, xây dựng, quản lý và là người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân và Dânquân tự vệ Bộ Quốc phòng có Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, các tổng cục

và các đơn vị trực thuộc khác

12

Trang 17

Các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng hoạt động theo từng lĩnh vực, từngnhiệm vụ cụ thể đã được phân công, tiến hành xây dựng các kế hoạch, chương trình,

đề ra các chủ trương biện pháp và phối hợp với các cơ quan chức năng khác thực hiệncác nội dung công việc do mình phụ trách như Tổng cục Chính trị là cơ quan chỉ đạo

và tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội Tổng cục có Chủ nhiệm

và các Phó Chủ nhiệm, các cục chức năng chịu trách nhiệm về công tác cán bộ, tuyênhuấn, tổ chức đảng, công tác dân vận, an ninh quân đội ; Tổng cục Hậu cần là cơquan đầu ngành về hậu cần của Quân đội nhân dân Việt Nam; có chức năng thammưu, chỉ đạo, tổ chức bảo đảm vật chất, bảo đảm sinh hoạt, bảo đảm quân y, bảođảm vận tải cho Quân đội; Tổng cục Công nghiệp quốc phòng chịu trách nhiệm sảnxuất vũ khí, trang bị quân dụng cho Quân đội và dân quân tự vệ…

Như vậy, khối các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng là các cơ quan thammưu, nghiên cứu đề xuất giúp Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng các chủ trương,biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động, các mặt công tác trong quân đội theo đúngđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Hầu như ở mọi xã hội, sự phân công lao động theo giới đều tồn tại Sự phâncông lao động theo giới là sự phân định những công việc có vẻ phù hợp với nam vànhững công việc có vẻ phù hợp với nữ Sự phân công này dẫn đến nam nữ có nhữngđặc thù công việc khác nhau, có những vị trí khác nhau và có cơ hội tiếp cận cácnguồn lực tài sản, uy tín, quyền lực… khác nhau Quan điểm của các nhà kinh tế họcgiải thích cho những trường hợp phụ nữ có xu hướng lựa chọn các công việc không

Trang 18

đòi hỏi cao, không yêu cầu đầu tư đào tạo hay kỹ năng là do phụ nữ còn phải đảmđương trách nhiệm gia đình [36, 2017].

Các quan điểm giới trong các nghiên cứu về quan hệ vợ chồng còn được sửdụng để giải thích về chất lượng hôn nhân và khái niệm hạnh phúc Theo đó, hôn nhân

có lợi cho sức khỏe tinh thần của nam giới hơn phụ nữ, do phụ nữ có xu hướng bị hạnchế vai trò trong môi trường gia đình Người phụ nữ với vai trò là người đảm nhận cáccông việc không được trả công - công việc nội trợ - với vai trò này, địa vị xã hội củaphụ nữ thường thấp hơn nam giới và không được đánh giá cao về các đóng góp chogia đình thông qua công việc không được trả công (Kok Mun Ng et all, 2009 – Tríchlại theo Trần Thị Cẩm Nhung, 2009: 81) Theo đó, nếu như người phụ nữ tham gia vàocác lao động xã hội khác, người phụ nữ lại phải đảm nhiệm vai trò kép, điều này dễdẫn đến những căng thẳng và khiến cho phụ nữ ít cảm nhận sự hài lòng, sự viên mãntrong quan hệ hôn nhân

Các thể chế chính trị có thể đóng vai trò quan trọng đối với sự tham gia của phụ

nữ trong chính trị như là các yếu tố xã hội, văn hóa và kinh tế [36, 2017] Tự do chínhtrị ở một quốc gia được biểu hiện bằng luật pháp mạnh mẽ, tôn trọng quyền tự do,thiếu sự xung đột sắc tộc và tôn giáo, cạnh tranh chính trị cởi mở, mức độ tham nhũngthấp và truyền thông độc lập [36, 2017] Do đó, sự phát triển của các thể chế chính trịtrong một quốc gia có thể liên quan đến gia tăng sự tham gia của lãnh đạo chính trịphụ nữ

1.2 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bình đẳng giới

Thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là quá trìnhchuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lýnhằm đạt mục tiêu nhất định Có thể nói, tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kếtnối các bước trong chu trình chính sách thành hệ thống Đây là giai đoạn có ý nghĩa vôcùng quan trọng vì chính sách sẽ trở thành vô nghĩa nếu không được đưa vào thựchiện và mục tiêu của chính sách sẽ không được thực hiện

Việc thực hiện chính sách bình đẳng giới là khâu biến ý đồ chính sách thànhhiện thực Tổ chức thực thi chính sách bình đẳng giới là để từng bước thực hiện cácmục tiêu chính sách về bình đẳng giới và mục tiêu chung Các mục tiêu quốc gia về

14

Trang 19

bình đẳng giới được xem xét dưới 2 khía cạnh: các mục tiêu chung của quốc gia vềbình đẳng giới nhằm đảm bảo bình đẳng nam nữ và các mục tiêu đặc thù về bình đẳnggiới là cơ sở để xây dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được quy định trongLuật Bình đẳng giới.

