1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn hành cung lỗ giang (thái bình) trong hệ thống hành cung thời trần, thế kỷ XIII XIV

192 297 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 192
Dung lượng 32,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời bêncạnh đó nhà Trần còn xây dựng mới nhiều cung điện bên ngoài kinh đô Thăng Long để làm nơi nghỉ ngơi, làm việc của nhà vua mỗi khi đi tuần du đó là hành cung.Những công trình

Trang 1

Tạp chíTrang

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… ….

… 1 NỘI DUNG……… ……8

Chương 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH CUNG ………9

1.1 Khái niệm về hành cung……… 9

1.2 Hành cung qua tư liệu lịch sử……… 9

1.3 Đánh giá quá trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra……… 18

1.4 Tiểu kết chương một……… 20

Chương 2: HÀNH CUNG LỖ GIANG QUA TƯ LIỆU LỊCH SỬ VÀ KHẢO CỔ HỌC……… 22

2.1 Phát hiện hành cung Lỗ Giang……… 22

2.2 Những khám phá khảo cổ học về hành cung Lỗ Giang……… 24

2.3 Tiểu kết chương hai……… 59

Chương 3: VỊ TRÍ CỦA HÀNH CUNG LỖ GIANG TRONG HỆ THỐNG HÀNH CUNG THỜI TRẦN……….….61

3.1 Hành cung Thiên Trường……… 63

3.2 Hành cung Vũ Lâm………65

3.3 Hành cung Lỗ Giang trong hệ thống các di tích nhà Trần ở Thái Bình….… 67

3.4 Tiểu kết chương ba……… 75

KẾT LUẬN……… 77

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Là một triều đại lớn trong lịch sử nước ta, trải qua 13 đời vua, 175 nămtrị vì, nhà Trần (1255-1400) đã đưa Đại Việt trở thành một quốc gia hùng cường từnhững chiến thắng in đậm trong lịch sử của dân tộc

Kế nghiệp nhà Lý trong hòa bình, nhà Trần tiếp tục duy trì cải tạo và xâydựng kinh đô Thăng Long hoa lệ và phát triển phồn thịnh Những kết quả khai quậtnghiên cứu khảo cổ học tại khu di tích Hoàng thành Thăng Long vào những năm

2002 - 2004, 2008 - 2009 và gần đây đã cho thấy rõ, dưới thời Trần, triều đình cơbản kế thừa các công trình kiến trúc cung điện, lầu gác của nhà Lý Đồng thời bêncạnh đó nhà Trần còn xây dựng mới nhiều cung điện bên ngoài kinh đô Thăng Long

để làm nơi nghỉ ngơi, làm việc của nhà vua mỗi khi đi tuần du đó là hành cung.Những công trình đó qua thời gian và những biến cố của lịch sử đã bị vùi lấp, ngàynay các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm kiếm và làm sáng tỏ loại hình di tích đó

Trong lịch sử, nhà Trần cho xây dựng 5 hành cung, trong đó Lỗ Giang - KiếnXương là một trong những hành cung lớn được nhà Trần cho xây dựng trên đất pháttích Long Hưng nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Qua những ghi chép của

tư liệu lịch sử, chúng ta có thể hình dung được vị trí của hành cung Lỗ Giang xưanằm ở khu vực đền Trần (Thái Lăng) tại xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà, tỉnh TháiBình ngày nay Tuy nhiên, tư liệu lịch sử không cho biết được diện mạo và quy mô,vai trò của hành cung Lỗ Giang - Kiến Xương trong hệ thống kiến trúc cung điệnnhà Trần cho xây dựng tại Long Hưng, Kiến Xương với kinh đô Thăng Long đươngthời, với các di tích thời Trần ở Tức Mặc (Nam Định) và khu lăng mộ nhà Trần ởĐông Triều (Quảng Ninh) Vì vậy, để giúp chúng ta hiểu biết được cụ thể và đầy

đủ về di tích quan trọng này, vấn đề quan trọng và cốt yếu nhất là phải dựa vào tưliệu điều tra, khai quật khảo cổ học Theo đó, vào năm 2014, dựa trên manh mốicủa sử cũ, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành nay là Viện Nghiên cứu Kinh thành

đã tiến hành điều tra khu vực Đền Trần nay thuộc xã Hồng Minh, huyện Hưng

Trang 5

2014 đến đầu năm 2016 Kết quả khai quật đã tìm thấy dấu tích hành cung LỗGiang thời Trần, minh chứng sinh động những ghi chép trong sử cũ, đồng thời làmsáng rõ hơn diện mạo, quy mô cũng như tính chất của hành cung này trong lịch sửnhà Trần nói chung và trong di sản văn hóa của nhà Trần ở Thái Bình nói riêng.

Kết quả khai quật, nghiên cứu khảo cổ học tại hành cung Lỗ Giang cũng đãcung cấp rất nhiều tư liệu quan trọng và có ý nghĩa rất to lớn trong việc nghiên cứu

so sánh về kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, hình thái kiến trúc cũng như các loại hìnhtrang trí vật liệu kiến trúc thời Trần phát hiện được tại khu di tích Hoàng thànhThăng Long

1.2 Làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành nay là Viện Nghiên cứuKinh thành, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tại Phòng Nghiên cứu Nghệthuật - Kiến trúc, tác giả được tham gia chỉnh lý, nghiên cứu các loại hình di vậtkiến trúc của Hoàng thành Thăng Long, đồng thời được may mắn trực tiếp tham giakhai quật và chỉnh lý di vật của khu di tích hành cung Lỗ Giang năm 2014 - 2016

Vì vậy, tác giả đã có những cơ sở hiểu biết về điểm tương đồng và kế thừa của kiếntrúc thời nhà Trần cũng như các triều đại khác trong lịch sử Từ đó, với mong muốnđược tìm hiểu về lịch sử hành cung nói chung trong đó có hành cung Lỗ Giang(Thái Bình) và hệ thống các hành cung nhà Trần, thế kỷ XIII-XIV, góp sức nhỏ bécủa mình vào nhiệm vụ chung của Viện là nghiên cứu, đánh giá giá trị và lập hồ sơkhoa học khu di tích Hoàng thành Thăng Long

Tác giả nhận thấy đây là một vấn đề rất hấp dẫn và lý thú, mặc dù rất khó,nhưng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học, Chuyên ngành

Khảo cổ học là: Hành cung Lỗ Giang (Thái Bình) trong hệ thống hành cung thời Trần, thế kỷ XIII - XIV.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Kiến trúc thời Trần đã có nhiều công trình nghiên cứu và hội thảo khoa học,đặc biệt những năm 2002 - 2004, khi tiến hành khai quật tại 18 Hoàng Diệu, khu ditích Hoàng thành Thăng Long các nhà khoa học mới có cái nhìn rõ ràng hơn về kiếntrúc của thời Lý - Trần qua các dấu tích móng trụ, nền gạch, đường lát gạch, tường

Trang 6

bao, cống thoát nước… thấy được phần nào quy mô hoành tráng của các kiến trúccung điện, lầu gác Kết hợp với nghiên cứu so sánh các mô hình đất nung phát hiệntại Thái Bình, Nam Định… Các nhà khoa học đã hình dung được phần nào mặtbằng kiến trúc, kỹ thuật xây dựng, trang trí kiến trúc của thời Lý - Trần.

Trong lịch sử nghiên cứu về nhà Trần, tuy đã có một số công trình đề cậpđến hành cung, nhưng chỉ nói về việc nhà Trần xây dựng hành cung không nói đến

cụ thể về quy mô, hình thái kiến trúc Vì vậy, hiểu biết về hành cung thời Trần vẫncòn là một đáp án lớn cần tiếp tục đầu tư nghiên cứu có hệ thống

Hành cung thời Lý, Trần từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhàkhoa học trong và ngoài nước Năm 1979 - 1980, Nguyễn Mạnh Lợi đã công bố kết

quả cuộc khai quật ở Tức Mặc (Nam Định) trong bài viết Tìm hiểu di tích thời Trần

và khai quật khảo cổ ở Tức Mặc, trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm

1979, Viện khảo cổ học (1980), tr 216 - 218 Trong bài viết này, ông đã giới thiệumột cách khái quát những hiện vật thời Trần tìm thấy trong khu vực Tức Mặc

Bùi Minh Trí, Nguyễn Xuân Năm, Nguyễn Quốc Hội cũng đã có nhữngcuộc điều tra nghiên cứu khảo cổ học về di tích hành cung Tức Mặc vào cuối những

năm 80 của thể kỷ trước Trong bài viết Trung tâm gốm Thiên Trường - Tức Mặc

(Nam Định) sau một chuyến điều tra ngắn (trong Những phát hiện mới về khảo cổ

học năm 1998, Viện khảo cổ học, tr 453 - 457), các tác giả đã phác họa đôi nét vềdiện mạo kinh tế thủ công nghiệp của Thiên Trường với vị trí là một trung tâm sảnxuất gốm đặc biệt là gốm "Thiên Trường phủ chế" dưới thời Trần

Năm 2006, Tống Trung Tín và Hà Văn Cẩn đã thông báo về kết quả cáccuộc khai quật năm 2006, 2008 tại khu di tích hành cung Thiên Trường trong

Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2006 Các tác giả bước đầu xác định mối

liên hệ cũng như chức năng cụ thể của các di tích kiến trúc đã phát hiện trong hệthống hành cung Thiên Trường xưa Năm 2008, Hà Văn Cẩn, Hoàng Văn Cương

với bài Kết quả thám sát khảo cổ học tại khu văn hóa Trần - Tức Mặc (Nam Định)

(trong Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2008, Nxb Từ điển Bách khoa(2009)) đã cho thấy giá trị các dấu tích kiến trúc Đây là cơ sở để phác họa quy mô

Trang 7

của hành cung cũng như phạm vi của từng khu vực trong hành cung ThiênTrường/Tức Mặc xưa Kết quả các cuộc khai quật ở khu vực này đã góp phần to lớnvào nghiên cứu cấu trúc cũng như quy mô của hành cung Thiên Trường, giúp chúng

ta có được cái nhìn tổng quát hơn về diện mạo, quy mô của các hành cung nhà Trần

Trong ấn phẩm "Nam Định đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc", do sở VHTTNam Định xuất bản năm 2007, Nguyễn Xuân Năm đã khái quát về lịch sử xây dựnghành đô Thiên Trường, đánh giá vai trò, vị trí quan trọng của Tức Mặc trong lịch sử

nhà Trần trong bài Hành đô Thiên Trường của thời đại nhà Trần, thế kỷ XIII - XIV

ở Nam Định.