Khi chính sách được thực thi là đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách đó.Chính sách bình đẳng giới đã được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội,thì tính đúng đắn của chính sách bình đẳng giới được khẳng định ở mức cao hơn, được

cả xã hội thừa nhận nhất là các đối tượng thụ hưởng chính sách, đặc biệt là phụ nữ

Việc hoạch định một chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng nhưngviệc tổ chức thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Chính sách bình đẳng giới

dù hay đến mấy, có ý nghĩa đến mấy nhưng sẽ là không tưởng nếu không được kiểmnghiệm trong thực tiễn Thực tiễn chính là tiêu chuẩn để kiểm tra những lý luận đó cóđúng đắn hay không Quá trình tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới với nhữnghoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách cho phùhợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Quá trình thực thi chính sách bìnhđẳng giới sẽ góp phần thúc đẩy quá trình bình đẳng giới có kết quả hơn, đạt các mụctiêu nhanh hơn và bền vững hơn

1.3 Chính sách bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay

Bình đẳng giới luôn là một trong những vấn đề được hầu hết tất cả các quốc giatrên thế giới quan tâm, nó là một mục tiêu phát triển và là một yếu tố nâng cao khảnăng tăng trưởng của mỗi quốc gia Nhiều năm qua, chính phủ của nhiều nước trên thếgiới đã nỗ lực để mang lại bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự đượcsống trong xã hội văn minh, phát triển bền vững và nhân văn, trong đó có Chính phủViệt Nam

1.3.1 Công ước CEDAW

Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 18/12/1979, có hiệu lực ngày3/9/1981 Đây là một trong chín công ước quan trọng nhất trong hệ thống văn kiệnquốc tế về con người và là văn kiện chủ chốt nhất trong số những văn kiện quốc tế tậptrung vào vấn đề bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ; là văn kiện quốc tế

Trang 20

mang lại tính ràng buộc pháp lý đầu tiên nhằm ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ

nữ và xây dựng một chương trình hành động nhằm thúc đẩy quyền bình đẳng của phụ

nữ CEDAW ra đời được hơn 30 năm qua và nhận được sự hưởng ứng của toàn thếgiới, nó đã phản ánh những quy chuẩn mang tính quy phạm thích hợp với các quyềncủa phụ nữ Hiện có 187 quốc gia là thành viên của CEDAW Việt Nam ký CEDAWngày 29/7/1980, phê chuẩn ngày 30/11/1981 và có hiệu lực ở Việt Nam từ ngày19/3/1982

Công ước CEDAW gồm 6 chương và 30 điều có tính ràng buộc pháp lý nhằmđảm bảo quyền bình đẳng thực tế của phụ nữ, không chỉ về khía cạnh dân sự mà còn

về kinh tế, xã hội, văn hoá và gia đình CEDAW chỉ ra những ảnh hưởng của văn hoá

và truyền thống làm giới hạn quyền của người phụ nữ và gây khó khăn cho các nhàchức trách trong việc thay đổi các thành kiến, khuôn phép, phong tục, tập quán, phânbiệt đối xử chống lại phụ nữ, đồng thời CEDAW cũng ngăn chặn các hành vi và chínhsách gây bất lợi cho phụ nữ trên mọi phương diện Công ước bao hàm nguyên tắc vềnghĩa vụ của các quốc gia Và các chính quyền phải mang lại kết quả thực tế chứkhông phải chỉ mang tính lý thuyết CEDAW là công ước về quyền con người duynhất xác nhận và khẳng định quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ baogồm cả việc tiếp cận các phương pháp kế hoạch hoá gia đình của phụ nữ

CEDAW không chỉ là luật quốc tế về quyền phụ nữ mà còn là một chương trìnhhành động cho các nước để đảm bảo việc thụ hưởng những quyền đó Việt Nam làquốc gia thứ 6 trên thế giới tham gia công ước CEDAW và đã có những nỗ lực đáng

kể để thực hiện cam kết của mình trong công tác thúc đẩy bình đẳng giới Nhà nướcViệt Nam đã thực hiện trách nhiệm của một quốc gia thành viên Công ước CEDAW,đặc biệt là việc thiết lập sự bảo vệ bằng pháp luật các quyền của phụ nữ trên cơ sởkhông phân biệt đối xử và bình đẳng nam, nữ Từ sau khi công ước có hiệu lực, cácnội dung của Công ước đã được thể hiện khá đầy đủ trong các Hiến pháp và hệ thốngpháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt đầy đủ từ Hiến pháp và hệ thống phápluật từ năm 1992 đến nay, đáng chú ý nhất là Luật Bình đẳng giới và mới đây là Hiếnpháp năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2014

16

Trang 21

1.3.2 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Bình đẳng giới và quyền phụ nữ là quyền hiến định Nguyên tắc bình đẳng đã

được khẳng định ngay trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946: “Tất cả mọi công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá” (Điều 6)

và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9)

Hiến pháp năm 1959: Điều 24 quy định “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội và gia đình’’ Như vậy so với Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 đã cụ

Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001, từ Điều 53 đến Điều 74 quyđịnh rõ các quyền bình đẳng nam, nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình,

trong đó tại Điều 63 quy định “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối

xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”.

Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đến nay, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng địnhsâu sắc hơn quyền của phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát triển các quy định của Hiếnpháp năm 1992 Từ Điều 14 đến Điều 49, Chương II, Hiến pháp năm 2013 đã quy địnhcác quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng, trong đó có quyền của

phụ nữ được quy định tại Điều 26 “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới” Tại Điều này trách nhiệm tạo điều kiện

cho phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội, không chỉ củanhà nước, xã hội mà còn có trách nhiệm của cả gia đình

Trang 22

Như vậy, qua các bản Hiến pháp nước ta đã thể hiện rõ quan điểm “bình đẳng và

ưu tiên” Có những quyền được pháp luật xây dựng bảo đảm quyền bình đẳng giữa

nam và nữ trước pháp luật nhằm xoá bỏ sự phân biệt đối xử trong công việc, trongđời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và trong đời sống gia đình và bên cạnh

đó có những quyền ưu tiên trong việc tuyển dụng, sắp xếp công việc , tạo điều kiệnthuận lợi cho phụ nữ thể hiện khả năng của mình với việc đóng góp ngày càng nhiềucho gia đình, xã hội, đồng thời tránh rủi ro trong nghề nghiệp, trong cuộc sống gia đình

và xã hội

Chúng ta có thể khẳng định quyền của phụ nữ Việt Nam luôn luôn được quyđịnh qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung các bản Hiến pháp để ngày càng phù hợp với điềukiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và phù hợp với các điều ước quốc

tế mà nước ta đã tham gia và cũng phù hợp xu hướng Hiến pháp của các nước trongkhu vực và quốc tế Điều này đã thể hiện mối quan tâm sâu sắc của cả hệ thống chínhtrị, của bộ máy nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của phụ nữ Việt Nam trongtiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.3.3 Một số văn bản chủ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ

- Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước

Hội nhập quốc tế và những vấn đề mới đặt ra đối với việc bảo đảm quyền bìnhđẳng của phụ nữ, Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chínhtrị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước đã đưa ra mục tiêu:

“Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, ngiệp vụ, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế,

có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đóng góp này cành lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia

có thành tựu và bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực” Cùng với chính sách về đào tạo,

bồi dưỡng, quy định về tỷ lệ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý và các cơ quandân cử, Nghị quyết thể hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiệncác mục tiêu về bình đẳng giới và vì sự phát triển của phụ nữ

Trang 23

18

Trang 24

- Kết luận số 55-KL/TW ngày 18 tháng 1 năm 2013 của Ban Bí thư về tiếp tục

đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ /TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của BộChính trị khoá X về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước” tiếp

tục khẳng định thực hiện mục tiêu của Nghị quyết: “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ

nữ tham gia cấp uỷ đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đạt từ 35% đến 40% Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”.

- Thông báo số 196-TB/TW ngày 16 tháng 3 năm 2015: Kết luận của Ban bí thư

về Đề án “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới”

Cùng với những đánh giá về kết quả đạt được và nêu ra những vấn đề hạn chế,nguyên nhân của hạn chế trong công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ,

Ban bí thư yêu cầu: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân Lên án và đề ra biện pháp khắc phục tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” Tăng cường

kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của

nhà nước liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới”, và “Cấp uỷ, tổ chức Đảng làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và bổ nhiệm cán bộ nữ; thực hiện cho được mục tiêu nêu trong Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khoá X”.

1.3.4 Luật Bình đẳng giới

Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước Cộng Hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày1/7/2007, là một minh chứng về quyết tâm chính trị của Đảng và nhà nước Việt Namtrong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam, nữ, xoá bỏ phânbiệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người nói chung,quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng Luật bình đẳng giới được xây dựng với quanđiểm chỉ đạo: nội luật hoá các quy định phù hợp trong công ước quốc tế về quyền con

Trang 25

19

Trang 26

người, đặc biệt là Công ước CEDAW, khẳng định Việt Nam nghiêm túc thực hiện camkết tại Điều 2a của Công ước CEDAW.

Luật Bình đẳng giới với 6 chương và 44 Điều đã quy định nhiều vấn đề về bìnhđẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bình đẳng giới,trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳnggiới Cụ thể là bình đẳng giới trong các lĩnh vực: Chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục– đào tạo; khoa học công nghệ, văn hoá, thông tin; thể dục – thể thao; y tế; gia đình.Qua những quy định này, phụ nữ cũng có thể hiểu rõ hơn về quyền lợi cũng như tráchnhiệm của mình trong các hoạt động gia đình và xã hội

Điểm nổi bật của Luật này là: lần đầu tiên hình thành nên cơ quan quản lý nhànước về bình đẳng giới ở Việt Nam, quy định bắt buộc quy trình lồng ghép vấn đềbình đẳng giới trong văn bản quy phạm pháp luật và yêu cầu các cơ quan chức năngxây dựng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới Luật bình đẳng giới được ban hànhkhông chỉ thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đảm bảo vấn đềbình đẳng giới mà còn tạo ra hành lang pháp lý góp phần đưa các quy định của phápluật về bình đẳng giới đi vào cuộc sống