Bài viết của Đỗ Đức Hùng - Thiên Trường trong quan hệ với Thăng Long

thời Trần, trong kỷ yếu hội thảo khoa học "Thời Trần và Hưng Đạo đại vương Trần

Quốc Tuấn trên quê hương Nam Hà", đề cập đến Tức Mặc như một kinh đô thứ 2sau Thăng Long dưới thời Trần

Một luận án Tiến sỹ bảo vệ năm 2012 ở Đại học Sư phạm Hà Nội của Trần

Thị Thái Hà - Từ hành cung Tức Mặc - Thiên Trường đến đô thị Vị Hoàng (thế kỷ

XIII- XIV), tác giả đã nghiên cứu về hành cung Tức Mặc - Thiên Trường, thành phố

Nam Định thế kỷ XIII XIV và quá trình hình thành đô thị Vị Hoàng thế kỷ XV XIX với điều kiện lịch sử kinh tế, xã hội, văn hóa…

-Ngoài ra cũng có không nhiều những nghiên cứu về các hành cung khácnhư hành cung Vũ Lâm ở Hoa Lư, Ninh Bình Trong tạp chí Xưa và Nay (8 - 2004),

Lã Đăng Bật đã có bài nghiên cứu về hành cung Vũ Lâm Ông cũng đã khai thác tưliệu lịch sử để tìm hiểu về thời điểm khởi dựng hành cung và cho rằng đây là nơi tuhành của các vua Trần và là hậu cứ trong cuộc kháng chiến chống quân NguyênMông lần thứ hai (1285)

Đáng chú ý là các bài viết của nhà nghiên cứu sử học PGS.TS NguyễnThị Phương Chi, người đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hành cung với mộtloạt các bài viết như: "Thử tìm hiểu vị trí của một số thái ấp ở ngã ba sông"(Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (1998)); Thái ấp điền trang thời Trần (thế kỷ

Trang 9

Thăng Long thời Trần (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 12 (2007)) Các công trìnhnghiên cứu này đã đề cập đến vai trò, vị trí của một số thái ấp, điền trang thời Trần

và cho rằng, Thiên Trường như một kinh đô thứ 2 sau Thăng Long dưới Triều Trần

Năm 2015, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi trong bài: "Hành cung thời Lý

- Trần qua tư liệu lịch sử" đã xác định vị trí các hành cung của thời Lý và thời Trần,

cung cấp những thông tin có giá trị giúp cho học viên rất nhiều trong quá trìnhnghiên cứu

PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi là người đã đầu tư nghiên cứu về hànhcung và điền trang thái ấp nhà Trần Là nhà nghiên cứu lịch sử nên các nghiên cứucủa Bà chủ yếu khai thác từ tư liệu lịch sử và kết quả các cuộc điều tra khảo cổ học

Do bấy giờ chưa có các cuộc khai quật khảo cổ học quy mô lớn tại các di tích hànhcung hay các thái ấp điền trang nhà Trần, nên còn những hạn chế nhất định Vì lẽ đó

sự kết hợp nghiên cứu giữa nguồn sử liệu và khảo cổ học là một vấn đề rất quantrọng, khảo cổ học đóng vai trò cốt lõi để cho tác giả tập trung giải quyết về vấn đềnày

Như trên đã nêu, cuối năm 2014, dựa trên kết quả điều tra khảo cổ học tạikhu di tích đền Thái Lăng (Hưng Hà, Thái Bình), Trung tâm Nghiên cứu Kinhthành đã phát hiện ra những manh mối về hành cung Lỗ Giang và sau đó đã kết hợpvới Bảo tàng Thái Bình khai quật khu di tích này Liên tiếp năm 2015 - 2016, Trungtâm Nghiên cứu Kinh thành tiến hành khai quật khu di tích hành cung Lỗ Giangnhằm làm rõ quy mô, kết cấu của các dấu tích kiến trúc thời Trần đã xuất lộ trongcác hố khai quật năm 2014 Kết quả các cuộc khai quật này đã cung cấp nhiều tưliệu mới quan trọng giúp cho các nhà nghiên cứu nhận diện, hiểu biết rõ ràng hơn

về các loại hình di tích kiến trúc, các loại hình vật liệu kiến trúc, các loại đồ dùngvật dụng trong hành cung cũng như cơ sở phân định các giai đoạn xây dựng củahành cung Lỗ Giang trong lịch sử Đây là nguồn tư liệu mới, phong phú và hết sứcquí giá để giúp tác giả có cơ sở xây dựng luận văn

Trang 10

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Thu thập và hệ thống hoá, phân tích, đánh giá tư liệu lịch sử và khảo cổhọc đầy đủ nhất từ trước đến nay về di tích hành cung Lỗ Giang

3.2 Nghiên cứu so sánh làm rõ vị trí, quy mô, chức năng, tính chất, niên đại

và vai trò của hành cung Lỗ Giang trong hệ thống hành cung của nhà Trần

3.3 Cung cấp tư liệu khoa học góp phần tìm hiểu và nghiên cứu hệ thốnghành cung nhà Trần trong lịch sử

3.4 Cung cấp nguồn tư liệu trung thực, chính xác nhằm nghiên cứu so sánh

và làm rõ tính chất, niên đại, nguồn gốc của các loại hình di tích, di vật cùng thờiphát hiện tại Hoàng thành Thăng Long Đồng thời là cơ sở khoa học cho việc quyhoạch bảo tồn và phát huy giá trị di tích nhà Trần trên địa bàn huyện Hưng Hà nóiriêng và cả nước nói chung

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tư liệu lịch sử, tư liệu khảo cổ học liên quan trực tiếp, gián tiếp đến hànhcung Lỗ Giang và các hành cung của nhà Trần bao gồm các di tích, di vật, sự kiện,quá trình và nhân vật lịch sử liên quan đến nhà Trần, thế kỷ XIII - XIV

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: Khu di tích hành cung Lỗ Giang xã Hồng Minh, huyện

Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, kết hợp nghiên cứu so sánh với các di tích, di vật trong hệthống hành cung thời Trần ở Nam Định và Ninh Bình

- Về thời Gian: Thời Trần (thế kỷ XIII - XIV) và liên hệ với các hành cung

thời Lý (thế kỷ XI - XIII)

5 Phương pháp nghiên cứu và các nguồn tư liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống như: phươngpháp điều tra, thăm dò và khai quật khảo cổ, phân loại loại hình học, miêu tả, đo vẽ,

Trang 11

chụp ảnh di tích, di vật khảo cổ và kết hợp với các phương tiện, kỹ thuật hiện đạitrong nghiên cứu di tích kiến trúc.

Phương pháp nghiên cứu so sánh khảo cổ học được sử dụng nhằm làm rõ sựtương đồng và khác biệt giữa di tích hành cung Lỗ Giang và những hành cung thờiTrần khác, từ đó làm rõ những đặc trưng riêng, nổi bật của hành cung Lỗ Giangtrong lịch sử

Vận dụng kết quả nghiên cứu của các khoa học có liên quan như: địa lý, địachất, để bổ sung vào phương pháp tiếp cận đánh giá tổng thể

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử, toàn diện, cụ thể và biện chứng trongluận giải các mối quan hệ giữa di tích, di vật và các hiện tượng tự nhiên, xã hội cóliên quan để minh chứng cho các nội dung khoa học cần giải quyết của luận văn

5.2 Nguồn tư liệu sử dụng trong luận văn

Các báo cáo điều tra, khai quật khảo cổ học, các bài nghiên cứu về di tíchhành cung Lỗ Giang nói riêng, các hành cung thời Trần nói chung đã được công bốtrên các sách, tạp chí chuyên ngành và trong các kỷ yếu hội thảo về khảo cổ học.Luận văn tham khảo một số sách khoa học có liên quan như địa chất, địa mạo, địahình, khí hậu thuỷ văn, môi trường, dân tộc học có liên quan đến tỉnh Thái Bình

Các nguồn tư liệu lịch sử liên quan đến hành cung Lỗ Giang ở Hưng Hà,các kiến trúc thời Trần ở Thái Bình và các hành cung thời Trần nói chung

6 Những kết quả và đóng góp của luận văn

6.1 Tập hợp, hệ thống hóa tư liệu và kết quả nghiên cứu về di tích hành cung

Lỗ Giang nói riêng, các di tích hành cung thời Trần nói chung

6.2 Phân tích, nghiên cứu so sánh để xác định vị trí quy mô, tính chất, chứcnăng và vai trò của hành cung Lỗ Giang trong lịch sử Nêu bật các giá trị về kiếntrúc, trang trí kiến trúc của hành cung Lỗ Giang trong hệ thống các di tích nhà Trần

ở Thái Bình và các di tích hành cung thời Trần ở miền Bắc

6.3 Cung cấp tư liệu, góp phần làm rõ giá trị lịch sử - văn hoá của di tíchhành cung Lỗ Giang, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ lập hồ sơ khoa học khu di tíchHoàng thành Thăng Long

Trang 12

6.4 Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy phục vụ cho công tác quy hoạch, bảotồn và phát huy giá trị di tích hành cung Lỗ Giang trong hệ thống các di tích thờiTrần ở Thái Bình.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chínhcủa luận văn sẽ gồm 03 chương