1.3.5 Các văn bản chiến lược, sách lược khác của Việt Nam liên quan đến bình đẳng giới

- Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020: (được phê duyệt tại Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ) với mục tiêu tổng quát là “Đến năm 2020, về cơ bản bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” và 7 mục tiêu cụ thể gồm: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí

quản lý, lãnh đạo nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị;Giảm khoảng cách giới trong các lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sựtiếp cận của phụ nữ khó khăn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lựckinh tế, thị trường lao động; Đảm bảo bình đẳng trong các lĩnh vực văn hoá, thông tin;bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xoá bỏ bạo lực trên cơ sởgiới; Nâng cao năng lực hoạt động về bình đẳng giới

20

Trang 27

- Chương trình hành động của Chính phủ giai đoạn đến năm 2020 thực hiệnNghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 của Bộ Chính trị về công tác

phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 1 tháng 12 năm 2009 của Chính phủ) với mục tiêu: “Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương và địa phương đối với công tác phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới nhằm phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế,

có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đóng góp này cành lớn hơn cho xã hội và gia đình Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia

có thành tựu và bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực”.

- Chỉ thị số 10/2007/CT-TTg ngày 3 tháng 5 năm 2007 của Thủ tướng Chínhphủ về việc triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới: Chỉ thị ban hành nhằm chỉ đạo,hướng dẫn việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Bình đẳng giới cho cán

bộ, công chức, nhân dân và chuẩn bị các điều kiện triển khai thi hành Luật

- Nghị định số 70/2008/NĐ-CP ngày 4 tháng 6 năm 2008 của Chính phủ: quyđịnh chi tiết một số điều của Luật Bình đẳng giới Nghị định quy định trách nhiệmquản lý nhà nước và phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới với 4chương, 18 điều

- Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ: quyđịnh về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới với 6 chương 23 điều

- Nghị định số 55/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ: quyđịnh xử phạt hành chính về bình đẳng giới với 5 chương, 29 điều

- Nghị định số 56/2012/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2012 của Chính phủ: tráchnhiệm của Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc bảo đảm cho các cấp HộiLiên hiệp phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước với 8 điều

1.4 Quy trình thực hiện chính sách bình đẳng giới

Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách BĐG: Cần xây dựng kế

hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới vì quá trình tổ chức thực thi chính

Trang 28

sách là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập

kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách mộtcách chủ động hoàn toàn Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bình đẳng giới đượcxây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan triển khai thực thichính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trìnhthực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách bình đẳng giới bao gồm những nộidung cơ bản như lập kế hoạch tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệthống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chấtlượng nhân sự tham gia tổ chức thực thi; xác định kế hoạch cung cấp các trang thiết bị

kỹ thuật, các nguồn lực tài chính, các vật tư văn phòng phẩm ; xác định thời giantriển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy trì chính sách; những dự kiến

về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổ chức thực thi chính sách; dựkiến những nội quy, quy chế trong thực thi chính sách, về trách nhiệm, nghĩa vụ vàquyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hànhchính sách Kế hoạch thực thi chính sách BĐG ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xétthông qua Sau khi được quyết định thông qua, kế hoạch thực thi chính sách BĐGmang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện

Phổ biến, tuyên truyền chính sách BĐG: Sau khi bản kế hoạch triển khai thực

hiện được thông qua, các cơ quan nhà nước bắt đầu tiến hành triển khai tổ chức thựchiện theo kế hoạch Việc trước tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vậnđộng nhân dân tham gia thực hiện chính sách bình đẳng giới Đây là một hoạt độngquan trọng, có ý nghĩa lớn với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sáchbình đẳng giới Để mọi người tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chínhsách bình đẳng giới; về tính đúng đắn và tính khả thi của chính sách BĐG để họ tựgiác thực hiện và tham gia thực thi nhằm tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, đồng thời

họ cũng có thể tham gia vào quá trình giám sát để xem chính sách về BĐG có được tổchức hiệu quả hay không Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗicán bộ, công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất,trình độ, quy mô của chính sách bình đẳng giới với đời sống xã hội để chủ động tíchcực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện hiệu quả mục tiêu chính sách

22

Trang 29

bình đẳng giới từ đó phục vụ tốt hơn trong quá trình thực thi chính sách BĐG và thựchiện lồng ghép giới vào các chương trình phát triển kinh tế xã hội các cấp, các ngành

và các địa phương, đơn vị

Phân công, phối hơp thực hiện chính sách BĐG: Bước tiếp theo sau bước

tuyên truyền, phổ biến là phân công, phối hợp các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiệnchính sách theo kế hoạch được phê duyệt Chính sách BĐG được thực thi trên phạm

vi rộng lớn, ở tất cả các địa phương, các vùng miền, các cơ quan, ban ngành, do vậy,

số lượng cá nhân và tổ chức tham gia thực thi chính sách là rất lớn Bởi vậy, muốn tổchức thực thi chính sách BĐG có hiệu quả cần phải tiến hành phân công, phối hợpgiữa các cơ quan quản lý ngành, các cấp chính quyền địa phương, các yếu tố thamgia thực thi chính sách và các quá trình ảnh hưởng đến thực hiện mục tiêu chínhsách Chính sách BĐG tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quảtác động lại liên quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nêncần phải phối hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý Việc phân công, phối hợp mộtcách chủ động, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nângcao hiệu lực, hiệu quả chính sách

Duy trì chính sách BĐG: Đây là bước làm cho chính sách tồn tại được và phát

huy tác dụng trong môi trường thực tế Để chính sách BBĐG được duy trì và thực hiện

có hiệu quả đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hiệp lực và nhất trí, quyết tâm cao của người

tổ chức, người thực thi và môi trường tồn tại

Đối với cơ quan nhà nước – đơn vị chủ động tổ chức thực thi chính sách BĐG –cũng cần thường xuyên tuyên truyền, vận động người dân hiểu và có nhận thức rõ vềBĐG để từ đó tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi có những khókhăn do môi trường thực tế biến động thì Nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý

để tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Để đảmbảo lợi ích chung của xã hội, các cơ quan nhà nước có thể sử dụng các biện pháp hànhchính để duy trì thực hiện chính sách BĐG Mỗi địa phương, mỗi ngành, mỗi cơ quanđơn vị khi triển khai thực hiện chính sách BĐG cần có những biện pháp, hình thức,chương trình hành động cụ thể phù hợp với tình hình và điều kiện thực tế ở nơi đó

Điều chỉnh chính sách BĐG: Đây là việc làm cần thiết, diễn ra thường xuyên

Trang 30

trong quá trình tổ chức thực thi chính sách Để chính sách ngày càng phù hợp với tìnhhình thực tế, cơ quan quản lý nhà nước các cấp các ngành chủ động điều chỉnh biệnpháp, cơ chế chính sách để chính sách thực sự có hiệu quả trong cuộc sống miềnkhông làm thay đổi mục tiêu ban đầu của chính sách Nếu làm thay đổi mục tiêu nghĩa

là làm thay đổi chính sách, như vậy coi như chính sách không tồn tại

Đôn đốc thực hiện chính sách BĐG : Đôn đốc thực hiện chính sách BĐG là

hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện thông qua cáccông cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trongthực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách Trên thực tế, khi triển khai thựchiện bất kỳ một chính sách nào, không phải bộ phận nào cũng làm tốt, làm nhanh nhưnhau, vì thế cần có hoạt động đôn đốc để vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn đểhoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong thựchiện chính sách

Tổng kết thực chi chính sách BĐG: Tổ chức thực thi chính sách BĐG được tiến

hành liên tục trong thời gian duy trì chính sách Trong quá trình đó người ta có thểđánh giá từng phần hay toàn bộ kết quả thực thi chính sách, trong đó đánh giá toàn bộđược thực hiện sau khi kết thúc chính sách Đánh giá tổng kết trong bước tổ chức thựcthi chính sách được hiểu là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo - điều hành và chấphành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối tượng được xem xét, đánhgiá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ Trungương đến địa phương Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổ chứcchính trị, chính trị - xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách BĐG Bêncạnh việc tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước, cònxem xét, đánh giá việc thực thi của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách BĐGbao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và gián tiếp từ chính sách, nghĩa làtất cả các thành viên xã hội với tư cách là công dân

1.5 Các chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới

Chính phủ: Chính phủ ban hành chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng

giới Ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới hoặctrình Quốc hội và Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Tổ chức thực hiện pháp luật

24

Trang 31

và chỉ đạo tổ chức công tác thanh kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới.Phối hợp với Uỷ ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hộiliên hiệp phụ nữ Việt Nam và chỉ đạo các cơ quan hữu quan trong việc tuyên truyền,phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức người dân về BĐG.

Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới: Bộ Lao động – Thương binh và

Xã hội là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện BĐG trong phạm vi cảnước, có trách nhiệm trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách,chương trình, kế hoạch, mục tiêu quốc gia về BĐG Đồng thời cũng tuyên truyền, phổbiến, giáo dục chính sách, pháp luật về BĐG và tham gia đánh giá việc lồng ghép vấn

đề BĐG trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Sơ tổng kết và hằng năm báocáo Chính phủ tình hình thực hiện BĐG trong phạm vi cả nước

Bộ và cơ quan ngang Bộ: Các Bộ và cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm phối

hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về BĐG,

cụ thể là: rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ,ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung,huỷ bỏ, ban hành mới nhằm đảm bảo thực hiện chính sách BĐG trong ngành, lĩnh vựcmình phụ trách Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động và thực hiệncác biện pháp thúc đẩy BĐG Triển khai sơ kết, tổng kết và báo cáo định kỳ về thựctrạng thực hiện BĐG cũng như thanh tra, kiểm tra và xử lý các khiếu nại tố cáo vềBĐG trong Ngành, lĩnh vực phụ trách