- Chương 1: Tổng quan tư liệu nghiên cứu về hành cung

- Chương 2: Hành cung Lỗ Giang qua tư liệu lịch sử và khảo cổ học

- Chương 3: Vị trí hành cung Lỗ Giang trong hệ thống hành cung thời Trần

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ HÀNH CUNG

1.1 Khái niệm hành cung

Hành cung là nơi triều đình cho xây dựng những cung điện để vua nghỉ ngơimỗi khi xa giá rời kinh đô Thăng Long đi tuần du ở các địa phương

Về khái niệm hành cung cũng có một số các tài liệu định nghĩa như sau:

Hành cung (行行) hoặc Vọng cung (行行) có thể tạm hiểu như “khách điếm”

dành cho bậc quốc chủ (hoàng đế, đại vương…) và một số hạng quan chức cao cấpdừng chân trong chuyến kinh lý Tại Việt Nam chẳng hạn, trung bình mỗi tỉnh đềuphải có một hành cung, thường nhật là nơi thờ tự tổ tông của đương triều và thỉnhthoảng được đón rước hoàng đế nghỉ lại trong cuộc ngự giá tuần du, mỗi năm cókhoa cử thì những người đỗ đạt cũng phải đến đây hành lễ bái mạng thiên tử(“mạng” tức là tấm bài vị viết niên hiệu của đương kim hoàng đế, có thêm nhangkhói nghi ngút) Ở mỗi tỉnh, đây là nơi bất khả xâm phạm đối với thứ dân, khôngchỉ vì tính thiêng liêng mà còn do sự bảo hộ nghiêm ngặt của luật pháp [22]

Nói về hành cung có một số tài liệu ghi như sau: Từ điển Nguyễn QuốcHùng: Tòa nhà xây ở xa kinh đô, để vua đi ngang thì ghé đó nghỉ ngơi [6]; Thời Lý,Trần triều đình đã cho xây dựng khá nhiều hành cung, trong đó có hành cung rất nổitiếng được ghi nhiều trong quốc sử như hành cung Ứng Phong, Lỵ Nhân thời Lý,Thiên Trường hay Tức Mặc (Nam Định), Vũ Lâm (Ninh Bình), thời Trần

1.2 Hành cung qua tư liệu lịch sử

Hành cung là cụm từ không được nhắc đến nhiều, chỉ bắt đầu xuất hiện từ thời Lý và từ đó cho đến thời Nguyễn Sau khi chế độ quân chủ kết thúc vào năm

1945, các hành cung Việt Nam hoặc bị bỏ hoang phế hoặc được tu sửa thành đền, chùa Do giới hạn của luận văn, tác giả chỉ xin giới thiệu tư liệu hành cung thời Lý

và thời Trần vì hai triều đại này với sự chuyển giao quyền lực một cách hòa bình, sự

kế thừa là rất lớn và có thể các hành cung của nhà Lý vẫn được nhà Trần tiếp tục sử

dụng 1.2.1 Hành cung thời Lý

1.2.1.1 Hành dinh ở châu Hoan (Nghệ An)

Trang 14

Hành dinh này mang tính chất là hành dinh đầu tiên dưới thời Lý được biếtđến Hành dinh này được vua đến hai lần, một lần vào năm 1036, lần thứ hai vào

năm 1044 Hành dinh châu Hoan - Nghệ An được chép ngắn gọn trong Đại Việt sư

ký toàn thư, “Mùa hạ, tháng 4 năm Bình Tý (1036), đặt hành dinh ở châu Hoan,

nhân đó đổi tên châu ấy là Nghệ An” [18, tr.95]

Năm Giáp Thân (1044), trong lần đem quân đi đánh Chiêm Thành thắng lợi,nhà vua đã dừng lại ở hành dinh Nghệ An úy lạo Lý Nhật Quang và phong tướcvương cho ông : “Mùa thu, tháng 7 năm Giáp Thân (1044), vua đem quân vào thànhPhật Thệ bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu TâyThiên Sai sứ đi khắp các hương ấp phủ dụ dân chúng Các quan chúc mừng thắng

lợi Tháng 8, đem quân về Đến hành dinh Nghệ An, gọi Uy Minh hầu Nhật Quang

đến úy lạo rồi trao cho tiết việt trấn thủ châu ấy, gia phong tước vương Trước đây,vua ủy cho Uy Minh thu tô hàng năm ở Nghệ An và sai lập trại Bà Hòa khiến cho(trấn ấy) được vững chắc, lại đặt điếm canh các nơi cất chứa lương thực đầy đủ, cái

gì cũng vừa ý vua, cho nên được tước phong như thế” [18, tr.101]

1.2.1.2 Hành dinh Cổ Lãm

Hành dinh Cổ Lãm ở châu Cổ Pháp, nhà vua đến đây xuống chiếu trị tội

những kẻ trộm cướp lúa mạ và tài sản của dân Trong Đại Việt sử ký toàn thư viết

“Tháng 12 năm Quý Mùi (1043), vua đến hành dinh Cổ Lãm xuống chiếu rằng

kẻ nào ăn cướp lúa mạ và tài vật của dân, nếu đã lấy rồi thì xử 100 trượng, nếuchưa lấy được nhưng làm cho người bị thương thì xử tội lưu” [18, tr.100]

1.2.1.3 Hành cung Dâm Đàm

Hành cung cạnh hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây ngày nay) được xây dựng vàonăm 1060 Mặc dù sử không chép rõ tên hành cung là gì và kiểu cách kiến trúc xâydựng ra sao nhưng địa điểm thì ở cạnh hồ Dâm Đàm Nhà Lý xây dựng hành cungnày để cho vua ngự xem đánh cá “Canh Tý, năm thứ 2 (1060) Tháng 8 “Làm hànhcung cạnh hồ Dâm Đàm để xem đánh cá” [18, tr.106], “Làm hành cung ở bên hồDâm Đàm, để dùng khi ngự xem đánh cá” [34, tr.323]

1.2.1.4 Hành cung Ứng Phong

Trang 15

Đây là hành cung được vua ngự đến nhiều nhất và được quốc sử chép đếnnhiều hơn cả Mục đích xây dựng hành cung này là để vua ngự xem cày ruộng, xemgặt, làm lễ đảo vũ khi hạn hán Và cũng giống như các hành cung khác, chúng takhông biết thêm thông tin gì về năm xây dựng, kiến trúc cũng như vị trí cụ thể hiệnnay ở chỗ nào, chỉ biết Ứng Phong xưa, nay thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam

Định Những sự kiện vua ngự đến hành cung Ứng Phong được ghi chép trong quốc

sử nhiều hơn cả là vào khoảng nửa đầu thế kỷ 12 Đinh Dậu (1117), tháng 3 “Vualại ngự đến hành cung Ứng Phong xem cày ruộng công […] Tháng 6, vua ngựđến hành cung Ứng Phong xem cày ruộng Khi ấy không mưa, cầu đảo ở hànhcung” [18, tr.117]

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục: “Đinh Dậu (1117) Tháng 3,

mùa Xuân Nhà vua đi Ứng Phong xem xét việc cày ruộng Mùa xuân, dân cày ruộng công Nhà vua đến hành cung Ứng Phong để xem xét Từ đấy, xem cày, thăm gặt là việc thường hàng năm”, “Tháng 6, mùa hạ Không mưa Làm lễ đảo vũ ở hành cung Ứng Phong Bấy giờ ngự giá đến Ứng Phong xem xét việc cày ruộng; nhân tiện, làm lễ đảo vũ” [34, tr.350 - 351]

“Giáp Thìn, Thiên Phù Duệ Vũ, năm thứ 5 (1124), tháng giêng nhuận, Vuangự đến hành cung ở Ứng Phong xem cày ruộng Khi vua ngự ở hành cung, ngườinước Chiêm Thành là cụ ông và ba người em họ đến chầu” [18, tr.120 - 121]

Ất Tỵ, năm thứ 6 (1125) Tháng 6, mùa hạ “Rồng vàng hiện ra ở hành cung

Lợi Nhân Nhà vua đi Ứng Phong, ngự giá đến Lợi Nhân, có con rồng vàng hiện ở

nơi bí các nhà hành cung; cung nữ và hoạn quan đều trông thấy cả Có chiếu chỉtuyên bảo cho bầy tôi biết” [34, tr.357] Tháng 10 (1125), vua ngự đến hành cungỨng Phong xem gặt Bính Ngọ, Thiên Phù Duệ Vũ năm thứ 7 (1126), Mùa đông,

Trang 17

Sau đó đến thời Trần, một lần duy nhất vua ngự đến hành cung Ứng Phongvào năm 1245 “Ất Tỵ, Thiên Ứng Chính Bình năm thứ 14 (1245) Mùa xuân, thánggiêng, vua ngự hành cung Ứng Phong” [18, tr.168].

-Xưởng sinh ở hành cung Ứng Phong, sau được sách phong là Hiển Trung Vương[18, tr.141]

Giáp Tuất, Đại Định năm thứ 15 (1154) Dựng hành cung Ứng Phong, hànhcung Lỵ Nhân và đóng thuyền Vĩnh Chương [18, tr.142 - 143]

1.2.1.6 Hành cung Khải Thụy

Được Đại Việt sử kí toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương mục

chép một lần duy nhất vào tháng 10 năm Đinh Dậu (1117), “Mùa đông, tháng 10(1117), vua ngự đến hành cung Khải Thuỵ xem gặt” [18, tr.117] “Tháng 10, mùađông (1117) Nhà vua đi Khải Thụy xem xét việc gặt lúa” [34, tr.351]

1.2.1.7 Hành cung Ngự Thiên

Bính Tý, Đại Định năm thứ 17 (1156) Làm hành cung Ngự Thiên, điệnThụy Quang, gác Ánh Vân, cửa Thanh Hòa, thềm Nghi Phượng, gác Diện Phú, đìnhThưởng Hoa, thềm Ngọc Hoa, hồ Kim Liên, cầu Minh Nguyệt và đóng thuyền tobản của ngự trù, thuyền to bản của cung nội [18, tr.143]

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục “Bính Tý, năm thứ 17

(1156) Tháng 12 Làm hành cung ở Ngự Thiên Dựng hành cung ở Ngự Thiên: làm điện Thụy Quang, gác Chiếu Vân, cửa Thanh Hòa, thềm Nghi Phượng, gác Diên

Trang 19

Có thể thấy, Ứng Phong là hành cung vua Lý ngự đến xem cày ruộng, xemgặt nhiều nhất Sử chép tới 8 lần vua đến Ứng Phong Đặc biệt, đến hành cung ỨngPhong, Lỵ Nhân xem cày ruộng và xem gặt nhiều nhất là triều vua Lý Nhân Tông(ở ngôi 1072-1127) Những năm cuối đời, Ông đi xem cày, xem gặt liên tục, có năm

đi tới 2 lần và cách nhau 6 tháng như năm 1125 Từ thời vua Lý Thần Tông trở vềsau gần như không thấy sử chép đến một lần nào

1.2.2 Hành cung thời Trần

1.2.2.1 Hành cung Tức Mặc

Thời Trần, Thăng Long và Thiên Trường là hai trung tâm chính trị quantrọng và cao nhất nước Đại Việt Thiên Trường vốn là hương Tức Mặc Thời gianđầu, Tức Mặc đơn thuần là quê cha đất tổ, nơi có Tiên miếu để các thế hệ con cháu

về đây hương khói “Phú quí bất qui cố hương, như ý cẩm tư dạ hành” (Giữ sang

mà không trở về quê cũ thì như người mặc áo gấm đi đêm) Nhưng điều đặc biệtcủa nhà Trần là Thượng hoàng sau khi đã nhường ngôi cho con nhưng vẫn chủ yếunắm quyền điều hành đất nước Thượng hoàng rời Kinh đô Thăng Long về ThiênTrường Thiên Trường vừa là nơi ở của Thượng hoàng vừa là nơi điều hành chính

sự [14, tr.68] Vì thế, Thiên Trường được triều đình đầu tư xây dựng theo quy mô

của bậc đế vương Đại Việt sử kí toàn thư chép: “Mùa xuân, tháng giêng, lại cho

Phùng Tá Chu chức Nhập nội Thái phó Sai Chu về hương Tức Mặc xây dựng nhàcửa, cung điện” [18, tr.166]

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép tương tự như Đại Việt sử kí toàn thư: Kỷ Hợi, năm thứ 8 (1239) Tháng giêng, mùa xuân Dựng cung điện ở

làng Tức Mặc “Nhà vua nghĩ Tức Mặc là nơi làng cũ của mình, nên hạ lệnh choPhùng Tá Chu làm quan Nhập nội thái phó, dựng hành cung ở đấy để thời thườngđến chơi thăm” [34, tr.440]

Trần thị gia huấn ghi chép rõ: “Phía đông dựng cung Thiên Trường kiểu

cách như Thăng Long để ở, phủ đệ của các vương hầu được xây dựng tu sửa lại xâynội cung để cho các hậu ở, nội khố để cất giữ tiền cung cấp cho việc nội thị… Một

Trang 20

dải về phía trái dựng liền 4 hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ để cho cácquan ở Long Thành về triều kiến có nơi trú ngụ” [41].

Như vậy cả Đại Việt sử kí toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương

mục đều nhắc đến một sự kiện, đó là sự xuất hiện của hành cung Tức Mặc năm

1239 Có thể thấy rằng, vào thời điểm năm 1239, trước khi hương Tức Mặcđược nâng cấp lên thành phủ Thiên Trường (1262) thì ở Tức Mặc đã có một hànhcung được xây dựng Hành cung này bao gồm một số nhà cửa, cung điện Theo

Trần thị gia huấn thì trong số đó đã có cung Thiên Trường kiểu cách như Thăng

Long [14, tr.68]

Lê Tắc trong An Nam chí lược đã mô tả Thiên Trường đẹp giống như cảnh

tiên: “Thiên Trường phủ: Tên cũ là Tức Mặc hương, nơi phát tích họ Trần Đến khi

họ Trần được nước, xây một hành cung tại đó, mỗi năm đến một lần, để tỏ ra làkhông bỏ quên chỗ phát tích của ông bà, rồi đổi tên là Thiên Trường phủ, chỗ ấy cónước thủy triều chảy quanh thành, hai bên bờ mọc nhiều cây hoa, khí thơm ngátngười, họa thuyền qua lại, giống như cảnh tiên vậy” [39, tr.56]

Về chức năng của hành cung Tức Mặc năm 1239, sử cũng đã nêu rõ, là nơi

để nhà vua “đến chơi thăm”

Ngoài các công trình được xây mới như 4 hành cung Đệ Nhất, Đệ Nhị, ĐệTam, Đệ Tứ để cho các quan ở Long Thành về triều kiến có nơi trú ngụ thì phủ đệcủa các vương hầu được sửa lại làm nội cung cho các hậu ở Và, trước khi xây dựnghành cung thì ở Tức Mặc: “Tân Mão, Kiến Trung năm thứ 7 (1231) Mùa thu, tháng

8, vua ngự đến hành cung Tức Mặc, dâng lễ hưởng ở Tiên miếu, thết yến và ban lụacho bô lão trong hương theo thứ bậc khác nhau [34, tr.13] Sau đó, để xứng với đôthị mang tầm cỡ quốc gia, Tức Mặc từ quy mô của một "hương" được chính thức

nâng cấp lên "phủ" Đại Việt sử kí toàn thư chép: Năm 1262, “Đổi hương Tức Mặc làm phủ Thiên Trường” Song không phải đến thời điểm này Thiên Trường mới được gọi là "phủ" mà phủ Thiên Trường đã được gọi từ năm 1255: "Mùa Đông,

Trang 22

như Thăng Long Nếu như ở Thăng Long có cung Thánh Từ và Quan Triều chothượng hoàng và nhà vua ở (xây dựng từ năm 1230) thì ở Thiên Trường có cungTrùng Quang và Trùng Hoa "… cung gọi là Trùng Quang Lại xây riêng một khucung khác cho vua nối ngôi ngự khi về chầu, gọi là cung Trùng Hoa Lại làm chùa ởphía Tây cung Trùng Quang gọi là chùa Phổ Minh Từ đó về sau, các vua nhườngngôi đều ngự ở cung này… lại đặt quan lưu thủ để trông coi" [18, tr.177] Chức

quan quản lý toàn bộ Thiên Trường gọi là Lưu thủ Sự kiện này cũng được Khâm

định Việt sử thông giám cương mục chép lại Cũng trong năm 1262, mùa Xuân,

tháng 2, thượng hoàng ngự đến hành cung Tức Mặc, ban tiệc lớn Các hương lão từ

60 tuổi trở lên, mỗi người được ban tước hai tư, đàn bà được hai tấm lụa [18,tr.177]

Quy mô của phủ Thiên Trường, đến thế kỷ 15, Nguyễn Trãi trong Dư địa chí

cho biết gồm 4 huyện: “Phủ Thiên Trường xưa là Tức Mặc, triều Trần đổi làm Thiên Trường, có 4 huyện (Giao Thuỷ, Nam Chân, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên), 317 xã”

Những ghi chép trong quốc sử liên quan đến những lần các vua ngự đến hànhcung Thiên Trường có thể kể như sau:

Canh Ngọ, Thiệu Long năm thứ 13 (1270) Tháng 9, “Vua ngự đến hànhcung Thiên Trường [18, tr.181]; “Nhà vua đi du lịch, đến hành cung phủ ThiênTrường” [34, tr.480]

Kỷ Sửu, Trùng Hưng năm thứ 5 (1289), tháng 5 “Thượng hoàng ngự đếnhành cung Thiên Trường, có làm bài thơ rằng:

Bách bộ sênh ca, cầm bách thiệt, Thiên hàng nô bộc,quất thiên đầu Nguyệt vô sự chiếu nhân vô sự,

Trang 24

Dịch nghĩa: Cảnh thanh u, vật cũng thanh u, Mười một tiên châu, đây một

châu Trăm giọng chim ca, trăm bộ sáo, Ngàn hàng cây quýt ngàn tên nô Trăng vô

sự soi người vô sự, Nước vẻ thu ngậm trời vẻ thu Bốn biển đã quang, trần đã lặng Chuyến đi nay thắng chuyến đi xưa Vì là xúc cảm về hai lần đánh giặc đã qua mà

phát thành thơ vậy” [18, tr.200-201]

Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: Kỷ Tỵ, năm thứ 6

(1329) Tháng 2, mùa Xuân Lập con là Vượng làm Hoàng thái tử và hạ chiếutruyền ngôi; thái tử lên ngôi vua Thái tử đã lên ngôi vua, xưng là Triết Hoàng,bầy tôi dâng tôn hiệu là Thể Thiên Ngự Cực Duệ Thánh Chí Hiếu hoàng đế (tức làHiến Tông) Tôn vua cha làm Chương Nghiêu Văn Triết thái thượng hoàng đế

và tôn Lệ Thánh hoàng hậu làm Huệ Từ thái thượng hoàng hậu Sau khi đãnhường ngôi, Thượng hoàng lui về ở hành cung phủ Thiên Trường, mỗi khicác hoàng tử vào chầu, Thượng hoàng thường bình luận đến nhân vật bản triều”[34, tr.578]

Các vị vua Trần Thái Tông đến Trần Hiến Tông đã có một số lần ngự đếnhành cung Thiên Trường Đến đời các vị vua Trần Dụ Tông đến Trần Thiếu Đế đềukhông thấy quốc sử chép đến