Uỷ ban nhân dân các cấp: Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế

hoạch về BĐG tại địa phương mình Tuyên truyền phổ biến chính sách BĐG cho nhândân địa phương đồng thời chỉ đạo, tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳnggiới, lồng ghép vấn đề BĐG vào việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển phùhợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương Chủ động kiểm tra, thanh tra tìnhhình thực hiện BĐG và giải quyết các khiếu nại, tố cáo vi phạm về thực hiện BĐG.Định kỳ có sơ tổng kết và báo cáo tình hình thực hiện BĐG ở địa phương mình lên cơquan quản lý nhà nước về BĐG

Hội liên hiệp phụ nữ các cấp: Hội LHPN các đóng vai trò quan trọng trong việc

giám sát việc thực thi và phản hồi các chính sách và các văn bản pháp luật liên quan

Trang 32

tới phụ nữ và bình đẳng giới Là một tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho quyền lợicủa phụ nữ và hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ Cùng với đó là phát huy vai trò nòng cốttham mưu và thực hiện các giải pháp cần thiết để nâng cao nhận thức cho phụ nữ vềbình đẳng giới Chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản quy phạmpháp luật, chiến lược, chương trình, dự án phát triển của quốc gia, của bộ,

ngành, địa phương (nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước).

Gia đình: Gia đình là nơi định hình các quan hệ giới, truyền tải những chuẩn

mực về giới và quyết định những cơ hội cho các thành viên gia đình Thực tế cho thấy,gia đình có thể làm trầm trọng hơn định kiến giới hoặc có thể làm dịu đi sự phân biệtgiới Có thể nói, gia đình đóng vai trò quan trọng trong nhận thức và thực hiện bìnhđẳng giới Gia đình là môi trường tuyên truyền, giáo dục tốt nhất về bình đẳng giới vàđóng vai trò cơ bản trong việc định hình mối quan hệ giới ngay từ những buổi đầu củacuộc sống con người và truyền tải chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác Trong mỗi giađình cần có sự nhận thức và giáo dục các thành viên có trách nhiệm chia sẻ và phâncông hợp lý công việc gia đình Ông bà, bố mẹ cần có sự quan tâm, đối xử công bằng

và tạo cơ hội như nhau cho cả con trai và con gái trong học tập, lao động và tham giacác hoạt động xã hội khác

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bình đẳng giới

Quá trình tổ chức thực hiện chính sách BĐG diễn ra trong thời gian dài, liên tục

và có liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân vì vậy cũng sẽ có nhiều yếu tố tác động đếnhiệu quả của việc tổ chức thực hiện chính sách BĐG

Yếu tố khách quan:

Yếu tố khách quan là những yếu tố xuất hiện và tác động đến việc tổ chức thựchiện chính sách từ bên ngoài, độc lập với ý muốn của chủ thể quản lý Các yếu tố này vận động theo quy luật khách quan Đối với các yếu tố khách quan, chúng ta không thể cải biến tính khách quan của nó, mà chỉ tìm cách điều chỉnh các hoạt động quản lý, điều hành cho phù hợp với quy luật vận động trong mỗi điều kiện không gian

và thời gian

Trang 33

26

Trang 34

Chính sách BĐG liên quan và tác động đến nhiều đối tượng chính sách do đócông tác tổ chức thực thi chính sách sẽ khó khăn hơn hiều Vấn đề ở đây là ngay cảquan niệm, nhận thức, thái độ về đặc điểm, vị trí, năng lực của nam và nữ trong mỗimột người dân, kể cả cán bộ tổ chức thực thi chính sách BĐG cũng đã khác nhau, dovậy cũng đã ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách BĐG nhanh hay chậm, thuận lợihay khó khăn và hiệu quả đạt được thực sự đến đâu Xã hội Việt Nam hiện nay cơ bản

ổn định và ít có biến động về chính trị do vậy sẽ góp phần ổn định về hệ thống chínhsách, từ đó góp phần thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách BĐG.Như vậy ta có thể thấy, yếu tố môi trường thực thi chính sách cũng sẽ tác độngđến hiệu quả thực hiện chính sách

Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách BĐG đó là tính chấtđặc trưng mà các đối tượng có được từ bản tính cố hữu hoặc do môi trường sống tạonên qua quá trình vận động mang tính lịch sử như tính truyền thống, tính sáng tạo, tínhgia trưởng, tính ích kỷ, tính sáng tạo, lòng quyết tâm hay những phong tục tập quán lạclậu, lâu đời… Do vậy cần có sự phát huy, khơi gợi hay kiềm chế nó để đạt được hiệuquả tốt nhất trong quá trình tổ chức thực thi chính sách BĐG

Yếu tố chủ quan:

Quy trình thực hiện chính sách được coi là nguyên lý khoa học được đúc kết từthực tiễn cuộc sống do vậy tuân thủ chặt chẽ quy trình cũng là nguyên tắc hoạt độngcủa các nhà quản lý chính sách Chẳng hạn như trước khi ban hành chính sách BĐG,đưa chính sách BĐG đi vào cuộc sống thì cần phải tuyên truyền phổ biến rộng rãi đếnmọi đối tượng trong xã hội, để mọi người dân hiểu được vấn đề chính sách BĐG nhưthế nào, lợi ích mang lại từ chính sách ra sao, từ đó mới có thể tuyên truyện vận độngngười dân tích cực tự nguyện, tự giác thực hiện chính sách… từ đó sẽ tạo điều kiệncho hoạt động tổ chức thực thi chính sách

Năng lực thực thi chính sách BĐG cũng là một yếu tố có vai trò quyết định đếnkết quả tổ chức thực thi chính sách Năng lực ở đây có thể hiểu là đạo đức công vụ,năng lực thiết kế tổ chức, năng lực thực tế, năng lực dự báo… Năng lực thực tế đượcthể hiện rõ qua tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật Nếu thiếu năng lực thực tế, cơquan quản lý tổ chức thực hiện chính sách BĐG sẽ đưa ra những kế hoạch dự kiến

27

Trang 35

không sát thực tế, làm lãng phí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả củachính sách Thậm chí nếu năng lực thực tế của cán bộ công chức thực thi chính sáchtốt, còn có thể khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực của yếu tố khách quan từ đógóp phần đem lại hiệu quả thực sự trong quá trình tổ chức thực thi chính sách.

Theo quy luật phát triển, các hoạt động kinh tế - xã hội ngày càng được tăngcường về quy mô và trình độ để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội

Do đó cần phải chuẩn bị thật tốt điều kiện vật chất kết hợp với điều kiện con người vàcác điều kiện khác mới có thể thực hiện hiệu quả chính sách đề ra Trong thực thế, nếuthiếu các điều kiện vật chất cho công tác phổ biến, tuyên truyền chính sách thì các cơquan nhà nước khó có thể chuyển tải nội dung chính của chính sách đến với đối tượngthường xuyên Chẳng hạn, khi tuyên truyền chính sách BĐG, ngoài truyền đạt nguyênvăn văn bản, quy định của pháp luật, cần phải làm cho các đối tượng chính sách hiểu

rõ những điểm quan trọng, những vấn đề cốt lõi và phù hợp với từng nhóm đối tượngthông qua việc biên soạn các tờ rơi, pa-nô, áp phích… phát đến hộ gia đình Do đó cầnđầu tư trang thiết bị kỹ thuật và phương tiện hiện đại để hỗ trợ cơ quan quản lý tổ chứcthực thi chính sách hiệu quả nhất

Một yếu tố nữa là cần tranh thủ sự đồng tình của người dân vì đây là yếu tố cóvai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của một chính sách Các mục tiêuchính sách BĐG có đạt được hay không không chỉ do cơ quan quản lý tổ chức thựchiện mà phải có sự đồng tình hưởng ứng của mọi tầng lớp nhân dân Người dân là đốitượng thực hiện chính sách, vừa trực tiếp tham gia hiện thực hoá mục tiêu chính sáchvừa trực tiếp thụ hưởng lợi ích của chính sách đó mang lại Thực tế đã có nhiều chínhsách ban hành ra nhưng không phù hợp với điều kiện thực tế, không được người dânủng hộ thì chính sách đó cũng tự triệt tiêu

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn trình bày các khái niệm, ý nghĩa, tầm quan trọng củaviệc thực hiện chính sách BĐG cũng như đã nêu rõ và phân tích các bước thực hiện,các chủ thể thực hiện chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiệnchính sách BĐG

Trang 36

Luận văn cũng đã trình bày những Công ước, những chính sách, văn bản phápluật quan trọng của quốc tế và Việt Nam, có ý nghĩa quyết định đến việc thúcđẩy BĐG tại Việt Nam như Công ước CEDAW, Hiến pháp nước CHXHCN ViệtNam, Luật bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 –

2020, Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnhCNH, HĐH đất nước và những thông tư, nghị định khác…

Những vấn đề lý luận trong thực hiện chính sách BĐG ở Việt Nam được làm rõ

là cơ sở cho việc phân tích thực trạng thực hiện chính sách BĐG ở khối cơ quan chứcnăng Bộ quốc phòng và các giải pháp thực hiện chính sách trong các chương tiếp theo

29

Trang 37

Chương 2 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI

TẠI KHỐI CƠ QUAN CHỨC NĂNG BỘ QUỐC PHÒNG

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm của khối cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng

Theo Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 công bố con số lực lượngthường trực của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địaphương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5triệu người Theo Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng công bố tổng quân số lựclượng chính quy khoảng 450.000 người Lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người

Tổ chức của Bộ Quốc phòng theo ngành dọc về cơ quan chuyên môn, có chỉhuy trực tiếp và gián tiếp theo ngành dọc Về tổ chức gồm Bộ Tổng Tham mưu, Tổngcục Chính trị, các Tổng cục, Cục chức năng, quân khu, quân chủng, binh chủng, quânđoàn, Học viện nhà trường và các đơn vị kinh tế trực thuộc Bộ Các cơ quan chức năng

Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ tham mưu, nghiên cứu đề xuất giúp Quân uỷ Trungương, Bộ Quốc phòng các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động, cácmặt công tác trong quân đội theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước Mỗi cơ quan hoạt động theo từng lĩnh vực, từng nhiệm vụ cụthể đã được phân công, tiến hành xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề ra các chủtrương biện pháp và phối hợp với các cơ quan chức năng khác nhằm thực hiện hiệuquả các nội dung công việc do mình phụ trách Với tính chất đặc thù của nhiệm vụquân sự - quốc phòng, lực lượng phụ nữ chiếm tỷ lệ rất ít, đa phần tập trung trong cáclĩnh vực hậu cần bảo đảm, phục vụ kĩ thuật, y tế, sản xuất, kinh doanh quốc phòng…