1.2.2.2 Hành cung Vũ Lâm

Tại Đền Thái Vi (nay thuộc xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình), có

bản “Thái Vi quốc tế ngọc ký”, nội dung của nó cho biết nơi đây khi xưa là điền

trang của vua Trần Nhân Tông: “Lại nói ấp Ô Lâm, xưa vốn là một thôn của VũLâm, vì cư trú thành từng nhóm nên có tên là Ô Lâm Đến khi vua (Trần NhânTông) tới lập chùa, dựng ấp chiêu tập các chi họ ở các khu trở thành ấp mới đặt bốngiáp Vua lại dụ các phụ lão phụ lão vâng mệnh khai khẩn từng khu thành ruộng

được 155 mẫu” Ở đây, còn một tấm bia đá: “Thánh ân tự tam bảo điền”, nội dung

văn bia cho biết tham gia khẩn hoang còn có cả quân lính Sau đó, nhà vua đã chiacho họ một số đất để cày cấy: “Nguyên đây là ruộng đất ao đầm tam bảo của chùaThánh Ân do Điều Ngự Trần Nhân Tông để lại cho hoành nô và quân nhân 7 người

Trang 26

còn chú ý đến tầng lớp người cao tuổi, phủ dụ họ khai hoang làm gương cho concháu Vùng núi Trường Yên (huyện Hoa Lư ngày nay) vì thế mà từ vùng dân cưthưa thớt đã sinh sôi thêm nhiều làng mới, phân chia thành 4 giáp Nhà vua còndựng chùa ở đó để đảm bảo cuộc sống tinh thần cho dân vùng này Và, đặc biệt, nhàvua đã cho dựng hành cung Thái Vi (Vũ Lâm) để thi thoảng về thăm Chính tại

hành cung Vũ Lâm này, Trần Nhân Tông đã xuất gia ở đó Đại Việt Sử ký toàn thư

chép: “Ất Mùi, Hưng Long năm thứ 3 (1295) Mùa hạ, tháng 6, “Thượng hoàng trở

về kinh sư Vì [trước] đã xuất gia ở hành cung Vũ Lâm rồi lại trở về” [18, tr.206]

Như vậy, hành cung Vũ Lâm ra đời gắn liền với vai trò của vua Trần NhânTông trong việc khẩn hoang lập điền trang, phát triển sản xuất nông nghiệp Đồngthời đấy cũng là nơi tu hành của Ngài

1.2.2.3 Hành cung Gia Lâm và Thiên Kiện

Quý Sửu, Hưng Long năm thứ 2 (1313), tháng 2, “Hiệu Thuận Vương ChếChí đến hành cung Gia Lâm, chết, đem hỏa táng” [18, tr.225]

Kỷ Mùi, Xương Phù năm thứ 3 (1379) Tháng 9, sai quân dân chở tiền đồnggiấu vào núi Thiên Kiện (núi Thiên Kiện trước gọi là núi Địa Cận, tục truyền có câytùng cổ, rồng quấn ở trên, Trần Thái Tông dựng hành cung ở đó) [18, tr.273]

1.2.2.4 Hành cung (cung) Long Hưng ở Lỗ Giang

Hành cung Lỗ Giang – Kiến Xương là một trong những hành cung lớn đượcnhà Trần cho xây dựng trên đất phát tích Long Hưng Mặc dù là một hành cung lớn,nằm ở vị trí quan trọng kết nối Long Hưng và Tức Mặc nhưng chính sử cũng như

các thư tịch ghi chép về hành cung Lỗ Giang rất hạn chế Đại Việt sử ký toàn thư

chép:

“Quý tị năm [Trùng Hưng] thứ 9 (1293),… mùa thu, tháng 9 Khâm từ Bảothánh hoàng thái hậu băng ở cung Lỗ Giang, phủ Long Hưng, tạm quàn ở cungLong Hưng” [18, tr.203]

“Tân Tị năm [Khai Hựu] thứ 13 (1341), Mùa hạ, tháng 6, ngày 11, vua[Trần Hiến Tông] băng ở chính tẩm, tạm quàn ở cung Kiến Xương” [18, tr.246];

Trang 27

“Giáp Thân năm [Thiệu Phong] thứ 4 (1344),…Mùa thu, tháng 8,…ngày 16,

an táng Hiến Tông vào An Lăng tại Kiến Xương” [18, tr.248]

1.3 Đánh giá quá trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra

Như chúng ta đã biết, tất cả những thông tin về hành cung nhà Trần cũng nhưnhà Lý được sử cũ đã ghi chép không nhiều và trùng lặp, nhiều vấn đề không đượcghi chép, không có sự mô tả cụ thể về diện mạo, hình thái hay quy mô của hànhcung Trong nguồn sử liệu, các hành cung không được nêu rõ vị trí cụ thể, nên cáchọc giả không xác định được chính xác các hành cung đó xưa nay ở đâu Hơn nữanhững biến đổi của lịch sử của xã hội, sự thay đổi các địa danh, sự thất lạc tài liệuhoặc do điều kiện môi trường đã làm thay đổi nhiều diện mạo, nhiều kiến trúc đãbiến mất trên mặt đất, vì thế việc xác định vị trí hành chính và nhận diện kiến trúccác hành cung đó là vấn đề cực kỳ khó khăn Theo nguồn sử liệu, chúng ta khôngthể tưởng tượng được vị trí, quy mô, diện mạo hình thái kiến trúc của các hành cungthời Lý, Trần Và, các kiến trúc cổ thời Lý, Trần vốn đã bị thất truyền từ lâu, khôngcòn có di tích kiến trúc nào tồn tại đến ngày nay Vì thế, đi tìm diện mạo và quy môcủa các hành cung là vấn đề vô cùng khó khăn, cần phải đầu tư nghiên cứu lâu dài

Tình hình tư liệu nêu trên đã đặt ra nhiệm vụ cho các nhà nghiên cứu cầnphải đầu tư để từng bước làm sáng rõ diện mạo, quy mô và hình thái kiến trúc củacác loại hình hành cung thời Lý - Trần trong lịch sử Đây là vấn đề rất có ý nghĩakhoa học và thực tiễn cao Vì thế, để bước đầu tìm hiểu về hành cung thời Trần,ngay từ những năm 1976, 1986,… cho tới nay, Viện Khảo cổ học đã tiến hànhnhững cuộc điều tra khai quật một số hành cung lớn trong đó có điều tra ThiênTrường (Nam Định), hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) Đây như là những nghiêncứu khảo cổ học mang tính mở màn cho những nghiên cứu về hành cung thời Trần.Những cuộc điều tra khai quật này đã phần nào cho thấy được diện mạo của nhữnghành cung đó một cách cụ thể hơn

Từ năm 2006 đến năm 2016, đã có 4 đợt đào thăm dò, thám sát các di tíchkhảo cổ học thuộc quần thể Khu di tích thời Trần tại tỉnh Nam Định

Trang 28

Đợt đào thăm dò và thám sát Khu di tích thời Trần ở tỉnh Nam Định lần thứnhất được tiến hành vào tháng 6 năm 2006, trên địa bàn của xã Mỹ Phúc huyện MỹLộc và phường Lộc Vượng thuộc TP Nam Định Tại đây tất cả các di tích đều tìmthấy dấu vết văn hoá vật chất của thời Trần, văn hoá thời Trần được phân bố rộng

và đậm đặc nhưng tập trung nhiều nhất ở huyện Mỹ Lộc và phường Lộc Vượng(TP Nam Định) Đợt này đã phát hiện được 17 móng trụ, đoạn đường hoa chanh,cống thoát nước, các ô vuông kiểu bồn hoa hình đa giác xếp bằng ngói, nền sângạch, bờ đá kè… Những dấu vết kiến trúc này cho thấy tính chất cung đình củamột quần thể kiến trúc

Đợt thứ hai vào tháng 12 năm 2007, tại các di tích đình Liễu Nha, đình Kênh,khu vực Cửa Triều và khu vực giữa Đền Trần và chùa Tháp Kết quả đã phát hiện được: Một dàn gỗ ở khu vực cánh đồng nằm giữa đền Trần và chùa Tháp, vỉa đá kè sông Vĩnh Giang, nền gạch ngói và một cụm hiện vật gồm 7 đồ sắt

Đợt đào lần thứ ba đã khai quật 2 hố trong khuôn viên đền Trần Kết quả tìmthấy một phần cung Trùng Hoa xây dựng năm 1262 và 1 đoạn cống thoát nước ởkhu vực Nội Cung

Đợt khai quật lần thứ tư tiến hành khai quật với quy mô lớn hơn tại phíaĐông Nam cánh đồng Nội Cung Đợt khai quật này đã phát hiện ra 2 dấu vết lầu bátgiác đã phần nào khẳng định tính chất của nơi này [19, tr.4]

Kết quả các cuộc khai quật ở khu vực hành cung và phủ đệ của Tức Mặc xưa

đã góp phần xác định được vị trí, bố cục, cấu trúc và chức năng của các di tích thờiTrần ở đây

Năm 2015, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Ban quản lý Danh thắngTràng An, Ninh Bình tiến hành khai quật thám sát thung Nội Lấm - một địa điểmthuộc hành cung Vũ Lâm thời Trần Cuộc khai quật đã phát hiện các dấu tích đường

đi, bể lọc và chứa nguyên liệu dùng làm đồ sành và đồ gốm, khu vực bến nước, nềnđất đắp, các cọc tre, gỗ, cây gỗ v v Hiện vật thu được gồm các mảnh tháp menxanh lục, mảnh đất nung trang trí hình rồng; các bát đĩa, âu, liễn, bình lọ… bằnggốm men ngọc, men trắng, men nâu, hoa nâu, hoa lam …; các vật dụng bằng sành

Trang 29

như vại, chum, vò, lọ, chậu, bình, âu, nắp vung…; các đồ đun nấu bằng gốm, cáckhối gạo, thóc hóa than v v , thuộc các thời kỳ khác nhau Đây là bằng chứng vềviệc sử dụng khu vực này làm căn cứ địa và hoạt động tín ngưỡng Phật giáo vàothời Trần ở đây.

Đối với hành cung Lỗ Giang, vào tháng 8 năm 2014, khi Trung tâm Nghiêncứu Kinh thành tiến hành điều tra khảo cổ khu vực đền Trần - Thái Lăng (Hưng Hà,Thái Bình), phát hiện được nhiều di vật vật liệu kiến trúc, đồ gốm, đồ sành… Từ kếtquả điều tra, tháng 11 cùng năm, Trung tâm đã tiến hành khai quật khu vực đềnThái, Lăng Ngói và đã phát hiện được nhiều loại hình di vật và di tích kiến trúc thờiTrần Từ đây, manh mối về một hành cung thời Trần - hành cung Lỗ Giang đã đượcphát lộ Đây cũng là cơ sở để chúng ta có thể tiếp tục tìm hiểu về quy mô kiến trúccủa hành cung Lỗ Giang xưa

1.4 Tiểu kết chương một

Thời Lý, Trần triều đình cho xây dựng khá nhiều hành cung/ hành dinh Cónhững hành cung được quốc sử chép đến nhiều lần nhưng cũng có nhữnghành cung/hành dinh chỉ được quốc sử chép đến một hoặc hai lần Nhà Lý xâydựng nhiều hành cung/hành dinh hơn thời Trần Thời Trần có 5 hành cung (TứcMặc -Thiên Trường, Vũ Lâm, Lỗ Giang (hay Long Hưng), Gia Lâm và ThiênKiện) Nhưng thời Lý có khoảng 10 hành cung Thời Trần, hành cung còn liênquan đến việc tu hành của vua Trần Nhân Tông như hành cung Vũ Lâm Thời Lýkhông có một hành cung nào như vậy

Những hành cung quan trọng gắn liền với các lần vi hành của các vị vua triều

Lý chủ yếu là Ứng Phong rồi đến Lỵ Nhân Hầu như các vua Lý đến hành cung chủyếu liên quan đến tín ngưỡng và sản xuất nông nghiệp, đời sống nhân dân Khác vớithời Lý, hành cung Tức Mặc - Thiên Trường gắn liền với vị thế của trung tâm chínhtrị lớn thứ hai, chỉ sau Thăng Long (các nhà nghiên cứu thường gọi là Kinh đô thứhai của nhà Trần)

Đây là hành cung thời Trần lớn nhất và quan trọng nhất được quốc sử cũngchép nhiều và chủ yếu gắn liền với vai trò của Thượng hoàng (vua cha) và vua

Trang 30

đương nhiệm Kiến trúc hành cung Tức Mặc - Thiên Trường cũng được mô tả chitiết hơn các hành cung khác Có lẽ đây là hành cung duy nhất được chép đến vớiviệc xây dựng các cung điện trong hành cung.

Hành cung Lỗ Giang được nhắc đến trong quốc sử là vào năm 1293, khi ghinhận việc Khâm từ Bảo thánh hoàng thái hậu băng tại đây và sau đó được nhắc đếntrong quốc sử với tên gọi mới hành cung Kiến Xương Các di tích, di vật, đặc biệt là

hệ thống các loại vật liệu kiến trúc đã tìm thấy trong các hố khai quật đã cho thấynhững ghi chép của quốc sử là hoàn toàn có cơ sở Nguồn tư liệu quan trọng nàykhông những xác định vị trí chính xác của hành cung Lỗ Giang xưa mà còn có thểgiúp các nhà khoa học giải mã về quy mô, diện mạo và hình thái kiến trúc của hànhcung Lỗ Giang trong lịch sử thời Trần

Trang 31

Chương 2

HÀNH CUNG LỖ GIANG QUA TƯ LIỆU LỊCH SỬ VÀ KHẢO CỔ HỌC

2.1 Phát hiện Hành cung Lỗ Giang

2.1.1 Manh mối từ tư liệu lịch sử

Như đã nêu, Đại Việt sử ký toàn thư 3 lần nhắc đến cung Lỗ Giang, cung

Kiến Xương hay cung Long Hưng Chúng ta biết rằng, sự thay đổi về địa giới vàphân chia địa giới hành chính của phủ Long Hưng, Kiến Xương dưới thời Trần là

khá phức tạp Cũng vẫn theo Đại Việt sử ký toàn thư thì cung Lỗ Giang thuộc phủ

Long Hưng Kiến Xương có giai đoạn là lộ Kiến Xương thuộc lộ Thiên Trường,nhưng có giai đoạn trở thành phủ và gọi là phủ Kiến Xương Theo nghiên cứu của

GS Đào Duy Anh “vào đầu thời Trần, lộ Thiên Trường chia làm hai lộ Kiến Xương

và An Tiêm Sau lại chia thành 4 lộ Hoàng Giang, Sơn Nam, Long Hưng và KhoáiChâu” [1, tr.15] Tuy nhiên, theo mộc bài khắc năm Thiệu Long thứ 2 (1269) và bia

đá dựng năm Xương Phù thứ 6 (1382) phát hiện tại Thái Thụy thì lộ Long Hưng cóthể là phủ lệ vào đất Thiên Trường [47 Tr.101] Vì vậy, có thể cung Lỗ Giangthuộc lộ Kiến Xương phủ Long Hưng, khi Kiến Xương thành một phủ độc lập thì

Lỗ Giang thuộc phạm vi phủ Kiến Xương Gọi là cung Lỗ Giang vì cung được xâytrên khu vực sông Lỗ Giang, khi phủ Kiến Xương được thành lập thì lấy tên phủ đểgọi tên cung

Qua các nguồn tư liệu hiện có cho đến nay có thể suy đoán rằng: Đền TháiLăng nay gọi là đền Trần Thái Lăng tại xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà được xâydựng trên khu vực vốn là hành cung Lỗ Giang dưới thời vua Trần Anh Tông, cungKiến Xương dưới thời vua Trần Hiến Tông Trải qua thời gian, những biến thiêncủa lịch sử, cung Lỗ Giang - Kiến Xương của nhà Trần bị đổ nát, nhân dân đến đâyxây làng lập ấp Để ghi nhận vùng đất vốn là hành cung của nhà Trần và công đứccủa các vua Trần, nhân dân đã xây dựng đền tại đây và thờ phụng các vua Trần như

là Thành hoàng làng Cũng vì cung Lỗ Giang được sử sách nhắc đến từ thời TrầnAnh Tông trở về sau nên đền chỉ thờ 7 vị vua Trần từ vua Trần Anh Tông trở đi màkhông thờ 3 vị vua đầu triều Trần

Trang 32

Ở khu vực đền Thái Lăng trước khi tiến hành khai quật chưa có bất cứ mộtcuộc điều tra hay khai quật khảo cổ học nào Tất cả những ghi chép của sử cũ đều là

bí ẩn và chỉ được nhân dân địa phương kể về những tích dân gian theo kiểu truyềnmiệng Dường như không có khái niệm về cung hay hành cung hoặc một điều nàokhác tương tự về mảnh đất này

Truyền thuyết tại các thôn An Lang (thôn Lang hay Nang); An Lỗ (thôn Lỏ hoặc Nỏ); Đồng Lâm (thôn Lấm hay Nấm) và thôn Xuân Lôi (thôn Nhội) cho rằng đền Trần Thái lăng xã Hồng Minh ngày nay vốn là hành cung Lỗ Giang – Kiến Xương của nhà Trần Đền nằm ở phía hữu ngạn của ngã ba sông Hồng và sông Trà

Lý, cách khu lăng tẩm nhà Trần ở Tam Đường khoảng 6km theo đường chim bay về phía Đông; cách Tức Mặc về Tây, tức là Lỗ Giang nằm ở giữa Tức Mặc và Long Hưng

Theo thần tích, thần sắc xã Thâm Động, tổng Thượng Hộ huyện Duyên Hà,tỉnh Thái Bình thì đền Thái Lăng ngày nay, thời Nguyễn thuộc xã Thâm Động, tổngThượng Hộ Xã Thâm Động có 4 thôn là thôn Đồng Lâm, Thôn Xuân Lôi, thôn AnLang và thôn Phú Lô Đền có tên là đền Thái lăng, thờ 7 vị vua Trần gồm: 1) TrầnAnh Tông, 2) Trần Minh Tông, 3) Trần Hiến Tông, 4) Trần Dụ Tông, 5) Trần NghệTông, 6) Trần Duệ Tông, và 7) Trần Thuận Tông [42] Các vị này được thờ với tưcách là Thành hoàng của xã Thâm Động Các ghi chép này cho thấy, đền Trần TháiLăng không thờ 3 vị vua đầu triều Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và TrầnNhân Tông mà chỉ thờ các vua Trần từ Trần Anh Tông trở đi mà thôi

2.1.2 Tư liệu điều tra, khảo sát tại di tích

Xung quanh đền Thái còn nhiều địa danh phản ánh một thời quá khứ củavùng đất này Đó là các địa danh: Bến Phạm Lỗ, Cánh đồng Phủ, Lạch đường cả,Vành Lao, Càn Thiên mã, Cầu rồng, gợi lại những dấu ấn của hành cung xưa Cácđịa điểm này đều tìm thấy rất nhiều gạch ngói, đồ gốm sứ của thời Trần

Bên cạnh đó, tại khu vực đền Thái còn có các địa danh liên quan đến lăngtẩm như: Xóm Lăng, Giếng Lăng, Lăng Sa trong, Lăng Sa ngoài, Lăng Ngói

Trang 34

di vật là các loại vật liệu kiến trúc, đồ sành, gốm sứ của thời Trần Tại khu vựcLăng Ngói, bên cạnh các loại vật liệu kiến trúc như gạch ngói, đồ gốm sứ, sành tạiđây còn tìm thấy một số chân tảng kê cột có kích thước nhỏ Các chân tảng cónhiều loại khác nhau, tập trung chủ yếu trong khu vực đền hiện nay, các khu vực khácrất ít Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tìm thấy hai cột đá có khắc chữ Hán.