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu là 120 quân nhân nam và nữ đang tại ngũ với độ tuổithấp nhất là 23 tuổi, cao nhất là 57 tuổi, với số năm công tác ít nhất từ 1 năm đến nhiềunhất là 39 năm Trong số quân nhân tham gia khảo sát, sỹ quan chiếm 52,5%, quânnhân chuyên nghiệp chiếm 36,7%, CNVCQP chiếm 10,8% Số người có quân hàm cấp

tá là 55 người (45,8%), cấp uý là 54 người (45%) và CNVQP là 11 người (9,2%) Đa

Trang 38

phần quân nhân được tuyển vào công tác tại cơ quan Bộ Quốc phòng đều được đào tạo

cơ bản, trong đó Đại học, cao đẳng chiếm 79,2%; Thạc sỹ chiếm 10,8% và trung cấp8,3% Như vậy có thể thấy, đa phần quân nhân tham gia khảo sát có trình độ nhậnthức tương đối đồng đều nhau (Bảng 2.1)

Bảng 2.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Trang 39

2.2 Thực hiện các chính sách bình đẳng giới tại khối cơ quan chức năng

Bộ Quốc phòng

2.2.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới

Quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác phụ

nữ và vì sự tiến bộ của phụ nữ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, đã thườngxuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, triển khai đồng bộ các chỉ thị, nghị quyết

và kế hoạch hành động nhằm đảm bảo phụ nữ quân đội được tham gia và thụ hưởngtrên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, có trình độ học vấn, chuyên môn,nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tạo mọi điều kiện để họ thực hiện và phát huy cóhiệu quả các quyền cơ bản của phụ nữ

Để chính sách bình đẳng giới được triển khai sâu rộng đến từng cán bộ, hộiviên, cơ quan triển khai thực hiện chính sách mà cụ thể là Ban phụ nữ Quân đội phầnlớn đều xây dựng các kế hoạch thực hiện với các nội dung cụ thể như tổ chức phâncông thực hiện, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc phối hợp thực hiện,các nguồn lực đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch, công tác sơ tổng kết, kiểm tra,đánh giá thực hiện cũng như các mốc thời gian triển khai và hoàn thành…

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ chính trị về công tácphụ nữ thời kỳ đầy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng uỷ quân sư Trung ương đã xác định Chương trình hành động với mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, rõ ràng, trong đó cũng đã nhấn mạnh đến việc cần phải thực hiện tốt luật pháp chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ, đặc biệt trong các lĩnh vực: lao động – việc làm, giáo dục – đào tạo, bảo hiểm xã hội, hôn nhân – gia đình,chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ, trẻ em… đồng thời Chương trình cũng quy định

cơ quan chỉ đạo, cơ quan phối hợp thực hiện và thời gian thực hiện cho từng nhiệm vụ

cụ thể

Kế hoạch hành động VSTBPN và bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2015 chính

là bước cụ thể hoá 5 năm thực hiện triển khai Chiến lược quốc gia về bình đẳng giớigiai đoạn 2011 – 2020 và Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 –

2015 Kế hoạch đã xác định mục tiêu tổng quát là “Đảm bảo bình đẳng thực chất giữa

Trang 40

32

Ngày đăng: 10/11/2017, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung ương (2015), Thông báo kết luận của Ban bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và VSTBPN trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và VSTBPNtrong tình hình mới
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương
Năm: 2015
1. Ban Bí thư Trung ương (1993), Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 29/9/1993 về thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về đổi mới, tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Khác
2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1994), Chỉ thị 37/CT-TW ngày 16/5/1994 về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới Khác
4. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2015), Báo cáo tổng kết Kế hoạch hành động VSTBPN và BĐG trong Quân đội giai đoạn 2011 – 2015 Khác
5. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2012), Báo cáo công tác VSTBPN và BĐG trong Quân đội năm 2012 Khác
6. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2013), Báo cáo công tác VSTBPN và BĐG trong Quân đội năm 2013 Khác
7. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2014), Báo cáo công tác VSTBPN và BĐG trong Quân đội năm 2014 Khác
8. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2015), Báo cáo công tác VSTBPN và BĐG trong Quân đội năm 2015 Khác
9. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ BQP (2016), Báo cáo công tác VSTBPN và BĐG trong Quân đội năm 2016 Khác
10. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ Bộ Quốc phòng (2014), Hệ thống các văn bản quy định hiện hành về bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực gia đình, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội Khác
11. Báo cáo tổng kết 5 năm chiến lược quốc gia về BĐG giai đoạn 2011-2020 Khác
12. Báo cáo tổng kết 5 năm Chương trình quốc gia về BĐG giai đoạn 2011- 2015 Khác
13. Bộ Chính trị (1993), Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Khác
14. Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27 tháng 4 năm 2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w