Kết hợp tư liệu lịch sử và khảo sát tại di tích, năm 2014 - 2015, Trung tâmNghiên cứu Kinh thành phối hợp với Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Thái Bình tiến hànhkhai quật di tích hành cung Lỗ Giang

2.2 Những khám phá khảo cổ học về hành cung Lỗ Giang

2.2.1 Về Di tích

Khu di tích hành cung Lỗ Giang phân bố trong phạm vi rất rộng lớn Dấutích khảo cổ học có thể được phát hiện trong diện tích rộng khoảng 30 hécta(300.000m2) Khu đền Thái hiện nằm phía trong đê và cách sông Hồng khoảng1500m, cách khu dân cư khoảng 500 - 1000m Quanh đó còn các địa danh: BếnPhạm Lỗ nằm cách đền khoảng 1500m về phía Tây Nam, nơi có chùa Giỗ; bến Phù

Lỗ tương truyền là đồn A Nỗ, nơi đã diễn ra những trận chiến ác liệt giữa quân dânnhà Trần chống giặc Nguyên Mông khi chúng từ Thăng Long tiến xuống Tức Mặc,Kiến Xương; Vành Lao vốn là một bức tường cao chạy trước đền được đắp bằng sỏi

và gạch ngói nay đã bị người dân đào thành con mương thủy lợi

Năm 2014, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành đã đào 6 hố khai quật [PL 06],trong đó 4 hố (H1 - H4) ở khu vực đền Thái Lăng (Khu A) và 2 hố (H5, H6) ở khuvực Lăng Ngói (Khu B) Năm 2015, Trung tâm tiếp tục mở rộng 6 hố khai quật(A1-A6) ở khu A, khu D - Lăng Sa trong có 1 hố, ký hiệu là D1 với tổng diện tích700m2 Trước khi khai quật, hệ lưới tọa độ của khu di tích đã được thiết lập, trên cơ

sở đó đặt ký hiệu cho từng khu để thuận tiện cho việc lập hồ sơ tư liệu khoa học.Khu vực trung tâm đền Thái Lăng ký hiệu là khu A; khu vực Lăng Ngói ký hiệu làkhu B; khu C là khu vực Lăng Sa ngoài và khu D là khu vực Lăng Sa trong

2.2.1.1 Khu vực đền Thái Lăng (Khu A)

Trang 35

Khu A là khu vực đền Thái Lăng, có địa hình cao hơn khu vực xung quanh,phía Đông là khu vực Lăng Sa trong (khu D) và Lăng Sa ngoài (khu C), phía Tây làkhu vực Lăng Ngói (khu B), phía Bắc là con đường dẫn vào đền, phía Nam cáchmột khoảng ruộng là chân đê sông Trà Lý (PL 04).

Trong phạm vi khai quật đã phát hiện các loại hình di tích móng trụ, bó nền, các khoảng sân Trong đợt khai quật năm 2014 một phần nền móng kiến trúc đã được phát hiện, còn phần lớn là các dấu vết kiến trúc khác được phát lộ vào năm

2015 Địa tầng khu A không phức tạp, về cơ bản toàn bộ lớp trên đã bị đào phá khi đào đất đắp đê Từ khi xây dựng ngôi đền ở đây, người ta mới chuyển đất từ khu vực xung quanh đến để san lấp và tôn cao mặt bằng, do đó sau khi khai quật hết lớp san lấp mặt bằng, di tích đã xuất lộ Độ dày của lớp văn hoá tùy từng vị trí có khác nhau Hố H1, H4, A1- A2 dày 0,5 - 0,6m, hố A5 địa tầng chỉ sâu 0,2 - 0,3m, được cấu tạo bởi lớp phù sa ở trên dày 0,2m và dưới là đất sét vàng lẫn các vụn gạch ngói,mật độ sành khá thưa Hố H2, A1, A3 và A4 trong lớp văn hoá có rất nhiều mảnh sành thời Trần, chúng phân bố từng từng cụm Ở hố A1, sành tập trung ở góc Tây -Nam, hố A3 tập trung ở góc Đông - Nam, hố A4 chủ yếu nằm trong phạm vi hố tôi vôi Dưới lớp văn hóa là đất sét xám xanh loang lổ sét màu vàng, đất dẻo, mịn, là tầng sinh thổ

Năm 2014, vị trí hố H1, H4 đã phát hiện được 6 móng trụ kép (móng trụ đôi

có 2 chân tảng) được gia cố bằng sỏi đầm chặt với ngói Đây là manh mối rất quantrọng để đi tìm dấu tích nền móng của một công trình kiến trúc thời Trần có quy môkhá lớn ở đây Trên cơ sở suy đoán về phương vị của kiến trúc, năm 2015, chúng tôi

đã mở rộng hố khai quật tại khu vực sân đền Thái Lăng (hố A1), 2 hố A3, A4 ở phíaNam của sân đền Kết quả khai quật đã tìm thấy hệ thống 19 móng trụ sỏi gia cốchân cột, dấu vết bó nền và các khoảng nền sân của một tổ hợp công trình kiến trúc

có mặt bằng hình chữ Công (工) (PL 08) Dấu tích kiến trúc này khi mới phát hiện, được ký hiệu là LG014.KT01, LG015.KT02 và LG015.KT03 Sau khi nghiên cứuphân định mặt bằng, chúng tôi đã hợp nhất lại và ký hiệu chung là LG015.KT01

Trang 36

(viết tắt là KT01) Công trình kiến trúc thứ hai xuất lộ trong hố khai quật A5 nằm ởphía sau đền Thái Lăng, được ký hiệu là LG015.KT02 (viết tắt là KT02).

a) LG015.KT01

Mặt bằng kiến trúc KT01 nằm trọn vẹn trong khu vực đền Thái Lăng, trong

2 lần khai quật đã làm xuất lộ được 19 móng trụ gia cố chân cột, tất cả các móng trụ

là KT01c và mặt bằng kiến trúc thứ ba ở giữa, ký hiệu là KT01b

- Theo chiều Bắc – Nam các móng trụ sắp xếp thành 4 hàng (PL 08)

+ Hàng thứ nhất, gồm 6 móng trụ, từ Đông sang Tây như sau: Móng trụLG14.MT01; LG14.MT02; LG15.MT07; LG14.MT03; LG14.MT04; LG15.MT08

+ Hàng thứ hai, gồm 5 móng trụ, từ Đông sang Tây như sau Móng trụLG14.MT05; LG14.MT06; LG15.MT09; LG15.MT10 và LG15.MT11

+ Hàng thứ ba, gồm 4 móng trụ, từ Đông sang Tây như sau: Móng trụLG15.MT12; LG15.MT13; LG15.MT14; LG15.MT15

+ Hàng thư tư, gồm 4 móng trụ, 2 móng trụ sỏi ký hiệu lần lượt làLG15.MT16 - LG15.MT17 và LG14.MT18; LG14MT19

- Cấu tạo móng trụ: Móng trụ có dạng hình chữ nhật, được đầm bằng gạch

ngói, sỏi và sét Căn cứ vào mặt cắt móng trụ MT09 có đặc điểm như sau(PL 12):

+ Vật liệu: Móng trụ được làm từ các loại vật liệu gạch ngói vụn, sành, sỏi

và đất sét

+ Kỹ thuật: Hố móng được đào vào nền kiến trúc và cắt vào nền sét sinh thổ,

hố có dạng hình thang cân, miệng rộng 5,4m, đáy rộng 4,7m, sâu còn lại là 0,7m.Móng trụ được gia cố rất chắc chắn bằng cách đầm vật liệu theo từng lớp mỏng với

Trang 37

nhiều lớp chồng lên nhau Mặt cắt móng trụ cho thấy phần còn lại có tổng cộng 13lớp vật liệu, từ đáy lên như sau:

Lớp 1: Lớp dưới cùng là gạch ngói vụn và sành thời Trần đầm chặt, dày từ 2– 10cm

Lớp 2: Đất sét thuần, dày 5 – 10cm

Lớp 3: Gạch ngói thời Trần đầm vụn và một số mảnh sành, dày 5 – 10cm.Lớp 5 – lớp 13 lần lượt cứ 1 lớp sét dày 5-7cm là đến lớp sỏi dày 5-7cm

* Mặt bằng KT01a có hình chữ nhật, chạy dài theo chiều Đông - Tây và rộng

theo chiều Bắc Nam Nền kiến trúc được bó bằng gạch, giới hạn hai phía Bắc Nam đã được xác định bởi các dấu vết bó nền gạch ở hai phía, giới hạn phía Đôngcũng đã được xác định qua dấu vết còn lại của hàng gạch xây nghiêng ở chân móng.Căn cứ vào dấu vết này và các móng trụ xuất lộ, theo quy luật đăng đối có thể xácđịnh được chiều Đông - Tây của kiến trúc, từ đó xác định được quy mô của KT01a

-có chiều rộng 9,9m, dài 21m và diện tích là 207,9m2

Phạm vi mặt bằng kiến trúc xuất lộ gần như hoàn chỉnh với 11 móng trụ gia

cố chân cột (móng trụ còn lại ở góc Tây - Nam chưa xuất lộ do nằm vào vị trí củacông trình kiến trúc đền hiện nay) Theo vị trí xuất lộ, các móng trụ phân bố thành 2hàng theo chiều Bắc - Nam và 6 hàng theo chiều Đông Tây Lần lượt là

LG15/MT01, MT02, MT07, MT03, MT04, MT08, MT05, MT06, MT09, MT10, MT11

Với cấu trúc móng trụ là các trụ kép, mỗi móng trụ có chức năng gia cố chịulực cho 2 cột trong một vì nghĩa là mỗi móng trụ có chức năng gia cố cho 2 chântảng đá kê cột gồm 1 cột cái và 1 cột quân, ngoại trừ hai móng trụ KT01a/MT09 vàMT10 (hai móng trụ giữa của hàng phía Nam) có kích thước khác biệt do có phầnphía Nam kéo dài hơn sang phần nền của KT01b Như vậy, hai móng trụ này lànhững móng trụ kép 3, gia cố cho 3 cột Theo đó có thể xác định mặt bằng kiến trúc

có kết cấu gồm 5 gian, mỗi vì có 4 hàng cột

- Khoảng cách các hàng cột trong kiến trúc: Khoảng cách hai hàng cột cái là

Trang 39

- Khoảng cách các bước gian trong kiến trúc: Gian chính giữa có chiều rộnglớn nhất là 6m; hai gian kế giữa chiều rộng 3,7m; hai gian đầu hồi chiều rộng 2,7m

Với diện tích mặt bằng 207,9m2 (9,9m x 21m), KT01a là kiến trúc có mặtbằng rộng lớn nhất

Kiến trúc KT01a hiện còn phát hiện 3 dấu tích bó nền (PL 13), ký hiệuLG014.A.BN02 là đoạn bó nền ngăn cách giữa móng trụ MT03, MT04 với khoảngsân phía Bắc (SN03) của kiến trúc KT01 Đoạn bó nền chạy dài theo chiều Đông-Tây, không còn nguyên vẹn, hiện trạng là hàng gạch xây nghiêng còn lại 2-3 viên

là phần đuôi viên gạch dựng còn lại bị vỡ và có ngói vụn xen lẫn

+ Bó nền LG15.A1.BN05 chạy dài theo chiều Đông - Tây, nằm ngay méĐông của móng trụ LG15.MT01 Bó nền không còn nguyên vẹn, dấu vết còn lại làmột phần viên gạch xây vỉa nghiêng chạy theo chiều Bắc – Nam, hiện trạng chothấy phía Đông của viên gạch là ngói vụn ken dày, phía Tây là nền đất sét thuần,đây chính là bó nền phía Đông của mặt bằng kiến trúc đã phát lộ một phần trongphạm vi hố H4 năm 2014

+ Bó nền LG15.A1.BN04 chạy dài theo chiều Đông – Tây, song song vàcách bó nền LG15.A1.BN03 khoảng 7,1m về phía Bắc Đây là đoạn bó nền còn lạinguyên vẹn nhất phát hiện trong lần khai quật này, tổng chiều dài còn lại của bó nền

là 3,8m, giới hạn phía Tây chính là móng trụ LG15.MT09, đầu phía Đông đã bị phákhông xác định được giới hạn Bó nền được xây bằng gạch chữ nhật, màu đỏ, kíchthước trung bình (39 x 19 x 5)cm, sử dụng cả gạch vỡ và gạch còn nguyên và gạchvuông kích thước (37 x 37)cm Cấu trúc bó nền gồm 2 hàng gạch, hàng gạch vỉađứng ở phía ngoài và hàng gạch xây nằm ở phía trong: hàng gạch phía ngoài vỉađứng bằng gạch vuông thành 1 hàng dài theo chiều Đông – Tây, một phần viên gạchchôn xuống đất, hiện tại hàng gạch này có xu hướng bị đổ nghiêng ra ngoài; hànggạch bên trong, song song và ôm sát vào hàng gạch vỉa, hàng này xây hoàn toànbằng gạch chữ nhật, đặt nằm thành 1 hàng, chồng lên nhau theo từng lớp, chỗ caonhất còn lại 4 lớp Một điều khác biệt ở hàng gạch này đó là nó không liên tục màđược xây thành từng đoạn nhỏ tách rời nhau có tính quy luật, mỗi đoạn có chiều dài

Trang 40

0,6m, cách nhau 0,2m, các khoảng cách này thường có hiện tượng chèn đầy ngóivụn có dạng như những hố đào.

* Kiến trúc KT01b nằm ở giữa kiến trúc KT01a ở phía Bắc và kiến trúc

KT01c ở phía Nam, hai đầu của kiến trúc kết nối và ghép liền với gian chính giữacủa kiến trúc KT01a và kiến trúc KT01c Mặt bằng kiến trúc KT01b có hình chữnhật, dài theo chiều Bắc - Nam và rộng theo chiều Đông - Tây Các bộ phậncấu thành nền kiến trúc hiện còn lại dấu vết của bó nền gạch và các móng trụ sỏi

Bó nền kiến trúc được xây bằng gạch, vết tích còn lại không nhiều Bó nềnLG15.A1.BN01 nằm phía Đông hố khai quật Dấu vết còn lại là 1 số viên gạch lẻ tẻchạy dài theo chiều Bắc – Nam, chiều dài còn lại là 0,5m, hiện còn 2 nửa viên gạchchữ nhật chồng lên nhau, mặt ngoài đã bị đào cắt qua, đoạn bó nền nằm ngay phíaĐông móng trụ MT13 Đây là dấu vết còn lại của bó nền gạch phía Đông một côngtrình kiến trúc có nền phát triển về Tây Bó nền LG15.A1.BN02 nằm phía Tây hốkhai quật, khoảng giữa phía Tây hai móng trụ LG15.MT10 và LG15.MT14, songsong và cách bó nền LG15.A1.BN01 khoảng 7,36m về phía Tây, dấu vết còn lại cóchiều dài khoảng 0,7m Bó nền được xây bằng gạch chữ nhật có kích thước dài (35

x 19 x 5)cm, dựa vào những dấu vết còn lại có thể thấy bó nền BN02 có cấu trúcgồm 3 hàng gạch song song nhau, hai bên gạch xây nằm dọc, hàng giữa xây vỉanghiêng Đây là đoạn bó nền phía Tây của 1 công trình kiến trúc có mặt bằng ở phíaĐông, nó cùng với bó nền BN01 tạo thành bó nền phía Tây và phía Đông của nềnkiến trúc có chiều rộng Đông – Tây là 7,36m Đây chính là chiều rộng Đông -Tây của kiến trúc Trên mặt nền sân phía Đông và Tây của kiến trúc này còn lạidấu vết của bó nền, tuy phần gạch đã bị lấy đi nhưng vẫn còn để lại các rãnh vàtheo thời gian gạch ngói vụn đã lấp đầy vào chạy bám theo các đoạn bó nền gạch,chiều rộng rãnh này là 0,2m Các đoạn rãnh này nằm trong các khoảng sân và bámtheo các nền kiến trúc (PL 13)

Rãnh thứ nhất: Nằm phía Đông hố khai quật, rãnh có dạng hình chữ U (đầuquay về phía Tây) Theo đó, đoạn phía Tây chạy song song với cạnh phía Đông bónền BN01, có chiều dài 5,8m và cách bó nền này khoảng 0,5m Đoạn phía Bắc

Ngày đăng: 10/11/2017, 21:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1961), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1961
2. Nguyễn Văn Anh (2016), Quần thể lăng tẩm nhà Trần ở Đông Triều, Quảng Ninh, Nxb. VHTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quần thể lăng tẩm nhà Trần ở Đông Triều,Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Văn Anh
Nhà XB: Nxb. VHTT
Năm: 2016
4. Nguyễn Văn Anh, Bùi Thu Phương (2010), Vật liệu kiến trúc ở Hoàng thành sau 5 năm nghiên cứu, T/c Khảo cổ học, số 4, tr. 73-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu kiến trúc ở Hoàngthành sau 5 năm nghiên cứu
Tác giả: Nguyễn Văn Anh, Bùi Thu Phương
Năm: 2010
5. Nguyễn Quang Ân - Nguyễn Thanh (cb) (2006), Tài liệu địa chí Thái Bình, tập I, Nxb. Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu địa chí TháiBình, tập I
Tác giả: Nguyễn Quang Ân - Nguyễn Thanh (cb)
Nhà XB: Nxb. Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử và vănhóa Việt Nam xuất bản
Năm: 2006
7. Lã Đăng Bật (2004), Hành cung Vũ Lâm, T/c Xưa và Nay, số 219 (9/2004), tr 34-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành cung Vũ Lâm
Tác giả: Lã Đăng Bật
Năm: 2004
8. Trần Lâm Biền (cb) (2001), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb. VHDT-T/c VHNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền (cb)
Nhà XB: Nxb. VHDT-T/c VHNT
Năm: 2001
9. Trần Lâm Biền - Đào Hùng (1985), Con rồng trong mỹ thuật Việt Nam, T/c Mỹ Thuật, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con rồng trong mỹ thuật Việt Nam
Tác giả: Trần Lâm Biền - Đào Hùng
Năm: 1985
10. Nguyễn Mạnh Cường, Đặng Kim Ngọc, Nguyễn Ngọc Phát (1980), Khai quật di tích Tam Đường (Thái Bình), lần thứ II, trong NPHMVKCH năm 1980, Viện Khảo cổ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật di tích Tam Đường (Thái Bình), lần thứ II
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Đặng Kim Ngọc, Nguyễn Ngọc Phát
Năm: 1980
11. Nguyễn Thị Phương Chi (1998), Thử tìm hiểu vị trí, vai trò của một số thái ấp ở ngã ba sông thời Trần, t/c NCLS số 4, tr. 53-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu vị trí, vai trò của một số tháiấp ở ngã ba sông thời Trần
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 1998
12. Nguyễn Thị Phương Chi (2002), Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷ XIII-XIV), Nxb. KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái ấp - điền trang thời Trần (thế kỷXIII-XIV)
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Nhà XB: Nxb. KHXH
Năm: 2002
13. Nguyễn Thị Phương Chi (2007), Vai trò của đô thị Thiên Trường đối với kinh đô Thăng Long thời Trần, t/c NCLS số 12, tr 36-43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của đô thị Thiên Trường đối với kinh đô Thăng Long thời Trần
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Chi
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w